Sự Yêu Thương và Sự Đoán Xét

3,484 views

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Ghi Chú: Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này

Nghe MP3 Phần 1: http://www.timhieutinlanh.net/?p=686
Nghe MP3 Phần 2: http://www.timhieutinlanh.net/?p=687
Nghe MP3 Phần 3: http://www.timhieutinlanh.net/?p=688

Dẫn Nhập

Ngày nay, có lẽ hai từ ngữ bị lạm dụng nhiều nhất trong Hội Thánh là “sự yêu thương” và “sự đoán xét.” Lạm dụng một điều gì có nghĩa là dùng điều đó không đúng cách, đúng nghĩa, đúng lúc, miễn sao đạt được mục đích đã nhắm sẵn. Sự lạm dụng từ ngữ phát sinh bởi sự lạm dụng Lời Chúa.

Có hai thành phần lạm dụng Lời Chúa. Thành phần thứ nhất là những người còn non kém trong đức tin và trong sự hiểu biết Đạo Chúa, chưa hết lòng sống theo lẽ thật của Lời Chúa, chưa dứt khoác được với những sự ưa muốn của xác thịt, là những điều trái với sự ưa muốn của Đức Thánh Linh (Ga-la-ti 5:16, 17); nếu sự ưa thích hoặc quyền lợi cá nhân bị đụng chạm thì họ sẽ tìm cách bẻ cong Lời Chúa để bao che cho những điều sai trái của họ. Những thói xấu của xác thịt nổi bật nhất trong họ là: thói tà dâm, lòng tham lam, lòng tự ái và lòng kiêu ngạo. Thành phần thứ hai là những người giả tin Chúa để tìm kiếm tư lợi trong Hội Thánh mà Chúa gọi họ là cỏ lùng, dê và sói, tức là những kẻ giả hình, những tay Pha-ri-si thời đại. Họ lạm dụng Lời Chúa một cách xảo quyệt và có dự tính. Họ chính là những tôi tớ của Sa-tan giả mạo làm những người giúp việc công bình (II Cô-rinh-tô 11:13-15). Theo thời gian, nếu không sớm ăn năn thành phần thứ nhất có thể suy thoái, mất đức tin và biến thành thành phần thứ hai.

Những câu Thánh Kinh thường bị hai thành phần này lạm dụng là:

I Cô-rinh-tô 13:7 “Tình yêu che chở mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự.”

I Phi-e-rơ 4:8 “Nhứt là trong vòng anh em phải có tình yêu chân thật; vì tình yêu che đậy vô số tội lỗi.”

Ma-thi-ơ 7:1 “Các ngươi đừng đoán xét ai, để mình khỏi bị đoán xét.”

Lu-ca 6:37 “Đừng đoán xét ai, thì các ngươi khỏi bị đoán xét; đừng lên án ai, thì các ngươi khỏi bị lên án; hãy tha thứ, người sẽ tha thứ mình.”

I Cô-rinh-tô 4:5 “Vậy, chớ xét đoán sớm quá, hãy đợi Chúa đến; chính Chúa sẽ tỏ những sự giấu trong nơi tối ra nơi sáng, và bày ra những sự toan định trong lòng người; bấy giờ, ai nấy sẽ bởi Đức Chúa Trời mà lãnh sự tôn vinh mình đáng lãnh.”

Nạn nhân của sự lạm dụng Lời Chúa cũng có hai thành phần. Thành phần thứ nhất là chính những người thiếu hiểu biết Lời Chúa và chưa dứt khoác được với những sự ưa muốn của xác thịt. Họ vừa là người lạm dụng và vừa là nạn nhân của chính họ và của những kẻ giả hình. Thành phần thứ hai là những người hiểu biết Lời Chúa,nhận thức được có điều sai trái trong sự áp dụng Lời Chúa của những người lạm dụng. Tuy nhiên, không có bao nhiêu người có thể dùng Lời Chúa để phản bác sự sai trái đó, khiến cho sự sai trái đó theo thời gian trở thành một thứ “giáo lý” trong Hội Thánh. Phản ứng tiêu cực của thành phần thứ hai là lánh xa những kẻ lạm dụng. Phản ứng đó cần phải có đối với những kẻ giả hình nhưng đối với những người thật lòng tin Chúa mà đức tin còn yếu kém thì cần phải có một phản ứng tích cực. Phản ứng tích cực là giúp cho họ hiểu được họ đã áp dụng sai Lời Chúa như thế nào.

Hiểu Biết và Áp Dụng Lời Chúa

Sự hiểu biết Lời Chúa và áp dụng sự hiểu biết đó vào trong cuộc sống được gọi là nếp sống Đạo. Đạo tức là Lời Chúa. Nếp sống Đạo chân thật là mọi tư tưởng, lời nói, và hành động đều vâng theo Lời Chúa. Người ta có thể hiểu sai Lời Chúa cho nên áp dụng sai và người ta cũng có thể hiểu đúng Lời Chúa nhưng lại áp dụng sai.

Hiểu sai áp dụng sai: I Phi-e-rơ 4:8 “Nhứt là trong vòng anh em phải có tình yêu chân thật; vì tình yêu che đậy vô số tội lỗi.” Người hiểu sai cho rằng: vì yêu thương cho nên người ấy phải bảo bọc, che chở mọi hành động tội lỗi. Sự bảo bọc, che chở cho tội lỗi như vậy giống như một người suốt đời không tắm mà chỉ dùng dầu thơm xức lên người để che đậy mùi hôi.

Hiểu đúng áp dụng sai: I Cô-rinh-tô 13:7 “Tình yêu che chở mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự.” Một người có thể hiểu đúng ý nghĩa của câu Thánh Kinh này nhưng lại áp dụng sai vì không phối hợp với các nguyên tắc khác của Thánh Kinh, là nguyên tắc về quở trách, sửa trị người có lỗi và nguyên tắc dứt thông công với người có tội mà không cải hối. Sự hiểu đúng mà áp dụng sai khiến cho một người trở thành nạn nhân của những kẻ lạm dụng Lời Chúa và trở thành kẻ tiếp tay hoặc khuyến khích người khác tiếp tục sống trong tội.

Sự Yêu Thương Trong Chúa

Tình yêu trong Chúa là tình yêu vị tha, nghĩa là tình yêu vì người khác mà sống (vị = vì; tha = người khác). Là con dân Chúa, trước hết, chúng ta sống cho Chúa rồi qua sự dẫn dắt, ban ơn của Chúa mà chúng ta sống cho anh chị em trong Chúa, cuối cùng là chúng ta sống cho những người chưa biết Chúa.

Sống cho Chúa là vâng giữ mọi Lời Chúa, vui thỏa trong Lời Chúa, thể hiện Lời Chúa thành hành động mỗi ngày trong cuộc sống. Sống cho anh chị em trong Chúa là quan tâm, chăm sóc, dạy dỗ, quở trách, sửa trị, và mang lấy mọi gánh nặng cho nhau từ thuộc thể đến thuộc linh. Sống cho những người chưa biết Chúa là hy sinh mọi sự, tìm đủ mọi cách, tận dụng mọi cơ hội để rao giảng hoặc góp phần trong sự rao giảng Tin Lành cho họ và khi họ có nhu cầu thì hết lòng giúp đỡ họ theo ơn Chúa ban.

Tình yêu trong Chúa không phải chỉ thể hiện qua sự cảm thông, tha thứ, cứu giúp lẫn nhau mà còn thể hiện qua sự quở trách, sửa trị người có lỗi và dứt thông công với người có tội mà không cải hối. Tình yêu trong Chúa không có nghĩa là bỏ qua những sự sai trái và để cho kẻ xấu tha hồ lợi dụng.

Khi Phi-e-rơ theo ý riêng, ngăn cản Chúa về thành Giê-ru-sa-lem để chịu khổ và chịu chết thì Chúa đã phán: “Hỡi Sa-tan, hãy lui ra đàng sau Ta! Ngươi làm gương xấu cho Ta; vì ngươi chẳng nghĩ đến việc Đức Chúa Trời, song nghĩ đến việc người Ta” (Ma-thi-ơ 16:23). Ai dám nói Đức Chúa Jesus không có tình yêu dành cho Phi-e-rơ vì Ngài đã không “dung thứ mọi sự”“nín chịu mọi sự” đối với ông? Khi Phi-e-rơ chìu theo sự yếu đuối của xác thịt, làm ra hành động giả hình, xúc phạm con dân Chúa tại Hội Thánh An-ti-ốt và làm gương xấu cho Ba-na-ba thì Phao-lô đã quở trách Phi-e-rơ trước Hội Thánh: “Nhưng khi Sê-pha đến thành An-ti-ốt, tôi có ngăn can trước mặt người, vì là đáng trách lắm. Bởi trước lúc mấy kẻ của Gia-cơ sai đi chưa đến, thì người ăn chung với người ngoại; vừa khi họ đã đến thì người lui đứng riêng ra, bởi sợ những kẻ chịu phép cắt bì. Các người Giu-đa khác cũng dùng một cách giả dối như vậy, đến nỗi chính Ba-na-ba cũng bị sự giả hình của họ dẫn dụ. Nhưng khi tôi thấy họ không đi ngay thẳng theo lẽ thật của Tin Lành, thì nói với Sê-pha trước mặt mọi người rằng: nếu anh là người Giu-đa, mà ăn ở theo cách dân ngoại, không theo cách người Giu-đa, thì làm sao anh ép dân ngoại phải theo thói Giu-đa” (Ga-la-ti 2:11-14).

Đức Chúa Jesus Christ đã từng động lòng thương xót, chữa bệnh, giảng Đạo và hóa bánh ra cho trên năm ngàn người ăn (Ma-thi-ơ 14:14-21); nhưng Ngài cũng lìa bỏ họ khi nhận biết họ chỉ đến với Ngài để tìm lợi vật chất (Giăng 6:14-27). Đức Chúa Jesus Christ cũng từng quở trách sự cứng lòng, không chịu cải hối của dân các thành đã được nghe Ngài giảng Đạo và thấy Ngài làm nhiều phép lạ: “Vì dân các thành mà Đức Chúa Jesus đã làm rất nhiều phép lạ rồi, không ăn năn, nên Ngài quở trách rằng: Khốn nạn cho mầy, thành Cô-ra-xin! Khốn nạn cho mầy thành Bết-sai-đa! Vì nếu các phép lạ đã làm giữa các ngươi, đem làm trong thành Ty-rơ và Si-đôn, thì hai thành đó thật đã mặc áo gai, đội tro, ăn năn từ lâu rồi. Vậy nên Ta bảo các ngươi, đến ngày phán xét, thành Ty-rơ và thành Si-đôn sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn các ngươi. Còn ngươi, Ca-bê-na-um là thành đã được cao tới trời, sẽ hạ xuống tới âm phủ! Vì nếu các phép lạ đã làm giữa ngươi, đem làm trong thành Sô-đôm, thì thành ấy còn lại đến ngày nay. Vậy nên Ta rao bảo rằng, đến ngày phán xét, xứ Sô-đôm sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn ngươi” (Ma-thi-ơ 11:20-14). Khi các môn đồ của Chúa không tin lời của Ma-ri Ma-đơ-len và các phụ nữ khác làm chứng về sự Chúa đã sống lại thì Đức Chúa Jesus đã quở trách họ: “Sau nữa, Ngài hiện ra cho mười một sứ đồ đang khi ngồi ăn, mà quở trách về sự không tin và lòng cứng cỏi, vì chẳng tin những kẻ từng thấy Ngài đã sống lại” (Mác 16:14). Khi trong Hội Thánh tại Cô-rinh-tô có người phạm tội tà dâm, Hội Thánh đã theo lời dạy của Sứ Đồ Phao-lô mà quở trách kẻ phạm tội đó: “Kẻ đó đã bị phần nhiều người trong anh em quở trách, ấy là đủ rồi” (II Cô-rinh-tô 2:6).

