2,688 views

Rô-ma_004 Tâm Tình và Bổn Phận Sứ Đồ của Phao-lô

Huỳnh Christian Timothy
07.07.2012

Dẫn Nhập

Trong phần chào thăm và mở đầu thư Rô-ma, Sứ Đồ Phao-lô đã dành ra tám câu (1:8-15) để bày tỏ tâm tình của ông đối với Hội Thánh Chúa tại Rô-ma, nói riêng, và đối với bất cứ ai chưa hề nghe biết đến Tin Lành, nói chung; đồng thời nói rõ bổn phận rao giảng Tin Lành mà Chúa đã giao cho ông. Chúng ta có thể tóm lược những điều Phao-lô viết trong tám câu đó thành một tựa đề: “Tâm Tình và Bổn Phận Sứ Đồ của Phao-lô.” Tâm tình là những suy nghĩ và cảm xúc của mình về một điều gì đó, về ai đó. Bổn phận là điều mình phải làm cho Thiên Chúa, cho chính mình và cho người khác.

Không phải Phao-lô chỉ bày tỏ tâm tình và bổn phận sứ đồ của ông trong tám câu mở đầu của thư Rô-ma, nhưng điều đó được thể hiện khắp trong các thư tín của ông.

Cảm Tạ Chúa Vì Nếp Sống Đạo của Người Khác

Rô-ma 1:8 Trước hết, tôi thật vì hết thảy các anh chị em, nhờ Đức Chúa Jesus Christ, mà cảm tạ Đức Chúa Trời tôi về sự đức tin của các anh chị em đã lan truyền khắp cả thế gian.

Đọc Tiếp →

Share This:

2,574 views

Rô-ma_003 Tin Lành của Thiên Chúa

Huỳnh Christian Timothy
30.06.2012

Dẫn Nhập:

Trong bài trước chúng ta đã học về ý nghĩa “Tin Lành của Thiên Chúa.” Trong bài này chúng ta sẽ học về các đặc tính của Tin Lành của Thiên Chúa được trình bày trong Rô-ma 1:2-6. Trước hết, chúng ta hãy cùng nhau đọc lại Rô-ma 1:1-6:

Rô-ma 1:1 Phao-lô, tôi tớ của Đức Chúa Jesus Christ, được gọi làm sứ đồ, biệt riêng cho Tin Lành của Thiên Chúa –

Rô-ma 1:2 là sự Ngài đã hứa trước trong Thánh Kinh, bởi những tiên tri của Ngài,

Rô-ma 1:3 về Con Ngài; theo xác thịt là Đấng ra từ dòng dõi Đa-vít,

Rô-ma 1:4 theo Linh của sự thánh khiết là Đấng được công bố là Con của Thiên Chúa trong năng lực, bởi sự sống lại từ những kẻ chết của Jesus Christ, Chúa chúng ta;

Rô-ma 1:5 nhờ Ngài mà chúng tôi đã nhận lãnh ân điển và chức sứ đồ, cho sự vâng phục của đức tin trong mọi dân tộc, vì danh Ngài;

Rô-ma 1:6 trong những dân ấy có các anh chị em và các anh chị em là những người được gọi của Đức Chúa Jesus Christ; –

Đọc Tiếp →

Share This:

2,377 views

Rô-ma_002 Tôi Tớ của Đấng Christ

Huỳnh Christian Timothy
23.06.2012

Dẫn Nhập:

Thư Rô-ma cũng như các thư tín khác trong Thánh Kinh dùng chung một hình thức trình bày rất phổ biến của nền văn hóa Hy-lạp cổ điển. Theo đó, thông thường trong một lá thư, trước hết người viết tự giới thiệu về mình, liền theo đó là tên của người nhận, rồi đến những lời chào thăm hoặc một câu cầu nguyện chúc phước ngắn gọn; kế đến là nội dung của lá thư; và cuối cùng là lời chào thăm hoặc chúc phước để kết thúc. Đối với những thư tín có tính cách công văn hoặc thương mãi thì chức vụ của người viết và người nhận được ghi kèm theo tên.

Riêng Sứ Đồ Phao-lô, trong phần mở đầu các thư tín của ông, ông thường nêu lên những ý tưởng thần học mà nổi bật nhất là phần mở đầu của thư Rô-ma. Thư Rô-ma được mở đầu với 15 câu, trong đó, ngoài hai câu 1:1 và 1:7 giới thiệu người viết thư cùng người nhận thư, thì từ câu 1:2 đến câu 1:6 nói đến các đặc tính của Tin Lành, còn từ 1:8 đến 1:15 là những lời hỏi thăm và cầu nguyện. Trong bài này chúng ta sẽ cùng nhau phân tích hai câu 1:1 và 1:7.

Đọc Tiếp →

Share This:

4,807 views

Rô-ma_001 Giới Thiệu Thư Rô-ma

Huỳnh Christian Timothy
16.06.2012

Người Viết:

Danh từ “Rô-ma” còn được phiên âm là “La-mã,” là tên gọi thủ đô của nước La-mã từ năm 753 trước Công Nguyên (TCN). Ngày nay, Rô-ma là thủ đô của nước Ý-đại-lợi. Thư Rô-ma trong Thánh Kinh là một lá thư do Sứ Đồ Phao-lô gửi cho con dân Chúa tại thành Rô-ma. Ngay trong câu đầu tiên (1:1), Sứ Đồ Phao-lô đã xác nhận: “Phao-lô, tôi tớ của Đức Chúa Jesus Christ, được gọi làm sứ đồ, biệt riêng cho Tin Lành của Thiên Chúa.” Dầu vậy, người cầm bút ghi chép lại các lời của Phao-lô cho thư Rô-ma là Tẹt-tiu (16:22).

Là một sứ đồ nhưng Phao-lô không thuộc về 12 sứ đồ đi theo Đức Chúa Jesus Christ trong thời gian Chúa rao giảng Tin Lành; trái lại, trong thời kỳ Hội Thánh mới được thành lập, ông là người tích cực bắt bớ Đạo Chúa. Ông là người I-sơ-ra-ên, thuộc dòng dõi Bên-gia-min, theo phái Pha-ri-si, được sinh ra tại thành Tạt-sơ (ngày nay thuộc vùng trung nam nước Thổ-nhĩ-kỳ) vào khoảng năm thứ 2 TCN và tử đạo tại Giê-ru-sa-lem vào khoảng năm 68. Tên trong tiếng Hê-bơ-rơ của ông là Sau-lơ. Tuy được sinh ra ở nước ngoài nhưng ông được nuôi dưỡng và lớn lên tại Giê-ru-sa-lem, học về kinh luật, tức Thánh Kinh Cựu Ước, với một trong những giáo sư nổi tiếng thời bấy giờ là Ga-ma-li-ên (Công Vụ Các Sứ Đồ 22:3). Thánh Kinh không ghi lại việc Phao-lô có kết hôn hay không. Tuy nhiên, theo phong tục thời bấy giờ, một người Pha-ri-si và thành viên của Tòa Công Luận phải là một người đã lập gia đình, vì thế, rất có thể Phao-lô đã lập gia đình nhưng vợ của ông đã qua đời trước khi ông tin nhận Chúa. Trong thư I Cô-rinh-tô 9:5, Phao-lô có đặt ra câu hỏi là: chẳng phải ông và các đồng sự của ông cũng có quyền dắt vợ đi khắp các nơi như các sứ đồ khác, các anh em của Chúa, và Phi-e-rơ hay sao, hàm ý rằng: Phao-lô và các cộng sự của ông, như Ba-na-ba, Si-la, Ti-mô-thê, Tít đều sống độc thân.

Đọc Tiếp →

Share This:

2,557 views

Ngươi Chớ Ham Muốn…

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Ghi Chú: Bấm vào các từ ngữ Hê-bơ-rơ hoặc Hy-lạp để nghe phát âm. Bấm vào các mã số Strong (bắt đầu bằng H hoặc G) để xem định nghĩa trong tiếng Anh.

Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Bạn đọc có thể truy cập trực tiếp trên mạng tại đây: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào đây để download bài viết này
Bấm vào đây để nghe và download MP3 bài giảng này

"Ngươi chớ ham muốn nhà kẻ lân cận ngươi,
cũng đừng ham muốn vợ người, hoặc tôi trai tớ gái, bò, lừa,
hay là điều chi thuộc về kẻ lân cận ngươi."

(Xuất Ê-díp-tô Ký 20:17)

"Ngươi chớ ham muốn vợ của kẻ lân cận mình;
chớ ham muốn nhà của người, hoặc ruộng, tôi trai tớ gái, bò, lừa,
 hay là điều chi thuộc về kẻ lân cận ngươi."

(Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:21)

Dẫn Nhập

Điều răn thứ mười được chép trong Xuất Ê-díp-tô Ký 20:17 và Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:21. Xuất Ê-díp-tô Ký 20:17 không đề cập đến "ruộng" nhưng Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:21 thì có chữ "ruộng" và chữ "vợ" được đặt ở đầu câu. Chúng ta tin "Cả Thánh Kinh đều là bởi Thiên Chúa hà hơi" (II Ti-mô-thê 3:16), nghĩa là từng chữ trong Thánh Kinh đều là do Đức Thánh Linh thần cảm các tôi tớ của Chúa viết ra; như vậy, không thể có sự sai lầm hoặc mâu thuẫn trong Thánh Kinh. Vậy, chúng ta phải hiểu như thế nào khi gặp những chi tiết khác nhau thuộc hai hay nhiều phân đoạn trong Thánh Kinh khi chúng cùng đề cập đến một sự kiện?

Cách hiểu thứ nhất là: Chúa cho phép có nhiều nhân chứng cùng ghi lại một sự kiện dưới những hướng nhìn khác nhau để bổ sung lẫn nhau, đem lại cho chúng ta một bản tường thuật đầy đủ các chi tiết. Điều này tương tự như bốn họa sĩ cùng lúc vẽ một ngọn núi từ bốn hướng khác nhau. Bốn bức tranh cùng diễn tả một ngọn núi nhưng chắc chắn là các chi tiết hoàn toàn khác nhau. Một thí dụ khác, bốn phóng viên cùng  tham dự một vụ xử án sẽ viết bốn bài tường trình có những điểm khác nhau. Tương tự như vậy, bốn sách Tin Lành ghi chép về Đức Chúa Jesus Christ cho chúng ta có cái nhìn chi tiết về những lời Chúa phán và những việc Chúa làm.

Cách hiểu thứ nhì là: Có những lỗi trong việc sao chép Thánh Kinh. Ngày nay, chúng ta không còn nguyên bản của Thánh Kinh mà chỉ có các bản chép tay sao chép lại từ các nguyên bản và lẫn nhau. Trong tiến trình sao chép, dù các thư ký rất là cẩn thận nhưng vẫn có thể xảy ra các lỗi. Những lỗi này không làm mất đi sự chân thật của Lời Chúa. Với phương pháp phân tích và đối chiếu các nhà giải kinh có thể nhận biết và sửa chữa những lỗi xảy ra trong việc sao chép.

Cách hiểu thứ ba là: Lời Chúa phán được ghi chép cách trung thực lần thứ nhất trong Thánh Kinh. Về sau, khi được các tôi tớ của Chúa trích dẫn thì có sự khác biệt về từ ngữ so với nguyên văn nhưng không hề có sự khác biệt về ý; như khi chính Đức Chúa Jesus Christ và các sứ đồ trích dẫn Cựu Ước. Những sự khác biệt đó nhằm diễn giải nội dung của nguyên văn và cũng được thần cảm bởi Đức Thánh Linh, cho nên, cũng là Lời Chúa.

Mười Điều Răn được Đức Chúa Trời ghi chép trên hai bảng đá đã được Môi-se chép lại trong Xuất Ê-díp-tô Ký 20:1-17, nhưng gần 40 năm sau đó, khi Môi-se ứng khẩu lập lại trước mặt dân I-sơ-ra-ên và ghi lại trong Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:6-21 thì các từ ngữ có khác một chút trong các điều răn thứ tư, thứ năm, và thứ mười. Với cách hiểu thứ ba được đưa ra trên đây, chúng ta nhận thấy, trong Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:6-21, Môi-se trích dẫn Mười Điều Răn và thêm lời diễn giải trong các điều răn thứ tư, thứ năm, và thứ mười. Tương tự như vậy khi Đức Chúa Jesus Christ và các sứ đồ trích dẫn Cựu Ước.

Thí dụ: Ê-sai 40:3 chép: "Có tiếng kêu rằng: Hãy mở đường trong đồng vắng cho Đức Giê-hô-va; hãy ban bằng đường cái trong đất hoang cho Thiên Chúa chúng ta!" Nhưng khi Sứ Đồ Ma-thi-ơ trích dẫn và ghi lại trong Ma-thi-ơ 3:3 thì các từ ngữ có hơi khác một chút nhưng ý nghĩa thì không thay đổi: "Ấy là về Giăng Báp-tít mà đấng tiên tri Ê-sai đã báo trước rằng: Có tiếng kêu trong đồng vắng: Hãy dọn đường Chúa, Ban bằng các nẻo Ngài". Cả Ê-sai 40:3 và Ma-thi-ơ 3:3 đều là Lời của Đức Chúa Trời.

Nói cách khác, lần thứ nhất Lời của Đức Chúa Trời được ghi chép cách trung thực trong Thánh Kinh, sau đó, Đức Thánh Linh thần cảm các tôi tớ Chúa nhắc lại và thêm lời diễn giải để làm cho lời đó được dễ hiểu hơn; những lần nhắc lại và diễn giải đó vẫn là Lời của Đức Chúa Trời. Vì thế, lời nguyên thỉ trong Cựu Ước hay là lời được trích dẫn trong Tân Ước cũng đều là Lời của Đức Chúa Trời phán dạy về cùng một sự việc với các từ ngữ khác nhau.

Chúng ta sẽ cùng nhau học hỏi điều răn thứ mười như được ghi chép trong Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:21 là câu có thêm chi tiết so với Xuất Ê-díp-tô Ký 20:17.

Sự Ham Muốn

Điều răn thứ mười bắt đầu bằng mệnh đề: "Ngươi chớ ham muốn!" (Bản Truyền Thống dịch là "Ngươi chớ tham" là dịch theo lối diễn ý). Chữ "ham muốn" trong nguyên ngữ của Thánh Kinh là "châmad," H2530, /khaw-mad'/, là một động từ gốc, có nghĩa là: ưa thích, vui vẻ trong những những sự xinh đẹp, dễ yêu, tôn quý. Nếu dịch cho chính xác sang tiếng Việt thì có thể dịch là "ưa thích," "ham muốn" hoặc "khao khát." Ham muốn hoặc khao khát tự mình nó không sai vì Thiên Chúa dựng nên chúng ta với bản tính biết ham muốn. Thi Thiên 19:9, 10 ghi rằng: "Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là trong sạch, hằng còn đến đời đời; các mạng lịnh của Đức Giê-hô-va là chân thật, thảy đều công bình cả. Các điều ấy đáng chuộng hơn vàng, thật hơn vàng ròng; lại ngọt hơn mật, hơn nước ngọt của tàng ong;" từ ngữ "đáng chuộng" trong nguyên ngữ của Thánh Kinh chính là động từ "châmad" thể thụ động, có thể dịch là: "đáng ưa chuộng," "đáng ham muốn," "đáng khao khát." Nếu chúng ta không có bản tính ham muốn thì chúng ta sẽ không biết ham muốn Chúa và Lời Chúa, không biết ham muốn những sự công bình và thánh sạch, không biết ham muốn nếp sống phước hạnh và đẹp lòng Chúa.

