2,996 views

Báp-tem vào Trong Danh của Ba Ngôi Thiên Chúa

Huỳnh Christian Timothy Huỳnh Christian Priscilla Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống mp3 bài này https://www.opendrive.com/folders?MV85MTgwNjA2XzRreDFs Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống pdf bài viết này https://www.opendrive.com/folders?MV85MDg2NDQ0X0VKbTNv Phần âm thanh của lời chứng này được xếp … Đọc Tiếp →

2,649 views

Rô-ma_005 Tin Lành của Đấng Christ

Roma_005 Tin Lành của Đấng Christ

Huỳnh Christian Timothy
14.07.2012

Bấm vào đây để download bài viết này

Bấm vào đây để nghe và download MP3 audio bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/984

Rô-ma 1:16 Vì tôi không hổ thẹn về Tin Lành của Đấng Christ, là năng lực của Thiên Chúa để cứu mọi kẻ tin, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp;

Rô-ma 1:17 vì trong đó, sự công bình của Thiên Chúa được bày tỏ từ đức tin đến đức tin, như có chép rằng: “Người công bình sẽ sống bởi đức tin.”

Dẫn Nhập

Thánh Kinh dùng nhiều nhóm chữ khác nhau để nói về “Tin Lành:” Tin Lành của Vương Quốc, Tin Lành của Vương Quốc của Đức Chúa Trời, Tin Lành về Sự Bình An, Tin Lành về sự Cứu Rỗi, Tin Lành Chân Thật, Tin Lành Đời Đời, Tin Lành của Thiên Chúa, Tin Lành của Đức Chúa Trời, Tin Lành của Ơn Đức Chúa Trời, Tin Lành Vinh Quang của Đức Chúa Trời, Tin Lành của Con Đức Chúa Trời, Tin Lành của Đức Chúa Jesus, Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ, và Tin Lành của Đấng Christ.

Trong bài 002 chúng ta đã học rằng, ý nghĩa của nhóm chữ “Tin Lành của Thiên Chúa” là nhấn mạnh đến sự kiện Tin Lành Cứu Rỗi đến từ Ba Ngôi Thiên Chúa: Đức Chúa Cha ban cho loài người Tin Lành Cứu Rỗi, Đức Chúa Con thi hành Tin Lành Cứu Rỗi, và Đức Thánh Linh áp dụng năng lực và thành quả của Tin Lành Cứu Rỗi cho những ai thật lòng tiếp nhận Tin lành ấy.

Trong bài này chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa của nhóm chữ “Tin Lành của Đấng Christ” như được trình bày trong Rô-ma 1:16-17.

Tin Lành của Đấng Christ

Rô-ma 1:16 Vì tôi không hổ thẹn về Tin Lành của Đấng Christ, là năng lực của Thiên Chúa để cứu mọi kẻ tin, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp;

Danh từ “Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ” hay “Tin Lành của Đấng Christ” chỉ được một mình Sứ Đồ Phao-lô sử dụng. Danh từ này xuất hiện mười lần trong các thư tín của Phao-lô [1] và bao gồm hai ý nghĩa:

  1. Tin Lành của Thiên Chúa do Đấng Christ rao giảng.
  2. Tin Lành của Thiên Chúa do Đấng Christ làm cho hiện thực.

Trong Ga-la-ti 1:12, Phao-lô viết: “Vì tôi không nhận và cũng không học Tin Lành đó với một người nào, nhưng đã nhận lấy bởi sự tỏ ra của Đức Chúa Jesus Christ.” Phần lớn trong chúng ta đã tiếp nhận Tin Lành do ai đó rao giảng cho chúng ta, nhưng mười hai sứ đồ và các môn đồ của Đức Chúa Jesus Christ vào lúc ban đầu thì nhận lãnh Tin Lành trực tiếp từ nơi Chúa. Sự kiện Phao-lô không nhận lãnh Tin Lành qua một người nào nhưng trực tiếp từ nơi Chúa có tính cách bảo đảm cho chức vụ sứ đồ của ông hoàn toàn không thua sút mười hai sứ đồ được Chúa sai đi trước đó.

Từ ngữ “bởi sự tỏ ra” trong nguyên ngữ chính là danh từ “mạc khải” được dùng trong Khải Huyền 1:1 [2]. “Mạc khải” theo nghĩa đen là vén màn lên để bày ra những gì trước đó bị tấm màn che lại, như khi người ta vén màn trong một rạp hát để lộ ra những gì diễn ra trên sân khấu; theo nghĩa bóng là bày tỏ những gì mà trước kia chưa được bày tỏ.

Phao-lô được Đức Chúa Jesus Christ bày tỏ cho ông Tin Lành của Thiên Chúa mà trước kia ông chưa hề được ai bày tỏ. Qua đó, ông hiểu được Đức Chúa Trời yêu thương nhân loại và từ trong cõi đời đời Ngài đã sắm sẵn chương trình cứu rỗi nhân loại ra khỏi quyền lực và hậu quả của tội lỗi. Chương trình cứu rỗi đó được gọi là Tin Lành. Trong Tin Lành đó, mọi tội nhân được Đức Chúa Trời tha thứ cách trọn vẹn, vì Con Một của Đức Chúa Trời gánh lấy mọi án phạt thay cho họ, để thỏa mãn sự công chính của luật pháp Thiên Chúa. Trong Tin Lành đó, sự thánh khiết và địa vị làm con của Đức Chúa Trời được phục hồi cho những ai tiếp nhận Tin Lành. Trong Tin Lành đó, sự sống lại của thể xác, sự sống đời đời và quyền thừa hưởng, cai trị cơ nghiệp của Đức Chúa Trời được hứa ban cho những ai tiếp nhận Tin Lành và sống trung tín với Chúa cho đến chết.

Tôi Không Hổ Thẹn

Rô-ma 1:16 Vì tôi không hổ thẹn về Tin Lành của Đấng Christ, là năng lực của Thiên Chúa để cứu mọi kẻ tin, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp;

Phao-lô đã vui mừng tiếp nhận Tin Lành của Đấng Christ và gọi đó là “Tin Lành của tôi” (2:16) như cách ông tiếp nhận Đức Chúa Trời làm Thiên Chúa của ông và gọi Ngài là “Đức Chúa Trời của tôi.” Tiếp nhận Tin Lành tức là tin và sống theo mọi lời Đức Chúa Jesus Christ giảng dạy, là ăn năn tội, tiếp nhận sự thánh hóa của Đức Thánh Linh, nhờ sức toàn năng của Chúa chịu sự bách hại của thế gian mà trung tín đi theo Chúa mỗi ngày. Phao-lô không chỉ tiếp nhận Tin lành của Đấng Christ mà ông còn dâng trọn phần đời còn lại của ông làm sứ giả rao giảng Tin Lành cho muôn dân.