Tình yêu trong Chúa không cho phép con dân Chúa “vui về điều không công bình” (I Cô-rinh-tô 13:6). Khi con dân Chúa đối diện với sự không công bình trong Hội Thánh thì phải lên tiếng quở trách, bởi vì mỗi con dân Chúa là một “thầy tế lễ của Đức Chúa Trời” (Khải Huyền 1:6). Hình ảnh thầy tế lễ thời Cựu Ước khán nghiệm bệnh phung và đuổi kẻ bị phung ra khỏi hội chúng cho đến khi kẻ phung được lành tiêu biểu cho việc thầy tế lễ thời Tân Ước chỉ ra tội lỗi và đuổi kẻ có tội mà không cải hối ra khỏi Hội Thánh cho đến khi kẻ đó ăn năn. Bất cứ sự gì nghịch lại Lời Chúa thì đều là những sự không công bình và “mọi sự không công bình đều là tội” (I Giăng 5:17). Theo nguyên ngữ của Thánh Kinh thì “sự không công bình” là “sự vi phạm luật pháp,” và luật pháp trong Thánh Kinh chính là Lời Chúa. Lời Chúa dạy rõ:

Châm Ngôn 27:5 “Một lời quở trách tỏ tường hơn là thương yêu giấu kín.”

Châm Ngôn 28:23 “Ai quở trách người nào, về sau sẽ được ơn hơn là kẻ lấy lưỡi mà dua nịnh.”

Lu-ca 17:3 “Các ngươi hãy giữ lấy mình. Nếu anh em ngươi đã phạm tội, hãy quở trách họ; và nếu họ ăn năn, thì hãy tha thứ.”

Ê-phê-sô 5:11 “…chớ dự vào công việc vô ích của sự tối tăm, thà quở trách chúng nó thì hơn.”

I Ti-mô-thê 5:19 Kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ.

Tít 2:15 “Hãy dạy các điều đó, lấy quyền đầy đủ mà khuyên bảo quở trách. Chớ để ai khinh dể con.”

Kỷ Luật Trong Hội Thánh

Có hai hình thức kỷ luật trong Hội Thánh, được Thánh Kinh nêu lên: (1) kỷ luật đối với người phạm tội nghịch cùng một chi thể, tức là một cá nhân trong Hội Thánh, và (2) kỷ luật đối với người phạm tội nghịch cùng toàn thân thể, tức là tất cả mọi người trong Hội Thánh.

1. Kỷ luật đối với người phạm tội nghịch cùng cá nhân: Trong Ma-thi-ơ 18:15-17 Đức Chúa Jesus đã phán dạy chúng ta rất rõ ràng về cách đối xử người phạm tội nghịch cùng cá nhân chúng ta: “Nếu anh em ngươi phạm tội cùng ngươi, thì hãy trách người khi chỉ có ngươi với một mình người; như người nghe lời, thì ngươi được anh em lại. Ví bằng không nghe, hãy mời một hai người đi với ngươi, hầu cứ lời hai ba người làm chứng mà mọi việc được chắc chắn. Nếu người không chịu nghe các người đó, thì hãy cáo cùng Hội Thánh, lại nếu người không chịu nghe Hội Thánh, thì hãy coi người như kẻ ngoại và kẻ thâu thuế vậy.”

Trước hết, chúng ta cần ghi nhớ rằng: Đây là cách thức đối xử với người phạm tội nghịch cùng cá nhân chúng ta chứ không phải người phạm tội nghịch cùng Hội Thánh, bởi vì, những kẻ phạm tội nghịch cùng Hội Thánh phải bị quở trách trước Hội Thánh để làm gương cho mọi người. Mệnh lệnh của Chúa đưa ra bốn giai đoạn trong việc kỷ luật một người phạm tội nghịch cùng cá nhân chúng ta:

a) Giai đoạn thứ nhất: quở trách người phạm tội cách riêng tư, mong rằng người ấy sẽ cải hối.

b) Giai đoạn thứ nhì: nếu người ấy không cải hối thì mời thêm vài anh chị em khác trong Hội Thánh đến gặp người ấy để quở trách một lần nữa trước sự chứng kiến của họ.

c) Giai đoạn thứ ba: nếu người ấy vẫn không cải hối thì đưa sự việc ra trước Hội Thánh.

d) Giai đoạn thứ tư: nếu người ấy vẫn không cải hối sau khi bị Hội Thánh quở trách thì Hội Thánh phải cư xử với người ấy như cách cư xử với một người không tin Chúa và một người phạm nhiều tội trọng. Trong xã hội Do-thái, từ ngữ “kẻ thâu thuế” mang nghĩa bóng là “người phạm nhiều tội trọng với Thiên Chúa và dân tộc.” Những người thâu thuế cho Đế Quốc La-mã thời xưa thường dựa vào thế lực của La-mã và địa vị viên chức thâu thuế của mình để gian lận và bốc lột chính dân tộc của mình, làm ra nhiều việc ác để thủ lợi, làm giàu. Người Do-thái xem khinh những kẻ thâu thuế còn hơn là xem khinh một người dân ngoại không chịu cắt bì và thờ lạy hình tượng. Người Do-thái cho rằng những người dân ngoại là ô uế nên xem khinh dân ngoại như chó, là loài vật ô uế. Điều đó có nghĩa là người Do-thái xem khinh những kẻ thâu thuế còn hơn là xem khinh loài chó.

Một người không tin Chúa là một người không có sự thông công với con dân Chúa, không được phép tham dự thờ phượng Chúa với con dân Chúa. Một người phạm nhiều tội trọng là một người mà ai ai cũng cần cẩn thận khi giao tiếp với, thứ nhất là tránh tiêm nhiễm những thói xấu của người ấy và thứ nhì là tránh bị người ấy lừa gạt, hãm hại. Người không tin Chúa là kẻ thù tự nhiên của Hội Thánh. Giăng 15:19 ghi lại lời phán của Đức Chúa Jesus Christ về thái độ của thế gian đối với con dân Chúa như sau: “Nếu các ngươi thuộc về thế gian, thì người đời sẽ yêu kẻ thuộc về mình; nhưng vì các ngươi không thuộc về thế gian và Ta đã lựa chọn các ngươi giữa thế gian, bởi cớ đó người đời ghét các ngươi.” Dầu vậy, con dân Chúa vẫn có bổn phận cầu nguyện, chúc phước, và cứu giúp người không tin Chúa:

Ma-thi-ơ 5:43, 44 “Các ngươi có nghe lời phán rằng: Hãy yêu người lân cận, và hãy ghét kẻ thù nghịch mình. Song Ta nói cùng các ngươi rằng: Hãy yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi.”

Lu-ca 6:27, 28 “Nhưng Ta phán cùng các ngươi, là những người nghe Ta: Hãy yêu kẻ thù mình, làm ơn cho kẻ ghét mình, chúc phước cho kẻ rủa mình, và cầu nguyện cho kẻ sỉ nhục mình.”

Lu-ca 6:35 “Song các ngươi hãy yêu kẻ thù mình; hãy làm ơn, hãy cho mượn, mà đừng ngã lòng. Vậy, phần thưởng của các ngươi sẽ lớn, và các ngươi sẽ làm con của Đấng Rất Cao, vì Ngài lấy nhơn từ đối đãi kẻ bạc và kẻ dữ.”

Rô-ma 12:20 “Vậy nếu kẻ thù mình có đói, hãy cho ăn; có khát, hãy cho uống; vì làm như vậy, khác nào mình lấy những than lửa đỏ mà chất trên đầu người.”

Châm Ngôn 25:21, 22 “Nếu kẻ thù nghịch con có đói, hãy cho nó ăn; nếu có khát, hãy cho nó uống; vì như vậy con chất than cháy đỏ trên đầu nó, và Đức Giê-hô-va sẽ báo lại cho con.”

Thành ngữ “chất than cháy đỏ trên đầu nó” mượn hình ảnh quặng chì được chất vào lò và than lửa được đổ lên trên nó khiến cho chất chì tan chảy vào chỗ hứng bên dưới, bỏ lại các tạp chất bị thiêu cháy trong lò, để nói lên ý nghĩa: những hành động thương xót sẽ khiến cho tâm trí của kẻ thù bị tan chảy và những tư tưởng thù nghịch sẽ bị tan biến.

2. Kỷ luật đối với người phạm tội nghịch cùng Hội Thánh: Đối với người phạm tội nghịch cùng Hội Thánh thì sự quở trách phải công khai giữa Hội Thánh để làm gương như cách Sứ Đồ Phao-lô kỷ luật Sứ Đồ Phi-e-rơ tại Hội Thánh An-ti-ốt đã nêu trên đây. Phao-lô cũng chỉ thị cho Hội Thánh Cô-rinh-tô thi hành kỷ luật đối với người phạm tội tà dâm trong Hội Thánh. Đức Thánh Linh, qua ngòi bút của Sứ Đồ Phao-lô, đã ghi lại nguyên tắc đó trong I Ti-mô-thê 5:20, “kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ.”

Trong sự việc có người phạm tội tà dâm trong Hội Thánh Cô-rinh-tô, Phao-lô đã chỉ thị cho Hội Thánh trong I Cô-rinh-tô 5, như sau:

1 Có tin đồn ra khắp nơi rằng trong anh em có sự dâm loạn, dâm loạn đến thế, dẫu dân ngoại cũng chẳng có giống như vậy: là đến nỗi trong anh em có kẻ lấy vợ của cha mình.

2 Anh em còn lên mình kiêu ngạo! Anh em chẳng từng buồn rầu, hầu cho kẻ phạm tội đó bị trừ bỏ khỏi vòng anh em thì hơn!

3 Về phần tôi, thân dầu xa cách mà lòng ở tại đó, (vì anh em và lòng tôi được hội hiệp với quyền phép của Đức Chúa Jesus, là Chúa chúng ta),

4 nên tôi đã dường như có mặt ở đó, nhơn danh Đức Chúa Jesus là Chúa chúng ta, tuyên án kẻ phạm tội đó

5 rằng, một người như thế phải phó cho quỷ Sa tan, để hủy hoại phần xác thịt, hầu cho tâm thần được cứu trong ngày Đức Chúa Jesus.

6 Thật anh em chẳng có cớ mà khoe mình đâu! Anh em há chẳng biết rằng một chút men làm cho cả đống bột dậy lên sao?

7 Hãy làm cho mình sạch men cũ đi, hầu cho anh em trở nên bột nhồi mới không men, như anh em là bánh không men vậy. Vì Đấng Christ là con sinh lễ Vượt Qua của chúng ta, đã bị giết rồi.

8 Vậy thì, chúng ta hãy giữ lễ, chớ dùng men cũ, chớ dùng men gian ác, độc dữ, nhưng dùng bánh không men của sự thật thà và của lẽ thật.

9 Trong thơ tôi viết cho anh em, có dặn đừng làm bạn với kẻ gian dâm,

10 đó tôi chẳng có ý nói chung về kẻ gian dâm đời nầy, hay là kẻ tham lam, kẻ chắt bóp, kẻ thờ hình tượng, vì nếu vậy thì anh em phải lìa khỏi thế gian.