Điều răn thứ mười không cấm chúng ta ham muốn nhưng cấm chúng ta ham muốn những gì thuộc về người khác. Điều răn thứ mười không nhắc lại sự cấm ngoại tình và cấm trộm cắp trong điều răn thứ bảy và thứ tám nhưng cấm chúng ta hình thành những ý tưởng ham muốn sai trái dẫn đến tội ngoại tình, tội trộm cắp và đủ các thứ tội khác.

Hậu Quả của Sự Ham Muốn Sai Trái

Sự ham muốn mà thiếu lòng kính sợ Chúa sẽ biến thành lòng tham và khiến cho chúng ta vi phạm các điều răn của khác của Chúa. Chúng ta hãy xét đến sự ham muốn sai trái của bà Ê-va. Sáng Thế Ký 2:15-17 chép như sau:

15 Giê-hô-va Thiên Chúa đem người ở vào cảnh vườn Ê-đen để trồng và giữ vườn.

16 Rồi, Giê-hô-va Thiên Chúa phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn;

17 nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết.

Sáng Thế Ký 3:1-8 chép như sau:

1 Vả, trong các loài thú đồng mà Giê-hô-va Thiên Chúa đã làm nên, có con rắn là giống quỷ quyệt hơn hết. Rắn nói cùng người nữ rằng: Mà chi! Thiên Chúa há có phán dặn các ngươi không được phép ăn trái các cây trong vườn sao?

2 Người nữ đáp rằng: Chúng ta được ăn trái các cây trong vườn,

3 song về phần trái của cây mọc giữa vườn, Thiên Chúa có phán rằng: Hai ngươi chẳng nên ăn đến và cũng chẳng nên đá-động đến, e khi hai ngươi phải chết chăng.

4 Rắn bèn nói với người nữ rằng: Hai ngươi chẳng chết đâu;

5 nhưng Thiên Chúa biết rằng hễ ngày nào hai ngươi ăn trái cây đó, mắt mình mở ra, sẽ như Thiên Chúa, biết điều thiện và điều ác.

6 Người nữ thấy trái của cây đó bộ ăn ngon, lại đẹp mắt và quý vì để mở trí khôn, bèn hái ăn, rồi trao cho chồng đứng gần mình, chồng cũng ăn nữa.

7 Đoạn, mắt hai người đều mở ra, biết rằng mình lỏa lồ, bèn lấy lá cây vả đóng khố che thân.

8 Lối chiều, nghe tiếng Giê-hô-va Thiên Chúa đi ngang qua vườn, A-đam và vợ ẩn mình giữa bụi cây, để tránh mặt Giê-hô-va Thiên Chúa.

Điều trước hết chúng ta nhận thức qua câu chuyện kể trên, đó là: bà Ê-va đã không vâng lời Chúa, làm điều Chúa cấm làm. (Ở đây chúng ta sẽ không bàn đến ý nghĩa của cây biết điều thiện và điều ác. Quý bạn đọc có thể nghe ba bài giảng về cây biết điều thiện và điều ác tại đây: http://timhieutinlanh.net/node/622). Mỗi một lần không vâng lời Chúa có thể khiến cho chúng ta phạm nhiều tội khác nhau. Trong cùng một hành động bẻ trái của cây biết điều thiện và điều ác để ăn và đưa cho chồng ăn, bà Ê-va đã phạm các tội sau đây:

1. Ham muốn một điều không thuộc về mình (vi phạm điều răn thứ mười).

2. Thay thế địa vị của Thiên Chúa trong lòng mình bằng sự ham muốn, biến lòng ham muốn thành một thần khác, vâng theo sự ham muốn hơn là vâng theo Thiên Chúa (vi phạm điều răn thứ nhất).

3. Thờ lạy thần tượng (vi phạm điều răn thứ nhì) vì Thánh Kinh gọi những sự ham muốn sai trái là tham lam và gọi tham lam tức là thờ thần tượng (Ê-phêsô 5:5; Cô-lô-se 3:5).

4. Không tôn kính cha mẹ (vi phạm điều răn thứ năm). Lu-ca 3:38 cho chúng ta biết "A-đam con Đức Chúa Trời," cho nên, bà Ê-va vừa phạm tội không tôn kính Thiên Chúa vừa phạm tội không tôn kính cha mẹ.

5. Trộm cắp (vi phạm điều răn thứ tám).

6. Giết người, giết chính bà và giết chồng bà là A-đam (vi phạm điều răn thứ sáu).

7. Cám dỗ và khiến cho người khác phạm tội (Lu-ca 17:1).

Lòng ham muốn sai trái của bà Ê-va đã dẫn đến hậu quả là sự đau khổ và sự chết cho toàn thể loài người.

Ý Nghĩa của Điều Răn Thứ Mười

Điều răn thứ mười dạy cho chúng ta biết nguồn gốc của mọi tội lỗi phát sinh từ những sự ham muốn bất chính trong lòng của chúng ta. Khoảng 4,300 năm trước, Thiên Chúa đã phán về tấm lòng của loài người như sau: "Đức Giê-hô-va thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn" (Sáng Thế Ký 6:5). Khoảng 2,600 năm trước, Thiên Chúa lại phán: "Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được" (Giê-rê-mi 17:9)? Khoảng 2,000 năm trước, Đức Chúa Jesus Christ phán: "Vì thật là tự trong, tự lòng người mà ra những ác tưởng, sự dâm dục, trộm cướp, giết người, tà dâm, tham lam, hung ác, gian dối, hoang đàng, con mắt ganh đố, lộng ngôn, kiêu ngạo, điên cuồng. Hết thảy những điều xấu ấy ra từ trong lòng thì làm cho dơ dáy người" (Mác 7:21-23). Chúng ta để ý đến sự kiện Đức Chúa Jesus đặt từ ngữ "những ác tưởng," tức là những tư tưởng ác, những ý nghĩ tội lỗi đứng đầu các hành vi tội lỗi, bởi vì, từ các ác tưởng mà sinh ra các việc ác. Gia-cơ 1:14, 15 giải thích tiến trình dẫn đến sự phạm tội và hậu quả của sự phạm tội như sau:

"Nhưng mỗi người bị cám dỗ khi mắc tư dục xui giục mình. Đoạn, lòng tư dục cưu mang, sanh ra tội ác; tội ác đã trọn, sanh ra sự chết."

Tư dục là những ham muốn sai trái, nghịch lại điều răn và luật pháp của Thiên Chúa. Điều răn thứ mười nêu lên sáu phương diện mà chúng ta có thể ham muốn bất chính dẫn đến sự phạm tội.

1. Phương diện thứ nhất: Ham muốn chồng hoặc vợ của người khác. Trước hết, chúng ta cần phải hiểu rằng mệnh lệnh "Ngươi chớ ham muốn vợ của kẻ lân cận mình"không có nghĩa điều răn thứ mười chỉ dành riêng cho đàn ông. Toàn bộ Mười Điều Răn được Thiên Chúa phán truyền cho mọi dân tộc qua dân tộc I-sơ-ra-ên và lúc bất giờ, những người đàn ông là gia trưởng của mỗi nhà, đại diện cho gia đình của mình (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:15), trực tiếp nghe nhận các điều răn của Thiên Chúa. Vì thế, điều răn thứ mười cũng như chín điều răn trước đó là dành chung cho tất cả mọi người. Khi điều răn thứ mười áp dụng cho một người đàn ông thì là: "Ngươi chớ ham muốn vợ của kẻ lân cận mình," còn khi áp dụng cho một người đàn bà thì là: "Ngươi chớ ham muốn chồng của kẻ lân cận mình." Thật ra, đối với một xã hội sa lầy trong tội đồng tính luyến ái thì một người đàn bà vẫn có thể phạm tội ham muốn vợ của người khác và một người đàn ông cũng có thể phạm tội ham muốn chồng của người khác.

Nền tảng của điều răn thứ mười là Thiên Chúa nghiêm cấm chúng ta có lòng ham muốn sai trái bất cứ những gì không thuộc về chúng ta, và Ngài nêu lên một số chi tiết điển hình, như ham muốn: vợ, nhà, ruộng, tôi trai tớ gái, bò, lừa… của người lân cận. Nếu có ai cho rằng điều răn thứ mười không cấm việc đàn bà ham muốn chồng của người khác thì họ đã không hiểu mệnh đề cuối cùng của điều răn này: "hay là điều chi thuộc về kẻ lân cận ngươi." Từ ngữ "điều chi" bao gồm tất cả những gì đã được liệt kê trước đó và tất cả những gì không được liệt kê; nghĩa là: hễ người nào, vật nào, việc nào, sự nào thuộc về của người khác thì chúng ta không được ham muốn.

Sự ham muốn chồng hay vợ của người khác không nhất thiết có liên quan đến tình dục hay sắc đẹp. Chúng ta có thể ham muốn một người vì cá tính, vì học thức, vì địa vị hoặc vì nếp sống đạo của người ấy. Chúng ta cũng cần phân biệt sự quý mến hoặc tôn kính với sự ham muốn bất chính. Sự ham muốn bất chính là ý muốn chiếm đoạt chồng hay vợ của người khác về cho chính mình trong khi sự quý mến hoặc tôn kính phát xuất từ tình yêu chân thật trong Chúa.

2. Phương diện thứ nhì: Ham muốn gia đình của người khác. Từ ngữ "nhà" được dùng trong điều răn thứ mười có nghĩa hẹp là nơi cư trú nhưng có nghĩa rộng là gia đình. Vì thế, chẳng những chúng ta không được ham muốn nhà ở của người khác mà chúng ta cũng không được ham muốn những gì thuộc về gia đình của người khác. Những gì thuộc về một gia đình bao gồm cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em, nhà ở và mọi vật dụng trong gia đình.

3. Phương diện thứ ba: Ham muốn phương tiện sinh sống của người khác. Trong Xuất Ê-díp-tô Ký 20:17 không đề cập đến "ruộng" nhưng gần 40 năm sau, khi Môi-se lập lại điều răn thứ mười và ghi chép trong Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:21 thì ông đã thêm từ ngữ "ruộng." Như trên đã giải thích, không phải Môi-se tự ý thêm vào Lời của Chúa nhưng ông trích dẫn Lời Chúa và diễn giải theo sự thần cảm của Đức Thánh Linh, vì thế, Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:21 cũng là Lời Chúa. Khi Thiên Chúa phán truyền Mười Điều Răn trên núi Si-na-i thì dân I-sơ-ra-ên mới bắt đầu hành trình vào đất hứa Ca-na-an; khi đó, chưa người nào sở hữu ruộng đất. Gần 40 năm sau, dân I-sơ-ra-ên chuẩn bị tiến vào đất hứa và sẽ được phân chia đất ruộng, cho nên, Đức Thánh Linh đã thần cảm cho Môi-se thêm danh từ "ruộng" vào điều răn thứ mười để giúp dân I-sơ-ra-ên hiểu rõ sự Thiên Chúa ngăn cấm. Vì ruộng đất là nền tảng cho việc chăn nuôi và trồng trọt, đem lại sự sống cho loài người, cho nên, danh từ "ruộng" trong điều răn thứ mười tiêu biểu cho tất cả những gì liên quan đến nghề nghiệp và phương tiện sinh sống.

4. Phương diện thứ tư: Ham muốn nhân lực của người khác. Danh từ "tôi trai tớ gái" có thể dùng để chỉ những nô lệ được chủ bỏ tiền ra mua về (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:44) mà cũng có thể dùng để chỉ những người được thuê mướn làm việc (I Các Vua 5:6). Vì thế, điều răn thứ mười cấm chúng ta ham muốn nhân lực của người khác.

5. Phương diện thứ năm: Ham muốn tài sản của người khác. Bò và lừa tiêu biểu cho tài sản, vật lực, cho nên, điều răn thứ mười cấm chúng ta ham muốn tài sản, vật lực của người khác chứ không chỉ riêng bò và lừa.

6. Phương diện thứ sáu: Ham muốn bất cứ điều chi thuộc về người khác. Năm phương diện được liệt kê trên đây là những điều cụ thể mà chúng ta đối diện thường ngày trong cuộc sống, được Thiên Chúa nêu ra để làm thí dụ. Điều răn thứ mười không giới hạn sự ham muốn bất chính những điều thuộc về người khác trong năm phương diện đó, mà bao gồm tất cả những gì thuộc về người khác. Nói cách khác, điều răn thứ mười có thể được rút gọn như sau: "Ngươi chớ ham muốn điều chi thuộc về kẻ lân cận ngươi."

Phương Cách Đắc Thắng Lòng Ham Muốn Bất Chính

Chúng ta không thể dùng sức riêng để chiến thắng lòng ham muốn bất chính. Thánh Kinh dạy rằng chúng ta phải nhờ quyền năng của Đức Chúa Trời để đánh đổ mọi lý luận, mọi sự tự cao nghịch lại lẽ thật của Lời Chúa và nhờ đó mà khiến cho các ý tưởng của mình vâng phục Đấng Christ như những kẻ nô lệ vâng phục chủ:

"Vì chúng tôi dầu sống trong xác thịt, chớ chẳng tranh chiến theo xác thịt. Vả, những khí giới mà chúng tôi dùng để chiến tranh là không phải thuộc về xác thịt đâu, bèn là bởi quyền năng của Đức Chúa Trời, có sức mạnh để đạp đổ các đồn lũy: nhờ khí giới đó chúng tôi đánh đổ các lý luận, mọi sự tự cao nổi lên nghịch cùng sự hiểu biết Đức Chúa Trời, và bắt hết các ý tưởng làm tôi vâng phục Đấng Christ" (II Cô-rinh-tô 10:3-5)

Chỉ khi nào trong chúng ta không còn những lý luận nghịch lại Lời Chúa, không còn dựa vào sự khôn ngoan tri thức của thế gian, và hoàn toàn để cho Đấng Christ làm chủ mọi suy tưởng của chúng ta thì chúng ta mới có thể thực hành được lời Chúa dạy trong Phi-líp 4:8:

"Rốt lại, hỡi anh em, phàm điều chi chơn thật, điều chi đáng tôn, điều chi công bình, điều chi thánh sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhân đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến."

Kết Luận

Lòng ham muốn sai trái khiến cho chúng ta không thỏa lòng trong cuộc sống, nó khiến cho chúng ta không biết hưởng thụ những gì Chúa đã ban cho chúng ta mà cứ miệt mài theo đuổi những gì thuộc về người khác. Lòng ham muốn sai trái khiến cho chúng ta không thỏa lòng về người khác, nó khiến cho chúng ta đầy lòng ganh tỵ với những người chung quanh khi họ sở hữu những điều mà chúng ta ham muốn. Trên hết, lòng ham muốn sai trái khiến cho chúng ta không thỏa lòng với Chúa, nó khiến cho chúng ta không biết cảm tạ những điều Chúa đã ban cho chúng ta và oán trách Chúa những gì chúng ta ham muốn mà không có được.

Bí quyết để chúng ta thắng được lòng ham muốn sai trái là sự vững tin vào Lời Chúa, nương cậy nơi sức toàn năng của Ngài, và thỏa lòng trong mọi cảnh ngộ của đời sống mà Chúa cho phép xảy ra cho chúng ta. Câu chuyện của ông Gióp được ghi lại trong sách Gióp là bài học tuyệt vời cho chúng ta về đức tin nơi Chúa và thái độ sống Đạo. Chúng ta hãy ghi nhớ những lời sau đây:

"Vả, sự tin kính cùng sự thỏa lòng ấy là một lợi lớn. Vì chúng ta ra đời chẳng đem gì theo, chúng ta qua đời cũng chẳng đem gì đi được. Như vậy, miễn là đủ ăn đủ mặc thì phải thỏa lòng; Còn như kẻ muốn nên giàu có, ắt sa vào sự cám dỗ, mắc bẫy dò, ngã trong nhiều sự tham muốn vô lý thiệt hại kia, là sự làm đắm người ta vào sự hủy diệt hư mất. Bởi chưng sự tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác, có kẻ vì đeo đuổi nó mà bội đạo, chuốc lấy nhiều điều đau đớn"(I Ti-mô-thê 6:6-10).