Trong địa vị cao trọng và giai cấp tôn quý trong xã hội thời bấy giờ, Phao-lô có tất cả những gì mà một người Do-thái đương thời mong ước. Thế nhưng, ông vui lòng bỏ hết mọi sự để sống và giảng Tin Lành của Đấng Christ. Trong Phi-líp 3:8-10, Phao-lô tâm sự với Hội Thánh những lời tha thiết như sau:

Tôi cũng coi hết thảy mọi sự như là sự lỗ, vì sự nhận biết Đấng Christ Jesus là quý hơn hết, Ngài là Chúa tôi, và tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi điều lợi đó. Thật, tôi xem những điều đó như rơm rác, hầu cho được Đấng Christ và được ở trong Ngài, được sự công bình, không phải công bình của tôi bởi luật pháp mà đến, bèn là bởi tin đến Đấng Christ mà được, tức là công bình đến bởi Đức Chúa Trời và đã lập lên trên đức tin; cho đến nỗi tôi được biết Ngài, và quyền phép sự sống lại của Ngài, và sự thông công thương khó của Ngài, làm cho tôi nên giống như Ngài trong sự chết Ngài.”

Vì Phao-lô “được biết Ngài và quyền phép sự sống lại của Ngài, và sự thông công thương khó của Ngài” làm cho ông“nên giống như Ngài trong sự chết Ngài,” cho nên, chẳng những Phao-lô không hổ thẹn về Tin lành của Đấng Christ mà ông còn khoe về thập tự giá của Đấng Christ và khoe rằng bởi thập tự giá ấy mà đối với ông thế gian đã chết và đối với thế gian thì ông cũng đã chết:

Còn như tôi, tôi hẳn chẳng khoe mình, trừ ra khoe về thập tự giá của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, bởi thập tự giá ấy, thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy!”(Ga-la-ti 6:14).

Trên thập tự giá của Đấng Christ, theo cái nhìn của Phao-lô, toàn thể thế gian tội lỗi đã chết trong sự đoán phạt của Đức Chúa Trời và Đấng Christ đã chết thay cho mọi người (II Cô-rinh-tô 5:14-15; Hê-bơ-rơ 2:9; I Giăng 2:2). Trên thập tự giá của Đấng Christ, cũng theo cái nhìn của Phao-lô, ông đã bị thế gian giết chết vì ông ở trong Đấng Christ. Trong I Cô-rinh-tô 15:31, Phao-lô viết rằng, ông “chết mỗi ngày.”

Hai xác chết thì không thể nào tương giao hay là tác động đến nhau, vì thế, mọi sỉ nhục mà thế gian trút đổ lên Phao-lô, vì cớ ông tiếp nhận và rao giảng Tin Lành của Đấng Christ, hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến ông. Thế gian không thể khiến cho Phao-lô hổ thẹn và bản thân của Tin Lành Đấng Christ không phải là điều hổ thẹn mà là Tin Lành Vinh Quang của Đức Chúa Trời (I Ti-mô-thê 1:11).

Năng Lực của Thiên Chúa để Cứu Mọi Kẻ Tin

Rô-ma 1:16 Vì tôi không hổ thẹn về Tin Lành của Đấng Christ, là năng lực của Thiên Chúa để cứu mọi kẻ tin, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp;

Tin Lành của Đấng Christ được mô tả là năng lực của Thiên Chúa để cứu mọi kẻ tin. Năng lực tức là sức mạnh và khả năng. Năng lực của Thiên Chúa là năng lực của Ba Ngôi Thiên Chúa, là sức mạnh toàn năng, là nguồn của sự sống và sự sáng, là tình yêu vô lượng vô biên. Tin Lành của Đấng Christ có sức mạnh toàn năng làm được mọi sự, biến đổi mọi sự. Tin Lành của Đấng Christ làm cho kẻ chết được sống lại và kẻ sống được sống đời đời (Giăng 11:25-26). Tin Lành của Đấng Christ chiếu sáng về mọi lẽ thật của Thiên Chúa khiến cho loài người giới hạn có thể hiểu biết, tin nhận, và thờ phượng Thiên Chúa vô hạn. Tin Lành của Đấng Christ thể hiện tình yêu của Thiên Chúa dành cho muôn loại thọ tạo và khiến cho muôn loại thọ tạo yêu thương lẫn nhau. Vì thế, Tin Lành của Đấng Christ có năng lực để cứu bất cứ ai tin nhận.

Động từ “cứu” được dùng ở đây là nói đến:

1. Sự cứu rỗi loài người ra khỏi án phạt của tội lỗi, vì mọi người đều đã phạm tội (3:23). Án phạt của tội lỗi là sự chết (3:23), tức là đời đời xa cách Chúa:

Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của quyền phép Ngài”(II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9).

Phạm tội tức là vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời: “Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp” (I Giăng 3:4). Luật pháp của Đức Chúa Trời tức là tất cả những lời giải thích về Mười Điều Răn của Ngài, bao gồm những quy định về sự đoán phạt kẻ nào vi phạm các điều được trình bày trong luật pháp. Điều răn của Chúa được ví như ngọn đèn, luật pháp của Chúa được ví như ánh sáng phát ra từ ngọn đèn. Luật pháp của Chúa làm cho chúng ta hiểu biết điều răn của Chúa: “Vì điều răn là một cái đèn, luật pháp là ánh sáng, và sự quở trách khuyên dạy là con đường sự sống” (Châm Ngôn 6:23).

2. Sự cứu rỗi loài người ra khỏi quyền lực của tội lỗi. Quyền lực của tội lỗi là sức mạnh bắt buộc chúng ta làm ra những điều trái nghịch luật pháp của Chúa mà chúng ta không thể nào không vâng theo. Cũng chính vì thế mà mọi người đều đã phạm tội. Quyền lực của tội lỗi cai trị loài người kể từ khi tổ phụ của loài người là A-đam phạm tội và di truyền cho toàn thể những ai được sinh ra theo dòng xác thịt của A-đam.

Trước là Người Do-thái, Sau Là Người Hy-lạp

Rô-ma 1:16 Vì tôi không hổ thẹn về Tin Lành của Đấng Christ, là năng lực của Thiên Chúa để cứu mọi kẻ tin, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp;

Sự cứu rỗi của Tin Lành Đấng Christ được ban cho tất cả những ai tin nhận Tin Lành, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp. Sứ Đồ Phao-lô đang viết thư cho người La-mã nhưng ông không nói đến người La-mã mà lại nói đến người Hy-lạp. Bởi vì, mục đích của Phao-lô không phải nói đến các chủng tộc mà là nói đến hai nền văn hóa: nền văn hóa Do-thái là nền văn hóa biết Chúa và nền văn hóa Hy-lạp, tiêu biểu cho nền văn hóa của thế gian, là nền văn hóa không biết Chúa.

Trong chương trình của Đức Chúa Trời, theo sự khôn ngoan của Ngài, Ngài đã chọn ra một dân tộc ở giữa thế gian để từ trong dân tộc đó Tin Lành được rao giảng và Đức Chúa Jesus được sinh ra để làm cho Tin Lành được hiện thực. Dân tộc đó là dân I-sơ-ra-ên và trong dân tộc đó, chi phái Giu-đa, còn được phiên âm là Do-thái, là chi phái sinh ra Đức Chúa Jesus về phần xác thịt. Sau khi Vương Quốc I-sơ-ra-ên bị tiêu diệt bởi Đế Quốc A-si-ry vào năm 722 TCN thì danh từ Giu-đa hay Do-thái được dùng để gọi chung toàn thể dân tộc I-sơ-ra-ên còn sót lại trong Vương Quốc Giu-đa. Ngày 14 tháng 5 năm 1948, mười hai chi phái I-sơ-ra-ên bị tan lạc khắp nơi trên thế giới đã trở về tái lập quốc trên vùng đất hứa Ca-na-an và lấy tên là Quốc Gia I-sơ-ra-ên, nhưng vẫn được gọi chung là người Do-thái.