11 Nhưng tôi viết khuyên anh em đừng làm bạn với kẻ nào tự xưng là anh em, mà là gian dâm, hoặc tham lam, hoặc thờ hình tượng, hoặc chưởi rủa, hoặc say sưa, hoặc chắt bóp, cũng không nên ăn chung với người thể ấy.

12 Vì chưng có phải tôi nên đoán xét kẻ ở ngoài sao? Há chẳng phải anh em nên đoán xét những người ở trong sao?

13 Còn như kẻ ở ngoài, thì Đức Chúa Trời sẽ đoán xét họ. Hãy trừ bỏ kẻ gian ác khỏi anh em.

Sự kiện phạm tội tà dâm “lấy vợ của cha mình” của một người tín đồ trong Hội Thánh Cô-rinh-tô, vừa là hành động phạm tội nghịch cùng cha mình vừa là hành động phạm tội nghịch cùng Hội Thánh, vì nó xảy ra công khai khiến cho “có tin đồn ra khắp nơi,” gây tiếng xấu cho Hội Thánh và Đạo Chúa. Vì thế, sự thi hành kỷ luật cũng phải công khai. Chúng ta không biết rõ chi tiết phạm tội nhưng có lẽ người phạm tội đã công khai lấy người vợ bé hoặc vợ kế của cha mình làm vợ, sau khi cha ông ta qua đời.

Hình thức kỷ luật được Phao-lô nêu rõ:

a) Đừng làm bạn với kẻ không cải hối.

b) Không nên ăn chung với kẻ không cải hối.

c) Trừ bỏ “kẻ gian ác,” tức là kẻ không cải hối, khỏi Hội Thánh.

Đối với những kẻ theo tà giáo, tức là theo hoặc rao giảng những giáo lý nghịch lại Thánh Kinh thì hình thức kỷ luật được Thánh Kinh nêu ra như sau: “Nhưng hãy lánh những điều cãi lẽ dại dột, những gia phổ, những sự cạnh tranh nghị luận về luật pháp, vì mấy sự đó đều là vô ích và hư không. Sau khi mình đã khuyên bảo kẻ theo tà giáo lần thứ nhất và lần thứ nhì rồi, thì hãy tránh khỏi” (Tít 3:9, 10).

Tất cả những điều trên đây là những hình thức kỷ luật cần áp dụng chung trong Hội Thánh khi có người phạm tội.

Ngày nay, trong các tổ chức giáo hội mang danh Chúa, chẳng những kẻ phạm tội không bị quở trách, kỷ luật mà ngược lại, họ lạm dụng Lời Chúa, mong bịt miệng những ai nêu lên sự sai trái của họ, nhất là các chức sắc trong giáo hội. Nhiều người nghĩ rằng phải có chức sắc trong giáo hội mới có thể lên tiếng quở trách người phạm tội mà không hiểu rằng: mỗi cá nhân trong Hội Thánh đều là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời, cho nên, ai cũng có nhiệm vụ chỉ ra các “vết phung thuộc linh” và khai trừ “người phung thuộc linh” ra khỏi Hội Thánh. Đó cũng là một trong những lý do con dân chân thật của Chúa phải ra khỏi các tổ chức giáo hội mang danh Chúa do loài người lập ra với những điều lệ, nội quy, truyền thống, thói tục, giáo lý, tư tưởng thần học… hầu hết không có trong Thánh Kinh và nghịch lại Thánh Kinh.

Đặc Tính của Tình Yêu  – I Cô-rinh-tô 13:4-8

Trước hết, chúng ta cần phải nhớ rằng, I Cô-rinh-tô 13 nói về tình yêu của Chúa và tình yêu trong Chúa, tức là tình yêu agape. I Giăng 4:8 và 16 cho chúng ta biết: “Đức Chúa Trời là tình yêu” và câu 19 cho chúng ta biết “Chúng ta yêu vì Chúa đã yêu chúng ta trước.” Vì thế, để có thể hiểu và kinh nghiệm được I Cô-rinh-tô 13:4-8 thì một người phải tiếp nhận tình yêu của Đức Chúa Trời, tức là tiếp nhận chính Ngài. Có được Đức Chúa Trời tức là có được tình yêu, chỉ khi đó thì một người mới có thể yêu và hiểu được tình yêu.

I Cô-rinh-tô 13:4-8 nói về các đặc tính của tình yêu, tức là các đặc tính của Đức Chúa Trời và cũng là các đặc tính của những ai thuộc về Ngài. Như mặt trăng tiếp nhận ánh sáng của mặt trời rồi phản chiếu trên đất, con dân Chúa tiếp nhận tình yêu từ Đức Chúa Trời rồi chiếu sáng tình yêu của Đức Chúa Trời ra giữa thế gian (Ma-thi-ơ 5:14).

Tình yêu nhẫn nại; tình yêu nhân từ; tình yêu chẳng ghen tị, chẳng khoác lác, chẳng lên mình kiêu ngạo, chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghĩ đến sự dữ, chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật. Tình yêu che chở mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự. Tình yêu chẳng hề hư mất bao giờ.

1. Tình yêu nhẫn nại: Từ ngữ “nhẫn nại” vừa có nghĩa là sức kiên trì chịu đựng mọi sự nghịch lại với bản tính của mình để đạt được mục đích, vừa có nghĩa là sự kiên trì chịu đựng những vô lý, bất công người khác làm ra để có thể cảm hóa người ấy. Đức Chúa Trời thánh khiết và công chính đã và đang nhẫn nại đối với thế gian tội lỗi, dùng ơn cứu rỗi của Ngài trong Đức Chúa Jesus Christ để cảm hóa thế gian. Nhờ đó mà chúng ta mới có cơ hội để ăn năn tội và trở thành con dân của Chúa. Là con dân của Chúa, chúng ta cũng nhẫn nại với mọi người chung quanh chúng ta để có thể đưa họ đến với sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.

Nhẫn nại không có nghĩa là không quở trách người có lỗi. Nhẫn nại cũng không có nghĩa là không bao giờ ngưng chịu đựng một người nào đó. Chúng ta nhẫn nại suốt cuộc đời mình và nhẫn nại với mỗi một người mà chúng ta gặp. Tuy nhiên, thời gian chúng ta nhẫn nại đối với mỗi người sẽ khác nhau, tùy theo sự cho phép của Chúa. Trong Ma-thi-ơ 18:15-17, Chúa dạy chúng ta chỉ nhẫn nại với người phạm tội nghịch cùng chúng ta qua ba lần chúng ta cho người đó cơ hội nhận lỗi và ăn năn. Nếu sau ba lần bị quở trách mà người có tội không chịu ăn năn thì Chúa ra lệnh cho chúng ta phải xem người ấy như người không tin Chúa và là một người phạm tội trọng. Dầu chúng ta buộc phải thi hành kỷ luật với những người không chịu cải hối nhưng lòng chúng ta vẫn yêu thương họ và không truy cứu trách nhiệm về những việc bất công hay thiệt hại mà họ đã làm ra cho chúng ta. Đó là sự tha thứ!

Trong công tác rao giảng Tin Lành, Chúa cũng đã truyền cho chúng ta rằng, hễ ai từ chối không muốn nghe Tin Lành thì chúng ta hãy bỏ họ mà đi. Họ sẽ gánh lấy trách nhiệm về sự hư mất của chính họ: “Nếu ai không tiếp rước, không nghe lời các ngươi, khi ra khỏi nhà đó, hay là thành đó, hãy phủi bụi đã dính chơn các ngươi. Quả thật, ta nói cùng các người, đến ngày phán xét, thì xứ Sô-đôm và xứ Gô-mô-rơ sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn thành ấy” (Ma-thi-ơ 10:14). Mệnh lệnh đó của Chúa còn được ghi lại thêm hai lần trong Mác 6:11, Lu-ca 9:5 và Lu-ca 10:10-11. Đặc biệt, trong Lu-ca 10:10-11, Chúa dạy bảy mươi môn đồ được Ngài sai đi phải ra giữa chợ mà công bố sự khước từ nghe Tin Lành của một thành phố. Phao-lô và Ba-na-ba đã áp dụng lời Chúa dạy khi họ đối diện với sự cứng lòng của những người Do-thái tại thành An-ti-ốt: “Hai người đối cùng họ phủi bụi nơi chơn mình, rồi đi đến thành Y-cô-ni” (Công Vụ Các Sứ Đồ 13:51). Ai có thể nói là hai ông không nhẫn nại? Hội Thánh ngày nay cần phải bắt chước Phao-lô và Ba-na-ba trong sự vâng theo mệnh lệnh của Chúa về cách thức cư xử đối với những người chống đối Đạo Chúa.

Chúa dạy chúng ta rao giảng bất luận gặp thời hay không gặp thời nhưng Chúa không dạy chúng ta nài nỉ, kéo ép hay dùng tâm lý học khiến cho người ta tin Chúa. Làm ơn cho một người vì họ có nhu cầu và chúng ta có lòng thương là việc tốt nhưng làm ơn nhằm mục đích lấy lòng người ta để người ta vị nể mình mà tin Chúa là sai. Khi làm như vậy chúng ta đã vô tình cho rằng Tin Lành không có quyền phép để cứu người (Rô-ma 1:16) mà việc làm lấy lòng của chúng ta mới có quyền phép để cứu người! Và thật ra, sự tin Chúa như vậy không cứu ai hết! Câu Thánh Kinh II Ti-mô-thê 4:2 trong Bản Dịch Truyền Thống dịch là: “Hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi;” Chữ “nài khuyên” khiến cho người đọc hiểu lầm là khi giảng Đạo phải “năn nỉ” người ta tin Chúa. Tuy nhiên, dịch cho sát ý thì sẽ là: “Hãy giảng Đạo, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, sửa trị, kêu gọi, cứ dạy dỗ chẳng thôi.” Chúng ta cần kêu gọi người nghe Đạo tin nhận Đạo nhưng chúng ta không cần phải nài nỉ họ!

Tình Yêu nhẫn nại nghĩa là tình yêu có sức kiên trì chịu đựng mọi sự nghịch lại với bản tính của mình, chịu đựng những vô lý, bất công đến từ người khác hoặc hoàn cảnh để đạt được mục đích tốt đẹp đã đặt ra.

2. Tình yêu nhân từ: Từ ngữ “nhân từ” có nghĩa là cư xử tốt với mọi người; không phải là làm ra vẻ cư xử tốt mà là hành động tốt thật sự phát xuất từ đáy lòng. Nhân từ hay cư xử tốt có nghĩa là luôn luôn làm ơn cho người khác, đặt quyền lợi của người khác trước quyền lợi của mình một cách tự nguyện, vô điều kiện. Đức Chúa Trời luôn luôn nhân từ. Các Thi Thiên luôn nhắc đến điệp khúc: “Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời!” Đức Chúa Trời nhân từ vì Ngài: “khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác” (Ma-thi-ơ 5:45); Ngài “lấy nhân từ đối đãi kẻ bạc và kẻ dữ” (Lu-ca 6:35). Kẻ bạc là kẻ vô ơn, kẻ dữ là kẻ làm ra những điều nghịch lại điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời. Trong Ma-thi-ơ 5:45 Chúa cũng dạy chúng ta nhân từ một cách trọn vẹn như Cha của chúng ta ở trên trời. Nhân từ không có nghĩa là không thi hành kỷ luật mà là khi cần thiết thì thi hành kỷ luật với lòng đau thương để bảo vệ sự công chính. Sự Kiện Đức Chúa Trời hy sinh Con Một của Ngài để thế gian được thoát khỏi sức mạnh và hậu quả của tội lỗi là hành động nhân từ vô bờ bến của Ngài đối với thế gian nhưng cùng lúc Ngài thi hành hình phạt tội lỗi cách nặng nề trên Con Một của Ngài. Sự kiện Đức Chúa Jesus Christ từ bỏ địa vị Thiên Chúa của mình để gánh thay hình phạt của tội lỗi và chết thay cho loài người là hành động nhân từ vô bờ bến của Ngài nhưng một ngày kia Ngài sẽ phán xét những ai không tin nhận ơn cứu rỗi của Ngài. Sự kiện Đức Thánh Linh cáo trách thế gian về tội lỗi để đưa mọi người đến sự ăn năn tội là hành động nhân từ vô bờ bến của Ngài nhưng những ai chống nghịch Ngài thì sẽ bị hư mất đời đời.