"Chớ tham tiền; hãy lấy điều mình có làm đủ rồi, vì chính Ngài phán rằng: Ta sẽ chẳng lìa ngươi đâu, chẳng bỏ ngươi đâu"(Hê-bơ-rơ 13:5).

Nguyện ân điển và bình an từ Thiên Chúa Hằng Sống bao phủ chúng ta trong mọi nơi, mọi lúc. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
26.05.2012

Share This:

3,996 views

Ngươi Chớ Nói Chứng Dối

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Ghi Chú: Bấm vào các từ ngữ Hê-bơ-rơ hoặc Hy-lạp để nghe phát âm. Bấm vào các mã số Strong (bắt đầu bằng H hoặc G) để xem định nghĩa trong tiếng Anh.

Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Bạn đọc có thể truy cập trực tiếp trên mạng tại đây: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này
Bấm vào đây để nghe và download mp3 bài này

"Ngươi chớ nói chứng dối cho kẻ lân cận mình."
(Xuất Ê-díp-tô Ký 20:16 – Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:20)

Dẫn Nhập

Tội nói dối có lẽ là tội có nhiều người phạm nhất với số lần phạm cũng nhiều nhất. Tội nói dối cũng xưa như lịch sử của loài người. Thánh Kinh cho chúng ta biết, loài người đã đi vào bất hạnh ngay từ buổi đầu sáng thế bởi một lời nói dối của Sa-tan. Điều răn thứ chín cấm loài người nói chứng dối cho kẻ lân cận mình, không phải chỉ cấm việc nói dối khi làm chứng về người khác trong một phiên tòa, mà là áp dụng cho mỗi lời nói của chúng ta về người khác trong mọi nơi, mọi lúc. Khi chúng ta nói về một người nào đó, dù là nói trong tòa án hay ngoài tòa án, là chúng ta làm chứng về người ấy; vì thế, nếu chúng ta nói một điều gì không thật về người ấy là chúng ta đã nói chứng dối cho người ấy.

Sự nói chứng dối có thể là vì ác ý, muốn làm hại hoặc trả thù người khác, có thể là vì thiện ý muốn bảo vệ hoặc tôn cao người khác, và cũng có thể là vì không biết rõ sự thật. Trước khi đi vào chi tiết của sự nói chứng dối chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa các từ ngữ được dùng trong điều răn thứ chín.

Kẻ Lân Cận Mình

Trong nguyên ngữ của Thánh Kinh từ ngữ "kẻ lân cận mình" bao gồm những ai thân thuộc, quen biết hoặc có mối tương quan xã hội nào đó với chúng ta: là cha mẹ, là vợ chồng, là người yêu, là anh chị em, là bạn bè, là người hàng xóm, là người cộng sự, hoặc là người cùng quốc tịch. Từ ngữ này còn có một ý bao quát là "người khác," tức là bất cứ ai ngoài chính mình. Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, Thiên Chúa cấm chúng ta nói chứng dối về người khác. Dĩ nhiên, điều răn thứ chín không hàm ý là chúng ta có thể nói chứng dối về chính mình. Trong Lê-vi ký 6:1-7, Thiên Chúa cấm sự nói dối và thề dối. Trong Lê-vi Ký 19:11, Thiên Chúa cấm sự nói dối và lường gạt: "Các ngươi chớ trộm cắp, chớ nói dối, và chớ lừa đảo nhau."

Nói Chứng Dối

Từ ngữ "nói" được dùng trong điều răn thứ chín không phải là động từ "nói" thông thường mà là một từ ngữ biến thể từ một động từ gốc, có nghĩa là "nhìn chăm chú," với nghĩa rộng là "thuật lại điều đã thấy và biết." Những lời được thuật lại đó được gọi là "lời chứng." Như vậy, "nói chứng dối" có nghĩa là thuật lại không đúng sự thật những gì mình đã thấy và biết.

Cố Ý Nói Chứng Dối

Như đã trình bày trên đây, chúng ta có thể cố ý hoặc vô ý mà nói chứng dối. Trong trường hợp cố ý nói chứng dối thì có ba lý do:

1. Cố ý nói chứng dối để hãm hại hoặc trả thù người khác. Người phạm tội này có mục đích muốn làm hại người khác và cũng có thể tự mình tạo ra chứng cớ giả để khiến cho lời chứng dối của mình được xem là thật.

2. Cố ý nói chứng dối để tôn cao hoặc lấy lòng người khác. Đây là thói quen của những người ưa xu nịnh.

3. Cố ý nói chứng dối để tự bảo vệ hoặc thủ lợi cho mình. Người phạm tội này có thể là vì muốn trốn trách trách nhiệm về một việc làm sai trái nào đó của mình mà đổ tội của mình cho người khác hoặc không muốn bí mật của mình bị tiết lộ. Người phạm tội này cũng có thể là vì được mua chuộc để làm chứng dối cho ai đó hoặc vì sự nói chứng dối về một điều gì đó đem lại quyền lợi cho mình.

Vô Ý Nói Chứng Dối

Trường hợp vô ý nói chứng dối xảy ra khi chúng ta quan sát không kỷ hoặc nhớ không hết các dữ kiện hoặc hiểu không đúng sự kiện mà mình chứng kiến. Sự biểu diễn của các nhà ảo thuật điển hình cho sự kiện khả năng quan sát của loài người rất có giới hạn. Nếu một nhân chứng được hỏi rằng, anh ta có thấy nhà ảo thuật đưa tay ra khoảng không trước mặt thì lập tức một bông hồng xuất hiện trên tay của ông ta hay không, thì nhân chứng buộc phải nói là có thấy. Tuy nhiên, chúng ta biết đó không phải là sự thật. Ngoài ra, còn có trường hợp nhân chứng không thấy hoặc không biết hết diễn tiến của một sự kiện, cho nên, lời làm chứng không hoàn toàn đúng sự thật. Tục ngữ có câu: "Một nửa ổ bánh mì vẫn là bánh mì nhưng một nửa sự thật không còn là sự thật," mà chúng ta có thể dùng để nói lên tính cách nghiêm trọng của sự làm chứng. Chúng ta hãy xét qua các thí dụ dưới đây:

1. Một người bị bệnh mù màu không thể làm chứng một cách trung thực về những điều liên quan đến màu sắc. Thủ phạm có thể mặc áo màu đỏ khi gây án nhưng người chứng lại nói là thủ phạm mặc áo màu xám.

2. Một người giúp thổi bụi trong mắt của người khác có thể bị nhìn thấy là đang hôn người khác.

3. Trong các loại thuốc trị bệnh chúng ta thường thấy có những loại thuốc mà khi uống vào có thể làm cho người ta buồn ngủ. Nếu chúng ta giới thiệu công dụng chữa bệnh của thuốc mà không nói đến tác động phụ làm buồn ngủ của thuốc thì chúng ta chỉ mới nói một nửa sự thật. Điều đó có thể khiến gây ra tai nạn chết người nếu bệnh nhân uống thuốc và ngủ gục trong khi lái xe. Cho dù chúng ta vô ý không nói đến tác động phụ của thuốc nhưng sự vô ý đó vẫn có thể đem lại hậu quả làm thiệt hại người khác.

Nói Chứng Dối về Chính Mình

Chúng ta sẽ mang tội nói chứng dối về chính mình khi chúng ta nói về mình một cách không trung thực. Sự nói chứng dối về chính mình có thể là kết quả của sự khoác lác và kiêu ngạo. Khoác lác là nói dối khiến cho người ta tin cậy mình hoặc tôn trọng mình. Kiêu ngạo là thổi phồng một lẽ thật, tức là nói dối dựa trên một lẽ thật, khiến cho người ta tin cậy mình hoặc tôn trọng mình. Sự nói chứng dối về chính mình cũng có thể là nhằm để tự bảo vệ hoặc thủ lợi cho mình. Con dân Chúa dựa vào sức toàn năng của Chúa bảo vệ mình và không hề thủ lợi mà chỉ vui nhận sự ban cho từ nơi Chúa.

Trên phương diện thuộc linh, một người phạm tội nói chứng dối về chính mình khi xưng nhận mình là con dân của Thiên Chúa mà không sống đúng theo Lời Chúa:

"Ví bằng chúng ta nói mình được giao thông với Ngài, mà còn đi trong sự tối tăm, ấy là chúng ta nói dối và không làm theo lẽ thật" (I Giăng 1:6).

"Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ các điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người" (I Giăng 2:4).

"Vì có ai nói rằng: Ta yêu Đức Chúa Trời, mà lại ghét anh em mình, thì là kẻ nói dối; vì kẻ nào chẳng yêu anh em mình thấy, thì không thể yêu Đức Chúa Trời mình chẳng thấy được" (I Giăng 4:20).

Nói Chứng Dối về Chúa

Chúng ta sẽ mang tội nói chứng dối về Chúa khi chúng ta "làm chứng" hoặc thuật lại những điều không có thật về Chúa.

Thông thường người ta hay nói: "Chúa phán với tôi" như thế này, "Chúa phán với tôi" như thế nọ, nhưng thật ra, đó chỉ là những ý tưởng của chính họ chứ không phải là lời phán của Chúa. Một người vẫn còn sống theo những sự ưa muốn của xác thịt, chưa chịu vâng theo các điều răn của Chúa thì không thể nghe được Chúa phán điều gì khác hơn là "Hãy ăn năn!" Ngoài ra, cũng có thể họ nghe tiếng nói của Ma Quỷ mạo làm tiếng Chúa. Con dân chân thật của Chúa, là những người thật lòng ăn năn tội, hoàn toàn tin cậy nơi sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ, và sống theo Lời Chúa, thì không bị tiếng nói của xác thịt hoặc tiếng nói của Ma Quỷ dẫn dụ. Con dân chân thật của Chúa được nghe sự phán dạy của Chúa mỗi ngày trong cuộc sống qua Lời của Chúa là Thánh Kinh và mỗi mệnh lệnh riêng tư của Chúa phán trong tâm trí họ cũng đều dựa trên các lẽ thật của Thánh Kinh.

Nhiều người có thói quen nói chứng dối về Chúa với mục đích muốn tôn cao Chúa. Tuy nhiên, Thiên Chúa không cần những lời dối trá của loài người để được vinh hiển. Trái lại, những lời nói chứng dối về Thiên Chúa làm xúc phạm Ngài. Người ta cũng có thể nói chứng dối về Chúa để tỏ ra rằng mình được Thiên Chúa ban ơn cách đặc biệt. Những lời nói chứng dối về Thiên Chúa cũng có thể dựa trên một số chi tiết có thật nhưng được thổi phồng lên.

Đặc biệt, trong công tác rao giảng Tin Lành, chúng ta sẽ phạm tội nói chứng dối về Chúa khi chúng ta chỉ nói đến các phước hạnh về sự tin Chúa mà không nói đến cái giá phải trả khi đi theo Chúa. Chúng ta cần ghi nhớ: "Một nửa ổ bánh mì vẫn là bánh mì nhưng một nửa sự thật không còn là sự thật." Chúa không bao giờ hứa sự giàu có hoặc sức khỏe cho những ai theo Chúa, cho nên, chúng ta sẽ phạm tội nói chứng dối về Chúa khi chúng ta kêu gọi người ta tin Chúa để được được thoát nghèo hoặc được chữa lành bệnh tật.  Mục đích của sự tin Chúa là để được cứu rỗi ra khỏi quyền lực và hậu quả của tội lỗi, để không bị hư mất đời đời trong hỏa ngục mà được vui sống đời đời trong Chúa; còn sự được thoát nghèo hoặc được chữa lành bệnh tật là tùy thuộc nơi ý muốn của Chúa dành cho từng cá nhân.

Có lẽ tội nói chứng dối về Chúa nghiêm trọng nhất là nếp sống không đúng với Lời Chúa của chúng ta. Chúng ta nói đến sự đổi mới, nói đến quyền phép của Thiên Chúa, nói đến tình yêu trong Chúa, nói đến sự thánh khiết, công bình trong Chúa… nhưng nếu đời sống chúng ta nghịch lại những tiêu chuẩn yêu thương, thánh khiết, và công chính của Chúa, vi phạm các điều răn của Ngài, thì chúng ta đã nói chứng dối về Ngài; bởi vì, nếp sống của chúng ta khiến cho người ta kết luận là Chúa không có quyền năng thay đổi chúng ta!

Kết Luận

Nói chứng dối tức là nói dối. Đức Chúa Jesus gọi Ma Quỷ là cha của sự nói dối (Giăng 8:44), vì thế, tất cả mọi lời nói dối đều ra từ Ma Quỷ, dù là một lời nói dối mà chúng ta cho rằng không gây hại cho ai hoặc nhằm an ủi người khác; và những ai ưa thích nói dối thì người đó là con cái của Ma Quỷ. Thật ra, không có một lời nói dối nào mà không gây hại cho ai. Bất cứ lời nói dối nào cũng trước hết là vi phạm tiêu chuẩn thánh khiết của Thiên Chúa. Thiên Chúa là lẽ thật cho nên một lời nói không thật là sự xúc phạm đến phẩm chất của Thiên Chúa. Con dân Chúa không thể dùng lời nói dối để mua vui hoặc an ủi người khác. Thánh Kinh dạy: "Chớ nói lời tục tỉu, chớ giễu cợt, chớ giả ngộ tầm phào, là những điều không đáng, những thà cảm tạ ơn Chúa thì hơn" (Ê-phê-sô 5:4). Tất cả những lời nói dối đều là những lời dữ vì vi phạm luật pháp của Thiên Chúa. Thánh Kinh dạy: "Chớ có một lời dữ nào ra từ miệng anh em; nhưng khi đáng nói hãy nói một vài lời lành giúp ơn cho và có ích lợi cho kẻ nghe đến" (Ê-phê-sô 4:29).

Thánh Kinh lên án những kẻ nói dối và hình phạt của kẻ nói dối mà không ăn năn là hư mất đời đời trong hỏa ngục (Khải Huyền 21:8). Thánh Kinh cũng dạy con dân Chúa phải từ bỏ sự nói dối: "Như vậy, mỗi người trong anh em phải chừa sự nói dối, hãy nói thật với kẻ lân cận mình, vì chúng ta làm chi thể cho nhau" (Ê-phê-sô 4:25). "Chớ nói dối nhau, vì đã lột bỏ người cũ cùng công việc nó" (Cô-lô-se 3:9).

Là con dân Chúa, chúng ta đã được Thiên Chúa "định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài" (Rô-ma 8:29), đã được Đức Thánh Linh tái sinh thành người mới "tức là người đã được dựng nên giống như Thiên Chúa, trong sự công bình và sự thánh sạch của lẽ thật" (Ê-phê-sô 4:24); vì thế, chúng ta phải nhờ ơn Chúa để sống một nếp sống sao cho trong miệng của chúng ta "không thấy có chút chi dối trá" như Đức Chúa Jesus Christ yêu dấu của chúng ta (I Phi-e-rơ 2:22); và trong ngày chúng ta vào trong cõi đời đời thì được xác chứng rằng trong miệng chúng ta "chẳng có lời nói dối nào hết" (Khải Huyền 14:5).

Những ai phạm tội nói chứng dối và nói dối hãy đến với Chúa, ăn năn tội và xưng tội với Ngài, để được Ngài tha tội và làm cho sạch mọi điều gian ác (I Giăng 1:9). Chúng ta hãy cầu xin Chúa đem mọi sự dối trá ra khỏi chúng ta và gìn giữ chúng ta không vô ý phạm tội nói chứng dối và nói dối.