Chính vì sự lựa chọn và sắp xếp của Đức Chúa Trời mà Tin Lành trước hết được giảng cho những người sống trong nền văn hóa biết Chúa, là dân Do-thái, rồi sau đó, được giảng cho những người sống trong nền văn hóa chưa biết Chúa, là các dân tộc còn lại trong thế gian, mà trong thời điểm thư Rô-ma được viết ra cách nay gần 2,000 năm, được tiêu biểu bằng nền văn hóa Hy-lạp.

Sự Công Bình của Thiên Chúa Được Bày Tỏ từ Đức Tin đến Đức Tin

Rô-ma 1:17 vì trong đó, sự công bình của Thiên Chúa được bày tỏ từ đức tin đến đức tin, như có chép rằng: “Người công bình sẽ sống bởi đức tin.”

Trong Tin Lành của Đấng Christ sự công bình của Thiên Chúa được bày tỏ qua đức tin của người tin nhận Tin lành. Sự công bình của Thiên Chúa có nghĩa là sự toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ của Thiên Chúa trong mọi sự. Thiên Chúa không hề giả dối, Thiên Chúa không hề độc ác, Thiên Chúa không hề thiếu sót. Chính vì thế, Thiên Chúa không thể chấp nhận bất cứ điều gì trái nghịch lại sự công bình của Ngài. Sự công bình của Thiên Chúa được tỏ bày cho loài người qua điều răn và luật pháp của Ngài:

Thật vậy, luật pháp là thánh, điều răn là thánh, công bình và tốt lành”(Rô-ma 7:12)

Đức Chúa Cha thiết lập các điều răn và luật pháp. Đức Chúa Con cai trị muôn loài vạn vật theo điều răn và luật pháp. Đức Thánh Linh cáo trách và lên án mọi sự vi phạm điều răn và luật pháp.

Sự thánh khiết của Thiên Chúa không chấp nhận bất cứ sự vi phạm điều răn và luật pháp nào. Khi loài người vi phạm điều răn và luật pháp của Thiên Chúa thì sự công bình của Thiên Chúa đòi hỏi hình phạt phải được thi hành trên kẻ phạm pháp. Tuy nhiên, Thiên Chúa cũng là tình yêu, Ngài không muốn loài người phải gánh lấy án phạt đời đời dành cho tội lỗi, vì thế, Ngài đã ban cho loài người sự cứu rỗi. Trong sự cứu rỗi đó, Đấng Christ gánh thay án phạt cho loài người, loài người được tha tội: sự thánh khiết, sự công bình, cùng với sự yêu thương của Thiên Chúa hoàn toàn được thỏa mãn.

Dầu Đức Chúa Trời ban ơn cứu rỗi cho nhân loại, Đức Chúa Con thi hành sự cứu rỗi, Đức Thánh Linh áp dụng giá trị và năng lực của sự cứu rỗi cho những ai tin nhận sự cứu rỗi, nhưng nếu không có ai tin nhận sự cứu rỗi đó thì sự công bình của Thiên Chúa không thể bày tỏ trong Tin Lành. Điều đó tương tự như: một dược sĩ có biệt tài chế thuốc chữa bệnh và đã chế thuốc chữa bệnh; chất thuốc có công hiệu chữa lành bệnh; nhưng nếu bệnh nhân không chịu uống thuốc thì công hiệu của sự chữa bệnh không thể bày tỏ trong sự chế thuốc của dược sĩ.

Trong Tin Lành của Đấng Christ sự công bình của Thiên Chúa được bày tỏ từ đức tin đến đức tin có nghĩa là: từ đức tin cơ bản về sự tha tội cho đến đức tin về sự quan phòng của Thiên Chúa hay đức tin về sự sống đời đời đều chiếu sáng sự công bình của Thiên Chúa.

  1. Trong đức tin về sự tha tội: Đấng Christ chết thay cho chúng ta nên chúng ta không còn bị hình phạt, đó là sự công bình của Thiên Chúa được thể hiện.
  2. Trong đức tin về sự quan phòng của Thiên Chúa: Ngài kêu gọi chúng ta chớ lo lắng về mọi nhu cầu trong cuộc sống, nhưng trước hết hãy tìm kiếm vương quốc và sự công bình của Ngài thì Ngài sẽ ban cho chúng ta mọi nhu cầu, và Ngài giữ đúng lời hứa của Ngài, đó là sự công bình của Thiên Chúa được thể hiện.
  3. Trong đức tin về sự sống đời đời: Ngài hứa với chúng ta rằng, hãy tin nhận Đức Chúa Jesus Christ, (tức là công nhận và làm theo mọi lời phán dạy của Đấng Christ) thì Ngài sẽ ban cho chúng ta sự sống đời đời. Khi chúng ta thật lòng tin nhận Đức Chúa Jesus Christ thì Đức Thánh Linh ngự vào thân thể chúng ta và làm chứng cho chúng ta biết rằng, chúng ta được ở trong địa vị con cái của Đức Chúa Trời và sẽ nhận lãnh sự sống đời đời, đó là sự công bình của Thiên Chúa được thể hiện. Hiện nay, chúng ta chỉ mới nhận lãnh lời hứa về sự sống đời đời. Trong ngày Chúa hiện ra để đem chúng ta ra khỏi thế gian này chúng ta mới thực sự nhận lãnh sự sống đời đời (Đa-ni-ên 12:2; Mác 10:30; Lu-ca 18:30).

Người Công Bình Sẽ Sống Bởi Đức Tin

Rô-ma 1:17 vì trong đó, sự công bình của Thiên Chúa được bày tỏ từ đức tin đến đức tin, như có chép rằng: “Người công bình sẽ sống bởi đức tin.”

Người không còn chịu trách nhiệm về mọi tội lỗi của mình vì đã tin nhận sự chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ là một người công bình trước mặt Đức Chúa Trời. Người ấy nhờ có đức tin vào Tin lành Cứu Rỗi của Đấng Christ mà được xưng là công bình, được sống lại và tiếp tục sống bởi đức tin. Từ ngữ “sống” được dùng ở đây không phải chỉ nói đến sự sống trong thân thể xác thịt này của chúng ta mà còn nói đến sự sống thiêng liêng và sự sống đời đời. Trong II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9 nói đến sự hư mất đời đời là sự bị xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của quyền phép Ngài, còn Khải Huyền 21:8 thì gọi đó là sự chết thứ hai. Như vậy, ý nghĩa tuyệt đối của “sự chết” tức là đời đời xa cách Chúa, còn ý nghĩa tuyệt đối của “sự sống” tức là đời đời ở bên Chúa, được thấy mặt Chúa, và được cai trị cơ nghiệp của Chúa như Khải Huyền 22:4-5 đã ghi rõ.

