5,340 views

Đức Tin Thể Hiện Qua Việc làm

Huỳnh Christian Timothy

 

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?b5257uv6j575w3b

Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/1007

Dẫn Nhập

Đức tin và việc làm là một trong những đề tài thần học được tranh luận ngay từ buổi ban đầu của lịch sử Hội Thánh. Những câu Thánh Kinh được dùng làm nền tảng cho sự tranh luận là:

Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Thiên Chúa. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình” (Ê-phê-sô 2:8-9).

Hỡi anh em, nếu ai nói mình có đức tin, song không có việc làm, thì ích chi chăng? Đức tin đó cứu người ấy được chăng? Vả, xác chẳng có hơi thở thì chết, đức tin không có việc làm cũng chết như vậy” (Gia-cơ 2:14, 26) [1].

Chúng ta có thể suy diễn từ Ê-phê-sô 2:8-9 rằng, một người được cứu chỉ bởi ân điển và đức tin, không phải bởi việc làm. Chúng ta cũng có thể suy diễn từ Gia-cơ 2:14, 26 rằng, đức tin không có việc làm là đức tin chết, không cứu được ai.

Với sự suy diễn như trên thì rõ ràng chúng ta có một nan đề lớn, đó là Thánh Kinh đã tự mâu thuẩn. Tuy nhiên, Thánh Kinh là Lời của Đức Chúa Trời, là lẽ thật đời đời, là Lời Sống và linh nghiệm thì không thể có sai lầm hay tự mâu thuẩn. Chính Thiên Chúa làm cho Lời của Ngài được tôn cao hơn danh của Ngài (Thi Thiên 138:2) thì chắc chắn Lời Chúa là trọn vẹn như chính Chúa.

Vì Thánh Kinh không thể tự mâu thuẫn, cho nên, chính sự suy diễn của chúng ta làm cho những câu Thánh Kinh trên đây dường như là mâu thuẫn. Sự suy diễn của chúng ta về một câu Thánh Kinh phải tuyệt đối dựa vào văn mạch của phân đoạn Thánh Kinh mà câu ấy thuộc về. Đôi khi, chúng ta phải dựa vào văn mạch của toàn sách, như khi chúng ta đọc một số câu trong thư Ga-la-ti. Bên cạnh đó, chúng ta phải hiểu rõ ý nghĩa của các từ ngữ được dùng trong câu văn. Thí dụ, các từ ngữ “đức tin,” “cứu,” “được cứu,” và “việc làm” trong những câu Thánh Kinh trên đây có nghĩa gì?

Trong bài này, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa chân thật của bốn câu Thánh Kinh được nêu ra trên đây. Chúng ta hãy bắt đầu bằng sự định nghĩa một số các từ ngữ:

Đức Tin

Trong nguyên ngữ Hy-lạp, danh từ “đức tin” được dùng trong những câu Thánh Kinh trên đây và trong Hê-bơ-rơ 11 là “pistis,” G4102, được dịch sang tiếng Anh là “faith,” có nghĩa là: “sự hiểu biết, công nhận và làm theo những gì đã nghe.” Rô-ma 10:14 cho chúng ta biết, sự nghe giảng về Chúa dẫn đến đức tin nơi Chúa. Vì thế, đức tin đến là bởi sự người ta nghe và làm theo, qua hành động kêu cầu danh Chúa, dẫn đến kết quả là người ta được cứu.

Khi lẽ thật về Chúa được rao giảng thì Đức Thánh Linh sẽ hành động trong tâm thần của người nghe, để người ấy nhận biết sự thực hữu của Thiên Chúa, sự tội lỗi của chính mình và sự cứu rỗi của Thiên Chúa, dẫn đến sự người ấy được thuyết phục bởi những điều đã nghe. Khi ấy, nếu người nghe quyết định hành động theo điều mình đã hiểu biết và công nhận, tức là ăn năn tội và xưng nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ, thì đức tin xuất hiện.

Thí dụ 1: Trong câu chuyện Chúa hóa nước thành rượu tại một tiệc cưới ở thành Ca-na (Giăng 2), dù cho những người hầu bàn có tin Chúa một cách tuyệt đối, nhưng nếu không làm theo mọi lời phán của Ngài thì họ sẽ không bao giờ có được rượu ngon. Nói cách khác, tin mà không làm theo tức là không tin.

Thí dụ 2: Có một người bỗng nhiên bị đau bụng dữ dội, ngã lăn ra đường, quằn quại trong sự đau đớn. Xe cứu thương đến, đưa người đó vào phòng cấp cứu và bác sĩ định bệnh rằng, người ấy đang bị viêm ruột thừa, cần phải được giải phẩu ngay để cứu mạng. Tuy nhiên, người ấy phải quyết định bằng lòng tiếp nhận sự giải phẩu. Người ấy không thể tự mình làm gì để cứu mình. Tất cả những gì cần làm để người ấy được cứu là do bệnh viện, các bác sĩ, và các y tá thực hiện. Người ấy chỉ cần có đức tin vào bác sĩ, nghĩa là “công nhận và làm theo lời nói của bác sĩ,” Đức tin đó phải được thể hiện bằng sự người ấy ký tên vào giấy đồng ý cho bác sĩ giải phẩu mình, và chịu nằm trên bàn giải phẩu để được giải phẩu. Nếu người ấy tin lời nói của bác sĩ nhưng không ký giấy đồng ý việc giải phẩu hoặc không vào phòng giải phẩu thì không thể được cứu.

Giăng 3:16 là nền tảng của Tin Lành: “Vì Ðức Chúa Trời yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin nơi Con ấy không bị hư mất, mà được sự sống đời đời.” Động từ “tin” dùng trong câu này ở trong thời hiện tại, thể chủ động, thức phân từ, và danh cách [2], có nghĩa là một người phải tự mình chủ động trong việc “luôn luôn tin“ nơi Con Một của Đức Chúa Trời, để không bị hư mất mà được sự sống đời đời. Sự sống đời đời được ban cho những ai luôn luôn tin nơi Đức Chúa Jesus Christ, tức là luôn luôn làm theo mọi lời phán của Đức Chúa Jesus Christ, chứ không phải chỉ tin một lần, làm theo một lần. Điều đó tương tự như một người muốn sống thì phải luôn luôn thở. Điều duy nhất chứng minh rằng một người thật sự tin nơi Con Một của Đức Chúa Trời và sẽ nhận được sự sống đời đời, đó là, người ấy luôn làm theo Lời Chúa là Thánh Kinh.