Tình yêu nhân từ có nghĩa là luôn luôn làm ơn cho người khác, đặt quyền lợi của người khác trước quyền lợi của mình một cách tự nguyện, vô điều kiện. Lòng nhân từ bao gồm sự ân cần quở trách, sửa phạt những kẻ có lỗi để cải hóa họ.

Nhẫn nại và nhân từ có liên quan mật thiết với nhau. Lòng nhẫn nại và nhân từ còn đến mãi mãi nhưng sự thể hiện cho mỗi đối tượng thì có giới hạn, tùy theo thái độ đáp ứng của đối tượng. Khi sự nhẫn nại kết thúc thì sự nhân từ cũng kết thúc. Dù Đức Chúa Trời nhẫn nại và nhân từ nhưng Ngài cũng từng hủy diệt cả thế gian, ngoại trừ gia đình Nô-ê tám người, bằng cơn lụt lớn toàn cầu khi loài người đã phạm tội đến mức không còn có thể ăn năn. Dầu vậy, Ngài cũng đã dành cho họ 120 năm để ăn năn. Một ngày không còn bao lâu nữa, Đức Chúa Jesus Christ sẽ phán xét và tận diệt mọi kẻ ác trong thế gian. Khi đó, Ngài sẽ dành ra bảy năm để ban cơ hội cho những ai có lòng ăn năn được đến với sự cứu rỗi của Ngài. Trong ba năm rưỡi sau cùng của bảy năm đó, Tin Lành sẽ được thiên sứ bay giữa trời rao truyền cho muôn dân, muôn nước trên đất (Khải Huyền 14:6). Thánh Kinh tiên tri trước là sẽ có vô số người ăn năn tội và tin nhận Tin Lành trong giai đoạn đó, dù họ phải trá giá bằng chính mạng sống của họ trước sự bắt bớ của chính quyền toàn cầu do Anti-Christ (kẻ chống nghịch Đức Chúa Jesus Christ) thống lãnh. Nhẫn nại và nhân từ không bao giờ có nghĩa là bao che và bỏ qua tội lỗi mà chỉ có nghĩa là cư xử tốt với những kẻ có tội, tạo cơ hội và chờ đợi một thời gian nhất định cho họ cải hối.

3. Tình yêu chẳng ghen tỵ: Từ ngữ “ghen tỵ” trong nguyên ngữ Thánh Kinh có ba nghĩa: (1) Ghen tức: bị hun đốt bởi lòng cạnh tranh, mà sinh ra thù nghịch hoặc giận dữ. (2) Ghen ghét: bực tức, khó chịu rồi sinh ra thù ghét khi thấy kẻ khác được chú ý hơn mình, bất kể là về mặt nào. (3) Ghen tranh: ham muốn dành về cho mình điều gì đó, ai đó một cách mãnh liệt, bất chấp thủ đoạn.

Đức Chúa Trời là Đấng hay ghen (Bản Dịch Truyền Thống dịch thành “kỵ tà” là không đúng nghĩa) [1] nhưng Ngài không ghen tỵ. “Ghen” có nghĩa là bực tức, khó chịu làm cho mình đau khổ nhưng không sinh ra thù ghét hoặc ý muốn hãm hại ai cả. Dù đến một lúc phải thi hành kỷ luật, hình phạt kẻ có lỗi không chịu cải hối, như người chồng phải ly dị người vợ tà dâm, thì lòng ghen cũng không phát sinh ra sự thù ghét như lòng ghen tỵ. Từ ngữ “Thiên Chúa là Đấng hay ghen” nói lên tình yêu tha thiết Ngài dành cho con dân của Ngài và Ngài muốn con dân của Ngài yêu thương Ngài cũng tha thiết như vậy. Thiên Chúa ghen khi con dân của Ngài chạy theo tà thần. Hình ảnh người vợ phản bội chồng đi ngoại tình với phường vô loại thường được Chúa dùng để minh họa sự con dân Chúa từ bỏ thờ phượng Chúa để đi thờ phượng các tà thần. Đức Chúa Trời không ghen tỵ và con dân Chúa cũng không thể ghen tỵ; vì không ghen tỵ, tức là không ghen tức, không ghen ghét, không ghen tranh là đặc tính của tình yêu.

4. Tình yêu chẳng khoác lác: Từ ngữ “khoác lác” được dùng trong I Cô-rinh-tô 13:5 có nghĩa là dùng những lời nói, điệu bộ, hành động nhằm phô bày mình một cách không trung thực để người khác thán phục mình hoặc tin tưởng mình. Thí dụ, mình chưa tốt nghiệp trung học mà trong lời nói, điệu bộ, hành động đều có ý khiến cho người khác tưởng là mình đã tốt nghiệp đại học. Hoặc là mình tốt nghiệp từ một đại học không nổi tiếng nhưng lúc nào cũng tỏ ra cho người khác tưởng là mình tốt nghiệp từ một đại học danh tiếng. Nói cách khác, “sự khoác lác” là sự dối gạt về giá trị thật của mình để người khác thán phục hoặc tin tưởng mình. Ngược lại với sự khoác lác là sự trung thực bày tỏ về mình.

Từ ngữ “khoe mình” được dùng trong I Cô-rinh-tô 1:31, “Hầu cho, như có lời chép rằng: Ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa;” trong nguyên ngữ Thánh Kinh có nghĩa là: tỏ ra sự tôn trọng của mình một cách trung thực. Dầu là phô bày những điều tốt đẹp của mình một cách trung thực, con dân Chúa vẫn phải làm điều đó “trong Chúa” tức là phô bày theo các nguyên tắc của Thánh Kinh; đó là: việc phô bày đem lại ích lợi, làm gương tốt, làm tôn vinh danh Chúa, và được thực hiện với lòng biết ơn Chúa đã ban cho mình những điều tốt lành. Sự khoe mình trong Chúa của con dân Chúa là làm chứng về ơn phước Chúa, tức là thuật lại cho người khác nghe những điều lạ lùng Chúa làm ra trên đời sống mình và qua chính mình. Sự khoe mình trong Chúa không phải chỉ thể hiện qua lời nói mà còn hiện thực qua nếp sống mỗi ngày của chúng ta.

Đức Chúa Trời không khoác lác nhưng Ngài khoe mình, tức là Ngài tự bày tỏ rất trung thực về chính mình Ngài, nhờ đó mà thế gian có thể hoàn toàn tin cậy vào mọi lời phán của Ngài. Con dân Chúa cần từ bỏ sự khoác lác và luôn khoe mình trong Chúa. Tình yêu không bao giờ khoác lác.

5. Tình yêu chẳng kiêu ngạo: Từ ngữ “kiêu ngạo” trong nguyên ngữ Thánh Kinh có nghĩa là “thổi phồng lên.” Sự kiêu ngạo khác với sự khoác lác. Sự khoác lác hoàn toàn dối trá không dựa trên lẽ thật còn sự kiêu ngạo thì thổi phồng lẽ thật; và mục đích của cả hai đều là để người ta tôn trọng hoặc tin tưởng mình. Sự kiêu ngạo còn một ý nữa là tự cho rằng mình hơn người khác. Kiêu ngạo là xem thường người khác và thổi phồng lẽ thật để phục vụ cho lòng ham muốn hư vinh của xác thịt.

Đức Chúa Trời không kiêu ngạo vì Ngài vốn là cao siêu tuyệt đối, vượt trên cả muôn loài và khác với muôn loài. Con dân Chúa không nên kiêu ngạo để tìm kiếm sự tôn trọng từ người khác mà trái lại phải xem mọi người là tôn trọng hơn mình (Phi-líp 2:3). Con dân Chúa luôn học tập sự nhu mì và khiêm nhường của Chúa theo lời kêu gọi của Ngài: “Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của Ta, và học theo Ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ” (Ma-thi-ơ 11:29).

Tình yêu chẳng kiêu ngạo vì yêu là phục vụ và hạ mình xuống để nâng người mình yêu lên, như Đức Chúa Con đã tự hạ mình xuống để nâng những ai có lòng cải hối và tin cậy nơi Ngài lên địa vị thánh đồ và con cái của Thiên Chúa.

6. Tình yêu chẳng làm điều trái phép: Từ ngữ “làm điều trái phép” có nghĩa là làm những điều nghịch lại tiêu chuẩn đã định. Tiêu chẩn đã định tức là điều răn và luật pháp của Thiên Chúa được ghi chép trong Thánh Kinh.

Đức Chúa Trời không bao giờ làm nghịch lại tiêu chẩn của Ngài, vì thế, con dân Chúa cũng không thể làm nghịch lại tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời, cho dù là vì bất cứ lý do gì, trong bất kỳ cảnh ngộ nào. Từ ngàn xưa đến nay, biết bao nhiêu con dân Chúa đã thà mất đi mạng sống của mình hơn là làm ra một điều trái phép.

Tình yêu không làm điều trái phép, vì yêu là tin và làm theo mọi điều răn và luật pháp của Dức Chúa Trời.

7. Tình yêu chẳng kiếm tư lợi: Từ ngữ “kiếm tư lợi” trong  nguyên ngữ Thánh Kinh có nghĩa là chỉ tìm kiếm chính mình, chăm sóc chính mình, bỏ mặc nhu cầu của người khác. Kiếm tư lợi tức là ích kỷ và thường là làm hại đến quyền lợi của người khác, gạt gẫm người khác. Những sự mua bán gian lận điển hình cho sự kiếm tư lợi. Kiếm tư lợi còn có nghĩa là vì hạnh phúc của chính mình mà có thể làm bất cứ điều gì miễn sao mình được vui sướng.

Thiên Chúa không tìm kiếm tư lợi, trái lại, vì hạnh phúc của loài người mà Ngài đã hy sinh những điều cao quý nhất của mình. Đức Chúa Cha đã ban cho thế gian Con Một của Ngài. Đức Chúa Con đã hy sinh sự bình đẳng của mình với Đức Chúa Cha để nhập thế làm người chết thay cho nhân loại. Đức Thánh Linh không màng đến con người xác thịt vẫn còn có thể phạm tội, mà ngự vào trong thân thể của chúng ta để dạy dỗ và dẫn dắt chúng ta. Là con dân Chúa chúng ta không còn kiếm tư lợi, tức là không còn sống cho mình nữa mà là để Chúa sống trong chúng ta và chúng ta sống là sống cho Chúa, chết là chết cho Chúa: “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi” (Ga-la-ti 2:20). “Vả, chẳng có người nào trong chúng ta vì chính mình mà sống, cũng chẳng có người nào trong chúng ta vì chính mình mà chết; vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa, và nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Vậy nên chúng ta hoặc sống hoặc chết, đều thuộc về Chúa cả” (Rô-ma 14:7, 8).