“Người công bình sẽ sống bởi đức tin” (trích từ Ha-ba-cúc 2:4) có nghĩa là: Người đã được Chúa tha tội và làm cho sạch tội sẽ nhờ đức tin mà trong đời này thắng mọi cám dỗ và tội lỗi, thỏa lòng trong mọi cảnh ngộ, trong đời sau được đời đời ở bên Chúa, được thấy mặt Chúa, và được cai trị cơ nghiệp của Ngài.

Kết Luận

Danh từ “Tin Lành của Đấng Christ” nói đến Tin lành của Thiên Chúa được rao giảng bởi Đấng Christ và do chính Đấng Christ làm cho hiện thực. Tin Lành của Đấng Christ là sức mạnh và khả năng của Thiên Chúa để giải cứu loài người phạm tội ra khỏi hậu quả và quyền lực của tội lỗi, không phân biệt chủng tộc và trình độ tri thức. Tin Lành của Đấng Christ không giới hạn trong sự cứu rỗi mà còn bao gồm cả sự ban cho tuyệt đối của Thiên Chúa, tức là Thiên Chúa ban chính mình Ngài trong thân vị Đức Chúa Con cho những ai tin nhận Tin Lành. Tin Lành của Đấng Christ bày tỏ trọn vẹn sự công bình của Thiên Chúa trong mọi phương diện của đức tin: sự công bình của Thiên Chúa trong mọi ý định, trong mọi lời phán, và trong mọi việc làm của Ba Ngôi Thiên Chúa đối với loài người.

Chúng ta cần kinh nghiệm Tin Lành của Đấng Christ như sứ đồ Phao-lô đã kinh nghiệm đến nỗi chúng ta cũng được biết Ngài, và quyền phép sự sống lại của Ngài, và sự thông công thương khó của Ngài, làm cho chúng ta nên giống như Ngài trong sự chết Ngài. A-men!

 

Ghi Chú: Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.net www.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

[1] Nhóm chữ “Tin Lành của Đấng Christ” được Phao-lô dùng mười lần trong những câu Thánh Kinh sau đây: Rô-ma 1:16; 15:19; I Cô-rinh-tô 9:12; II Cô-rinh-tô 2:12; 4:4; 9:13; 10:14; Ga-la-ti 1:7; I Tê-sa-lô-ni-ca 3:2; II Tê-sa-lô-ni-ca 1:8.

[2] “Sự mạc khải của Đức Chúa Jesus Christ mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài để tỏ ra cho các tôi tớ Ngài những điều sắp phải xảy đến; Ngài đã sai thiên sứ Ngài tỏ ra cho tôi tớ Ngài là Giăng.”


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Đọc Tiếp →
2,553 views

Rô-ma_003 Tin Lành của Thiên Chúa

Roma_003 Tin Lành của Thiên Chúa

Huỳnh Christian Timothy
30.06.2012

Bấm vào đây để download bài viết này

Bấm vào đây để nghe và download MP3 audio bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/977

Dẫn Nhập:

Trong bài trước chúng ta đã học về ý nghĩa “Tin Lành của Thiên Chúa.” Trong bài này chúng ta sẽ học về các đặc tính của Tin Lành của Thiên Chúa được trình bày trong Rô-ma 1:2-6. Trước hết, chúng ta hãy cùng nhau đọc lại Rô-ma 1:1-6:

Rô-ma 1:1 Phao-lô, tôi tớ của Đức Chúa Jesus Christ, được gọi làm sứ đồ, biệt riêng cho Tin Lành của Thiên Chúa –

Rô-ma 1:2 là sự Ngài đã hứa trước trong Thánh Kinh, bởi những tiên tri của Ngài,

Rô-ma 1:3 về Con Ngài; theo xác thịt là Đấng ra từ dòng dõi Đa-vít,

Rô-ma 1:4 theo Linh của sự thánh khiết là Đấng được công bố là Con của Thiên Chúa trong năng lực, bởi sự sống lại từ những kẻ chết của Jesus Christ, Chúa chúng ta;

Rô-ma 1:5 nhờ Ngài mà chúng tôi đã nhận lãnh ân điển và chức sứ đồ, cho sự vâng phục của đức tin trong mọi dân tộc, vì danh Ngài;

Rô-ma 1:6 trong những dân ấy có các anh chị em và các anh chị em là những người được gọi của Đức Chúa Jesus Christ; –

Ba chữ “Ngài” trong các câu 2 và 3 là đại danh từ thay thế cho danh xưng Thiên Chúa trong câu 1. Hai chữ “Ngài” trong câu 5 là đại danh từ thay thế cho danh xưng Jesus Christ trong câu 4. Vì thế, chúng ta có thể diễn ý của Rô-ma 1:1-6 như sau:

Rô-ma 1:1 Phao-lô, tôi tớ của Đức Chúa Jesus Christ, được gọi làm sứ đồ, biệt riêng cho Tin Lành của Thiên Chúa –

Rô-ma 1:2 là Tin Lành Thiên Chúa đã hứa từ trước mà những tiên tri của Thiên Chúa đã ghi chép lời hứa đó trong Thánh Kinh.

Rô-ma 1:3 Đó là Tin Lành về Con Thiên Chúa; theo xác thịt Con Thiên Chúa được sinh ra từ dòng dõi Đa-vít,

Rô-ma 1:4 theo Thánh Linh Con Thiên Chúa được công bố là Con của Thiên Chúa trong năng lực, bởi sự sống lại từ những kẻ chết của Jesus Christ, là Chúa chúng ta;

Rô-ma 1:5 nhờ Jesus Christ mà chúng tôi đã nhận lãnh ân điển và chức sứ đồ, cho sự vâng phục của đức tin trong mọi dân tộc, vì danh Jesus Christ;

Rô-ma 1:6 trong những dân ấy có các anh chị em và các anh chị em là những người được gọi của Đức Chúa Jesus Christ; –

Ngài Đã Hứa Trước Trong Thánh Kinh:

Rô-ma 1:2 là sự Ngài đã hứa trước trong Thánh Kinh, bởi những tiên tri của Ngài,

Khi thư Rô-ma được Đức Thánh Linh thần cảm cho Sứ Đồ Phao-lô viết ra vào đầu mùa xuân năm 57 thì lúc bấy giờ Hội Thánh chỉ có Thánh Kinh phần Cựu Ước, bao gồm 39 sách. Vì thế, khi nói Thiên Chúa đã hứa trước về Tin Lành trong Thánh Kinh, tức là nói đến Thánh Kinh phần Cựu Ước. Thánh Kinh Cựu Ước được viết trong khoảng thời gian 1,000 năm, khoảng từ năm 1446 TCN đến năm 400 TCN. Năm sách đầu tiên của Cựu Ước được viết trước nhất và có lẽ được Môi-se khởi sự viết vào dịp hai lần ông ở trên núi Si-na-i, mỗi lần 40 ngày, 40 đêm, theo lệnh của Thiên Chúa (Xuất Ê-díp-tô Ký 24:18; 34:28; Phục Truyền Luật Lệ Ký 31:24-26) và kéo dài trong suốt gần 40 năm trước khi đoạn 34 của sách Phục Truyền Luật Lệ Ký được Giô-suê viết để kết thúc sách này, ngay sau khi Môi-se qua đời. Sách được viết sau cùng vào khoảng năm 400 TCN là sách E-xơ-ra, sau khi dân I-sơ-ra-ên mãn hạn phu tù 70 năm tại Ba-by-lôn. Nhiều lời hứa trước về Tin Lành đã được Thiên Chúa phán truyền từ những ngày đầu của thời sáng thế, liền sau khi loài người phạm tội, cho đến suốt chiều dài lịch sử 1000 năm đầu của dân tộc I-sơ-ra-ên, đã được những tiên tri của Ngài ghi lại trong Thánh Kinh.