Danh từ “đức tin” luôn luôn bao hàm ý nghĩa về sự hành động theo điều đã tin. Hê-bơ-rơ 11 là chứng cớ vững chắc cho sự kiện “đức tin” luôn luôn thể hiện thành hành động. Không có hành động thì không có đức tin:

  • Bởi đức tin, A-bên đã dâng cho Đức Chúa Trời một tế lễ…
  • Bởi đức tin, Hê-nóc đã ở vừa lòng Đức Chúa Trời…
  • Bởi đức tin, Nô-ê đã thành tâm kính sợ, đóng một chiếc tàu để cứu nhà mình…
  • Bởi đức tin, Áp-ra-ham đã vâng lời Chúa gọi, đi đến xứ mình sẽ nhận làm cơ nghiệp…
  • Bởi đức tin, Áp-ra-ham đã dâng I-sác trong khi bị thử thách…
  • Bởi đức tin, I-sác đã chúc phước cho Gia-cốp và Ê-sau…
  • Bởi đức tin, Gia-cốp đã chúc phước cho hai con của Giô-sép…
  • Bởi đức tin, khi Môi-se mới sinh ra, cha mẹ đã đem ông đi giấu…
  • Bởi đức tin, Môi-se đã cùng chịu hà hiếp với dân Chúa…
  • Bởi Đức tin, Môi-se đã lìa xứ Ê-díp-tô không sợ vua giận…
  • Bởi đức tin, Môi-se đã giữ Lễ Vượt Qua…
  • Bởi đức tin, dân I-sơ-ra-ên đã vượt qua Biển Đỏ…
  • Bởi đức tin, dân I-sơ-ra-ên đã đi vòng quanh thành Giê-ri-cô khiến thành bị đổ xuống…
  • Bởi đức tin, kỵ nữ Ra-háp đã bảo vệ các thám tử của I-sơ-ra-ên…

Có nhiều lẽ thật khác nhau được Thiên Chúa bày tỏ cho loài người và được ghi chép lại trong Thánh Kinh. Sự hiểu biết, tin cậy, và làm theo mỗi lẽ thật của Thiên Chúa được gọi là đức tin vào trong chính lẽ thật ấy. Thí dụ:

Lẽ thật về Đức Chúa Jesus Christ dẫn đến đức tin vào Đấng Christ, tin rằng, Ngài là con của Đức Chúa Trời Hằng Sống, Ngài là Thiên Chúa, Ngài là Đấng Cứu Rỗi của nhân loại, dẫn đến sự hết lòng làm theo mọi lời phán dạy của Ngài.

Lẽ thật về sự cứu rỗi dẫn đến đức tin vào sự cứu rỗi, tin rằng, sự cứu rỗi chỉ có trong Đức Chúa Jesus Christ, vì dưới trời không có danh nào khác ban cho loài người để loài người nhờ đó mà được cứu. Vì thế, mọi tôn giáo, mọi triết học, mọi việc làm công đức, mọi nghi thức tín ngưỡng đều không mang sự cứu rỗi đến cho loài người. Chỉ có sự chết của Đức Chúa Jesus Christ trên thập tự giá mới có năng lực để cứu rỗi loài người. Muốn được cứu rỗi thì một người không cần làm ra các việc công đức, mà chỉ cần ăn năn tội và tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ.

Lẽ thật vào sự nên thánh dẫn đến đức tin vào sự nên thánh, tin rằng, không có sự cám dỗ nào vượt quá sức loài người (I Cô-rinh-tô 10:13); tin rằng, một người làm được mọi sự lành, thắng được mọi cám dỗ là nhờ sự ban thêm sức của Đấng Christ (Phi-líp 4:13); tin rằng, chính Đức Chúa Trời là Đấng khiến cho mỗi con dân Chúa được nên thánh trọn vẹn từ tâm thần, linh hồn, cho đến thể xác ngay khi họ còn sống trong xác thịt này (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23). Đức tin vào sự thánh hóa được thể hiện qua hành động tránh xa những nơi ô uế, tội lỗi, không đặt mình vào hoàn cảnh có thể bị cám dỗ, và kêu cầu danh Chúa khi đối diện với cám dỗ.

Sự Cứu Rỗi

Động từ “cứu” trong nguyên ngữ Hy-lạp là “sōzō,” G4982, dịch sang tiếng Anh là “save” và có nghĩa là: “giải thoát ra khỏi sự nguy hiểm hoặc sự hủy diệt.” Trong Tân Ước, khi động từ này dùng cho Đức Chúa Trời hoặc Đức Chúa Jesus Christ là nói đến sự kiện Đức Chúa Trời, qua Đức Chúa Jesus Christ, đã cứu nhân loại ra khỏi năng lực và hậu quả của tội lỗi.

Khi tổ phụ của loài người là A-đam phạm tội thì tội lỗi cầm quyền trên A-đam, buộc A-đam phải làm ra những việc làm tội lỗi mà A-đam không thể chống cự lại được, nghĩa là A-đam không thể không tiếp tục phạm tội; đồng thời, A-đam phải gánh lấy hậu quả của tội lỗi là đau khổ và sự chết. Năng lực và hậu quả của tội lỗi từ A-đam mà lưu truyền cho tất cả mọi người được sinh ra trong thế gian: “Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội” (Rô-ma 5:12).

Sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jesus Christ ban cho nhân loại là sự cứu nhân loại ra khỏi sức mạnh của tội lỗi, ra khỏi mọi đau khổ và sự chết do tội lỗi mang đến: “Vậy, như bởi chỉ một tội mà sự đoán phạt rải khắp hết thảy mọi người thể nào, thì bởi chỉ một việc công bình mà sự xưng công bình, là sự ban sự sống, cũng rải khắp cho mọi người thể ấy. Vì, như bởi sự không vâng phục của một người mà mọi người khác đều thành ra kẻ có tội, thì cũng một lẽ ấy, bởi sự vâng phục của một người mà mọi người khác sẽ đều thành ra công bình” (Rô-ma 5:18-19).