Tình yêu chẳng kiếm tư lợi vì tình yêu ban cho hơn là nhận lãnh (Công Vụ Các Sứ Đồ 20:35).

8. Tình yêu chẳng nóng giận: Từ ngữ “nóng giận” trong nguyên ngữ Thánh Kinh có nghĩa là bị làm cho giận, chỉ được dùng đến hai lần, một lần trong I Cô-rinh-tô 13:5 mà chúng ta đang tìm hiểu và một lần trong Công Vụ Các Sứ Đồ 17:16, khi nói về việc khắp thành A-thên thờ lạy thần tượng làm cho tâm thần của Sứ Đồ Phao-lô nóng giận. Từ ngữ “nóng giận” này khác với từ ngữ “giận” trong Ê-phê-sô 4:26, “Ví bằng anh em đương cơn giận, thì chớ phạm tội; chớ căm giận cho đến khi mặt trời lặn.” Chúa không cấm chúng ta giận mà Chúa chỉ muốn chúng ta không phạm tội đang khi giận và không giận cho đến khi mặt trời lặn. Chính Chúa cũng giận khi thấy người ta biến đền thờ tại Giê-ru-sa-lem thành ra nơi buôn bán, gạt gẫm.

Ý nghĩa của mệnh đề“tình yêu chẳng nóng giận” là: tình yêu không nóng giận vì bị khiêu khích, bị chọc giận. Thành ngữ có câu: “giận mất khôn!” và một trong các chiến thuật Sa-tan dùng trong khi tấn công con dân Chúa là chiến thuật chọc giận. Người dễ nóng giận khi bị khiêu khích là người không có sự tiết độ, một trong những đặc tính của trái Thánh Linh (Ga-la-ti 6:22). Nóng giận có thể dẫn đến những quyết định sai lầm, dẫn đến sự phạm tội.

Chúa giận nhưng không ai có thể khiêu khích, chọc cho Ngài giận để hành động nghịch lại bản tính yêu thương, thánh khiết, và công chính của Ngài. Chúng ta có thể xem, hành vi hôn Chúa của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt trong khi dẫn lính đến bắt Chúa là một trong những cách Sa-tan dùng để chọc giận Chúa; nhưng Chúa đã không nóng giận trước cái hôn dùng làm dấu phản bội của ông. Là con dân Chúa chúng ta nhờ vào kết quả của Thánh Linh Chúa trong chúng ta mà tiết độ trong mọi sự. Mỗi hoàn cảnh “bị chọc giận” Chúa cho phép xảy đến với chúng ta là để chúng ta tự đo lường kết quả Trái Thánh Linh trong chúng ta.

Tình yêu không nóng giận vì bị khiêu khích để phạm tội nhưng tình yêu sẽ nóng giận trước những sự bất công, gian ác, nghịch lại điều răn và luật pháp của Thiên Chúa.

9. Tình yêu chẳng nghĩ đến sự dữ: Từ ngữ “nghi ngờ sự dữ” trong Bản Dịch Truyền Thống cần phải sửa lại là “nghĩ đến sự dữ” cho đúng với nguyên ngữ của Thánh Kinh. Nghi ngờ sự dữ chỉ là một phương diện của nghĩ đến sự dữ. Một người có thể không nghi ngờ sự dữ cho một người khác nhưng vẫn có thể nghĩ đến những sự dữ mà mình muốn làm hoặc nghĩ đến những sự dữ mà mình muốn chúng xảy ra cho kẻ thù của mình. Sự dữ là tất cả những gì trái nghịch lại với tiêu chuẩn yêu thương, thánh khiết, và công chính của Thiên Chúa. Một vài sự dữ điển hình cho những sự dữ mà người ta thường nghĩ đến, là: tư tưởng về các sự tà dâm, ngoại tình; tư tưởng về những sự dối gạt; tư tưởng về những sự độc ác muốn làm ra cho kẻ thù. Nghĩ đến sự dữ còn gọi là nghĩ ác. Nghĩ ác dẫn đến những lời nói ác là những lời rủa sả, và những hành động ác.

Dù Đức Chúa Trời hình phạt kẻ có tội mà không cải hối nhưng Đức Chúa Trời không hề nghĩ ác. Lời phán của Ngài được ghi lại trong Giê-rê-mi 29:11 như sau: “…Vì Ta biết ý tưởng Ta nghĩ đối cùng các ngươi, là ý tưởng bình an, không phải tai họa…” Là con dân Chúa chúng ta phải nhờ quyền năng của Đức Chúa Trời để “đánh đổ các lý luận, mọi sự tự cao nổi lên nghịch cùng sự hiểu biết Đức Chúa Trời, và bắt hết các ý tưởng làm tôi vâng phục Đấng Christ (II Cô-rinh-tô 10:5). Khi đó, “Sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ gìn giữ lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jesus Christ” (Phi-líp 4:7). Khi lòng và ý tưởng chúng ta được giữ gìn trong Đấng Christ thì chúng ta không còn nghĩ đến sự dữ, không còn nghĩ ác.

10. Tình yêu chẳng vui về điều không công bình nhưng vui trong lẽ thật: Từ ngữ “điều không công bình” có nghĩa là điều không đúng theo tiêu chuẩn của Thánh Kinh. “Mọi sự không công bình đều là tội… “ (I Giăng 5:17).

Đức Chúa Trời không vui về những sự tội lỗi và Ngài cũng không vui khi kẻ ác bị hình phạt. “Chúa Giê-hô-va phán rằng: Thật vậy, Ta không vui đâu về sự chết của kẻ phải chết, vậy các ngươi hãy xây lại, mà được sống” (Ê-xê-chi-ên 18:32). Con dân Chúa không thể vui khi thấy sự bất công xảy ra, nhất là khi thấy anh chị em trong Chúa sống nghịch lại Lời Chúa.

Tình yêu không thể nào vui về điều không công bình vì tình yêu chỉ vui trong lẽ thật. Lẽ thật là Lời Chúa (Giăng 17:17). Lẽ thật là luật pháp của Chúa (Thi Thiên 119:142). Lẽ thật cũng chính là Chúa (Giăng 14:6). Tình yêu vui trong Chúa, vui trong Lời Chúa và vui trong luật pháp của Chúa.

11. Tình yêu che chở mọi sự: Từ ngữ “che chở” trong nguyên ngữ của Thánh Kinh có nghĩa đen là che chở như một nóc nhà và nghĩa bóng là gìn giữ và  bảo vệ tất cả những gì trong trách nhiệm. Từ ngữ này không có nghĩa là bao che cho tội lỗi được tiếp tục phát triển. Tình yêu của một người trong Chúa gìn giữ và bảo vệ tất cả những gì thuộc về Lời Chúa và Hội Thánh của Ngài. Như mái nhà phải chống chỏi với sức tàn phá của nắng, mưa, giông, gió… để gìn giữ và bảo vệ mọi sự ở trong nhà, mỗi con dân Chúa cũng phải chống chỏi với sự tàn phá và bách hại từ tà giáo, giáo sư giả, tiên tri giả, người chăn giả, con chiên giả… để bảo vệ những gì thuộc về Lời Chúa và Hội Thánh Chúa. Mỗi một sự che chở đều có một cái giá phải trả và sự che chở phải bao gồm mọi sự Chúa đã trao vào trong trách nhiệm của chúng ta. Động cơ của sự che chở là Tình Yêu: Yêu Chúa và yêu người.

Hành động bao che, dung túng cho tội lỗi hoàn toàn nghịch lại Lời Chúa không thể so sánh với sự bao che của tình yêu. Sự bao che, dung túng tội lỗi là đồng lỏa với kẻ phạm tội và vi phạm sự công chính của Thiên Chúa; trong khi sự che chở của tình yêu là gìn giữ, bảo vệ những điều chân thiện mỹ của Lời Chúa và con dân Chúa khỏi mọi hành động tội lỗi.

12. Tình yêu tin mọi sự: Từ ngữ “tin” trong nguyên ngữ của Thánh Kinh là cùng một từ ngữ được dùng trong Giăng 3:16 “Vì Ðức Chúa Trời yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin nơi Con ấy không bị hư mất, mà được sự sống đời đời.” Ý nghĩa trọn vẹn của chữ “tin” là: “công nhận và làm theo.” Công nhận mà không làm theo thì không phải là tin mà chỉ là đồng ý. Thí dụ, có một nhà hảo tâm tuyên bố rằng trước 6 giờ chiều hôm nay, hễ ai bước qua cổng biệt thự của ông sẽ được ông tiếp đãi như khách quý và tặng cho một lượng vàng. Như vậy, chỉ những ai tin và bước qua cổng biệt thự của nhà hảo tâm trước 6 giờ chiều mới nhận được sự thực hiện lời hứa của ông. Những ai tin mà không làm theo lời tuyên bố hoặc làm theo mà không đúng, như bước qua cổng biệt thự sau 6 giờ chiều, thì không thể nhận được gì từ nơi nhà hảo tâm.

Đức Chúa Trời “tin mọi sự” có nghĩa là Ngài công nhận và làm theo tất cả những gì đúng theo tiêu chuẩn yêu thương, thánh khiết, và công bình của Ngài đã được thể hiện trong Thánh Kinh. Đức Chúa Trời “tin mọi sự” có nghĩa là Ngài công nhận và đáp ứng những gì chúng ta kêu cầu, trình dâng, và làm ra trong tiêu chuẩn của Ngài. Là con dân Chúa chúng ta cần “tin mọi sự” trong Lời Chúa, tức là công nhận và làm theo mọi điều Chúa phán dạy, được ghi chép trong Thánh Kinh; đồng thời chúng ta công nhận và đáp ứng tất cả những gì mà các anh chị em của chúng ta nói và làm trong tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời.

Tình yêu tin mọi sự có nghĩa là tình yêu công nhận và làm theo mọi lời phán của Đức Chúa Trời; đồng thời công nhận và đáp ứng tất cả những lời nói và hành động đúng theo lời Chúa của bất cứ ai.

13. Tình yêu trông cậy mọi sự: Từ ngữ “trông cậy” có nghĩa là mong muốn và chờ đợi điều chắc chắn sẽ xảy ra.

Đức Chúa Trời trông cậy toàn bộ ý muốn và chương trình của Ngài được hiện thực để con dân của Ngài được vui sống đời đời trong hạnh phúc với Ngài. Con dân Chúa và muôn vật cũng trông cậy điều đó: “Vì chúng ta thật than thở trong nhà tạm nầy, mà hết sức mong được mặc lấy nhà chúng ta từ trên trời” (II Cô-rinh-tô 5:2). “Vì chúng ta biết rằng muôn vật đều than thở và chịu khó nhọc cho đến ngày nay; không những muôn vật thôi, lại chúng ta, là kẻ có trái đầu mùa của Đức Thánh Linh, cũng than thở trong lòng đang khi trông đợi sự làm con nuôi, tức là sự cứu chuộc thân thể chúng ta vậy” (Rô-ma 8:22, 23). Đó là sự trông cậy phước hạnh (Tít 2:13) và là sự trông cậy trọn vẹn: “Vậy, anh em hãy bền chí như thể thắt lưng, hãy tiết độ, lấy sự trông cậy trọn vẹn đợi chờ ơn sẽ ban cho mình trong khi Đức Chúa Jesus Christ hiện ra” (I Phi-e-rơ 1:13).