Lời hứa đầu tiên về Tin Lành được Thiên Chúa phán trực tiếp với Sa-tan trong vườn Ê-đen cách nay khoảng 6,000 năm và được Môi-se ghi lại trong Sáng Thế Ký 3:15 cách nay khoảng 3,400 năm: “Ta sẽ làm cho ngươi cùng người nữ, dòng dõi ngươi cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu ngươi, còn ngươi sẽ cắn gót chân người.” Sự ứng nghiệm của lời hứa này được xác chứng bởi Ga-la-ti 4:4, 5 cách nay khoảng 1,960 năm: “Nhưng khi kỳ hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài bởi một người nữ sanh ra, sanh ra dưới luật pháp, để chuộc những kẻ ở dưới luật pháp, và cho chúng ta được làm con nuôi Ngài.”

Đức Chúa Jesus Christ thuộc dòng dõi người nữ, qua sự hy sinh của Ngài trên thập tự giá, đã phá tan quyền lực của tội lỗi và sự chết mà Sa-tan dùng để hủy diệt nhân loại; đó là hành động giày đạp đầu Sa-tan. Còn Sa-tan, dù có thể làm sỉ nhục và giết chết Đấng Christ nhưng Ngài đã sống lại từ trong sự chết với một thân thể vinh quang, khiến cho việc làm của Sa-tan chỉ có tác động tạm thời gây thương tích như một vết cắn vào gót chân.

Sau đây là một số câu Thánh Kinh Cựu Ước ghi lại lời hứa về Tin Lành trong Đấng Christ:

Sáng Thế Ký 3:15; 49:10;

Dân Số Ký 24:17-19;

Phục Truyền Luật Lệ Ký 18:15;

Thi Thiên 2:7-9; 8:2; 16:10; 22:1, 7-8, 16-18; 30:3; 31:5; 34:20; 35:11, 19; 38:11; 41:9; 45:6-7; 49:15; 68:18; 69:9, 21; 72:1-7; 78:2-4; 102:25-27; 109:4, 25; 110:1-6; 118:17, 22;

Châm Ngôn 30:4;

Ê-sai 7:14; 8:14; 9:1-7; 11:1-10; 28:16; 29:18-19; 33:5-6; 40:3-5; 42:1-4; 44:3; 49:1; 50:6; 53:1-12; 55:3-4; 56:7; 59:16; 60:3; 61:1-3; 63:14; 65:1;

Giê-rê-mi 6:16; 7:11; 23:5, 6; 31:15, 31;

Ê-xê-chi-ên 37:24;

Đa-ni-ên 9:25;

Ô-sê 11:1;

A-mốt 8:9;

Mi-chê 5:2;

Xa-cha-ri 9:9; 11:12-13; 12:10; 13:6-7;

Ma-la-chi 3:1; 4:5-6

Bởi Những Tiên Tri của Ngài:

Rô-ma 1:2 là sự Ngài đã hứa trước trong Thánh Kinh, bởi những tiên tri của Ngài,

Từ ngữ “tiên tri” trong tiếng Hán Việt có nghĩa là “biết trước.” Người tiên tri là người biết trước hoặc nói trước một việc sẽ xảy ra. Từ ngữ này được dịch từ nguyên ngữ Hy-lạp: προφήτης, G4396, phiên âm Anh /prophētēs/, phiên âm Việt /prô`-phí-tịt/, có nghĩa là: “người truyền đạt và giải thích Lời của Thiên Chúa cho người khác,” mà phần lớn là những lời báo trước những điều Thiên Chúa sẽ làm đối với loài người. Tiên tri của Thiên Chúa là những người được Ngài ban cho chức vụ “tiên tri” và thần cảm cho họ, để họ trực tiếp rao truyền mọi lời phán của Ngài cho loài người và ghi chép lại những lời ấy trong Thánh Kinh. Chính vì vậy mà Thánh Kinh được gọi là Lời của Đức Chúa Trời, tức là ý muốn của Đức Chúa Cha, được phán truyền bởi Đức Chúa Con (vì Đức Chúa Con là Ngôi Lời – tức là “phát ngôn viên” – của Thiên Chúa, Giăng 1:1), và được Đức Thánh Linh thần cảm cho các tiên tri của Thiên Chúa lập lại cho loài người và chép thành Thánh Kinh (II Phi-e-rơ 1:20, 21).

Về Con Ngài:

Rô-ma 1:3 về Con Ngài; theo xác thịt là Đấng ra từ dòng dõi Đa-vít,

Chữ “Ngài” trong 1:2 và 1:3 đều chỉ về chủ từ “Thiên Chúa” trong 1:1. Vì thế, “Con Ngài” tức là “Con Thiên Chúa.” Ở đây, Đức Thánh Linh không dùng nhóm chữ “Con Đức Chúa Trời” mà dùng nhóm chữ “Con Thiên Chúa,” bởi vì, hai nhóm chữ này nhấn mạnh những ý nghĩa khác nhau.

  • “Con Thiên Chúa” áp dụng cho Đức Chúa Jesus Christ nhấn mạnh ý nghĩa: Đức Chúa Jesus Christ là một với Đức Chúa Cha trong bản thể và bản tính. Đức Chúa Cha là Thiên Chúa, Đức Chúa Jesus Christ cũng là Thiên Chúa và có đầy đủ mọi thần tính của Thiên Chúa. Các câu Thánh Kinh dưới đây giúp cho chúng ta hiểu rõ nhóm chữ “Con Thiên Chúa” khi được dùng để gọi Đức Chúa Jesus Christ:

Trước nguyên ủy, hằng có Ngôi Lời. Ngôi Lời hằng ở cùng Đức Chúa Trời; và Ngôi Lời hằng là Thiên Chúa” (Giăng 1:1).

Ngài vốn có hình Thiên Chúa, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Thiên Chúa là sự nên nắm giữ” (Phi-líp 2:6).

Vì sự đầy dẫy của bản tính của Thiên Chúa thảy đều ở trong Đấng ấy như có hình” (Cô-lô-se 2:9).