Sự cứu rỗi là sự ban cho của Đức Chúa Trời nhưng loài người phải tự mình tiếp nhận. Những việc làm cần làm để có thể cứu loài người ra khỏi năng lực và hậu quả của tội lỗi, tức là gánh lấy hình phạt từ Đức Chúa Trời, đã do Đức Chúa Jesus Christ hoàn thành, cho nên, loài người không cần phải làm bất cứ một điều gì để được cứu rỗi mà chỉ cần tin nhận sự cứu rỗi Đức Chúa Jesus Christ đã làm ra cho nhân loại. Sự tin nhận đó phải thể hiện bằng sự ăn năn tội và kêu cầu danh Chúa.

Mục đích của sự cứu rỗi là để loài người có cơ hội được phục hòa với Đức Chúa Trời, được nhận lại địa vị làm con của Đức Chúa Trời, được dựng nên mới trong tâm thần và linh hồn, được ban cho Thánh Linh để có thể sống đúng theo tiêu chuẩn yêu thương, thánh khiết, và công bình của Thiên Chúa, như đã được bày tỏ trong Thánh Kinh. Trong đời sống mới đó, dù loài người vẫn đối diện với cám dỗ và tội lỗi nhưng năng lực của tội lỗi không đủ sức ép buộc loài người phải làm ra những sự tội lỗi nghịch lại Thiên Chúa. Trái lại, loài người có Thánh Linh của Thiên Chúa để có năng lực làm ra những việc lành đẹp lòng Thiên Chúa, là những việc do chính Đức Chúa Trời đã sắm sẵn (Ê-phê-sô 2:10).

Sự cứu rỗi khác với sự sống đời đời. Sự cứu rỗi đem một người ra khỏi địa vị hư mất vào trong địa vị công chính và ban cho người ấy cơ hội phục thiện, tức là từ bỏ những điều dữ và làm ra những điều lành theo tiêu chuẩn của Thiên Chúa. Sự cứu rỗi khiến cho một người ở trong địa vị làm việc để được nhận lãnh sự sống đời đời. Chỉ có những ai trung tín cho đến chết trong sự làm theo các lẽ thật của Lời Chúa mới nhận được sự sống đời đời. Vì thế, sự sống đời đời là phần thưởng ban cho những ai trung tín trong đức tin.

Việc Làm

Danh từ “việc làm” khi được dùng trong Thánh Kinh liên quan đến tội lỗi, đức tin, sự cứu rỗi, và sự sống đời đời đều cùng một từ ngữ trong tiếng Hy-lạp là “ergon,” G2041, dịch ra tiếng Anh là “work” có nghĩa là: “sự lao động đem lại công giá (được trả công) hoặc kết quả cho người làm.”

1. Việc làm trong tội lỗi đem lại công giá là sự chết:

  • Vì tiền công của tội lỗi là sự chết” (Rô-ma 6:23)…
  • Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát” (Ga-la-ti 6:8)…

2. Việc làm trong đức tin đem lại sự sống đời đời:

  • Hễ ai vì danh Ta mà bỏ anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng, nhà cửa, thì người ấy sẽ lãnh bội phần hơn, và được hưởng sự sống đời đời” (Ma-thi-ơ 19:29).
  • Thật vậy, những ai bởi sự bền lòng làm lành, tìm kiếm sự vinh quang, sự tôn trọng, và sự chẳng hề chết, thì được sự sống đời đời” (Rô-ma 2:7).
  • “…kẻ gieo cho Đấng Thần Linh, sẽ bởi Đấng Thần Linh mà gặt sự sống đời đời”  (Ga-la-ti 6:8).
  • …Hãy trung tín cho đến chết và Ta sẽ ban cho ngươi mão sự sống” (Khải Huyền 2:10).

Về đức tin dẫn đến sự cứu rỗi chúng ta nhận thấy rõ có ba hình thức và giai đoạn của việc làm:

1. Việc làm tạo ra sự cứu rỗi là việc làm của Đức Chúa Jesus Christ, thể hiện qua sự chết chuộc tội của Ngài trên thập tự giá:

  • …bởi sự vâng phục của một người mà mọi người khác sẽ đều thành ra công bình” (Rô-ma 5:19).
  • …Đấng Christ đã dâng mình chỉ một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người” (Hê-bơ-rơ 9:28)…

2. Việc làm để nhận sự cứu rỗi là việc làm của tội nhân, tội nhân phải tin nhận sự cứu rỗi của Chúa và đức tin đó phải thể hiện qua sự ăn năn tội và kêu cầu danh Chúa:

  • …Hãy hối cải, ai nấy phải bởi danh Đức Chúa Jesus chịu phép báp-tem, để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh” (Công Vụ Các Sứ Đồ 2:38).
  • Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jesus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu; vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi” (Rô-ma 10:9-10).

3. Việc làm để minh chứng sự cứu rỗi là việc làm của người đã được cứu, thể hiện qua sự vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời:

  • Vậy, chúng ta bởi sự thuộc về đức tin mà hủy bỏ luật pháp hay sao? Chẳng phải vậy! Nhưng chúng ta làm cho vững bền luật pháp” (Rô-ma 3:31).
  • Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ các điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người” (I Giăng 2:4).

Không ai có thể cậy việc làm để được sự cứu rỗi; nhưng sau khi đã được cứu rỗi mà không trung tín với Chúa cho đến chết thì sẽ không nhận được sự sống đời đời. Mà không nhận được sự sống đời đời tức là bị hư mất đời đời trong hỏa ngục. Trung tín với Chúa nghĩa là hết lòng làm theo mọi lời Chúa phán dạy đã được ghi lại trong Thánh Kinh, tức là từ bỏ những việc làm tội lỗi và làm những việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho chúng ta.

Chúng ta cần hiểu rõ: Chúng ta không làm việc lành để được cứu, vì trước khi được cứu chúng ta không thể làm việc lành. Chỉ nhờ Đức Chúa Jesus Christ chết thay cho chúng ta và chúng ta tin nhận điều đó mà chúng ta được cứu. Sau khi được cứu thì chúng ta có năng lực và có bổn phận phải từ bỏ những việc làm tội lỗi và làm những việc lành. Nếu chúng ta trung tín cho đến chết trong sự từ bỏ những việc làm tội lỗi và làm những việc lành, thì chúng ta sẽ nhận được sự sống đời đời (Rô-ma 2:7). Ngược lại, chúng ta sẽ bị định phần chung với những kẻ giả hình, là bị hư mất đời đời trong hồ lửa (Ma-thi-ơ 24:51).