Nguyện Đức Thánh Linh, Thần Lẽ Thật, giúp chúng ta hiểu biết và sống đúng theo Lời Chúa mỗi ngày. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
19.05.2012

Ghi Chú

1.Lời tục tỉu, (aischrotēs), G151, /ahee-skhrot'-ace/: Những lời thô tục, dâm dật.

2. Giễu cợt, (mōrologia), G3473, /mo-rol-og-ee'-ah/: Những lời chọc cười không đem lại bổ ích hay gây dựng; nói như là một người thiếu hiểu biết; điển hình là các "danh hài" Việt Nam ngày nay.

3. Giả ngộ tầm phào, (eutrapelia), G2160, /yoo-trap-el-ee'-ah/: Những lời tục tỉu được trá hình dưới hình thức một lời hai ý kiểu "đố tục giảng thanh" hoặc "đố thanh giảng tục;" điển hình là thơ của bà Hồ Xuân Hương.

Nhiều "mục sư" Việt Nam ngày nay đã đưa sự "giễu cợt" và "giả ngộ tầm phào" vào trong bài giảng, biến chức vụ "cho chiên ăn" thành "hề thuộc linh."

Con dân Chúa không nên xem các hài kịch mà trong đó "mười câu hết chín" các diễn viên kêu "Trời!"

Share This:

3,829 views

Ngươi Chớ Trộm Cắp

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Ghi Chú: Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài này
Bấm vào đây để nghe và download mp3

"Ngươi chớ trộm cắp."
(Xuất Ê-díp-tô Ký 20:15 – Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:19)

Dẫn Nhập

Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ của Thánh Kinh thì điều răn thứ tám là: "Ngươi chớ trộm cắp." Bản Dịch Truyền Thống dịch là: "Ngươi chớ trộm cướp" thì không được đúng ý, bởi vì "trộm cắp" khác với "trộm cướp." "Trộm cắp" là hành động lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác; gọi là "trộm" khi hành động chiếm đoạt xảy ra lúc chủ nhân ngủ mê hoặc vắng mặt; gọi là "cắp" khi chủ nhân có mặt nhưng lơ đễnh hoặc bị làm cho mất cảnh giác. Nếu công khai dùng sức mạnh hoặc đe dọa bằng vũ khí hay quyền thế để chiếm đoạt tài sản của người khác thì gọi là "cướp." Vậy, "trộm cắp" là từ ngữ gọi riêng các hành động lén lút còn "trộm cướp" là từ ngữ gọi chung các hành động lén lút lẫn công khai dùng sức mạnh hay thế lực để chiếm đoạt tài sản của người khác.

Khi nói rằng điều răn thứ tám cấm "trộm cắp" chứ không cấm "trộm cướp" là chúng ta muốn khẳng định sự phiên dịch trung thực Lời Chúa chứ không cho rằng trộm cướp thì không vi phạm luật của Chúa. Bởi vì, ngoài Mười Điều Răn còn có các luật lệ ra từ Mười Điều Răn, do Chúa ban hành, mà hai trong những luật lệ đó cấm đoán hành động cướp giựt: "chớ lường gạt kẻ lân cận ngươi, chớ cướp giựt người" (Lê-vi Ký 19:13) và "chớ cướp giựt kẻ nghèo" (Châm Ngôn 22:22).

Trộm Cắp

Điều cơ bản mà chúng ta cần phải ghi nhớ, đó là: "Lấy một vật gì không phải của mình mà không được sự đồng ý của người chủ là phạm tội trộm cắp." Hành động trộm cắp phát xuất từ lòng tham. Lòng tham là sự ưa thích một điều gì đó quá mức, như: tham ăn, tham tiền, tham danh tiếng… và cũng có thể là muốn chiếm lấy làm của riêng một điều gì đó không phải là của mình, là điều bị Chúa nghiêm cấm trong điều răn thứ mười. Vì tham ăn nên xảy ra hành động ăn vụng. Vì tham tiền nên xảy ra việc trộm cắp tiền bạc, của cải. Vì tham danh tiếng nên xảy ra việc đánh cắp công lao của người khác.

Không một ý muốn trộm cắp nào mà không bị lương tâm lên tiếng cáo trách. Thánh Kinh cho biết luật pháp của Đức Chúa Trời được ghi vào lương tâm của nhân loại: "Họ tỏ ra rằng việc mà luật pháp dạy biểu đã ghi trong lòng họ: chính lương tâm mình làm chứng cho luật pháp, còn ý tưởng mình khi thì cáo giác mình, khi thì binh vực mình" (Rô-ma 2:15). Tuy nhiên, bản chất tội lỗi khiến cho người ta dập tắt sự lên án của lương tâm để biến ý muốn trộm cắp thành hành động. Khi tiếng cáo trách của lương tâm đã bị dập tắt thì lương tâm trở nên chai lì (I Ti-mô-thê 4:2). Một lương tâm đã chai lì sẽ tạo ra tiêu chuẩn đạo đức riêng nghịch lại điều răn và luật pháp của Thiên Chúa. Thay vì lên án hành động trộm cắp, lương tâm chai lì sẽ lên án một người không thừa cơ trộm cắp là: ngu dại, hèn nhát, bỏ lỡ cơ hội… Khi lương tâm đã chai lì, người ta có thể phạm tội trộm cắp mỗi ngày mà không còn ý thức là mình phạm tội, lại tự cho là mình khôn ngoan, khéo léo!

Một vài thí dụ điển hình về sự trộm cắp mà lương tâm chai lì khiến người ta không còn ý thức đó là hành động trộm cắp: Một người lấy vài tờ giấy hay một cây bút chì của sở làm đem về nhà dùng cho việc cá nhân là một hành động trộm cắp tài sản; còn nếu dùng thời gian làm việc tại sở làm để đọc báo, xem Internet, gửi email, gọi điện thoại mà không liên quan đến công việc của sở làm thì đó là hành động trộm cắp thời gian. Người mua bán mà cân, đong, đo, đếm gian lận tức là phạm tội trộm cắp tiền bạc. Người làm thuê, làm mướn mà không hết lòng làm việc cũng là phạm tội trộm cắp tiền bạc. Chính vì thế mà Chúa truyền cho con dân Chúa: "Hỡi kẻ làm tôi tớ, trong mọi sự phải vâng phục kẻ làm chủ mình về phần xác, không những hầu việc trước mắt họ, như mình tìm cách cho đẹp lòng người ta, nhưng vì kính sợ Chúa, hãy lấy lòng thật thà mà hầu việc. Hễ làm việc gì, hãy hết lòng mà làm, như làm cho Chúa, chớ không phải làm cho người ta" (Cô-lô-se 3:22, 23).

Cũng có những hành động tự bản thân nó không phải là trộm cắp nhưng nếu chúng ta làm ra nó với ý thức là mình đang trộm cắp thì chúng ta đã biến nó thành hành động trộm cắp. Thí dụ: Anh A và anh B cùng thuê chung một mãnh đất để làm rẫy. Hai anh cùng trồng khoai mì. Một đêm kia, anh A lén ra rẫy để nhổ trộm khoai mì của anh B. Tuy nhiên, sáng hôm sau khi anh A ra rẫy thì mới khám phá ra rằng, đêm qua mình đã nhổ trộm chính khoai mì của mình. Mặc dù anh A nhổ khoai mì của mình nhưng đối với lương tâm thì anh A vẫn mang tội trộm cắp khoai mì của anh B; vì anh đã hành động như vậy trong ý muốn trộm cắp của người khác.

Lại có những hành động chiếm đoạt của cải người khác nhưng không bị xếp loại là trộm cắp hay trộm cướp khi hành động đó nhằm cứu người hay phục vụ cho lợi ích chung. Thí dụ: Trong trường hợp khẩn cấp cần phải đập vỡ cửa một căn nhà bỏ trống để lấy thực phẩm, thuốc men, phương tiện cứu người bị nạn.

Trộm Cướp của Thiên Chúa

Trong Ma-la-chi 3:8, Thiên Chúa hỏi con dân của Ngài một câu rất là mỉa mai: "Người ta có thể trộm cướp Thiên Chúa sao? mà các ngươi trộm cướp Ta. Các ngươi nói rằng: Chúng tôi trộm cướp Chúa ở đâu? Các ngươi đã trộm cướp trong các phần mười và trong các của dâng."

Bối cảnh của câu phán hỏi này là: Sau khi Vương Quốc Giu-đa bị Đế Quốc Ba-by-lôn chinh phục và bắt làm phu tù 70 năm thì Thiên Chúa đã cho họ được hồi hương để tái lập quốc, xây dựng lại đền thờ và thành Giê-ru-sa-lem. Bởi chiếu chỉ từ Vua Đa-ri-út của Đế Quốc Phe-rơ-sơ (Iran ngày nay) và dưới sự lãnh đạo của Xô-rô-ba-bên, sự tái thiết đền thờ được hoàn tất vào năm 516 TCN (E-xơ-ra 5). Đến năm 458 TCN, Vua Ạt-ta-xét-xe của Đế Quốc Phe-rơ-sơ ra chiếu chỉ cho E-xơ-ra trở về Giê-ru-sa-lem để tái lập các nghi thức thờ phượng trong đền thờ và dạy dân I-sơ-ra-ên vâng giữ các điều răn và luật pháp của Đức Giê-hô-va (E-xơ-ra 7). Mười ba năm sau, vào năm 445 TCN, Vua Ạt-ta-xét-xe lại một lần nữa ra chiếu chỉ cho Nê-hê-mi về lại Giê-ru-sa-lem để xây dựng lại các tường thành. Trong chức vụ thống đốc của Giê-ru-sa-lem, Nê-hê-mi đã bênh vực phúc lợi của người nghèo, khuyến khích dân sự ly dị vợ người ngoại, tôn kính ngày Sa-bát, trung tín dâng hiến của dâng phần mười và các của dâng khác (xem sách Nê-hê-mi).

Đến năm 433 TCN, Nê-hê-mi quay lại Phê-rơ-sơ để phục vụ Vua Ạt-ta-xét-xe. Trong thời gian Nê-hê-mi vắng mặt tại Giê-ru-sa-lem thì từ các thầy tế lễ cho đến dân chúng đều quay lại với nếp sống tội lỗi. Dân chúng thì bỏ qua sự dâng phần mười, gian dối trong việc dâng sinh tế, mua bán với dân ngoại trong ngày Sa-bát, và trở lại kết hôn với dân ngoại. Các thầy tế lễ thì tham nhũng, hối lộ, thất trách, dùng những sinh tế kém phẩm chất trong các cuộc tế lễ (Nê-hê-mi 13). Thiên Chúa đã dùng Tiên Tri Ma-la-chi để cáo trách, lên án và kêu gọi dân I-sơ-ra-ên ăn năn.

Từ ngữ "trộm cướp" được dùng trong Ma-la-chi vừa có nghĩa là lường gạt để chiếm đoạt của cải vừa có nghĩa là ngang nhiên cướp đoạt. Trong nghĩa lường gạt thì dân I-sơ-ra-ên đã dâng lên Chúa những con vật mù, què, tật bệnh thay vì dâng lên những con vật khỏe mạnh không tì vít, để khỏi phải tốn nhiều tiền; và như thế, họ đã lường gạt để trộm cướp Chúa. Các thầy tế lễ nhận của hối lộ từ dân chúng để tiếp nhận những con vật kém phẩm chất dâng làm làm của lễ, cho nên, họ cũng dự phần trong việc lường gạt, trộm cướp Chúa. Dân chúng không dâng phần mười và các của lễ vào đền thờ theo lệnh truyền của Chúa tức là đã ngang nhiên cướp đoạt tài sản thuộc về nhà Chúa. Các thầy tế lễ ăn hối lộ để bỏ qua việc sai phạm đó, cho nên, họ cũng dự phần trong việc ngang nhiên cướp đoạt tài sản trong nhà Chúa. Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng và biết hết mọi sự, thế mà con dân của Thiên Chúa dám lường gạt Ngài và ngang nhiên cướp đoạt các tài sản thuộc về đền thờ của Ngài để thủ lợi, thì quả là một điều mỉa mai!

Ngày nay, con dân Chúa cũng có thể phạm tội trộm cướp Chúa, thí dụ:

1. Chúng ta sẽ phạm tội trộm cướp thời gian của Chúa khi bỏ qua sự nhóm họp thờ phượng Chúa vào mỗi ngày Sa-bát, vì Chúa truyền cho con dân Chúa nhóm họp thờ phượng Chúa trong ngày Sa-bát. Chúng ta có thể tự ý nhóm họp thờ phượng Chúa bất kỳ lúc nào nhưng sự nhóm họp thờ phượng Chúa trong ngày Sa-bát là mệnh lệnh của Chúa mà chúng ta phải tuân theo: "Người ta làm việc trong sáu ngày, nhưng qua ngày thứ bảy là ngày Sa-bát, một ngày nghỉ, tức một sự nhóm hiệp thánh; đừng làm một công việc gì; ấy là Lễ Sa-bát của Đức Giê-hô-va trong những nơi các ngươi ở" (Lê-vi Ký 23:3).

2. Chúng ta sẽ phạm tội trộm cướp thời gian của Chúa khi dùng thời gian Chúa ban cho mình vào những việc Chúa không bảo chúng ta làm hoặc những sinh hoạt thường ngày trong cuộc sống nào không đem lại ích lợi, không làm gương tốt, và không làm vinh hiển danh Chúa.

3. Chúng ta sẽ phạm tội trộm cướp thời gian và tiền bạc của Chúa khi đóng góp thời gian và tiền bạc vào những tổ chức tôn giáo rao giảng và thực hành những điều không đúng với Thánh Kinh. Bất cứ tổ chức tôn giáo nào rao giảng và thực hành những điều không đúng với Thánh Kinh thì tổ chức đó là công cụ "cỏ lùng" của Sa-tan, được gieo vào trong thế gian, mạo danh Hội Thánh của Chúa để cạnh tranh với Hội Thánh, hòng làm suy yếu Hội Thánh, và lường gạt những người nhẹ dạ rồi khiến cho họ tin vào những giáo lý phản Thánh Kinh mà phạm tội nghịch cùng Chúa. Chúa đã phán về sự giả hình của những người đứng đầu các tổ chức tôn giáo mang danh Chúa, như sau: "Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đi khắp dưới nước trên bộ để khuyên một người vào đạo mình; và khi đã khuyên được rồi, thì các ngươi làm cho họ trở nên người địa ngục gấp hai các ngươi" (Ma-thi-ơ 23:15). Con dân Chúa có bổn phận mỗi ngày tra xem Thánh Kinh như tín đồ tại thành Bê-rê để xem mọi lời giảng dạy mình nghe có đúng với Thánh kinh hay không: "Những người nầy có ý hẳn hoi hơn người Tê-sa-lô-ni-ca, đều sẵn lòng chịu lấy Đạo, ngày nào cũng tra xem Thánh Kinh, để xét lời giảng có thật chăng" (Công Vụ Các Sứ Đồ 17:11). Chúa cũng truyền cho chúng ta phải nhìn trái để biết cây, nhìn vào nếp sống Đạo của một người để biết họ là con dân chân thật của Chúa, người giảng Đạo thật của Chúa hay họ chỉ là những kẻ giả hình (Ma-thi-ơ 7). Vì thế, mỗi người có trách nhiệm về chính mình trong sự nhận xét và phân biệt thật giả.