  • “Con Thiên Chúa” áp dụng cho thiên sứ như được dùng trong Sáng Thế Ký 6:1 và Gióp 38:7 nhấn mạnh ý nghĩa: thiên sứ được dựng nên với một thân thể thần linh như Thiên Chúa và được mặc lấy sự công bình, thánh sạch, và chân thật của Thiên Chúa, được ban cho các năng lực siêu nhiên để có thể làm ra những việc siêu nhiên như Thiên Chúa.
  • “Con Thiên Chúa” áp dụng cho loài người như được dùng trong Ma-thi-ơ 5:9: “Phước cho những kẻ làm cho người hòa thuận, vì sẽ được gọi là con Thiên Chúa!” nhấn mạnh ý nghĩa những người như vậy sẽ được “mặc lấy người mới, tức là người đã được dựng nên giống như Thiên Chúa, trong sự công bình và sự thánh sạch của lẽ thật” (Ê-phê-sô 4:24). Sự mặc lấy người mới hay là sự tái sinh, sự dựng nên mới trong Đấng Christ (II Cô-rinh-tô 5:17) chỉ xảy ra sau khi Đức Chúa Jesus phục sinh, hoàn thành công cuộc cứu chuộc nhân loại. Chúng ta cũng cần ghi nhớ là trong buổi đầu sáng thế, Thiên Chúa dựng nên loài người giống như Ngài (Sáng Thế Ký 1:27), cho nên, khi loài người chưa phạm tội thì loài người cũng là con Thiên Chúa trong cùng ý nghĩa áp dụng cho thiên sứ. Sau khi loài người phạm tội thì bị mất đi địa vị con Thiên Chúa cho đến khi Đức Chúa Jesus Christ hoàn thành sự chuộc tội cho nhân loại thì những ai tin nhận sự chuộc tội của Đấng Christ liền được phục hồi địa vị con Thiên Chúa. Danh từ “con Thiên Chúa” không phải chỉ là một danh hiệu để gọi mà còn là phẩm chất của người được gọi, nghĩa là: người được gọi là “con Thiên Chúa” có phẩm chất giống như Thiên Chúa như Thánh Kinh đã dạy rõ trong Ê-phê-sô 4:24.
  • “Con Đức Chúa Trời” áp dụng cho Đức Chúa Jesus Christ nhấn mạnh ý nghĩa: Trong Ba Ngôi Thiên Chúa, Đức Chúa Jesus Christ là Đấng cầm quyền cai trị muôn loài thọ tạo. Quyền cai trị đó đến từ Đức Chúa Cha và năng lực cai trị đến từ Đức Thánh Linh. Các câu Thánh Kinh dưới đây giúp cho chúng ta hiểu rõ nhóm chữ “Con Đức Chúa Trời” khi được dùng để gọi Đức Chúa Jesus Christ:

Đức Chúa Jesus đến gần, phán cùng môn đồ như vầy: Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho Ta” (Ma-thi-ơ 28:18).

Ngài đã bắt muôn vật phục dưới chân Đấng Christ, và ban cho Đấng Christ làm đầu Hội Thánh” (Ê-phê-sô 1:22).

Cũng vì đó nên Đức Chúa Trời đã đem Ngài lên rất cao, và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh, hầu cho nghe đến danh Đức Chúa Jesus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, thảy đều quì xuống, và mọi lưỡi thảy đều xưng Jesus Christ là Chúa, mà tôn vinh Thiên Phụ” (Phi-líp 2:9-11).

Trên áo và trên đùi Ngài có một danh được viết: 'Vua Của Các Vua và Chúa Của Các Chúa'” (Khải Huyền 19:16).

  • “Con Đức Chúa Trời” áp dụng cho loài người nhấn mạnh ý nghĩa: loài người được cùng với Đức Chúa Jesus Christ thừa hưởng cơ nghiệp của Đức Chúa Trời, được đồng cai trị với Đức Chúa Jesus Christ.

Hãy tạ ơn Đức Chúa Cha, Ngài đã khiến anh em có thể dự phần cơ nghiệp của các thánh trong sự sáng láng” (Cô-lô-se 1:12).

Vì biết rằng anh em sẽ bởi Chúa mà được cơ nghiệp làm phần thưởng. Hãy hầu việc Đấng Christ, tức là Chúa” (Cô-lô-se 3:24).

Nhơn đó, Ngài là Đấng trung bảo của giao ước mới, để khi Ngài chịu chết mà chuộc tội đã phạm dưới giao ước cũ, thì những kẻ được kêu gọi nhận lãnh cơ nghiệp đời đời đã hứa cho mình” (Hê-bơ-rơ 9:15).

Và Ngài làm cho chúng ta đồng sống lại và đồng ngồi trong các nơi trên trời trong Đấng Christ Jesus” (Ê-phê-sô 2:6).

Lại nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì sẽ cùng Ngài đồng trị; nếu chúng ta chối Ngài, thì Ngài cũng sẽ chối chúng ta” (II Ti-mô-thê 2:12).

Theo Xác Thịt:

Rô-ma 1:3 về Con Ngài; theo xác thịt là Đấng ra từ dòng dõi Đa-vít,

Từ ngữ “xác thịt” nói đến con người thuộc thể ra từ bụi đất (Sáng Thế Ký 2:7). “Theo xác thịt” là nói về phần bản thể loài người và nhân tính của Đức Chúa Jesus Christ. Ngài được sinh ra trong dòng dõi của Vua Đa-vít vì cả Giô-sép lẫn Ma-ri đều là con cháu của Vua Đa-vít. Ngài mang huyết thống của Ma-ri, nhưng Ngài không mang huyết thống của Giô-sép, vì thế, Ngài không bị nhiễm tội. Đối với Giô-sép Ngài là con nuôi nhưng con nuôi vẫn được hưởng quyền thừa kế như con ruột, cho nên, về mặt luật pháp Ngài có tư cách tiếp nối ngôi vua của Đa-vít theo dòng Giô-sép. Rô-ma 1:3 hàm ý Đức Chúa Jesus Christ là người 100% và có quyền nối ngôi vua của Đa-vít mà Đức Chúa Trời đã thiết lập cho đến đời đời:

Ta đã lập giao ước cùng kẻ được chọn của Ta, Ta đã thề cùng Đa-vít, kẻ tôi tớ Ta, mà rằng: Ta sẽ lập dòng dõi ngươi đến mãi mãi, và dựng ngôi ngươi lên cho vững bền đến đời đời” (Thi Thiên 89:3, 4).

Ta đã chỉ sự thánh Ta mà thề một lần, cũng sẽ không hề nói dối với Đa-vít: Dòng dõi người sẽ còn đến đời đời, và ngôi người sẽ còn lâu như mặt trời ở trước mặt Ta. Ngôi ấy sẽ được lập vững bền mãi mãi như mặt trăng, chứng nhân thành tín ở trên trời vậy” (Thi Thiên 89:35-37).

Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ đặt trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ lùng, là Đấng Mưu luận, là Thiên Chúa Quyền năng, là Cha Đời đời, là Chúa Bình an. Quyền cai trị và sự bình an của Ngài cứ thêm mãi không thôi, ở trên ngôi Đa-vít và trên nước Ngài, đặng làm cho nước bền vững, và lập lên trong sự chánh trực công bình, từ nay cho đến đời đời. Thật, lòng sốt sắng của Đức Giê-hô-va Vạn Quân sẽ làm nên sự ấy” (Ê-sai 9:5, 6)!

Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ Ta sẽ dấy lên cho Đa-vít một nhánh công bình. Ngài sẽ cai trị, làm vua, lấy cách khôn ngoan mà ăn ở, làm sự chánh trực công bình trong đất” (Giê-rê-mi 23:5; 33:15).

Vả, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Đa-vít sẽ chẳng thiếu một người nam để ngồi trên ngai nhà I-sơ-ra-ên” (Giê-rê-mi 33:17).

Gia phổ Đức Chúa Jesus Christ, con cháu Đa-vít và con cháu Áp-ra-ham” (Ma-thi-ơ 1:1).

Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Đấng Rất Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít là tổ phụ Ngài” (Lu-ca 1:32).

"Ta, Jesus, đã sai thiên sứ Ta để làm chứng cho các ngươi những sự này trong các Hội Thánh. Ta là chồi và hậu tự của Đa-vít, là sao mai sáng chói" (Khải Huyền 22:16).

Theo Linh của Sự Thánh Khiết và Con của Thiên Chúa Trong Năng Lực:

Rô-ma 1:4 theo Linh của sự thánh khiết là Đấng được công bố là Con của Thiên Chúa trong năng lực, bởi sự sống lại từ những kẻ chết của Jesus Christ, Chúa chúng ta;

“Linh của sự thánh khiết” tức là Linh của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Đấng Thánh, trái với “linh của sự ô uế” là linh của những kẻ chống nghịch Thiên Chúa. Linh của Thiên Chúa còn gọi là Thánh Linh, là quyền phép, năng lực, và sự sống đến từ Thiên Chúa. Theo Thánh Linh thì Đức Chúa Jesus Christ đã được tỏ ra là “Con của Thiên Chúa trong năng lực.” Rô-ma 1:4 hàm ý Đức Chúa Jesus Christ là Thiên Chúa 100% cầm quyền trên sự sống, sự chết, và muôn loài thọ tạo.

Trong Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời, hai danh từ Hán Việt dưới đây được chọn để dịch hai từ ngữ tiếng Hy-lạp dùng để chỉ về “sức mạnh và khả năng,” “thẩm quyền và khả năng:”

  • Năng lực:Sức mạnh và khả năng để làm một điều gì. Tiếng Hy-lạp: δύναμις, G1411, phiên âm Anh /dunamis/, phiên âm Việt /đu-na-mít/. Tiếng Anh: power and ability. Câu Thánh Kinh tiêu biểu:

Vì tôi không hổ thẹn về Tin Lành của Đấng Christ, là năng lực của Thiên Chúa để cứu mọi kẻ tin, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp”(Rô-ma 1:16).

  • Năng quyền: Thẩm quyền và khả năng để làm một điều gì. Tiếng Hy-lạp: ἐξουσία,G1849, phiên âm Anh /exousia/, phiên âm Việt /êt-xô-xia/. Tiếng Anh: power and authority. Câu Thánh Kinh tiêu biểu:

Nhưng hễ những ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho họ năng quyền, để trở nên con cái của Đức Chúa Trời; là ban cho những kẻ tin vào danh Ngài” (Giăng 1:12).

Nghĩa đen của từ ngữ “công bố” trong nguyên ngữ Hy-lạp là: đánh dấu giới hạn hay ranh giới của một cánh đồng hoặc một vật gì; nghĩa bóng là: sự xác định, sự chỉ định, sự công bố.

Nhóm chữ “Con của Thiên Chúa trong năng lực” có nghĩa là: Con của Thiên Chúa với trọn vẹn sức mạnh và khả năng của Thiên Chúa vì Ngài có bản thể và bản tính Thiên Chúa (Giăng 1:1; Phi-líp 2:6). Chính sự sống lại từ trong những kẻ chết của Đức Chúa Jesus Christ đã “đánh dấu,” đã “xác định,” đã “công bố” rằng, Ngài là “Con của Thiên Chúa và có trọn vẹn sức mạnh cùng khả năng của Thiên Chúa.”

Chính “Con của Thiên Chúa” đó, là Jesus Christ, là Chúa của chúng ta! Từ ngữ “Chúa” trong nguyên ngữ Hy-lạp là κύριος, G2962, phiên âm Anh /kurios/, phiên âm Việt /kiu-ri-ót/, được dùng để gọi một người hoàn toàn có thẩm quyền trên sự sống và sự chết của mình, như vì vua trong một vương quốc, như người chủ của một nô lệ. Chúa của chúng ta không phải là một bạo chúa mà Ngài là Chúa của tình yêu. Ngài yêu chúng ta và hy sinh mọi vinh quang của chính Ngài để cứu chuộc chúng ta, dùng máu của Ngài để rửa sạch mọi tội lỗi của chúng ta (Khải Huyền 1:6), nhờ đó, chúng ta được ban cho năng quyền để trở nên con cái của Đức Chúa Trời (Giăng 1:12), được trở thành anh em với Ngài (Rô-ma 8:29). Rồi trong vương quốc đời đời của Ngài chúng ta được đồng cai trị với Ngài (Ê-phê-sô 2:6; II Ti-mô-thê 2:12).

Ân Điển và Chức Sứ Đồ:

Rô-ma 1:5 nhờ Ngài mà chúng tôi đã nhận lãnh ân điển và chức sứ đồ, cho sự vâng phục của đức tin trong mọi dân tộc, vì danh Ngài;

Ơn được biệt riêng ra từ trong lòng mẹ để hầu việc Chúa qua chức vụ sứ đồ mà Phao-lô và các bạn của ông nhận được đều là nhờ Đức Chúa Jesus Christ. Nếu Đức Chúa Jesus Christ không hoàn thành công cuộc cứu chuộc nhân loại thì Phao-lô và các bạn của ông vẫn ở trong sự hư mất. Nếu Phao-lô và các bạn của ông đã tin nhận sự cứu chuộc của Đấng Christ mà Ngài không ban chức vụ sứ đồ cho họ thì họ cũng không thể dự phần trong công cuộc đem nhiều người trong mọi dân tộc đến với Tin Lành của Thiên Chúa. Chúng ta cần ghi nhớ, các chức vụ là do Đức Chúa Cha thiết lập (I Cô-rinh-tô 12:28) nhưng sự ban cho người nào chức vụ nào thì do Đức Chúa Con (Ê-phê-sô 4:11); còn thẩm quyền, khả năng, và ơn để thi hành chức vụ là do Đức Thánh Linh (I Cô-rinh-tô 12).

Sự Vâng Phục của Đức Tin Trong Mọi Dân Tộc:

Rô-ma 1:5 nhờ Ngài mà chúng tôi đã nhận lãnh ân điển và chức sứ đồ, cho sự vâng phục của đức tin trong mọi dân tộc, vì danh Ngài;

Đức tin nói đến ở đây tức là đức tin vào trong mọi lời phán truyền của Đức Chúa Jesus Christ, tức là, tin vào Tin Lành Cứu Rỗi. Tin vào Tin Lành Cứu Rỗi bao gồm: tin vào thân vị Con Thiên Chúa và Con Loài Người của Đức Chúa Jesus Christ, tin vào Đức Chúa Trời là Thiên Chúa Ngôi Cha, tin vào Đức Thánh Linh là Thần Lẽ Thật, là Đấng an ủi con dân Chúa và dẫn con dân Chúa vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa. Đức tin phải được thể hiện bằng việc làm, là sự vâng phục, tức là đồng ý và làm theo mọi lời phán truyền của Đức Chúa Jesus Christ. Trong những lời phán truyền của Đức Chúa Jesus Christ nổi bật nhất là: Hãy ăn năn, đừng phạm tội nữa, hãy làm theo ý muốn của Đức Chúa Cha, hãy trở nên trọn vẹn như Đức Chúa Cha.