Tình yêu trông cậy mọi sự có nghĩa là tình yêu mong muốn và chờ đợi tất cả những gì Chúa hứa trong Thánh Kinh được Ngài làm cho ứng nghiệm; đồng thời mong muốn và chờ đợi tất cả những việc làm đúng với Lời Chúa của con dân Chúa.

14. Tình yêu nín chịu mọi sự: Từ ngữ “nín chịu:” Từ ngữ này khác với từ ngữ “nhẫn nại.” Trong khi “nhẫn nại” có nghĩa là chậm lại việc hình phạt kẻ có lỗi thì “nín chịu” nói đến sức mạnh chịu đựng bất công và nghịch cảnh cho đến cuối cùng, cho đến khi đạt được mục đích.

Đức Chúa Trời là Đấng Toàn Năng, cho nên, không có điều gì Ngài không thể chịu đựng. Nhưng khi Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thế làm người, chịu giới hạn trong xác thịt thì Ngài đã nín chịu mọi nghịch cảnh cho đến khi hoàn thành sự cứu rỗi nhân loại. Con dân Chúa chỉ có thể nín chịu bằng ân điển của Chúa: “Nhưng Chúa phán rằng: Ân điển Ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của Ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối. Vậy, tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi” (II Cô-rinh-tô 12:9). Nhờ đó mà con dân Chúa có thể đồng thanh với Sứ Đồ Phao-lô: “Qua Đấng Christ là Đấng ban thêm sức cho tôi, tôi làm được mọi sự” (Phi-líp 4:13).

Kết Quả của Tình Yêu  – I Phi-e-rơ 4:8

“Nhứt là trong vòng anh em phải có tình yêu chân thật; vì tình yêu che đậy vô số tội lỗi.”

Tình yêu chân thật là tình yêu được mô tả trong I Cô-rinh-tô 13:4-8 trên đây. Mệnh đề: “vì tình yêu che đậy vô số tội lỗi” không có nghĩa là tình yêu bao che và dung túng cho vô số tội lỗi. Từ ngữ “che đậy” trong nguyên tác của Thánh Kinh có nghĩa là: (1) che đậy sự hiểu biết về một điều gì đó; (2) làm cho một điều gì đó không thể hiện thực. Như vậy, “tình yêu che đậy vô số tội lỗi” có nghĩa là: (1) tình yêu khiến cho người ta không hiểu biết cách thức phạm tội, vì thế người ta không thể phạm tội; (2) nhờ đó, tình yêu khiến cho biết bao nhiêu tội lỗi không thể xảy ra.

Một ngày kia, Thiên Chúa của tình yêu sẽ làm mới lại tất cả muôn vật. Kẻ ác, sự dữ, tội lỗi và hậu quả của tội lỗi sẽ bị nhốt đời đời trong hồ lửa (Khải Huyền 20:10-15); và đối với tất cả con dân Chúa, Ngài “sẽ lau hết mọi nước mắt khỏi mắt họ. Sẽ không còn sự chết, không còn buồn khổ, không còn khóc lóc, cũng không còn đau đớn nữa vì những sự cũ đã qua rồi” Khải Huyền 21:4). Đó là lúc kết quả của tình yêu đã kết thành trọn vẹn.

Từ Ngữ Đoán Xét Trong Thánh Kinh

Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ ý nghĩa của từ ngữ “đoán xét” hoặc “xét đoán.” Trong nguyên ngữ của Thánh Kinh, từ ngữ “krinō,” G2919, phiên âm là /kree’-no/, có nhiều nghĩa khác nhau: phân biệt, lựa, chọn; phán đoán; nhận định; thẩm định; xử án; tuyên án; phán quyết, vv… Vì thế, tùy theo văn cảnh mà từ ngữ này phải được dịch  sang tiếng Việt bằng những từ ngữ khác nhau với những nghĩa khác nhau. Thí dụ sau đây trong tiếng Việt cho chúng ta thấy, cùng là một từ ngữ nhưng nếu ở trong văn cảnh khác nhau thì ý nghĩa sẽ khác nhau, nhiều khi hai ý nghĩa của cùng một từ ngữ chẳng có liên quan gì với nhau: “giàu có thì ăn tiêu thoải mái” khác xa với “ăn tiêu để giải cảm.” Cùng là từ ngữ “ăn tiêu” nhưng có khi mang nghĩa “sử dụng tiền bạc, của cải” và có khi mang nghĩa “ăn hạt tiêu” là một thứ gia vị.

Theo “W. E. Vine’s Complete Expository Dictionary” thì Thánh Kinh Tân Ước dùng từ ngữ “krinō” với những ý sau đây:

1. Định tội như một quan tòa:

“Các ngươi đừng định tội ai, để mình khỏi bị định tội(Ma-thi-ơ 7:1)

“Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài đến thế gian, chẳng phải để định tội thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con ấy, mà được cứu”(Giăng 3:17)

2. Xét xử hoặc chịu sự xét xử:

“Ai tin nơi Con ấy, thì chẳng bị định tội. Ai không tin, thì đã bị định tội rồi; vì không tin nơi danh Con Một của Đức Chúa Trời”(Giăng 3:18).

“Phi-lát bèn nói với họ: Các ngươi hãy tự bắt lấy người và xử theo luật của các ngươi. Những người Giu-đa thưa với người rằng: Chúng tôi chẳng được phép giết ai cả”(Giăng 18:31).

“Hãy nói và làm dường như phải chịu luật pháp tự do đoán xét mình”(Gia-cơ 2:12).

3. Phán quyết:

“Vậy, theo phán quyết của tôi, thật chẳng nên khuấy rối những người ngoại trở về cùng Đức Chúa Trời” (Công Vụ Các Sứ Đồ 15:19).

“Hễ ghé qua thành nào, hai người cũng dặn biểu phải giữ mấy lề luật mà các sứ đồ và trưởng lão tại thành Giê-ru-sa-lem đã phán quyết(Công Vụ Các Sứ Đồ 16:4).

“Còn người ngoại đã tin, chúng tôi có viết thơ cho họ về điều chúng tôi đã phán quyết: là chỉ phải kiêng ăn của cùng thần tượng, máu và thú vật chết ngộp, cùng chớ gian dâm”(Công Vụ Các Sứ Đồ 21:25).

4. Kết tội, buộc tội:

“Người nào chối bỏ Ta và không nhận lãnh những lời của Ta, thì đã có kẻ kết tội người. Lời Ta đã phán, lời ấy sẽ kết tội người trong ngày sau cùng”(Giăng 12:48).

“Vì dân và các quan ở thành Giê-ru-sa-lem chẳng nhìn biết Đức Chúa Jesus nầy, nên lúc kết tội Ngài, chúng đã làm ứng nghiệm lời của các đấng tiên tri mà người ta thường đọc trong mỗi ngày Sa-bát”(Công Vụ Các Sứ Đồ 13:27).

“Kẻ vốn không chịu cắt bì, mà làm trọn luật pháp sẽ kết tội ngươi, là kẻ dẫu có chữ của luật pháp và phép cắt bì, lại phạm luật pháp”(Rô-ma 2:27).

5. Thi hành án phạt:

Đức Chúa Trời lại phán rằng: Nhưng Ta sẽ thi hành án phạt dân đã bắt chúng nó làm tôi, kế đó, chúng nó sẽ ra khỏi, và thờ phượng Ta trong nơi nầy” (Công Vụ Các Sứ Đồ 7:7).

“Hầu cho hết thảy những người không tin lẽ thật, song chuộng sự không công bình, đều bị phục dưới sự thi hành án phạt của Ngài”(II Tê-sa-lô-ni-ca 2:12).

6. Dính dáng đến một vụ thưa kiện:

a) với tư cách là nguyên cáo: Ma-thi-ơ 5:40; I Cô-rinh-tô 6:1;

b) hoặc với tư cách là bị cáo: Công Vụ Các Sứ Đồ 23:6.

7. Cai trị:

“Đức Chúa Jesus đáp rằng: Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, đến kỳ muôn vật đổi mới, là khi Con người sẽ ngự trên ngôi vinh quang của Ngài, thì các ngươi là kẻ đã theo Ta, cũng sẽ ngồi trên mười hai ngôi, mà xét đoán mười hai chi phái I-sơ-ra-ên”(Ma-thi-ơ 19:28).

8. Suy xét, phán đoán, cho rằng:

“Si-môn thưa rằng: Tôi tưởng là người mà chủ nợ đã tha nhiều nợ hơn. Đức Chúa Jesus phán rằng: Ngươi phán đoán phải lắm”(Lu-ca 7:43).

“Đừng phán xét theo bề ngoài, nhưng phải phán xét theo sự phán xét công chính”(Giăng 7:24).

“Nhưng Phi-e-rơ và Giăng trả lời rằng: Chính các ông hãy suy xét, trước mặt Đức Chúa Trời có nên vâng lời các ông hơn là vâng lời Đức Chúa Trời chăng”(Công Vụ Các Sứ Đồ 4:19)?

“Người nầy cho rằng ngày nầy hơn ngày khác, kẻ kia cho rằng mọi ngày đều bằng nhau; ai nấy hãy tin chắc ở trí mình”(Rô-ma 14:5).

9. Có ý định, quyết định:

“Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, I-sác, và Gia-cốp, Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta đã làm vinh quang đầy tớ Ngài là Đức Chúa Jesus, là Đấng mà các ngươi đã bắt nộp và chối bỏ trước mặt Phi-lát, trong khi người có ý tha Ngài ra”(Công Vụ Các Sứ Đồ 3:13).

“Vì Phao-lô đã quyết định đi qua trước thành Ê-phê-sô xong không dừng lại tại đó, e cho chậm trễ trong cõi A-si. Người vội đi đặng có thể đến thành Giê-ru-sa-lem kịp trong ngày Lễ Ngũ Tuần”(Công Vụ Các Sứ Đồ 20:16).

“Vì tôi đã định ý rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Đức Chúa Jesus Christ, và Đức Chúa Jesus Christ bị đóng đinh trên cây thập tự”(I Cô-rinh-tô 2:2).

Những Câu Thánh Kinh Có Từ Ngữ Đoán Xét Bị Lạm Dụng

Với những ý nghĩa được dùng trên đây của từ ngữ “đoán xét” (“krinō“), chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa của những câu Thánh Kinh mang từ ngữ này thường bị lạm dụng.

1. Ma-thi-ơ 7:1, 2 

“Các ngươi đừng định tội ai, để mình khỏi bị định tội. Vì các ngươi định tội người ta thể nào, thì họ cũng định tội lại thể ấy; các ngươi lường cho người ta mực nào, thì họ cũng lường lại cho mực ấy.”

Nếu Chúa chỉ phán như thế thì rõ ràng là Chúa không cho phép có sự lên án và kết tội người có tội. Tuy nhiên khi chúng ta đặt hai câu này vào trong văn cảnh của nó là Ma-thi-ơ 7:1-5 thì chúng ta thấy đây là lời quở trách của Đức Chúa Jesus dành cho những kẻ giả hình, tức là những kẻ phạm cùng một tội như người khác, thậm chí còn phạm tội trầm trọng hơn, mà lại đóng vai quan tòa buộc tội người khác. Chúa không hề có ý ngăn cấm không cho phép có sự xét đoán công chính. Vì nếu thế sẽ không ai được làm quan tòa và Hội Thánh cũng không thể lên án và kỷ luật kẻ có tội mà không chịu cải hối.