Kẻ giả hình là kẻ làm bộ tin nhận Chúa, chưa bao giờ là con dân của Chúa, chưa bao giờ được tái sinh, chưa bao giờ được ban cho Thánh Linh, khác với những người đã tin nhận Chúa mà không trung tín. Tất cả những ai là con dân Chúa mà không trung tín với Chúa nhưng quay về với đời sống tội lỗi, thì sẽ bị hư mất như những kẻ giả hình. Lời Chúa dạy rõ như vậy:

Vì chưng những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Thánh Linh, Lời lành của Thiên Chúa, và năng lực của đời sau, nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường. Vả, một đám đất nhờ mưa đượm nhuần mà sanh cây cỏ có ích cho người cày cấy, thì đất đó hưởng phần phước lành của Đức Chúa Trời. Nhưng đất nào chỉ sanh ra những cỏ rạ, gai gốc, thì bị bỏ, và hầu bị rủa, cuối cùng phải bị đốt” (Hê-bơ-rơ 6:4-8).

Vì nếu chúng ta đã nhận biết lẽ thật rồi, mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có tế lễ chuộc tội nữa, nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi. Ai đã phạm luật pháp Môi-se, nếu có hai ba người làm chứng, thì chết đi không thương xót, huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi máu của giao ước, tức là máu mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Đấng Thần Linh của ân điển, thì anh em há chẳng tưởng rằng người ấy đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao? Vì chúng ta biết Đấng đã phán rằng: Sự trả thù thuộc về Ta; Ta sẽ báo ứng, ấy là lời Chúa phán. Lại rằng: Chúa sẽ xét đoán dân mình. Sa vào tay Thiên Chúa Hằng Sống là sự đáng kinh khiếp thay” (Hê-bơ-rơ 10:26-31)!

Vả, chúng nó bởi sự nhận biết Chúa và Đấng Giải Cứu chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ, mà đã thoát khỏi sự ô uế của thế gian, rồi lại mắc phải và suy phục những sự đó, thì số phận sau cùng của chúng nó trở xấu hơn lúc đầu. Chúng nó đã biết đường công bình, rồi lại lui đi về lời răn thánh đã truyền cho mình, thế thì thà rằng không biết là hơn. Đã xảy đến cho chúng nó như lời tục ngữ rằng: Chó liếm lại đồ nó đã mửa, heo đã rửa sạch rồi, lại lăn lóc trong vũng bùn” (II Phi-e-rơ 2:20-22).

Ý Nghĩa của Ê-phê-sô 2:8-9

Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Thiên Chúa. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình” (Ê-phê-sô 2:8-9).

Thư Ê-phê-sô được Sứ Đồ Phao-lô viết cho Hội Thánh của Chúa tại thành Ê-phê-sô. Vì thế, ông gọi các tín đồ của Chúa tại Ê-phê-sô là “anh em,” với hàm ý, anh em trong đức tin, anh em trong Chúa; tức là những người đã tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jesus Christ. Phao-lô nhấn mạnh rằng, những người đó được cứu ra khỏi năng lực và hậu quả của tội lỗi không phải bởi họ đã làm ra điều gì mà chỉ nhờ:

  • Sự yêu thương của Đức Chúa Trời, Đấng ban sự cứu rỗi cho họ.
  • Sự thương xót của Đức Chúa Jesus Christ, Đấng thi hành sự cứu rỗi bằng cách hy sinh chuộc tội cho họ.
  • Đức tin của họ vào trong sự chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ.

Ngay cả đức tin vào trong sự chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ cũng là sự Đức Chúa Trời đặt để vào trong tâm thần của họ, vì thế, rõ ràng là sự cứu rỗi hoàn toàn là công việc của Thiên Chúa mà tội nhân chỉ cần tin nhận. Không ai có thể khoe rằng vì tôi làm lành nên tôi được cứu hoặc vì tôi chịu khổ để đền tội nên tôi được cứu.

Như đã giải thích trên đây, đức tin là “hiểu biết, công nhận và làm theo điều đã được nghe,” cho nên, nói đến đức tin là nói đến hành động. Ê-phê-sô 2:8-9 dạy rằng, chúng ta không làm một điều gì để tạo ra sự cứu rỗi nhưng chúng ta vẫn phải làm công việc tin nhận sự cứu rỗi. Công việc chúng ta làm để tin nhận sự cứu rỗi là “ăn năn tội” và công nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ. Nếu chúng ta chỉ ăn năn tội mà không công nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ thì chúng ta vẫn bị hư mất. Giu-đa Ích-ca-ri-ốt là trường hợp điển hình. Nếu chúng ta công nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ mà chúng ta không ăn năn tội thì chúng ta sẽ bị hình phạt nặng hơn những kẻ không tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ. Những câu Thánh Kinh trong Hê-bơ-rơ 6:4-8; 10:26-31 và II Phi-e-rơ 2:20-22 trích dẫn trên đây đã dạy rõ như vậy. Trong các ngụ ngôn của Đức Chúa Jesus Christ về đầy tớ bất trung, về quản gia bất trung, về các ta-lâng và về các nén bạc cũng đã dạy rõ như vậy.

Vì chúng ta không làm ra bất cứ một việc gì để được cứu rỗi mà chúng ta chỉ làm ra hành động từ bỏ tội và tin nhận sự chết chuộc tội của Đấng Christ, cho nên, chẳng có gì để cho chúng ta khoe mình về sự cứu rỗi của mình. Như trong câu chuyện người bị viêm ruột thừa kể trên, người bệnh tin vào sự định bệnh và khả năng giải phẩu của bác sĩ nhưng cũng phải làm ra các hành động ký giấy đồng ý cho sự giải phẩu và phải vào trong phòng giải phẩu. Người ấy chỉ có thể khoe về sự tận tâm và khả năng y khoa của các bác sĩ đã cứu mình chứ hoàn toàn không có cớ gì để khoe mình.

Ý Nghĩa của Gia-cơ 2:14 và 26

Hỡi anh em, nếu ai nói mình có đức tin, song không có việc làm, thì ích chi chăng? Đức tin đó cứu người ấy được chăng? Vả, xác chẳng có hơi thở thì chết, đức tin không có việc làm cũng chết như vậy” (Gia-cơ 2:14, 26) [1].

Trong thực tế, không hề có loại “đức tin mà không có việc làm,” tức là “đức tin không thể hiện bằng hành động làm theo những gì đã tin.” Điều đó cũng tương tự như không hề có loại người sống mà không hít thở.