4. Chúng ta sẽ phạm tội trộm cướp tiền bạc của Chúa khi không "lấy trong hết thảy của cải mình mà chia cho người dạy Đạo" chomình(Ga-la-ti 6:6). Người dạy Đạo là người giảng dạy Lời Chúa cho mình khiến cho mình hiểu biết Lời Chúa và lớn lên trong đức tin. Người dạy Đạo do chính Chúa sai đến với mình hoặc đem mình đến với người đó, không phải là "mục sư" của các giáo hội. "Lấy trong hết thảy của cải mình" có nghĩa là không loại trừ một hình thức của cải nào, từ thức ăn, chỗ ở, phương tiện di chuyển, cho đến tiền bạc… "Chia cho người dạy đạo" có nghĩa là đáp ứng nhu cầu của người dạy Đạo. Nếu người dạy Đạo có nhu cầu ăn uống thì mình chia xẻ thức ăn, thức uống của mình cho người ấy. Nếu người dạy Đạo có nhu cầu di chuyển thì mình chia xẻ phương tiện di chuyển của mình hoặc chia xẻ tiền bạc dùng thuê mướn phương tiện cho người đó. Nếu người dạy Đạo cần chỗ trú ngụ thì mình chia xẻ nhà cửa mình cho người ấy. Nếu người dạy Đạo cần tiền bạc cho các chi phí trong cuộc sống thì mình chia xẻ tiền bạc của mình cho người ấy. "Lấy trong hết thảy của cải mình mà chia cho người dạy Đạo" không hề có nghĩa là phân chia tài sản của mình cho người dạy Đạo và cũng không cần thiết thi hành nếu người dạy Đạo đã đủ ăn, đủ mặc và có phương tiện hầu việc Chúa.

5. Chúng ta sẽ phạm tội trộm cướp tiền bạc của Chúa khi không cứu giúp anh chị em trong Chúa lúc họ ở trong hoạn nạn hoặc nghèo thiếu, không đủ ăn, không đủ mặc. Ma-thi-ơ 25:41-45 nói rõ hình phạt mà Chúa sẽ thi hành trên những người phạm tội này:

41 Kế đó, Ngài sẽ phán cùng những người ở bên tả rằng: Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi Ta; đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỷ và những quỷ sứ nó.

42 Vì Ta đã đói, các ngươi không cho ăn; Ta khát, các ngươi không cho uống;

43 Ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi không mặc cho Ta; Ta đau và bị tù, các ngươi không thăm viếng.

44 Đến phiên các ngươi nầy bèn thưa lại rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa, hoặc đói, hoặc khát, hoặc làm khách lạ, hoặc trần truồng, hoặc đau ốm, hoặc bị tù mà không hầu việc Ngài ư?

45 Ngài sẽ đáp lại rằng: Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy, ấy là các ngươi cũng không làm cho Ta nữa.

Chúng ta cần lưu ý nhóm chữ "trong những người rất hèn mọn nầy" được dùng để chỉ anh chị em cùng đức tin trong Chúa, tức là những người đã thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ, và hết lòng sống theo Lời Chúa. Họ là những người thuộc về Ngài, đang sống giữa thế gian, và được Ngài yêu cho đến cuối cùng (Giăng 13:1) chứ không phải tất cả mọi người trong thế gian.

6. Chúng ta sẽ phạm tội trộm cướp tiền bạc của Chúa khi sống xa hoa phung phí. Chúa ban cho chúng ta được giàu có về của cải tiền bạc là để chúng ta phân phát cho những người nghèo thiếu. Lời Chúa chép: "Hãy răn bảo kẻ giàu ở thế gian nầy đừng kiêu ngạo và đừng để lòng trông cậy nơi của cải không chắc chắn, nhưng hãy để lòng trông cậy nơi Đức Chúa Trời, là Đấng mỗi ngày ban mọi vật dư dật cho chúng ta được hưởng. Hãy răn bảo họ làm điều lành, làm nhiều việc phước đức, kíp ban phát và phân chia của mình có, vậy thì dồn chứa về ngày sau một cái nền tốt và bền vững cho mình, để được cầm lấy sự sống thật." (I Ti-mô-thê 6:17-19). Không riêng về tiền bạc của cải mà tất cả những gì Chúa ban cho chúng ta trong cuộc đời này, chỉ là Ngài giao quyền quản lý cho chúng ta để chúng ta phân phát lẫn nhau, nhờ đó, chúng ta mới thể hiện được tình yêu thương và mối thông công hiệp một trong Chúa của Hội Thánh: "Mỗi người trong anh em hãy lấy ơn mình đã được mà giúp lẫn nhau, khác nào người quản lý trung tín giữ các thứ ơn của Thiên Chúa." (I Phi-e-rơ 4:10).

7. Chúng ta sẽ phạm tội trộm cướp sự vinh quang của Chúa khi cho rằng nhờ mình hay, mình giỏi, mình hy sinh, mình siêng năng, mình khôn ngoan, mình đạo đức, mình nhân từ, vv… mà việc mình làm có thành quả tốt đẹp. Chúng ta phải nói rằng: "Chúng tôi là đầy tớ vô ích; điều chúng tôi đã làm là điều chắc phải làm" (Lu-ca 17:10).

Kết Luận

Hành động trộm cắp hay trộm cướp phát xuất từ lòng tham. Lòng tham là một đặc tính của tội lỗi, của bản ngã cũ mà Thánh Kinh ví sánh với tội thờ lạy thần tượng (Ê-phê-sô 5:5; Cô-lô-se 3:5). Con dân Chúa đã được dựng nên mới trong Đức Chúa Jesus Christ, đã trở nên giống như Chúa trong sự công bình và thánh sạch của lẽ thật (Ê-phê-sô 4:24) thì có đầy dẫy Thánh Linh, tức là năng lực của Thiên Chúa, để không tham lam. Không tham lam thì không thể cố ý vi phạm điều răn thứ tám. Tuy nhiên, nếu chúng ta không khôn ngoan, thông sáng trong Chúa thì có thể sẽ vô tình phạm tội trộm cướp Chúa khi đóng góp tiền bạc, thời gian vào các tổ chức tôn giáo, mạo làm Hội Thánh Chúa mà thật ra chúng là Hội của Sa-tan như Khải Huyền 2:9 đã gọi đích danh.

Nguyện mỗi người chúng ta biết lắng lòng nghe theo sự dạy dỗ của Đức Thánh Linh và làm theo sự dẫn dắt của Ngài mỗi ngày trong đời sống của chúng ta.

Huỳnh Christian Timothy
12.05.2012

Share This:

3,380 views

Sự Yêu Thương và Sự Đoán Xét

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Ghi Chú: Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này

Nghe MP3 Phần 1: http://www.timhieutinlanh.net/?p=686
Nghe MP3 Phần 2: http://www.timhieutinlanh.net/?p=687
Nghe MP3 Phần 3: http://www.timhieutinlanh.net/?p=688

Dẫn Nhập

Ngày nay, có lẽ hai từ ngữ bị lạm dụng nhiều nhất trong Hội Thánh là “sự yêu thương” và “sự đoán xét.” Lạm dụng một điều gì có nghĩa là dùng điều đó không đúng cách, đúng nghĩa, đúng lúc, miễn sao đạt được mục đích đã nhắm sẵn. Sự lạm dụng từ ngữ phát sinh bởi sự lạm dụng Lời Chúa.

Có hai thành phần lạm dụng Lời Chúa. Thành phần thứ nhất là những người còn non kém trong đức tin và trong sự hiểu biết Đạo Chúa, chưa hết lòng sống theo lẽ thật của Lời Chúa, chưa dứt khoác được với những sự ưa muốn của xác thịt, là những điều trái với sự ưa muốn của Đức Thánh Linh (Ga-la-ti 5:16, 17); nếu sự ưa thích hoặc quyền lợi cá nhân bị đụng chạm thì họ sẽ tìm cách bẻ cong Lời Chúa để bao che cho những điều sai trái của họ. Những thói xấu của xác thịt nổi bật nhất trong họ là: thói tà dâm, lòng tham lam, lòng tự ái và lòng kiêu ngạo. Thành phần thứ hai là những người giả tin Chúa để tìm kiếm tư lợi trong Hội Thánh mà Chúa gọi họ là cỏ lùng, dê và sói, tức là những kẻ giả hình, những tay Pha-ri-si thời đại. Họ lạm dụng Lời Chúa một cách xảo quyệt và có dự tính. Họ chính là những tôi tớ của Sa-tan giả mạo làm những người giúp việc công bình (II Cô-rinh-tô 11:13-15). Theo thời gian, nếu không sớm ăn năn thành phần thứ nhất có thể suy thoái, mất đức tin và biến thành thành phần thứ hai.

Những câu Thánh Kinh thường bị hai thành phần này lạm dụng là:

I Cô-rinh-tô 13:7 “Tình yêu che chở mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự.”

I Phi-e-rơ 4:8 “Nhứt là trong vòng anh em phải có tình yêu chân thật; vì tình yêu che đậy vô số tội lỗi.”

Ma-thi-ơ 7:1 “Các ngươi đừng đoán xét ai, để mình khỏi bị đoán xét.”

Lu-ca 6:37 “Đừng đoán xét ai, thì các ngươi khỏi bị đoán xét; đừng lên án ai, thì các ngươi khỏi bị lên án; hãy tha thứ, người sẽ tha thứ mình.”

I Cô-rinh-tô 4:5 “Vậy, chớ xét đoán sớm quá, hãy đợi Chúa đến; chính Chúa sẽ tỏ những sự giấu trong nơi tối ra nơi sáng, và bày ra những sự toan định trong lòng người; bấy giờ, ai nấy sẽ bởi Đức Chúa Trời mà lãnh sự tôn vinh mình đáng lãnh.”

Nạn nhân của sự lạm dụng Lời Chúa cũng có hai thành phần. Thành phần thứ nhất là chính những người thiếu hiểu biết Lời Chúa và chưa dứt khoác được với những sự ưa muốn của xác thịt. Họ vừa là người lạm dụng và vừa là nạn nhân của chính họ và của những kẻ giả hình. Thành phần thứ hai là những người hiểu biết Lời Chúa,nhận thức được có điều sai trái trong sự áp dụng Lời Chúa của những người lạm dụng. Tuy nhiên, không có bao nhiêu người có thể dùng Lời Chúa để phản bác sự sai trái đó, khiến cho sự sai trái đó theo thời gian trở thành một thứ “giáo lý” trong Hội Thánh. Phản ứng tiêu cực của thành phần thứ hai là lánh xa những kẻ lạm dụng. Phản ứng đó cần phải có đối với những kẻ giả hình nhưng đối với những người thật lòng tin Chúa mà đức tin còn yếu kém thì cần phải có một phản ứng tích cực. Phản ứng tích cực là giúp cho họ hiểu được họ đã áp dụng sai Lời Chúa như thế nào.

Hiểu Biết và Áp Dụng Lời Chúa

Sự hiểu biết Lời Chúa và áp dụng sự hiểu biết đó vào trong cuộc sống được gọi là nếp sống Đạo. Đạo tức là Lời Chúa. Nếp sống Đạo chân thật là mọi tư tưởng, lời nói, và hành động đều vâng theo Lời Chúa. Người ta có thể hiểu sai Lời Chúa cho nên áp dụng sai và người ta cũng có thể hiểu đúng Lời Chúa nhưng lại áp dụng sai.

Hiểu sai áp dụng sai: I Phi-e-rơ 4:8 “Nhứt là trong vòng anh em phải có tình yêu chân thật; vì tình yêu che đậy vô số tội lỗi.” Người hiểu sai cho rằng: vì yêu thương cho nên người ấy phải bảo bọc, che chở mọi hành động tội lỗi. Sự bảo bọc, che chở cho tội lỗi như vậy giống như một người suốt đời không tắm mà chỉ dùng dầu thơm xức lên người để che đậy mùi hôi.

Hiểu đúng áp dụng sai: I Cô-rinh-tô 13:7 “Tình yêu che chở mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự.” Một người có thể hiểu đúng ý nghĩa của câu Thánh Kinh này nhưng lại áp dụng sai vì không phối hợp với các nguyên tắc khác của Thánh Kinh, là nguyên tắc về quở trách, sửa trị người có lỗi và nguyên tắc dứt thông công với người có tội mà không cải hối. Sự hiểu đúng mà áp dụng sai khiến cho một người trở thành nạn nhân của những kẻ lạm dụng Lời Chúa và trở thành kẻ tiếp tay hoặc khuyến khích người khác tiếp tục sống trong tội.

Sự Yêu Thương Trong Chúa

Tình yêu trong Chúa là tình yêu vị tha, nghĩa là tình yêu vì người khác mà sống (vị = vì; tha = người khác). Là con dân Chúa, trước hết, chúng ta sống cho Chúa rồi qua sự dẫn dắt, ban ơn của Chúa mà chúng ta sống cho anh chị em trong Chúa, cuối cùng là chúng ta sống cho những người chưa biết Chúa.

Sống cho Chúa là vâng giữ mọi Lời Chúa, vui thỏa trong Lời Chúa, thể hiện Lời Chúa thành hành động mỗi ngày trong cuộc sống. Sống cho anh chị em trong Chúa là quan tâm, chăm sóc, dạy dỗ, quở trách, sửa trị, và mang lấy mọi gánh nặng cho nhau từ thuộc thể đến thuộc linh. Sống cho những người chưa biết Chúa là hy sinh mọi sự, tìm đủ mọi cách, tận dụng mọi cơ hội để rao giảng hoặc góp phần trong sự rao giảng Tin Lành cho họ và khi họ có nhu cầu thì hết lòng giúp đỡ họ theo ơn Chúa ban.

Tình yêu trong Chúa không phải chỉ thể hiện qua sự cảm thông, tha thứ, cứu giúp lẫn nhau mà còn thể hiện qua sự quở trách, sửa trị người có lỗi và dứt thông công với người có tội mà không cải hối. Tình yêu trong Chúa không có nghĩa là bỏ qua những sự sai trái và để cho kẻ xấu tha hồ lợi dụng.

Khi Phi-e-rơ theo ý riêng, ngăn cản Chúa về thành Giê-ru-sa-lem để chịu khổ và chịu chết thì Chúa đã phán: “Hỡi Sa-tan, hãy lui ra đàng sau Ta! Ngươi làm gương xấu cho Ta; vì ngươi chẳng nghĩ đến việc Đức Chúa Trời, song nghĩ đến việc người Ta” (Ma-thi-ơ 16:23). Ai dám nói Đức Chúa Jesus không có tình yêu dành cho Phi-e-rơ vì Ngài đã không “dung thứ mọi sự”“nín chịu mọi sự” đối với ông? Khi Phi-e-rơ chìu theo sự yếu đuối của xác thịt, làm ra hành động giả hình, xúc phạm con dân Chúa tại Hội Thánh An-ti-ốt và làm gương xấu cho Ba-na-ba thì Phao-lô đã quở trách Phi-e-rơ trước Hội Thánh: “Nhưng khi Sê-pha đến thành An-ti-ốt, tôi có ngăn can trước mặt người, vì là đáng trách lắm. Bởi trước lúc mấy kẻ của Gia-cơ sai đi chưa đến, thì người ăn chung với người ngoại; vừa khi họ đã đến thì người lui đứng riêng ra, bởi sợ những kẻ chịu phép cắt bì. Các người Giu-đa khác cũng dùng một cách giả dối như vậy, đến nỗi chính Ba-na-ba cũng bị sự giả hình của họ dẫn dụ. Nhưng khi tôi thấy họ không đi ngay thẳng theo lẽ thật của Tin Lành, thì nói với Sê-pha trước mặt mọi người rằng: nếu anh là người Giu-đa, mà ăn ở theo cách dân ngoại, không theo cách người Giu-đa, thì làm sao anh ép dân ngoại phải theo thói Giu-đa” (Ga-la-ti 2:11-14).