Ma-thi-ơ 7:1-5

1 Các ngươi đừng định tội ai, để mình khỏi bị định tội.

2 Vì các ngươi định tội người ta thể nào, thì họ cũng định tội lại thể ấy; các ngươi lường cho người ta mực nào, thì họ cũng lường lại cho mực ấy.

3 Sao ngươi dòm thấy cái rác trong mắt anh em ngươi, mà chẳng thấy cây đà trong mắt mình?

4 Sao ngươi dám nói với anh em rằng: Để tôi lấy cái rác ra khỏi mắt anh, mà chính ngươi có cây đà trong mắt mình?

5 Hỡi kẻ giả hình! trước hết phải lấy cây đà khỏi mắt mình đi, rồi mới thấy rõ mà lấy cái rác ra khỏi mắt anh em mình được.

Ý nghĩa của Ma-thi-ơ 7:1, 2 về sau được Đức Thánh Linh, qua ngòi bút của Phao-lô, nhắc lại trong Rô-ma 2:1, 3:

“Vậy hỡi người kia, ngươi là ai mặc lòng, hễ đoán xét kẻ khác thì không thể chữa mình được; vì trong khi đoán xét họ, ngươi cũng lên án cho chính mình ngươi nữa, bởi ngươi đoán xét họ, mà cũng làm các việc như họ… Hỡi người đoán xét kẻ phạm những việc dường ấy mà mình cũng phạm kia, vậy ngươi tưởng rằng chính mình ngươi sẽ tránh khỏi sự phán xét của Đức Chúa Trời sao?”

2. Lu-ca 6:37

“Đừng đoán xét ai, thì các ngươi khỏi bị đoán xét; đừng lên án ai, thì các ngươi khỏi bị lên án; hãy tha thứ, thì ngươi sẽ được tha thứ.”

Ý nghĩa của từ ngữ “đoán xét” trong câu này liên quan đến những điều Chúa dạy các môn đồ của Ngài trước đó, từ câu 27 đến câu 36, nói đến sự yêu thương kẻ thù, làm ơn cho kẻ ghét mình, chúc phước cho kẻ rủa mình, cầu nguyện cho kẻ sỉ nhục mình, làm cho người điều mình muốn người làm cho mình, và hãy thương xót như Đức Chúa Cha là Đấng hay thương xót. Trong văn cảnh đó, Chúa dạy chúng ta đừng đoán xét người ngoại là kẻ thù của chúng ta vì cớ họ ghét chúng ta, bách hại chúng ta, làm ra những điều bất công đối với chúng ta. Chúng ta cần cư xử với người ngoại như vậy vì chính chúng ta đã được hưởng ơn tha thứ của Chúa. Việc đoán xét người ngoại thuộc về Đức Chúa Trời và các nhà cầm quyền Chúa đã lập nên:

“Vì chưng có phải tôi nên đoán xét kẻ ở ngoài sao? Há chẳng phải anh em nên đoán xét những người ở trong sao? Còn như kẻ ở ngoài, thì Đức Chúa Trời sẽ đoán xét họ. Hãy trừ bỏ kẻ gian ác khỏi anh em” (I Cô-rinh-tô 5:12, 13).

“Vì quan quyền là chức việc của Thiên Chúa để làm ích cho ngươi. Song nếu ngươi làm ác, thì hãy sợ, vì người cầm gươm chẳng phải là vô cớ; người là chức việc của Thiên Chúa để làm ra sự công bình và phạt kẻ làm dữ”(Rô-ma 13:4).

3. Rô-ma 14:13

“Vậy chúng ta chớ xét đoán nhau; nhưng thà nhứt định đừng để hòn đá vấp chơn trước mặt anh em mình, và đừng làm dịp cho người sa ngã.”

Đây là câu kết luận cho những điều Sứ Đồ Phao-lô đã trình bày trước đó, từ câu 1-6, về việc trong Hội Thánh có sự phê bình, chỉ trích lẫn nhau giữa người ăn thịt và người ăn rau, giữa người chọn kiêng ăn vào ngày này với người chọn kiêng ăn vào ngày kia. Ai nấy cho rằng mình đúng và lên án người khác là sai. Sự đoán xét như vậy là không công bình, tức không dựa trên lẽ thật của Lời Chúa, cho nên Phao-lô khuyên Hội Thánh đừng làm ra những sự đoán xét như vậy. Phao-lô không hề có ý nói rằng con dân Chúa hoàn toàn không được đoán xét lẫn nhau, vì nếu thế, ông đã không bảo Hội Thánh phải đoán xét những người phạm tội trong Hội Thánh và trừ bỏ họ ra khỏi Hội Thánh, như chúng ta đã nói đến ở trên.

4. I Cô-rinh-tô 4:5

“Vậy, chớ xét đoán sớm quá, hãy đợi Chúa đến; chính Chúa sẽ tỏ những sự giấu trong nơi tối ra nơi sáng, và bày ra những sự toan định trong lòng người; bấy giờ, ai nấy sẽ bởi Đức Chúa Trời mà lãnh sự tôn vinh mình đáng lãnh.”

Sự xét đoán mà Phao-lô nói đến ở đây là sự đoán xét để luận công của những người hầu việc Chúa. Trong Hội Thánh Cô-rinh-tô lúc bấy giờ có sự chia bè, lập đảng; người thì tung hô Phao-lô, người thì tung hô A-bô-lô (I Cô-rinh-tô 3:4). Có lẽ mỗi phe thi nhau kể thành tích của người mà họ mến chuộng.  Vì thế, trong thư I Cô-rinh-tô từ 3:1-22 Phao-lô quở trách và nhắc cho họ biết chỉ Đấng Christ là nền Hội Thánh, những người hầu việc Chúa đồng công với nhau trong việc xây dựng Hội Thánh nhưng chính Đức Chúa Trời là Đấng làm cho Hội Thánh lớn lên. Phao-lô giải thích cho họ biết là mọi việc làm của con dân Chúa sẽ bị thử nghiệm bởi Đức Chúa Jesus Christ và Ngài sẽ ban thưởng cho mỗi người tùy theo giá trị của mỗi việc làm. Ngoài ra, hết thảy mọi sự thuộc về Hội Thánh, Hội Thánh thuộc về Đấng Christ, Đấng Christ thuộc về Đức Chúa Trời, cho nên, con dân Chúa không nên chia bè, lập đảng tự phân cách mình với nhau. Phao-lô khuyên họ hãy nhường sự đoán xét luận công khen thưởng cho Chúa, vì chỉ có chính Chúa sẽ tỏ những sự giấu trong nơi tối ra nơi sáng, và bày ra những sự toan định trong lòng người,mà ban thưởng cách xứng đáng. I Cô-rinh-tô 4:5 hoàn toàn không liên quan gì đến việc đoán xét những điều không công bình theo lời Chúa dạy trong Lu-ca 12:57 hoặc đoán xét những kẻ phạm tội trong Hội Thánh theo lời Chúa dạy trong Ma-thi-ơ 18:17 và I Cô-rinh-tô 5:13.

5. Cô-lô-se 2:16

“Vì vậy, chớ để ai đoán xét anh em về sự ăn hay sự uống, hoặc trong sự dự phần của một ngày lễ, hoặc của một ngày mặt trăng mới, hoặc của những ngày Sa-bát.”

Trước hết, trong Bản Dịch Truyền Thống dịch là “chớ có ai đoán xét anh em” không đúng với nguyên ngữ, là “chớ để ai đoán xét anh em.” Đây cũng là một câu thường bị lạm dụng để ủng hộ cho lý luận “con dân Chúa không cần giữ ngày Sa-bát.” Tuy nhiên, đây không phải là câu mà Phao-lô hủy bỏ sự giữ ngày Sa-bát và ra lệnh cho Hội Thánh không được đoán xét những người không giữ ngày Sa-bát. Chính Phao-lô là người có thói quen giữ ngày Sa-bát:

“Phao-lô tới nhà hội theo thói quen mình, và trong ba ngày Sa-bát bàn luận với họ”(Công Vụ Các Sứ Đồ 17:2).

“Hễ đến ngày Sa-bát, thì Phao-lô giảng luận trong nhà hội, khuyên dỗ người Giu-đa và người Gờ-réc”(Công Vụ Các Sứ Đồ 18:4).

Kế tiếp, từ ngữ Sa-bát được dùng trong câu này là số nhiều, dùng để chỉ các ngày lễ Sa-bát trong năm, không phải ngày Sa-bát cuối tuần. “Sa-bát” có nghĩa là “ngưng lao động,” cho nên ngày Sa-bát là ngày ngưng lao động. Ngoài ngày ngưng lao động cuối tuần là ngày thứ bảy thì mỗi năm có nhiều ngày ngưng lao động trong các dịp lễ hội, và những ngày đó được gọi là “những ngày Sa-bát.” Ý nghĩa rõ ràng của câu này là: “Tất cả những hình thức lễ nghi trong thời Cựu Ước tiêu biểu cho sự chuộc tội, sự thánh hóa, sự thờ phượng Thiên Chúa đã được hoàn tất trong Đấng Christ, cho nên, ngày nay sự vâng giữ các lễ nghi đó không còn phải theo hình thức cũ nữa mà theo hình thức mới trong tâm thần của con dân Chúa (thay vì tại đền thờ Giê-ru-sa-lem) và theo lẽ thật của Lời Chúa được giải bày trong Tân Ước. Vì vậy, đừng cho phép ai lên tiếng phê phán mình cách ăn uống, như sự không kiêng cử các thức ăn vốn bị coi là không tinh sạch, hoặc cách thức giữ các ngày lễ, ngày trăng mới, và những ngày lễ Sa-bát không theo hình thức cũ!”

Câu này hoàn toàn không liên quan gì đến việc đoán xét những điều không công bình theo lời Chúa dạy trong Lu-ca 12:57 hoặc đoán xét những kẻ phạm tội trong Hội Thánh theo lời Chúa dạy trong Ma-thi-ơ 18:17 và I Cô-rinh-tô 5:13.

6. Gia-cơ 4:11, 12

“Hỡi anh em, chớ vu khống nhau. Ai vu khống anh em mình và kết tội anh em mình, tức là vu khống luật pháp và kết tội luật pháp. Vả, nếu ngươi kết tội luật pháp, thì ngươi chẳng phải là kẻ vâng giữ luật pháp, bèn là người kết tội luật pháp vậy. Chỉ có một Đấng lập ra luật pháp và một Đấng kết tội, tức là Đấng cứu được và diệt được. Nhưng ngươi là ai, mà dám kết tội kẻ lân cận mình?”

Bản Dịch Truyền Thống dịch là “Ai nói hành anh em mình hoặc xét đoán anh em mình” là không đúng vì trong nguyên ngữ là: “Ai vu khống anh em mình kết tội anh em mình;” tức là hành động kết tội theo sau việc vu khống. Từ ngữ “nói hành” được dùng trong bản Dịch Truyền Thống, trong nguyên ngữ có nghĩa là “vu khống,” tức là nói oan cho người khác. Vì thế, ý nghĩa của Gia-cơ 14:11, 12 là: “Đừng vu khống nhau. Ai vu khống anh em mình rồi dựa vào lời vu khống đó để kết tội anh em mình thì người đó vu khống luật pháp và kết tội luật pháp. Bởi vì khi một người dùng luật pháp để kết tội người khác về một việc không có thật do mình vu khống thì người ấy đã làm cho luật pháp ra xấu, tức là đã vu khống cho luật pháp và kết tội luật pháp.”