Gia-cơ đang nói đến sự kiện một người sau khi được nghe giảng về Chúa thì Đức Thánh Linh đã làm cho người ấy hiểu biết và công nhận mọi lẽ thật về Chúa, nhưng nếu người ấy không quyết định làm theo những gì mình đã hiểu biết và công nhận thì người ấy không có đức tin. Không có đức tin thì không có sự cứu rỗi. Đức tin chỉ có khi sự hiểu biết và công nhận lẽ thật được thể hiện bằng sự hành động theo lẽ thật.

Toàn phân đoạn Gia-cơ 2:14-26 không hề nghịch lại ý nghĩa của Ê-phê-sô 2:8-9, mà là giúp giải thích rõ ràng ý nghĩa của từ ngữ “đức tin.”

Đức Tin Dẫn đến Sự Cứu Rỗi và Đức Tin Dẫn đến Sự Sống Đời Đời

Đức tin dẫn đến sự cứu rỗi khác với đức tin dẫn đến sự sống đời đời.

Đức tin dẫn đến sự cứu rỗi đòi hỏi một người phải chịu từ bỏ tội và tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ. Sự cứu rỗi là Đức Chúa Trời cứu tội nhân ra khỏi án phạt của tội lỗi và ban cho người ấy năng lực từ Đức Thánh Linh để người ấy có thể sống thánh khiết như Đấng Christ, chứng tỏ mình xứng đáng làm con của Đức Chúa Trời. Mục đích của sự cứu rỗi được nói rõ trong Rô-ma 8:28-29:

Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định. Vì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em.”

Vì thế, người đã được cứu rỗi không thể có đời sống không giống Đấng Christ. Điều đó có thể được là bởi ý muốn và việc làm của Đức Chúa Trời, không bởi sức riêng của một người nào:

Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Jesus Christ chúng ta đến! Đấng đã gọi anh em là Đấng thành tín, chính Ngài sẽ làm việc đó” (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23-24).

Ai nói rằng mình đã được cứu nhưng không thể không phạm tội, không thể giữ trọn Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời, thì đó là người nói dối (I Giăng 2:4)! Vì người đã được cứu là người đã được dựng nên mới trong Đức Chúa Jesus Christ, “tức là người đã được dựng nên giống như Thiên Chúa, trong sự công bình và sự thánh sạch của lẽ thật” (Ê-phê-sô 4:24).

Đức tin của sự cứu rỗi dẫn đến đức tin của sự sống đời đời. Sau khi một người được cứu rỗi thì người ấy có được năng lực từ Thiên Chúa, tức là Thánh Linh, để thắng được sự phạm tội và làm được những việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho. Sự liên tục sống theo Lời Chúa cho đến chết của một người đã được cứu rỗi đem lại kết quả là sự sống đời đời. Nếu người ấy có lỡ phạm tội trở lại thì đức tin của sự cứu rỗi vẫn tiếp tục cứu người ấy (I Giăng 1:9), nhưng nếu người ấy vui thú trong tội, cố tình quay về sống trong tội, thì số phận của người ấy sẽ là cùng chung với những kẻ giả hình.

Kết Luận

Đức tin trong Chúa luôn luôn thể hiện bằng sự làm ra những điều đáp ứng lại sự đòi hỏi của Thiên Chúa, như sự ăn năn tội, sự tha thứ cho người khác, và làm ra những việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho con dân của Ngài.

“Tin” là một động từ nói lên sự hành động theo những gì mình hiểu và công nhận, không phải là một trạng thái thụ động của tâm trí. Tin Chúa là hiểu biết, công nhận và làm theo những gì Chúa giải bày cho chúng ta qua Lời của Ngài là Thánh Kinh. Người thật lòng tin Chúa là người gớm ghét tội lỗi như Chúa và hết lòng nương cậy nơi sức toàn năng của Chúa để sống một đời sống nên thánh trọn vẹn. Một đời sống làm theo Lời Chúa mà từ trong tâm thần, linh hồn, cho đến thể xác đều không chỗ trách được, trong ngày Đức Chúa Jesus Christ đến để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23-24). Chính đó là bông trái để nhận biết ai là người thật sự thuộc về Chúa, ai chỉ là kẻ giả hình (Ma-thi-ơ 7:15-20), và ai là người đã lui đi trong đức tin, phạm vào sự bội đạo, chuốc lấy sự bị hủy diệt và hư mất đời đời (Hê-bơ-rơ 10:38-39; I Ti-mô-thê 6:9-10; II Phi-e-rơ 2:21).

Nguyện Đức Thánh Linh dẫn mọi con dân Chúa vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa và thánh hóa họ bằng chính lẽ thật của Lời Chúa (Giăng 16:13; 17:17). A-men!

Huỳnh Christian Timothy
22.09.2012

Ghi Chú

[A] Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Quý bạn có thể đọc trên mạng: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

[B] Dùng hai nối mạng dưới đây để tra xem ý nghĩa trong Anh ngữ và nghe cách phát âm của một từ ngữ Hê-bơ-rơ trên Internet:

[C] Dùng hai nối mạng dưới đây để tra xem ý nghĩa trong Anh ngữ và nghe cách phát âm của một từ ngữ Hy-lạp trên Internet:

[1] Bản Việt Ngữ Truyền Thống dịch là “…Vả, xác chẳng có hồn thì chết, đức tin không có việc làm cũng chết như vậy.” Từ ngữ được dịch là “hồn” trong nguyên ngữ Hy-lạp có nghĩa là “hơi thở” (pneuma, G4151).

[2] “πιστευωνG4100, present tense, active voice, participle mood, nominative case.


Copyright Notice:All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry.
Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn,
kể cả thông báo về tác quyền này.

 

 

Đọc Tiếp →
2,516 views

Đức Tin Thực Dụng

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?tp1q571q7i218qm

Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/1006

Dẫn Nhập

Thực dụng có nghĩa là áp dụng sự hiểu biết hoặc năng lực hoặc phương tiện một cách thực tế vào trong cuộc sống. Đức tin thực dụng là sống theo những gì chúng ta tin. Là con dân Chúa chúng ta tin nhận sự có thật của một Thiên Chúa Hằng Hữu toàn năng, toàn tại, và toàn tri; tức là một Thiên Chúa tự có, có đến mãi mãi, làm được mọi sự, ở khắp mọi nơi, biết hết mọi việc. Cùng với điều đó, chúng ta còn tin rằng Thiên Chúa là Đấng sáng tạo nên muôn loài vạn vật, là Đấng yêu thương chúng ta, chăm sóc chúng ta và chỉ muốn những điều bình an, hạnh phúc cho chúng ta (Giê-rê-mi 29:11; ). Đức tin đó do chính Thiên Chúa đặt để trong tâm thần của chúng ta và được xác chứng bởi Thánh Kinh là Lời của Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta cũng tin rằng Thánh Kinh là Lời Hằng Sống của Thiên Chúa, là lẽ thật đời đời, là tiêu chuẩn cho đời sống của chúng ta, và là thẩm quyền tuyệt đối trong cuộc sống của chúng ta.