Đức Chúa Jesus Christ đã từng động lòng thương xót, chữa bệnh, giảng Đạo và hóa bánh ra cho trên năm ngàn người ăn (Ma-thi-ơ 14:14-21); nhưng Ngài cũng lìa bỏ họ khi nhận biết họ chỉ đến với Ngài để tìm lợi vật chất (Giăng 6:14-27). Đức Chúa Jesus Christ cũng từng quở trách sự cứng lòng, không chịu cải hối của dân các thành đã được nghe Ngài giảng Đạo và thấy Ngài làm nhiều phép lạ: “Vì dân các thành mà Đức Chúa Jesus đã làm rất nhiều phép lạ rồi, không ăn năn, nên Ngài quở trách rằng: Khốn nạn cho mầy, thành Cô-ra-xin! Khốn nạn cho mầy thành Bết-sai-đa! Vì nếu các phép lạ đã làm giữa các ngươi, đem làm trong thành Ty-rơ và Si-đôn, thì hai thành đó thật đã mặc áo gai, đội tro, ăn năn từ lâu rồi. Vậy nên Ta bảo các ngươi, đến ngày phán xét, thành Ty-rơ và thành Si-đôn sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn các ngươi. Còn ngươi, Ca-bê-na-um là thành đã được cao tới trời, sẽ hạ xuống tới âm phủ! Vì nếu các phép lạ đã làm giữa ngươi, đem làm trong thành Sô-đôm, thì thành ấy còn lại đến ngày nay. Vậy nên Ta rao bảo rằng, đến ngày phán xét, xứ Sô-đôm sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn ngươi” (Ma-thi-ơ 11:20-14). Khi các môn đồ của Chúa không tin lời của Ma-ri Ma-đơ-len và các phụ nữ khác làm chứng về sự Chúa đã sống lại thì Đức Chúa Jesus đã quở trách họ: “Sau nữa, Ngài hiện ra cho mười một sứ đồ đang khi ngồi ăn, mà quở trách về sự không tin và lòng cứng cỏi, vì chẳng tin những kẻ từng thấy Ngài đã sống lại” (Mác 16:14). Khi trong Hội Thánh tại Cô-rinh-tô có người phạm tội tà dâm, Hội Thánh đã theo lời dạy của Sứ Đồ Phao-lô mà quở trách kẻ phạm tội đó: “Kẻ đó đã bị phần nhiều người trong anh em quở trách, ấy là đủ rồi” (II Cô-rinh-tô 2:6).

Tình yêu trong Chúa không cho phép con dân Chúa “vui về điều không công bình” (I Cô-rinh-tô 13:6). Khi con dân Chúa đối diện với sự không công bình trong Hội Thánh thì phải lên tiếng quở trách, bởi vì mỗi con dân Chúa là một “thầy tế lễ của Đức Chúa Trời” (Khải Huyền 1:6). Hình ảnh thầy tế lễ thời Cựu Ước khán nghiệm bệnh phung và đuổi kẻ bị phung ra khỏi hội chúng cho đến khi kẻ phung được lành tiêu biểu cho việc thầy tế lễ thời Tân Ước chỉ ra tội lỗi và đuổi kẻ có tội mà không cải hối ra khỏi Hội Thánh cho đến khi kẻ đó ăn năn. Bất cứ sự gì nghịch lại Lời Chúa thì đều là những sự không công bình và “mọi sự không công bình đều là tội” (I Giăng 5:17). Theo nguyên ngữ của Thánh Kinh thì “sự không công bình” là “sự vi phạm luật pháp,” và luật pháp trong Thánh Kinh chính là Lời Chúa. Lời Chúa dạy rõ:

Châm Ngôn 27:5 “Một lời quở trách tỏ tường hơn là thương yêu giấu kín.”

Châm Ngôn 28:23 “Ai quở trách người nào, về sau sẽ được ơn hơn là kẻ lấy lưỡi mà dua nịnh.”

Lu-ca 17:3 “Các ngươi hãy giữ lấy mình. Nếu anh em ngươi đã phạm tội, hãy quở trách họ; và nếu họ ăn năn, thì hãy tha thứ.”

Ê-phê-sô 5:11 “…chớ dự vào công việc vô ích của sự tối tăm, thà quở trách chúng nó thì hơn.”

I Ti-mô-thê 5:19 Kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ.

Tít 2:15 “Hãy dạy các điều đó, lấy quyền đầy đủ mà khuyên bảo quở trách. Chớ để ai khinh dể con.”

Kỷ Luật Trong Hội Thánh

Có hai hình thức kỷ luật trong Hội Thánh, được Thánh Kinh nêu lên: (1) kỷ luật đối với người phạm tội nghịch cùng một chi thể, tức là một cá nhân trong Hội Thánh, và (2) kỷ luật đối với người phạm tội nghịch cùng toàn thân thể, tức là tất cả mọi người trong Hội Thánh.

1. Kỷ luật đối với người phạm tội nghịch cùng cá nhân: Trong Ma-thi-ơ 18:15-17 Đức Chúa Jesus đã phán dạy chúng ta rất rõ ràng về cách đối xử người phạm tội nghịch cùng cá nhân chúng ta: “Nếu anh em ngươi phạm tội cùng ngươi, thì hãy trách người khi chỉ có ngươi với một mình người; như người nghe lời, thì ngươi được anh em lại. Ví bằng không nghe, hãy mời một hai người đi với ngươi, hầu cứ lời hai ba người làm chứng mà mọi việc được chắc chắn. Nếu người không chịu nghe các người đó, thì hãy cáo cùng Hội Thánh, lại nếu người không chịu nghe Hội Thánh, thì hãy coi người như kẻ ngoại và kẻ thâu thuế vậy.”

Trước hết, chúng ta cần ghi nhớ rằng: Đây là cách thức đối xử với người phạm tội nghịch cùng cá nhân chúng ta chứ không phải người phạm tội nghịch cùng Hội Thánh, bởi vì, những kẻ phạm tội nghịch cùng Hội Thánh phải bị quở trách trước Hội Thánh để làm gương cho mọi người. Mệnh lệnh của Chúa đưa ra bốn giai đoạn trong việc kỷ luật một người phạm tội nghịch cùng cá nhân chúng ta:

a) Giai đoạn thứ nhất: quở trách người phạm tội cách riêng tư, mong rằng người ấy sẽ cải hối.

b) Giai đoạn thứ nhì: nếu người ấy không cải hối thì mời thêm vài anh chị em khác trong Hội Thánh đến gặp người ấy để quở trách một lần nữa trước sự chứng kiến của họ.

c) Giai đoạn thứ ba: nếu người ấy vẫn không cải hối thì đưa sự việc ra trước Hội Thánh.

d) Giai đoạn thứ tư: nếu người ấy vẫn không cải hối sau khi bị Hội Thánh quở trách thì Hội Thánh phải cư xử với người ấy như cách cư xử với một người không tin Chúa và một người phạm nhiều tội trọng. Trong xã hội Do-thái, từ ngữ “kẻ thâu thuế” mang nghĩa bóng là “người phạm nhiều tội trọng với Thiên Chúa và dân tộc.” Những người thâu thuế cho Đế Quốc La-mã thời xưa thường dựa vào thế lực của La-mã và địa vị viên chức thâu thuế của mình để gian lận và bốc lột chính dân tộc của mình, làm ra nhiều việc ác để thủ lợi, làm giàu. Người Do-thái xem khinh những kẻ thâu thuế còn hơn là xem khinh một người dân ngoại không chịu cắt bì và thờ lạy hình tượng. Người Do-thái cho rằng những người dân ngoại là ô uế nên xem khinh dân ngoại như chó, là loài vật ô uế. Điều đó có nghĩa là người Do-thái xem khinh những kẻ thâu thuế còn hơn là xem khinh loài chó.

Một người không tin Chúa là một người không có sự thông công với con dân Chúa, không được phép tham dự thờ phượng Chúa với con dân Chúa. Một người phạm nhiều tội trọng là một người mà ai ai cũng cần cẩn thận khi giao tiếp với, thứ nhất là tránh tiêm nhiễm những thói xấu của người ấy và thứ nhì là tránh bị người ấy lừa gạt, hãm hại. Người không tin Chúa là kẻ thù tự nhiên của Hội Thánh. Giăng 15:19 ghi lại lời phán của Đức Chúa Jesus Christ về thái độ của thế gian đối với con dân Chúa như sau: “Nếu các ngươi thuộc về thế gian, thì người đời sẽ yêu kẻ thuộc về mình; nhưng vì các ngươi không thuộc về thế gian và Ta đã lựa chọn các ngươi giữa thế gian, bởi cớ đó người đời ghét các ngươi.” Dầu vậy, con dân Chúa vẫn có bổn phận cầu nguyện, chúc phước, và cứu giúp người không tin Chúa:

Ma-thi-ơ 5:43, 44 “Các ngươi có nghe lời phán rằng: Hãy yêu người lân cận, và hãy ghét kẻ thù nghịch mình. Song Ta nói cùng các ngươi rằng: Hãy yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi.”

Lu-ca 6:27, 28 “Nhưng Ta phán cùng các ngươi, là những người nghe Ta: Hãy yêu kẻ thù mình, làm ơn cho kẻ ghét mình, chúc phước cho kẻ rủa mình, và cầu nguyện cho kẻ sỉ nhục mình.”

Lu-ca 6:35 “Song các ngươi hãy yêu kẻ thù mình; hãy làm ơn, hãy cho mượn, mà đừng ngã lòng. Vậy, phần thưởng của các ngươi sẽ lớn, và các ngươi sẽ làm con của Đấng Rất Cao, vì Ngài lấy nhơn từ đối đãi kẻ bạc và kẻ dữ.”

Rô-ma 12:20 “Vậy nếu kẻ thù mình có đói, hãy cho ăn; có khát, hãy cho uống; vì làm như vậy, khác nào mình lấy những than lửa đỏ mà chất trên đầu người.”

Châm Ngôn 25:21, 22 “Nếu kẻ thù nghịch con có đói, hãy cho nó ăn; nếu có khát, hãy cho nó uống; vì như vậy con chất than cháy đỏ trên đầu nó, và Đức Giê-hô-va sẽ báo lại cho con.”

Thành ngữ “chất than cháy đỏ trên đầu nó” mượn hình ảnh quặng chì được chất vào lò và than lửa được đổ lên trên nó khiến cho chất chì tan chảy vào chỗ hứng bên dưới, bỏ lại các tạp chất bị thiêu cháy trong lò, để nói lên ý nghĩa: những hành động thương xót sẽ khiến cho tâm trí của kẻ thù bị tan chảy và những tư tưởng thù nghịch sẽ bị tan biến.

2. Kỷ luật đối với người phạm tội nghịch cùng Hội Thánh: Đối với người phạm tội nghịch cùng Hội Thánh thì sự quở trách phải công khai giữa Hội Thánh để làm gương như cách Sứ Đồ Phao-lô kỷ luật Sứ Đồ Phi-e-rơ tại Hội Thánh An-ti-ốt đã nêu trên đây. Phao-lô cũng chỉ thị cho Hội Thánh Cô-rinh-tô thi hành kỷ luật đối với người phạm tội tà dâm trong Hội Thánh. Đức Thánh Linh, qua ngòi bút của Sứ Đồ Phao-lô, đã ghi lại nguyên tắc đó trong I Ti-mô-thê 5:20, “kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ.”

Trong sự việc có người phạm tội tà dâm trong Hội Thánh Cô-rinh-tô, Phao-lô đã chỉ thị cho Hội Thánh trong I Cô-rinh-tô 5, như sau:

1 Có tin đồn ra khắp nơi rằng trong anh em có sự dâm loạn, dâm loạn đến thế, dẫu dân ngoại cũng chẳng có giống như vậy: là đến nỗi trong anh em có kẻ lấy vợ của cha mình.

2 Anh em còn lên mình kiêu ngạo! Anh em chẳng từng buồn rầu, hầu cho kẻ phạm tội đó bị trừ bỏ khỏi vòng anh em thì hơn!

3 Về phần tôi, thân dầu xa cách mà lòng ở tại đó, (vì anh em và lòng tôi được hội hiệp với quyền phép của Đức Chúa Jesus, là Chúa chúng ta),

4 nên tôi đã dường như có mặt ở đó, nhơn danh Đức Chúa Jesus là Chúa chúng ta, tuyên án kẻ phạm tội đó

5 rằng, một người như thế phải phó cho quỷ Sa tan, để hủy hoại phần xác thịt, hầu cho tâm thần được cứu trong ngày Đức Chúa Jesus.

6 Thật anh em chẳng có cớ mà khoe mình đâu! Anh em há chẳng biết rằng một chút men làm cho cả đống bột dậy lên sao?

7 Hãy làm cho mình sạch men cũ đi, hầu cho anh em trở nên bột nhồi mới không men, như anh em là bánh không men vậy. Vì Đấng Christ là con sinh lễ Vượt Qua của chúng ta, đã bị giết rồi.

8 Vậy thì, chúng ta hãy giữ lễ, chớ dùng men cũ, chớ dùng men gian ác, độc dữ, nhưng dùng bánh không men của sự thật thà và của lẽ thật.

9 Trong thơ tôi viết cho anh em, có dặn đừng làm bạn với kẻ gian dâm,

10 đó tôi chẳng có ý nói chung về kẻ gian dâm đời nầy, hay là kẻ tham lam, kẻ chắt bóp, kẻ thờ hình tượng, vì nếu vậy thì anh em phải lìa khỏi thế gian.

11 Nhưng tôi viết khuyên anh em đừng làm bạn với kẻ nào tự xưng là anh em, mà là gian dâm, hoặc tham lam, hoặc thờ hình tượng, hoặc chưởi rủa, hoặc say sưa, hoặc chắt bóp, cũng không nên ăn chung với người thể ấy.

12 Vì chưng có phải tôi nên đoán xét kẻ ở ngoài sao? Há chẳng phải anh em nên đoán xét những người ở trong sao?

13 Còn như kẻ ở ngoài, thì Đức Chúa Trời sẽ đoán xét họ. Hãy trừ bỏ kẻ gian ác khỏi anh em.

Sự kiện phạm tội tà dâm “lấy vợ của cha mình” của một người tín đồ trong Hội Thánh Cô-rinh-tô, vừa là hành động phạm tội nghịch cùng cha mình vừa là hành động phạm tội nghịch cùng Hội Thánh, vì nó xảy ra công khai khiến cho “có tin đồn ra khắp nơi,” gây tiếng xấu cho Hội Thánh và Đạo Chúa. Vì thế, sự thi hành kỷ luật cũng phải công khai. Chúng ta không biết rõ chi tiết phạm tội nhưng có lẽ người phạm tội đã công khai lấy người vợ bé hoặc vợ kế của cha mình làm vợ, sau khi cha ông ta qua đời.

Hình thức kỷ luật được Phao-lô nêu rõ:

a) Đừng làm bạn với kẻ không cải hối.

b) Không nên ăn chung với kẻ không cải hối.

c) Trừ bỏ “kẻ gian ác,” tức là kẻ không cải hối, khỏi Hội Thánh.

Đối với những kẻ theo tà giáo, tức là theo hoặc rao giảng những giáo lý nghịch lại Thánh Kinh thì hình thức kỷ luật được Thánh Kinh nêu ra như sau: “Nhưng hãy lánh những điều cãi lẽ dại dột, những gia phổ, những sự cạnh tranh nghị luận về luật pháp, vì mấy sự đó đều là vô ích và hư không. Sau khi mình đã khuyên bảo kẻ theo tà giáo lần thứ nhất và lần thứ nhì rồi, thì hãy tránh khỏi” (Tít 3:9, 10).

Tất cả những điều trên đây là những hình thức kỷ luật cần áp dụng chung trong Hội Thánh khi có người phạm tội.