Rõ ràng, câu này cũng hoàn toàn không liên quan gì đến việc đoán xét những điều không công bình theo lời Chúa dạy trong Lu-ca 12:57 hoặc đoán xét những kẻ phạm tội trong Hội Thánh theo lời Chúa dạy trong Ma-thi-ơ 18:17 và I Cô-rinh-tô 5:13.

Không Được Đụng Đến Người Được Chúa Xức Dầu

Cũng liên quan đếnsự đoán xét, có một câu thường được các bậc chức sắc trong các giáo hội mang danh Chúa sử dụng để chống lại những ai lên tiếng phê bình, chỉ trích nếp sống nghịch Lời Chúa của họ. Câu đó hoàn toàn không có trong Thánh Kinh nhưng được họ khẳng định là có. Đó là câu: “Không được đụng đến người Chúa đã xức dầu,” và câu này được họ dùng Rô-ma 14:4 để củng cố: “Ngươi là ai mà dám xét đoán tôi tớ của kẻ khác? Nó đứng hay ngã, ấy là việc chủ nó; song nó sẽ đứng, vì Chúa có quyền cho nó đứng vững vàng”.

Thật ra, tương tự như Sa-tan bẻ cong Lời Chúa khi biến: “Vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết” thành “Hai ngươi chẳng chết đâu” (Sáng Thế Ký 2:17; 3:4); họ đã bẻ cong những lời nói của Vua Đa-vít, được ghi lại trong các câu liệt kê dưới đây:

I Sa-mu-ên 24:7 “Người nói cùng kẻ theo mình rằng: Nguyện Đức Giê-hô-va chớ để ta phạm tội cùng chúa ta, là kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va, mà tra tay trên mình người, vì người là kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va.”

I Sa-mu-ên 24:11 “Kìa, hãy xem, chính mắt vua có thế thấy được rằng ngày nay, trong hang đá, Đức Giê-hô-va đã phó vua vào tay tôi. Có người biểu giết vua; nhưng tôi dong-thứ cho vua, mà rằng: ta không tra tay trên mình chúa ta, vì người là đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va.”

I Sa-mu-ên 26:9 “Nhưng Đa-vít bảo A-bi-sai rằng: Đừng giết người; ai có thế tra tay trên kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va mà không bị phạt?”

I Sa-mu-ên 26:11 “Nguyện Đức Giê-hô-va giữ, chớ cho tôi tra tay vào kẻ chịu xức dầu của Ngài! Ta xin ngươi chỉ hãy lấy cây giáo nơi đầu giường người cùng cái bình nước, rồi chúng ta hãy đi.”

I Sa-mu-ên 26:23 “Đức Giê-hô-va sẽ báo trả cho mọi người tùy theo sự công bình và trung tín của người; vì ngày nay Ngài đã phó vua vào tay tôi, mà tôi không khứng tra tay vào đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va.”

II Sa-mu-ên 1:14 “Đa-vít nói rằng: Cớ sao ngươi không sợ giơ tay lên giết kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va?”

Đọc xong những câu Thánh Kinh kể trên chúng ta nhận thấy ý nghĩa câu nói của Vua Đa-vít là “Đừng giết người chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va,” ông không nói đừng phê bình, đừng quở trách những việc làm sai trái của họ. Trong thực tế, Vua Đa-vít đã thẳng thắn quở trách hành động sai trái, bất công của Vua Sau-lơ trước mặt các tướng sĩ, khi Vua Sau-lơ vì ganh tỵ mà đuổi giết ông (I Sa-mu-ên 24:10-16).

Sứ Đồ Phao-lô truyền lệnh cho Ti-mô-thê về việc quở trách và sửa phạt các trưởng lão có lỗi trong Hội Thánh như sau:

“Đừng chấp một cái đơn nào kiện một trưởng lão mà không có hai hoặc ba người làm chứng. Kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ”(I Ti-mô-thê 5:19, 20).

Sự xức dầu trong Cựu Ước tiêu biểu cho sự một người được Đức Chúa Trời kêu gọi, giao cho chức vụ, ban cho thẩm quyền, năng lực và ân tứ để hầu việc Chúa. Ngày nay, mỗi một người tin và làm theo Lời Chúa đều được kêu gọi làm con cái của Đức Chúa Trời, làm sứ giả rao giảng Tin Lành (Ma-thi-ơ 28:19, 20), làm vua và thầy tế lễ (I Phi-e-rơ 2:9; Khải Huyền 1:6), được xức dầu qua sự kiện được báp-tem bằng Thánh Linh; và như thế, mỗi con dân chân thật của Chúa đều là “người chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va.” Hễ ai giết những người chịu xức dầu của Chúa thì sẽ bị Thiên Chúa hình phạt xứng đáng nhưng hễ người chịu xức dầu của Chúa phạm lỗi thì phải bị quở trách trước Hội Thánh để làm gương cho người khác.

Những giáo sư giả, tiên tri giả, kẻ chăn thuê, quân trộm cướp, sói đội lốt chiên, dê, cỏ lùng “mượn đạo tạo đời” không bao giờ là tôi tớ của Chúa, làm gì được Chúa xức dầu? Và vì thế, Rô-ma 14:4 không hề được áp dụng cho họ. Mặt khác, ý nghĩa của Rô-ma 14:4 là nói đến những người thật lòng tin Chúa nhưng còn non kém trong đức tin thì sẽ được Chúa làm cho họ vững mạnh; chứ không phải nói đến những người không chịu từ bỏ nếp sống tội, làm gương xấu cho Hội Thánh.

Rất có thể, ngày nay, những kẻ giả hình đó mang trên mình nhiều bằng cấp thần học, giữ những chức vụ quan trọng trong các tổ chức giáo hội, quản nhiệm những tổ chức tôn giáo có số đông đến hàng ngàn hay hàng chục ngàn người; họ ồn áo, náo động, nhân danh Chúa nói tiên tri, đuổi quỷ và làm ra nhiều dấu kỳ phép lạ; nhưng một ngày không xa nữa, chính Đức Chúa Jesus Christ sẽ phán với họ rằng: “Hỡi những kẻ làm gian ác, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi Ta” (Ma-thi-ơ 7:22, 23). “Ta chẳng biết các ngươi bao giờ” có nghĩa là họ chưa bao giờ thật lòng tin nhận Chúa, chưa bao giờ ở trong sự cứu rỗi của Ngài, cho nên, Chúa chưa bao giờ biết đến họ trong gia đình của Ngài.

Con Dân Chúa và Sự Đoán Xét

Lý luận cho rằng con dân Chúa không được đoán xét là lý luận hoàn toàn nghịch lại lời Chúa dạy trong Thánh Kinh. Trái lại, Chúa truyền lệnh cho con dân Chúa phải đoán xét mọi sự (Lu-ca 12:57) và đoán xét lẫn nhau trong Hội Thánh (I Cô-rinh-tô 5:12, 13) theo lẽ công bình, tức là dựa trên sự yêu thương, thánh khiết, và công chính của Lời Chúa mà đoán xét mọi sự và đoán xét lẫn nhau, khuyên dạy lẫn nhau, quở trách lẫn nhau. Nếu kẻ có tội không chịu cải hối thì phải sửa phạt.

Trong Lu-ca 12:57 Chúa quở trách dân chúng đến nghe Ngài giảng rằng, họ đã không tự mình suy xét xem điều gì là công bình để biết và làm theo, đồng thời tránh làm ra những điều không công bình:

“Lại sao các ngươi cũng không tự mình xét đoán điều gì là công bình?”

Trong Giăng 7:24 Chúa quở trách những người Do-thái đã theo hình thức bên ngoài mà xét đoán Chúa và Ngài khuyên họ phải xét đoán theo lẽ công bình. Xét đoán theo lẽ công bình là xét đoán theo tiêu chuẩn của Lời Chúa:

“Đừng cứ bề ngoài mà xét đoán, nhưng phải xét đoán theo lẽ công bình.”

Trong I Cô-rinh-tô 5:12, 13 Sứ Đồ Phao-lô nhắc và chỉ thị cho Hội Thánh không nên đoán xét người ngoại nhưng phải đoán xét những người trong Hội Thánh; và phải khai trừ kẻ gian ác ra khỏi Hội Thánh. Kẻ gian ác là kẻ phạm tội mà không chịu cải hối:

“Vì chưng có phải tôi nên đoán xét kẻ ở ngoài sao? Há chẳng phải anh em nên đoán xét những người ở trong sao? Còn như kẻ ở ngoài, thì Đức Chúa Trời sẽ đoán xét họ. Hãy trừ bỏ kẻ gian ác khỏi anh em.”

Trong I Cô-rinh-tô 6:1 Sứ Đồ Phao-lô nói đến việc anh chị em trong Hội Thánh có sự gì nghịch cùng nhau thì hãy để cho người trong Hội Thánh đoán xét, đừng đưa ra tòa án của người thế gian, khiến cho người thế gian đoán xét con dân Chúa.

Khi trong anh em ai có sự nghịch cùng người khác, sao dám để cho kẻ không công bình đoán xét hơn là cho các thánh đồ?

Kết Luận

Dấu hiệu tỏ ra bên ngoài để thế gian nhận biết con dân Chúa chính là sự kiện con dân Chúa yêu thương lẫn nhau: “Nếu các ngươi có yêu lẫn nhau, thì bởi đó, mọi người sẽ biết các ngươi là những môn đồ của Ta” (Giăng 13:35). Nhưng trong sự yêu thương có sự quở trách, khuyên dạy, vì “sự quở trách khuyên dạy là con đường sự sống” (Châm Ngôn 6:23). Để có thể quở trách, khuyên dạy thì trước hết phải có sự đoán xét công chính, là điều mà con dân Chúa phải luôn thực hiện (Lu-ca 12:57). Sự quở trách phải công khai trước mặt Hội Thánh, theo lời Chúa dạy, để làm gương: “Kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ” (I Ti-mô-thê 5:20). Đối với kẻ rời bỏ nếp sống Đạo trong Chúa, phạm tội không ăn năn thì Hội Thánh phải kỷ luật nặng nề, bằng cách dứt kẻ ấy ra khỏi Hội Thánh: “Hãy trừ bỏ kẻ gian ác khỏi anh em” (I Cô-rinh-tô 5:13). “Sự hình phạt nặng nề dành cho kẻ bỏ chánh lộ” (Châm Ngôn 15:10).

Nguyện Đức Thánh Linh dùng mọi lẽ thật của Lời Chúa để tẩy rửa tâm trí chúng ta sạch hết những ý tưởng sai lạc mà Sa-tan và các tôi tớ của nó đã gieo rắc trong quá khứ. Nguyện Đức Thánh Linh dùng mọi lẽ thật của Lời Chúa để giúp chúng ta nhận thức được những lý luận lạm dụng Lời Chúa trong tương lai và ban cho chúng ta ơn cùng thẩm quyền để đoán xét chúng. Nguyện Lời Chúa thánh hóa chúng ta mỗi ngày trong cuộc sống. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
05.05.2012

Ghi Chú

[1] Từ ngữ “kỵ tà” trong những câu Thánh Kinh sau đây đã được hiệu đính thành “hay ghen” trong “Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012”Xuất Ê-díp-tô Ký 20:5; 34:14; Dân Số Ký 25:11; Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:24; 5:9; 6:15; 29:20; 24:19.

Share This:

Comments are closed.