Vậy, đức tin của Cơ-đốc nhân là: (1) Tin sự thực hữu và năng lực của Thiên Chúa. (2) Tin Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa và là tình yêu. (3) Tin Thánh Kinh là Lời Hằng Sống của Thiên Chúa và là thẩm quyền tuyệt đối trong cuộc sống của nhân loại. Tuy nhiên, nếu chỉ tin bằng tâm thần và lý trí mà không làm theo những gì mình tin, thì đức tin đó không giúp ích gì cho chúng ta. Thánh Kinh gọi đó là đức tin chết (Gia-cơ 2:17, 26). Hành động áp dụng đức tin vào trong cuộc sống, tức là làm theo những gì chúng ta tin, được Thánh Kinh gọi là đức tin sinh ra việc làm (Gia-cơ 2:23).

Đức Tin Thực Dụng Thể Hiện Qua Việc Làm

Có ba câu Thánh Kinh rất là tuyệt vời, liên quan đến đức tin mà chúng ta cần để ý và ghi nhớ:

  1. Lu-ca 7:50chép: “Nhưng Ngài phán cùng người đàn bà rằng: Đức tin của ngươi đã cứu ngươi; hãy đi cho bình an.” Đây là câu Chúa phán với một người đàn bà phạm nhiều tội, đến nỗi người trong thế gian cũng chê trách bà, nhưng bà biết ăn năn, thống hối và tin nhận Chúa. Đức tin nơi Chúa thể hiện ra việc làm là ăn năn tội, dẫn đến kết quả là được cứu rỗi và bình an!
  2. Lu-ca 18:42chép: “Đức Chúa Jesus phán rằng: Hãy sáng mắt lại; đức tin của ngươi đã chữa lành ngươi.” Đây là câu Chúa phán với một người mù kêu cầu Chúa, xin Chúa chữa lành. Đức tin nơi Chúa thể hiện ra việc làm là kêu cầu, van xin Chúa cứu giúp, dẫn đến kết quả là được chữa lành tật bệnh.
  3. Rô-ma 14:23chép: “…điều gì không bởi đức tin là tội lỗi.” Có nghĩa là, trong tất cả các hoạt động của chúng ta bất cứ hoạt động nào, từ một ước muốn, một lời nói cho đến một việc làm, nếu không bởi đức tin, rằng đó là điều đẹp ý Chúa, mà chúng ta vẫn làm thì ước muốn đó, lời nói đó, việc làm đó của chúng ta là tội lỗi.

Khi Phi-e-rơ tin lời Chúa, bước ra khỏi thuyền để đi trên mặt nước thì phép lạ xảy ra, ông có thể đi trên mặt biển đang cuộn sóng như Chúa. Nhưng khi Phi-e-rơ mất đức tin, vì ông nhìn vào sự cuồng nộ của sóng biển thay vì nhìn vào Chúa, thì ông bị chìm xuống nước (Ma-thi-ơ 14:24-32). Cùng là một Phi-e-rơ, cùng là một hành động làm theo lời Chúa phán, nhưng Phi-e-rơ có thể bước đi trên mặt nước như Chúa khi ông có đức tin và Phi-e-rơ bị chìm xuống nước khi ông không còn đức tin.

Đức Tin Thực Dụng Dẫn Đến Phép Lạ

Hê-bơ-rơ 11:6 chép: “Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thể nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài.” Vì thế, đức tin bắt đầu vào sự tin rằng có Đức Chúa Trời. Đức tin đó do chính Đức Chúa Trời đặt vào trong tâm thần của mỗi người. Rô-ma 1:19-20 chép: “Bởi vì sự hiểu biết về Đức Chúa Trời được chiếu ra trong họ. Vì Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho họ những sự không thấy được của Ngài, từ sự sáng tạo thế gian là những vật thọ tạo được nhận biết, mà thấy rõ ràng cả năng lực và thần tính đời đời của Ngài…”Một người khi đã tin vào sự thực hữu của Đức Chúa Trời thì phải áp dụng đức tin đó vào trong cuộc sống của mình. Sự áp dụng đó thể hiện qua sự thờ phượng Thiên Chúa.

Khi chúng ta đã tin có Thiên Chúa và thờ phượng Ngài rồi, thì chính Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta sự hiểu biết ý muốn của Ngài, để chúng ta có thể làm theo. Phi-líp 2:13 chép: “Vì ấy chính Thiên Chúa cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài.” Khi đó, chúng ta cần thể hiện đức tin của chúng ta vào ý muốn tốt lành của Thiên Chúa, bằng cách chúng ta hoàn toàn vâng phục mọi lời phán của Chúa, như đã được ghi chép trong Thánh Kinh.

Khi chúng ta hoàn toàn sống trong sự vâng phục Lời Chúa thì phép lạ sẽ xảy ra mỗi ngày trong đời sống của chúng ta. Phép lạ trong đời sống của chúng ta là kết quả của sự chúng ta áp dụng đức tin vào cuộc sống, cho nên, phép lạ chỉ xảy ra sau khi chúng ta làm theo ý Chúa, tức là, biến đức tin thành hành động thực tế.