Ngày nay, trong các tổ chức giáo hội mang danh Chúa, chẳng những kẻ phạm tội không bị quở trách, kỷ luật mà ngược lại, họ lạm dụng Lời Chúa, mong bịt miệng những ai nêu lên sự sai trái của họ, nhất là các chức sắc trong giáo hội. Nhiều người nghĩ rằng phải có chức sắc trong giáo hội mới có thể lên tiếng quở trách người phạm tội mà không hiểu rằng: mỗi cá nhân trong Hội Thánh đều là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời, cho nên, ai cũng có nhiệm vụ chỉ ra các “vết phung thuộc linh” và khai trừ “người phung thuộc linh” ra khỏi Hội Thánh. Đó cũng là một trong những lý do con dân chân thật của Chúa phải ra khỏi các tổ chức giáo hội mang danh Chúa do loài người lập ra với những điều lệ, nội quy, truyền thống, thói tục, giáo lý, tư tưởng thần học… hầu hết không có trong Thánh Kinh và nghịch lại Thánh Kinh.

Đặc Tính của Tình Yêu  – I Cô-rinh-tô 13:4-8

Trước hết, chúng ta cần phải nhớ rằng, I Cô-rinh-tô 13 nói về tình yêu của Chúa và tình yêu trong Chúa, tức là tình yêu agape. I Giăng 4:8 và 16 cho chúng ta biết: “Đức Chúa Trời là tình yêu” và câu 19 cho chúng ta biết “Chúng ta yêu vì Chúa đã yêu chúng ta trước.” Vì thế, để có thể hiểu và kinh nghiệm được I Cô-rinh-tô 13:4-8 thì một người phải tiếp nhận tình yêu của Đức Chúa Trời, tức là tiếp nhận chính Ngài. Có được Đức Chúa Trời tức là có được tình yêu, chỉ khi đó thì một người mới có thể yêu và hiểu được tình yêu.

I Cô-rinh-tô 13:4-8 nói về các đặc tính của tình yêu, tức là các đặc tính của Đức Chúa Trời và cũng là các đặc tính của những ai thuộc về Ngài. Như mặt trăng tiếp nhận ánh sáng của mặt trời rồi phản chiếu trên đất, con dân Chúa tiếp nhận tình yêu từ Đức Chúa Trời rồi chiếu sáng tình yêu của Đức Chúa Trời ra giữa thế gian (Ma-thi-ơ 5:14).

Tình yêu nhẫn nại; tình yêu nhân từ; tình yêu chẳng ghen tị, chẳng khoác lác, chẳng lên mình kiêu ngạo, chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghĩ đến sự dữ, chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật. Tình yêu che chở mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự. Tình yêu chẳng hề hư mất bao giờ.

1. Tình yêu nhẫn nại: Từ ngữ “nhẫn nại” vừa có nghĩa là sức kiên trì chịu đựng mọi sự nghịch lại với bản tính của mình để đạt được mục đích, vừa có nghĩa là sự kiên trì chịu đựng những vô lý, bất công người khác làm ra để có thể cảm hóa người ấy. Đức Chúa Trời thánh khiết và công chính đã và đang nhẫn nại đối với thế gian tội lỗi, dùng ơn cứu rỗi của Ngài trong Đức Chúa Jesus Christ để cảm hóa thế gian. Nhờ đó mà chúng ta mới có cơ hội để ăn năn tội và trở thành con dân của Chúa. Là con dân của Chúa, chúng ta cũng nhẫn nại với mọi người chung quanh chúng ta để có thể đưa họ đến với sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.

Nhẫn nại không có nghĩa là không quở trách người có lỗi. Nhẫn nại cũng không có nghĩa là không bao giờ ngưng chịu đựng một người nào đó. Chúng ta nhẫn nại suốt cuộc đời mình và nhẫn nại với mỗi một người mà chúng ta gặp. Tuy nhiên, thời gian chúng ta nhẫn nại đối với mỗi người sẽ khác nhau, tùy theo sự cho phép của Chúa. Trong Ma-thi-ơ 18:15-17, Chúa dạy chúng ta chỉ nhẫn nại với người phạm tội nghịch cùng chúng ta qua ba lần chúng ta cho người đó cơ hội nhận lỗi và ăn năn. Nếu sau ba lần bị quở trách mà người có tội không chịu ăn năn thì Chúa ra lệnh cho chúng ta phải xem người ấy như người không tin Chúa và là một người phạm tội trọng. Dầu chúng ta buộc phải thi hành kỷ luật với những người không chịu cải hối nhưng lòng chúng ta vẫn yêu thương họ và không truy cứu trách nhiệm về những việc bất công hay thiệt hại mà họ đã làm ra cho chúng ta. Đó là sự tha thứ!

Trong công tác rao giảng Tin Lành, Chúa cũng đã truyền cho chúng ta rằng, hễ ai từ chối không muốn nghe Tin Lành thì chúng ta hãy bỏ họ mà đi. Họ sẽ gánh lấy trách nhiệm về sự hư mất của chính họ: “Nếu ai không tiếp rước, không nghe lời các ngươi, khi ra khỏi nhà đó, hay là thành đó, hãy phủi bụi đã dính chơn các ngươi. Quả thật, ta nói cùng các người, đến ngày phán xét, thì xứ Sô-đôm và xứ Gô-mô-rơ sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn thành ấy” (Ma-thi-ơ 10:14). Mệnh lệnh đó của Chúa còn được ghi lại thêm hai lần trong Mác 6:11, Lu-ca 9:5 và Lu-ca 10:10-11. Đặc biệt, trong Lu-ca 10:10-11, Chúa dạy bảy mươi môn đồ được Ngài sai đi phải ra giữa chợ mà công bố sự khước từ nghe Tin Lành của một thành phố. Phao-lô và Ba-na-ba đã áp dụng lời Chúa dạy khi họ đối diện với sự cứng lòng của những người Do-thái tại thành An-ti-ốt: “Hai người đối cùng họ phủi bụi nơi chơn mình, rồi đi đến thành Y-cô-ni” (Công Vụ Các Sứ Đồ 13:51). Ai có thể nói là hai ông không nhẫn nại? Hội Thánh ngày nay cần phải bắt chước Phao-lô và Ba-na-ba trong sự vâng theo mệnh lệnh của Chúa về cách thức cư xử đối với những người chống đối Đạo Chúa.

Chúa dạy chúng ta rao giảng bất luận gặp thời hay không gặp thời nhưng Chúa không dạy chúng ta nài nỉ, kéo ép hay dùng tâm lý học khiến cho người ta tin Chúa. Làm ơn cho một người vì họ có nhu cầu và chúng ta có lòng thương là việc tốt nhưng làm ơn nhằm mục đích lấy lòng người ta để người ta vị nể mình mà tin Chúa là sai. Khi làm như vậy chúng ta đã vô tình cho rằng Tin Lành không có quyền phép để cứu người (Rô-ma 1:16) mà việc làm lấy lòng của chúng ta mới có quyền phép để cứu người! Và thật ra, sự tin Chúa như vậy không cứu ai hết! Câu Thánh Kinh II Ti-mô-thê 4:2 trong Bản Dịch Truyền Thống dịch là: “Hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi;” Chữ “nài khuyên” khiến cho người đọc hiểu lầm là khi giảng Đạo phải “năn nỉ” người ta tin Chúa. Tuy nhiên, dịch cho sát ý thì sẽ là: “Hãy giảng Đạo, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, sửa trị, kêu gọi, cứ dạy dỗ chẳng thôi.” Chúng ta cần kêu gọi người nghe Đạo tin nhận Đạo nhưng chúng ta không cần phải nài nỉ họ!

Tình Yêu nhẫn nại nghĩa là tình yêu có sức kiên trì chịu đựng mọi sự nghịch lại với bản tính của mình, chịu đựng những vô lý, bất công đến từ người khác hoặc hoàn cảnh để đạt được mục đích tốt đẹp đã đặt ra.

2. Tình yêu nhân từ: Từ ngữ “nhân từ” có nghĩa là cư xử tốt với mọi người; không phải là làm ra vẻ cư xử tốt mà là hành động tốt thật sự phát xuất từ đáy lòng. Nhân từ hay cư xử tốt có nghĩa là luôn luôn làm ơn cho người khác, đặt quyền lợi của người khác trước quyền lợi của mình một cách tự nguyện, vô điều kiện. Đức Chúa Trời luôn luôn nhân từ. Các Thi Thiên luôn nhắc đến điệp khúc: “Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời!” Đức Chúa Trời nhân từ vì Ngài: “khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác” (Ma-thi-ơ 5:45); Ngài “lấy nhân từ đối đãi kẻ bạc và kẻ dữ” (Lu-ca 6:35). Kẻ bạc là kẻ vô ơn, kẻ dữ là kẻ làm ra những điều nghịch lại điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời. Trong Ma-thi-ơ 5:45 Chúa cũng dạy chúng ta nhân từ một cách trọn vẹn như Cha của chúng ta ở trên trời. Nhân từ không có nghĩa là không thi hành kỷ luật mà là khi cần thiết thì thi hành kỷ luật với lòng đau thương để bảo vệ sự công chính. Sự Kiện Đức Chúa Trời hy sinh Con Một của Ngài để thế gian được thoát khỏi sức mạnh và hậu quả của tội lỗi là hành động nhân từ vô bờ bến của Ngài đối với thế gian nhưng cùng lúc Ngài thi hành hình phạt tội lỗi cách nặng nề trên Con Một của Ngài. Sự kiện Đức Chúa Jesus Christ từ bỏ địa vị Thiên Chúa của mình để gánh thay hình phạt của tội lỗi và chết thay cho loài người là hành động nhân từ vô bờ bến của Ngài nhưng một ngày kia Ngài sẽ phán xét những ai không tin nhận ơn cứu rỗi của Ngài. Sự kiện Đức Thánh Linh cáo trách thế gian về tội lỗi để đưa mọi người đến sự ăn năn tội là hành động nhân từ vô bờ bến của Ngài nhưng những ai chống nghịch Ngài thì sẽ bị hư mất đời đời.

Tình yêu nhân từ có nghĩa là luôn luôn làm ơn cho người khác, đặt quyền lợi của người khác trước quyền lợi của mình một cách tự nguyện, vô điều kiện. Lòng nhân từ bao gồm sự ân cần quở trách, sửa phạt những kẻ có lỗi để cải hóa họ.

Nhẫn nại và nhân từ có liên quan mật thiết với nhau. Lòng nhẫn nại và nhân từ còn đến mãi mãi nhưng sự thể hiện cho mỗi đối tượng thì có giới hạn, tùy theo thái độ đáp ứng của đối tượng. Khi sự nhẫn nại kết thúc thì sự nhân từ cũng kết thúc. Dù Đức Chúa Trời nhẫn nại và nhân từ nhưng Ngài cũng từng hủy diệt cả thế gian, ngoại trừ gia đình Nô-ê tám người, bằng cơn lụt lớn toàn cầu khi loài người đã phạm tội đến mức không còn có thể ăn năn. Dầu vậy, Ngài cũng đã dành cho họ 120 năm để ăn năn. Một ngày không còn bao lâu nữa, Đức Chúa Jesus Christ sẽ phán xét và tận diệt mọi kẻ ác trong thế gian. Khi đó, Ngài sẽ dành ra bảy năm để ban cơ hội cho những ai có lòng ăn năn được đến với sự cứu rỗi của Ngài. Trong ba năm rưỡi sau cùng của bảy năm đó, Tin Lành sẽ được thiên sứ bay giữa trời rao truyền cho muôn dân, muôn nước trên đất (Khải Huyền 14:6). Thánh Kinh tiên tri trước là sẽ có vô số người ăn năn tội và tin nhận Tin Lành trong giai đoạn đó, dù họ phải trá giá bằng chính mạng sống của họ trước sự bắt bớ của chính quyền toàn cầu do Anti-Christ (kẻ chống nghịch Đức Chúa Jesus Christ) thống lãnh. Nhẫn nại và nhân từ không bao giờ có nghĩa là bao che và bỏ qua tội lỗi mà chỉ có nghĩa là cư xử tốt với những kẻ có tội, tạo cơ hội và chờ đợi một thời gian nhất định cho họ cải hối.

3. Tình yêu chẳng ghen tỵ: Từ ngữ “ghen tỵ” trong nguyên ngữ Thánh Kinh có ba nghĩa: (1) Ghen tức: bị hun đốt bởi lòng cạnh tranh, mà sinh ra thù nghịch hoặc giận dữ. (2) Ghen ghét: bực tức, khó chịu rồi sinh ra thù ghét khi thấy kẻ khác được chú ý hơn mình, bất kể là về mặt nào. (3) Ghen tranh: ham muốn dành về cho mình điều gì đó, ai đó một cách mãnh liệt, bất chấp thủ đoạn.

Đức Chúa Trời là Đấng hay ghen (Bản Dịch Truyền Thống dịch thành “kỵ tà” là không đúng nghĩa) [1] nhưng Ngài không ghen tỵ. “Ghen” có nghĩa là bực tức, khó chịu làm cho mình đau khổ nhưng không sinh ra thù ghét hoặc ý muốn hãm hại ai cả. Dù đến một lúc phải thi hành kỷ luật, hình phạt kẻ có lỗi không chịu cải hối, như người chồng phải ly dị người vợ tà dâm, thì lòng ghen cũng không phát sinh ra sự thù ghét như lòng ghen tỵ. Từ ngữ “Thiên Chúa là Đấng hay ghen” nói lên tình yêu tha thiết Ngài dành cho con dân của Ngài và Ngài muốn con dân của Ngài yêu thương Ngài cũng tha thiết như vậy. Thiên Chúa ghen khi con dân của Ngài chạy theo tà thần. Hình ảnh người vợ phản bội chồng đi ngoại tình với phường vô loại thường được Chúa dùng để minh họa sự con dân Chúa từ bỏ thờ phượng Chúa để đi thờ phượng các tà thần. Đức Chúa Trời không ghen tỵ và con dân Chúa cũng không thể ghen tỵ; vì không ghen tỵ, tức là không ghen tức, không ghen ghét, không ghen tranh là đặc tính của tình yêu.

4. Tình yêu chẳng khoác lác: Từ ngữ “khoác lác” được dùng trong I Cô-rinh-tô 13:5 có nghĩa là dùng những lời nói, điệu bộ, hành động nhằm phô bày mình một cách không trung thực để người khác thán phục mình hoặc tin tưởng mình. Thí dụ, mình chưa tốt nghiệp trung học mà trong lời nói, điệu bộ, hành động đều có ý khiến cho người khác tưởng là mình đã tốt nghiệp đại học. Hoặc là mình tốt nghiệp từ một đại học không nổi tiếng nhưng lúc nào cũng tỏ ra cho người khác tưởng là mình tốt nghiệp từ một đại học danh tiếng. Nói cách khác, “sự khoác lác” là sự dối gạt về giá trị thật của mình để người khác thán phục hoặc tin tưởng mình. Ngược lại với sự khoác lác là sự trung thực bày tỏ về mình.

Từ ngữ “khoe mình” được dùng trong I Cô-rinh-tô 1:31, “Hầu cho, như có lời chép rằng: Ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa;” trong nguyên ngữ Thánh Kinh có nghĩa là: tỏ ra sự tôn trọng của mình một cách trung thực. Dầu là phô bày những điều tốt đẹp của mình một cách trung thực, con dân Chúa vẫn phải làm điều đó “trong Chúa” tức là phô bày theo các nguyên tắc của Thánh Kinh; đó là: việc phô bày đem lại ích lợi, làm gương tốt, làm tôn vinh danh Chúa, và được thực hiện với lòng biết ơn Chúa đã ban cho mình những điều tốt lành. Sự khoe mình trong Chúa của con dân Chúa là làm chứng về ơn phước Chúa, tức là thuật lại cho người khác nghe những điều lạ lùng Chúa làm ra trên đời sống mình và qua chính mình. Sự khoe mình trong Chúa không phải chỉ thể hiện qua lời nói mà còn hiện thực qua nếp sống mỗi ngày của chúng ta.