Nói cách khác, đức tin vào trong Đấng Christ được thể hiện bằng hành động: làm theo mọi ý muốn của Đức Chúa Cha được thể hiện trong Thánh Kinh Cựu Ước và tóm lược trong Mười Điều Răn, được Đức Chúa Con rao giảng trong bốn sách Tin Lành và sách Khải Huyền, được Đức Thánh Linh dạy dỗ trong sách Công Vụ Các Sứ Đồ và các thư tín Tân Ước. Ai nói mình có đức tin nơi Đấng Christ mà không vâng giữ điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời như Đấng Christ đã vâng giữ thì người ấy là kẻ nói dối:

Nầy tại sao chúng ta biết mình đã biết Ngài, ấy là tại chúng ta giữ các điều răn của Ngài. Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ các điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người. Nhưng ai giữ lời phán Ngài, thì lòng yêu Đức Chúa Trời thật là trọn vẹn trong người ấy. Bởi đó, chúng ta biết mình ở trong Ngài. Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm” (I Giăng 2:3-6)

Mọi dân tộc vì cớ không vâng phục ý muốn của Đức Chúa Cha được thể hiện trong các điều răn và luật pháp của Ngài, cho nên, mọi dân tộc phạm tội và làm ô uế đất:

Đất bị dân cư làm ô uế, vì họ đã phạm luật pháp, trái điều răn, dứt giao ước đời đời” (Ê-sai 24:5).

Tin Lành Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời ban cho nhân loại trong Đức Chúa Jesus Christ khiến cho mọi dân tộc, nếu tin nhận Tin Lành Cứu Rỗi, có thể vâng phục ý muốn của Đức Chúa Cha, tức là vâng giữ các điều răn và luật pháp của Ngài. Bởi vì, danh “Jesus” có nghĩa là: “Thiên Chúa Hằng Sống là Sự Cứu Rỗi” và Tin Lành Cứu Rỗi của Đấng Christ có năng lực để cứu mọi kẻ tin, thuộc bất cứ dân tộc nào, ra khỏi quyền lực và hậu quả của tội lỗi (1:16) để chiếu sáng ý nghĩa của danh “Jesus.” Đó là ý nghĩa của nhóm chữ: “sự vâng phục của đức tin trong mọi dân tộc, vì danh Ngài.”

Những Người Được Gọi của Đức Chúa Jesus Christ:

Rô-ma 1:6 trong những dân ấy có các anh chị em và các anh chị em là những người được gọi của Đức Chúa Jesus Christ; –

“Những người được gọi của Đức Chúa Jesus Christ” là: những người được Đức Chúa Cha dùng Tin Lành để gọi họ đến với Đức Chúa Jesus Christ, đến với vương quốc, đến với sự vinh quang của Ngài:

Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài đã gọi anh em được thông công với Con Ngài là Đức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta” (I Cô-rinh-tô 1:9).

Anh em cũng biết rằng chúng tôi đối đãi với mỗi người trong anh em, như cha đối với con, khuyên lơn, an ủi, và nài xin anh em ăn ở một cách xứng đáng với Đức Chúa Trời, là Đấng gọi anh em đến vương quốc Ngài và sự vinh quang Ngài” (I Tê-sa-lô-ni-ca 2:11, 12).

Hỡi anh em yêu dấu của Chúa, còn như chúng tôi, phải vì anh em tạ ơn Đức Chúa Trời không thôi, vì vừa lúc ban đầu, Ngài đã chọn anh em trong sự thánh hóa của thần quyền và niềm tin của lẽ thật, đặng ban sự cứu rỗi cho anh em. Ấy cũng là vì đó mà Ngài đã dùng Tin Lành chúng tôi gọi anh em, đặng anh em hưởng được sự vinh quang của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta” (II Tê-sa-lô-ni-ca 2:13, 14).

Ấy chính Chúa đã cứu chúng ta, đã gọi chúng ta bởi sự kêu gọi thánh, chẳng phải theo việc làm chúng ta, bèn theo ý riêng và ân điển của Ngài đã ban cho chúng ta trong Đấng Christ Jesus từ trước khi thế gian bắt đầu” (II Ti-mô-thê 1:9).

Kết Luận:

Từ trước vô cùng Thiên Chúa đã sắm sẵn chương trình cứu chuộc nhân loại ra khỏi tội lỗi và phục hồi địa vị làm con Thiên Chúa cho những ai tin nhận sự cứu rỗi của Ngài. Chương trình ấy được gọi là Tin Lành của Thiên Chúa với sự đồng công của Ba Ngôi Thiên Chúa. Đức Chúa Cha ban sự cứu rỗi bởi sự hy sinh Con Một của Ngài làm sinh tế chuộc tội. Đức Chúa Con thi hành sự cứu rỗi bằng cách nhận thay án phạt và chết thay cho toàn thể nhân loại. Đức Thánh Linh áp dụng giá trị và năng lực của sự cứu rỗi cho những người tin nhận Đức Chúa Jesus Christ để tái sinh họ, thánh hóa họ, và ban các ân tứ cho họ, khiến cho họ được trở nên giống như Thiên Chúa trong sự công bình và thánh sạch của lẽ thật (Ê-phê-sô 4:24).

Tin Lành ấy được Thiên Chúa dùng các tiên tri của Ngài để hứa trước và ghi lại trong Thánh Kinh rằng, Con của Thiên Chúa phải nhập thế làm người, mang lấy trọn vẹn bản thể loài người để có thể gánh thay hình phạt của tội lỗi cho loài người nhưng vẫn đầy trọn bản thể của Thiên Chúa với sự trọn lành và vô hạn để có thể cứu chuộc tất cả nhân loại. Tin Lành ấy được ban cho mọi dân tộc và được rao giảng cho muôn dân bởi những người được chọn làm sứ đồ của Đấng Christ. Tất cả những ai tin nhận Tin Lành ấy được trở thành những người được gọi của Đức Chúa Jesus Christ, tức là những người được Đức Chúa Cha dùng Tin Lành để gọi họ đến với Đức Chúa Jesus Christ, đến với vương quốc, đến với sự vinh quang của Thiên Chúa.

Cảm tạ Ba Ngôi Thiên Chúa vì chúng ta được dự phần trong số những người được gọi của Đức Chúa Jesus Christ. A-men!

 

Ghi Chú: Bấm vào các từ ngữ Hy-lạp để nghe phát âm. Bấm vào các mã số Strong (bắt đầu bằng H) để xem định nghĩa trong tiếng Anh. Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.net www.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

 


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Đọc Tiếp →