Câu chuyện Đức Chúa Jesus Christ hóa nước dùng để rửa chân thành rượu ngon tại một tiệc cưới ở thành Ca-na, như được ghi chép trong Giăng 2:1-10 [1], cho chúng ta những bài học sau đây:

  1. Khi chúng ta mời Chúa vào trong đời sống của chúng ta, Ngài sẽ giúp chúng ta vượt qua mọi nan đề, mọi nghịch cảnh mà có khi chính chúng ta cũng không ý thức. Mời Chúa vào trong đời sống tức là tin nhận Chúa.
  2. Khi nhận biết nhu cầu của người khác, chúng ta cần cầu thay. Cầu xin Chúa cho chính mình hoặc cầu thay cho người khác khi có nhu cầu hoặc nan đề, là tin nhận thẩm quyền, sức toàn năng, và tình yêu của Chúa.
  3. Chúa sẽ can thiệp, cứu giúp chúng ta trong đúng thời điểm của Ngài. Thời gian chờ đợi Chúa hành động cũng là một yếu tố phải có trong đức tin.
  4. Tin nơi lời hứa của Chúa và làm theo mọi điều Chúa phán, đồng thời khuyên người khác cũng làm theo những điều Chúa phán. Sự vâng phục, làm theo mọi điều Chúa phán là bằng cớ của đức tin. Không những chúng ta tin và làm theo Lời Chúa mà chúng ta còn phải khuyên người khác, nhất là những người có liên quan đến vấn đề, cũng phải tin và làm theo mọi điều Chúa phán.
  5. Làm đúng theo sự phán dạy của Chúa mà không thắc mắc, không ngần ngại. Sự vâng phục trọn vẹn là im lặng làm đúng theo mọi điều Chúa phán, không thắc mắc, không “góp ý” với Chúa, không đòi hỏi Chúa phải làm theo cách mình muốn.
  6. Dù có những điều vượt ngoài hoặc nghịch lại sự hiểu biết và lý luận của xác thịt nhưng nếu đó là điều Chúa phán thì chúng ta cứ hết lòng vâng theo. Phép lạ luôn luôn là điều vượt quá hoặc nghịch lại mọi tri thức, mọi lý luận của loài người.
  7. Sự vâng phục Chúa của chúng ta sẽ đem lại phước hạnh cho nhiều người khác. Có thể nói, nguyên tắc không hề thay đổi của Đức Chúa Trời là Ngài ban phước cho chúng ta để chúng ta chia xẻ với người khác. Điều cơ bản nhất là: Chúng ta nhận phước trong sự được cứu rỗi để chúng ta đem người khác đến với sự cứu rỗi của Chúa. Trong ý nghĩa đó, chúng ta là muối của đất và sự sáng của thế gian (Ma-thi-ơ 5:13-14). Vì thế, chúng ta càng vâng phục Chúa bao nhiêu và khuyên dạy người khác vâng phục Chúa bao nhiêu, thì xã hội sẽ càng được tốt đẹp hơn, phước hạnh hơn bấy nhiêu.

Sự Thiếu Đức Tin vào Lời Chúa

Như đã trình bày ở trên, chúng ta cần phải áp dụng những gì chúng ta tin nơi Thiên Chúa và Lời Chúa vào trong nếp sống mỗi ngày, vì nếu không, chúng ta vẫn chỉ là tội nhân ở trong địa vị hư mất đời đời. Tuy nhiên, nhiều người chỉ tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ mà không tin vào những sự dạy dỗ khác trong Thánh Kinh. Họ tìm cầu sự cứu rỗi và họ đã được Chúa ban sự cứu rỗi cho họ để họ thoát khỏi trách nhiệm về tội lỗi và có năng lực từ nơi Chúa để sống theo Lời Chúa. Họ được xưng là con dân Chúa, được báp-tem vào trong thân thể của Đức Chúa Jesus Christ là Hội Thánh. Thế nhưng, họ hoặc thiếu sự hiểu biết Lời Chúa vì lười biếng học Lời Chúa hoặc họ cứng lòng, có sự hiểu biết Lời Chúa mà không muốn làm theo. Biết mà không làm theo thì cũng chỉ là một hình thức của sự không tin, mà thôi! Họ:

  • Không tin rằng trong Đấng Christ họ có thể thắng mọi cám dỗ và tội lỗi (Phi-líp 4:13); vì thế, họ cứ sống trong tội.
  • Không tin rằng chỉ cần tìm kiếm Vương Quốc của Đức Chúa Trời (ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ) và sự công bình của Ngài (làm theo Lời Chúa) thì Ngài sẽ ban cho họ mọi nhu cầu trong cuộc sống (Ma-thi-ơ 6:33); vì thế, họ vẫn cứ “cơm áo mệt chạy theo ngày hối hả” như những người trong thế gian mà bỏ qua sự hầu việc Chúa.
  • Không tin rằng “sự tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác” (II Ti-mô-thê 6:10); vì thế, họ cứ đeo đuổi tiền bạc mà bội Đạo và chuốc lấy nhiều sự đau đớn.
  • Không tin rằng “Đức Chúa Trời có phán rằng: Ta sẽ không lìa ngươi đâu, chẳng bỏ ngươi đâu” (Hê-bơ-rơ 13:5); vì thế, họ tham tiền và không thỏa lòng với những gì Đức Chúa Trời đã ban cho họ.
  • Không tin rằng họ được kêu gọi để chịu khổ mà làm các việc lành Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho họ (I Phi-e-rơ 2:21; Ê-phê-sô 2:10), để họ được dự phần trong sự thương khó của Đức Chúa Jesus Christ (I Phi-e-rơ 4:13); vì thế, đức tin của họ chết khi họ đối diện với nghịch cảnh (Ma-thi-ơ 13:20-21).
  • Không tin rằng họ phải vâng giữ Mười Điều Răn của Thiên Chúa, mặc dù Lời Chúa đã khẳng định là mọi người phải vâng giữ các điều răn của Thiên Chúa:

I Cô-rinh-tô 7:19 “Chịu cắt bì chẳng hề gì, không chịu cắt bì cũng chẳng hề gì; sự quan hệ là giữ các điều răn của Thiên Chúa.”

I Ti-mô-thê 6:14“Phải giữ điều răn, ở cho không vết tích và không chỗ trách được, cho đến kỳ sự hiện ra của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta.”

Gia-cơ 2:10 “Vì người nào giữ trọn luật pháp, mà phạm một điều răn, thì cũng đáng tội như đã phạm hết thảy.”

I Giăng 2:3 “Nầy tại sao chúng ta biết mình đã biết Ngài, ấy là tại chúng ta giữ các điều răn của Ngài.”

I Giăng 2:4 “Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ các điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người.”

I Giăng 2:7 “Hỡi kẻ rất yêu dấu, ấy chẳng phải là điều răn mới mà ta viết cho anh em, bèn là điều răn cũ anh em đã nhận lấy từ lúc ban đầu; điều răn cũ nầy tức là lời anh em đã nghe.”

I Giăng 3:22 “Và chúng ta xin điều gì mặc dầu, thì nhận được đều ấy, bởi chúng ta vâng giữ các điều răn của Ngài và làm những điều đẹp ý Ngài.”

I Giăng 3:24 “Ai vâng giữ các điều răn Ngài thì ở trong Ngài, và Ngài ở trong người ấy; chúng ta biết Ngài ở trong chúng ta, là nhờ Đấng Thần Linh mà Ngài đã ban cho chúng ta.”

I Giăng 5:2 “Chúng ta biết mình yêu con cái Đức Chúa Trời, khi chúng ta yêu Đức Chúa Trời và giữ vẹn các điều răn Ngài.”

I Giăng 5:3 “Vì nầy là sự yêu Đức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng giữ các điều răn của Ngài. Các điều răn của Ngài chẳng phải là nặng nề.”

II Giăng câu 4 “Tôi có lòng vui mừng lắm mà thấy trong con cái bà có mấy kẻ làm theo lẽ thật, theo điều răn chúng ta đã nhận lãnh nơi Đức Chúa Cha.”

II Giăng câu 6 “Vả, tình yêu là chúng ta bước theo các điều răn của Ngài. Đây là điều răn: điều mà các ngươi đã nghe từ lúc ban đầu, các ngươi hãy bước theo.”

Khải Huyền 12:17 “Con rồng nổi giận với người đàn bà và đi gây chiến với những kẻ còn lại thuộc dòng dõi người, là những kẻ vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và có lời chứng của Đức Chúa Jesus Christ. Nó đứng trên bãi cát biển.”

Khải Huyền 14:12 “Đây là sự nhẫn nại của các thánh đồ, là những người vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và đức tin trong Đức Chúa Jesus.”

Sáu điểm nêu ra trên đây chỉ là một vài điển hình về sự bội Đạo trong Hội Thánh. “Đạo” là “Lời Chúa.” Bội Đạo là chối bỏ hoặc chống nghịch Lời Chúa. Trong những ngày cuối cùng này,“người ta không chịu nghe Đạo lành; nhưng vì họ ham nghe những lời êm tai, theo tư dục mà nhóm họp các giáo sư xung quanh mình, bịt tai không nghe lẽ thật, mà xây hướng về chuyện huyễn” (II Ti-mô-thê 4:3-4).

Kết Luận

Đức tin của chúng ta phải được thể hiện bằng việc làm và mỗi việc làm của chúng ta phải là kết quả của đức tin. Đức tin không có việc làm là đức tin chết và việc làm không bởi đức tin là tội lỗi! Trong nếp sống của người theo Chúa chúng ta không thể tin Chúa mà không làm theo Lời Chúa như đã được ghi chép trong Thánh Kinh; và chúng ta cũng không thể làm một điều gì mà chúng ta không tin rằng điều đó đúng với các nguyên tắc của Thánh Kinh.

Việc làm bởi đức tin phải là sự vâng phục trọn vẹn. Thánh Kinh Cựu Ước khi nói về việc Môi-se vâng theo Lời Chúa, đã rất nhiều lần sử dụng câu: “y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn.” Điệp khúc đó, cùng với câu nói của bà Ma-ri: “Ngài bảo chi, hãy vâng theo cả” là nguyên tắc mà mỗi một con dân Chúa phải vâng theo.

Ngày nay, các tư tưởng thần học và các giáo lý nghịch Thánh Kinh đã thêm hoặc bớt Lời Chúa hoặc pha trộn Lời Chúa với tâm lý học, với các trào lưu văn hóa, với các tín ngưỡng của ngoại giáo, và thậm chí với những điều mê tín dị đoan khiến cho người nào không bám chặt vào Lời Chúa sẽ bị lừa gạt, sa vào hố sâu của sự diệt vong. Ô-sê 4:6 chép: “Dân Ta bị diệt vì cớ thiếu sự thông biết!”

Vì thế, con dân Chúa có bổn phận phải theo gương các thánh đồ tại thành Bê-rê, mỗi ngày tra xem Thánh Kinh để xem tất cả những sự giảng dạy mà mình nhận được có đúng với Lời Chúa hay không (Công Vụ Các Sứ Đồ 17:11). Nếu lời giảng dạy nào không đúng với Thánh Kinh, thì chúng ta phải cương quyết dẹp bỏ và phải tránh xa những kẻ giảng tà giáo. Có như vậy, chúng ta mới có thể áp dụng đức tin một cách thực tế vào trong cuộc sống mỗi ngày và luôn luôn kinh nghiệm phép lạ của Thiên Chúa. Vì hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời Thiên Chúa không hề thay đổi. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
15.09.2012

Ghi Chú

Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Quý bạn có thể đọc trên mạng:
www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

[1] Giăng 2:1-10

1 Cách ba ngày sau, có đám cưới tại thành Ca-na, thuộc xứ Ga-li-lê, và mẹ Đức Chúa Jesus có tại đó.
2 Đức Chúa Jesus và các môn đồ của Ngài cũng được mời dự đám cưới.
3 Vừa khi thiếu rượu, mẹ Đức Chúa Jesus nói với Ngài rằng: Họ không có rượu nữa.
4 Đức Chúa Jesus phán với bà: Hỡi bà, có liên quan gì đến Ta và đến bà? Giờ Ta chưa đến.
5 Mẹ Ngài nói với những kẻ hầu bàn, rằng: Ngài bảo chi, hãy vâng theo cả.
6 Tại đó, có sáu cái lu chứa nước bằng đá, được dùng cho sự thanh tẩy của người Giu-đa, mỗi cái chứa hai ba giạ nước.
7 Đức Chúa Jesus bảo họ rằng: Hãy đổ nước đầy tới miệng những cái lu nầy – thì họ đổ đầy tới miệng.
8 Ngài phán với họ: Bây giờ, hãy múc và đem cho kẻ coi tiệc – họ bèn đem cho.
9 Lúc kẻ coi tiệc nếm, thì nước đã biến thành rượu, và người không biết từ đâu, (còn những kẻ hầu bàn có múc nước thì biết rõ,) bèn gọi chàng rể,
10 mà nói rằng: Mọi người đều đãi rượu ngon trước, sau khi người ta uống nhiều rồi, thì kế đến rượu vừa vừa. Còn ngươi, ngươi lại giữ rượu ngon đến bây giờ.


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Đọc Tiếp →