Đức Chúa Trời không khoác lác nhưng Ngài khoe mình, tức là Ngài tự bày tỏ rất trung thực về chính mình Ngài, nhờ đó mà thế gian có thể hoàn toàn tin cậy vào mọi lời phán của Ngài. Con dân Chúa cần từ bỏ sự khoác lác và luôn khoe mình trong Chúa. Tình yêu không bao giờ khoác lác.

5. Tình yêu chẳng kiêu ngạo: Từ ngữ “kiêu ngạo” trong nguyên ngữ Thánh Kinh có nghĩa là “thổi phồng lên.” Sự kiêu ngạo khác với sự khoác lác. Sự khoác lác hoàn toàn dối trá không dựa trên lẽ thật còn sự kiêu ngạo thì thổi phồng lẽ thật; và mục đích của cả hai đều là để người ta tôn trọng hoặc tin tưởng mình. Sự kiêu ngạo còn một ý nữa là tự cho rằng mình hơn người khác. Kiêu ngạo là xem thường người khác và thổi phồng lẽ thật để phục vụ cho lòng ham muốn hư vinh của xác thịt.

Đức Chúa Trời không kiêu ngạo vì Ngài vốn là cao siêu tuyệt đối, vượt trên cả muôn loài và khác với muôn loài. Con dân Chúa không nên kiêu ngạo để tìm kiếm sự tôn trọng từ người khác mà trái lại phải xem mọi người là tôn trọng hơn mình (Phi-líp 2:3). Con dân Chúa luôn học tập sự nhu mì và khiêm nhường của Chúa theo lời kêu gọi của Ngài: “Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của Ta, và học theo Ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ” (Ma-thi-ơ 11:29).

Tình yêu chẳng kiêu ngạo vì yêu là phục vụ và hạ mình xuống để nâng người mình yêu lên, như Đức Chúa Con đã tự hạ mình xuống để nâng những ai có lòng cải hối và tin cậy nơi Ngài lên địa vị thánh đồ và con cái của Thiên Chúa.

6. Tình yêu chẳng làm điều trái phép: Từ ngữ “làm điều trái phép” có nghĩa là làm những điều nghịch lại tiêu chuẩn đã định. Tiêu chẩn đã định tức là điều răn và luật pháp của Thiên Chúa được ghi chép trong Thánh Kinh.

Đức Chúa Trời không bao giờ làm nghịch lại tiêu chẩn của Ngài, vì thế, con dân Chúa cũng không thể làm nghịch lại tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời, cho dù là vì bất cứ lý do gì, trong bất kỳ cảnh ngộ nào. Từ ngàn xưa đến nay, biết bao nhiêu con dân Chúa đã thà mất đi mạng sống của mình hơn là làm ra một điều trái phép.

Tình yêu không làm điều trái phép, vì yêu là tin và làm theo mọi điều răn và luật pháp của Dức Chúa Trời.

7. Tình yêu chẳng kiếm tư lợi: Từ ngữ “kiếm tư lợi” trong  nguyên ngữ Thánh Kinh có nghĩa là chỉ tìm kiếm chính mình, chăm sóc chính mình, bỏ mặc nhu cầu của người khác. Kiếm tư lợi tức là ích kỷ và thường là làm hại đến quyền lợi của người khác, gạt gẫm người khác. Những sự mua bán gian lận điển hình cho sự kiếm tư lợi. Kiếm tư lợi còn có nghĩa là vì hạnh phúc của chính mình mà có thể làm bất cứ điều gì miễn sao mình được vui sướng.

Thiên Chúa không tìm kiếm tư lợi, trái lại, vì hạnh phúc của loài người mà Ngài đã hy sinh những điều cao quý nhất của mình. Đức Chúa Cha đã ban cho thế gian Con Một của Ngài. Đức Chúa Con đã hy sinh sự bình đẳng của mình với Đức Chúa Cha để nhập thế làm người chết thay cho nhân loại. Đức Thánh Linh không màng đến con người xác thịt vẫn còn có thể phạm tội, mà ngự vào trong thân thể của chúng ta để dạy dỗ và dẫn dắt chúng ta. Là con dân Chúa chúng ta không còn kiếm tư lợi, tức là không còn sống cho mình nữa mà là để Chúa sống trong chúng ta và chúng ta sống là sống cho Chúa, chết là chết cho Chúa: “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi” (Ga-la-ti 2:20). “Vả, chẳng có người nào trong chúng ta vì chính mình mà sống, cũng chẳng có người nào trong chúng ta vì chính mình mà chết; vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa, và nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Vậy nên chúng ta hoặc sống hoặc chết, đều thuộc về Chúa cả” (Rô-ma 14:7, 8).

Tình yêu chẳng kiếm tư lợi vì tình yêu ban cho hơn là nhận lãnh (Công Vụ Các Sứ Đồ 20:35).

8. Tình yêu chẳng nóng giận: Từ ngữ “nóng giận” trong nguyên ngữ Thánh Kinh có nghĩa là bị làm cho giận, chỉ được dùng đến hai lần, một lần trong I Cô-rinh-tô 13:5 mà chúng ta đang tìm hiểu và một lần trong Công Vụ Các Sứ Đồ 17:16, khi nói về việc khắp thành A-thên thờ lạy thần tượng làm cho tâm thần của Sứ Đồ Phao-lô nóng giận. Từ ngữ “nóng giận” này khác với từ ngữ “giận” trong Ê-phê-sô 4:26, “Ví bằng anh em đương cơn giận, thì chớ phạm tội; chớ căm giận cho đến khi mặt trời lặn.” Chúa không cấm chúng ta giận mà Chúa chỉ muốn chúng ta không phạm tội đang khi giận và không giận cho đến khi mặt trời lặn. Chính Chúa cũng giận khi thấy người ta biến đền thờ tại Giê-ru-sa-lem thành ra nơi buôn bán, gạt gẫm.

Ý nghĩa của mệnh đề“tình yêu chẳng nóng giận” là: tình yêu không nóng giận vì bị khiêu khích, bị chọc giận. Thành ngữ có câu: “giận mất khôn!” và một trong các chiến thuật Sa-tan dùng trong khi tấn công con dân Chúa là chiến thuật chọc giận. Người dễ nóng giận khi bị khiêu khích là người không có sự tiết độ, một trong những đặc tính của trái Thánh Linh (Ga-la-ti 6:22). Nóng giận có thể dẫn đến những quyết định sai lầm, dẫn đến sự phạm tội.

Chúa giận nhưng không ai có thể khiêu khích, chọc cho Ngài giận để hành động nghịch lại bản tính yêu thương, thánh khiết, và công chính của Ngài. Chúng ta có thể xem, hành vi hôn Chúa của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt trong khi dẫn lính đến bắt Chúa là một trong những cách Sa-tan dùng để chọc giận Chúa; nhưng Chúa đã không nóng giận trước cái hôn dùng làm dấu phản bội của ông. Là con dân Chúa chúng ta nhờ vào kết quả của Thánh Linh Chúa trong chúng ta mà tiết độ trong mọi sự. Mỗi hoàn cảnh “bị chọc giận” Chúa cho phép xảy đến với chúng ta là để chúng ta tự đo lường kết quả Trái Thánh Linh trong chúng ta.

Tình yêu không nóng giận vì bị khiêu khích để phạm tội nhưng tình yêu sẽ nóng giận trước những sự bất công, gian ác, nghịch lại điều răn và luật pháp của Thiên Chúa.

9. Tình yêu chẳng nghĩ đến sự dữ: Từ ngữ “nghi ngờ sự dữ” trong Bản Dịch Truyền Thống cần phải sửa lại là “nghĩ đến sự dữ” cho đúng với nguyên ngữ của Thánh Kinh. Nghi ngờ sự dữ chỉ là một phương diện của nghĩ đến sự dữ. Một người có thể không nghi ngờ sự dữ cho một người khác nhưng vẫn có thể nghĩ đến những sự dữ mà mình muốn làm hoặc nghĩ đến những sự dữ mà mình muốn chúng xảy ra cho kẻ thù của mình. Sự dữ là tất cả những gì trái nghịch lại với tiêu chuẩn yêu thương, thánh khiết, và công chính của Thiên Chúa. Một vài sự dữ điển hình cho những sự dữ mà người ta thường nghĩ đến, là: tư tưởng về các sự tà dâm, ngoại tình; tư tưởng về những sự dối gạt; tư tưởng về những sự độc ác muốn làm ra cho kẻ thù. Nghĩ đến sự dữ còn gọi là nghĩ ác. Nghĩ ác dẫn đến những lời nói ác là những lời rủa sả, và những hành động ác.

Dù Đức Chúa Trời hình phạt kẻ có tội mà không cải hối nhưng Đức Chúa Trời không hề nghĩ ác. Lời phán của Ngài được ghi lại trong Giê-rê-mi 29:11 như sau: “…Vì Ta biết ý tưởng Ta nghĩ đối cùng các ngươi, là ý tưởng bình an, không phải tai họa…” Là con dân Chúa chúng ta phải nhờ quyền năng của Đức Chúa Trời để “đánh đổ các lý luận, mọi sự tự cao nổi lên nghịch cùng sự hiểu biết Đức Chúa Trời, và bắt hết các ý tưởng làm tôi vâng phục Đấng Christ (II Cô-rinh-tô 10:5). Khi đó, “Sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ gìn giữ lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jesus Christ” (Phi-líp 4:7). Khi lòng và ý tưởng chúng ta được giữ gìn trong Đấng Christ thì chúng ta không còn nghĩ đến sự dữ, không còn nghĩ ác.

10. Tình yêu chẳng vui về điều không công bình nhưng vui trong lẽ thật: Từ ngữ “điều không công bình” có nghĩa là điều không đúng theo tiêu chuẩn của Thánh Kinh. “Mọi sự không công bình đều là tội… “ (I Giăng 5:17).

Đức Chúa Trời không vui về những sự tội lỗi và Ngài cũng không vui khi kẻ ác bị hình phạt. “Chúa Giê-hô-va phán rằng: Thật vậy, Ta không vui đâu về sự chết của kẻ phải chết, vậy các ngươi hãy xây lại, mà được sống” (Ê-xê-chi-ên 18:32). Con dân Chúa không thể vui khi thấy sự bất công xảy ra, nhất là khi thấy anh chị em trong Chúa sống nghịch lại Lời Chúa.

Tình yêu không thể nào vui về điều không công bình vì tình yêu chỉ vui trong lẽ thật. Lẽ thật là Lời Chúa (Giăng 17:17). Lẽ thật là luật pháp của Chúa (Thi Thiên 119:142). Lẽ thật cũng chính là Chúa (Giăng 14:6). Tình yêu vui trong Chúa, vui trong Lời Chúa và vui trong luật pháp của Chúa.

11. Tình yêu che chở mọi sự: Từ ngữ “che chở” trong nguyên ngữ của Thánh Kinh có nghĩa đen là che chở như một nóc nhà và nghĩa bóng là gìn giữ và  bảo vệ tất cả những gì trong trách nhiệm. Từ ngữ này không có nghĩa là bao che cho tội lỗi được tiếp tục phát triển. Tình yêu của một người trong Chúa gìn giữ và bảo vệ tất cả những gì thuộc về Lời Chúa và Hội Thánh của Ngài. Như mái nhà phải chống chỏi với sức tàn phá của nắng, mưa, giông, gió… để gìn giữ và bảo vệ mọi sự ở trong nhà, mỗi con dân Chúa cũng phải chống chỏi với sự tàn phá và bách hại từ tà giáo, giáo sư giả, tiên tri giả, người chăn giả, con chiên giả… để bảo vệ những gì thuộc về Lời Chúa và Hội Thánh Chúa. Mỗi một sự che chở đều có một cái giá phải trả và sự che chở phải bao gồm mọi sự Chúa đã trao vào trong trách nhiệm của chúng ta. Động cơ của sự che chở là Tình Yêu: Yêu Chúa và yêu người.

Hành động bao che, dung túng cho tội lỗi hoàn toàn nghịch lại Lời Chúa không thể so sánh với sự bao che của tình yêu. Sự bao che, dung túng tội lỗi là đồng lỏa với kẻ phạm tội và vi phạm sự công chính của Thiên Chúa; trong khi sự che chở của tình yêu là gìn giữ, bảo vệ những điều chân thiện mỹ của Lời Chúa và con dân Chúa khỏi mọi hành động tội lỗi.

12. Tình yêu tin mọi sự: Từ ngữ “tin” trong nguyên ngữ của Thánh Kinh là cùng một từ ngữ được dùng trong Giăng 3:16 “Vì Ðức Chúa Trời yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin nơi Con ấy không bị hư mất, mà được sự sống đời đời.” Ý nghĩa trọn vẹn của chữ “tin” là: “công nhận và làm theo.” Công nhận mà không làm theo thì không phải là tin mà chỉ là đồng ý. Thí dụ, có một nhà hảo tâm tuyên bố rằng trước 6 giờ chiều hôm nay, hễ ai bước qua cổng biệt thự của ông sẽ được ông tiếp đãi như khách quý và tặng cho một lượng vàng. Như vậy, chỉ những ai tin và bước qua cổng biệt thự của nhà hảo tâm trước 6 giờ chiều mới nhận được sự thực hiện lời hứa của ông. Những ai tin mà không làm theo lời tuyên bố hoặc làm theo mà không đúng, như bước qua cổng biệt thự sau 6 giờ chiều, thì không thể nhận được gì từ nơi nhà hảo tâm.

Đức Chúa Trời “tin mọi sự” có nghĩa là Ngài công nhận và làm theo tất cả những gì đúng theo tiêu chuẩn yêu thương, thánh khiết, và công bình của Ngài đã được thể hiện trong Thánh Kinh. Đức Chúa Trời “tin mọi sự” có nghĩa là Ngài công nhận và đáp ứng những gì chúng ta kêu cầu, trình dâng, và làm ra trong tiêu chuẩn của Ngài. Là con dân Chúa chúng ta cần “tin mọi sự” trong Lời Chúa, tức là công nhận và làm theo mọi điều Chúa phán dạy, được ghi chép trong Thánh Kinh; đồng thời chúng ta công nhận và đáp ứng tất cả những gì mà các anh chị em của chúng ta nói và làm trong tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời.

Tình yêu tin mọi sự có nghĩa là tình yêu công nhận và làm theo mọi lời phán của Đức Chúa Trời; đồng thời công nhận và đáp ứng tất cả những lời nói và hành động đúng theo lời Chúa của bất cứ ai.

13. Tình yêu trông cậy mọi sự: Từ ngữ “trông cậy” có nghĩa là mong muốn và chờ đợi điều chắc chắn sẽ xảy ra.

Đức Chúa Trời trông cậy toàn bộ ý muốn và chương trình của Ngài được hiện thực để con dân của Ngài được vui sống đời đời trong hạnh phúc với Ngài. Con dân Chúa và muôn vật cũng trông cậy điều đó: “Vì chúng ta thật than thở trong nhà tạm nầy, mà hết sức mong được mặc lấy nhà chúng ta từ trên trời” (II Cô-rinh-tô 5:2). “Vì chúng ta biết rằng muôn vật đều than thở và chịu khó nhọc cho đến ngày nay; không những muôn vật thôi, lại chúng ta, là kẻ có trái đầu mùa của Đức Thánh Linh, cũng than thở trong lòng đang khi trông đợi sự làm con nuôi, tức là sự cứu chuộc thân thể chúng ta vậy” (Rô-ma 8:22, 23). Đó là sự trông cậy phước hạnh (Tít 2:13) và là sự trông cậy trọn vẹn: “Vậy, anh em hãy bền chí như thể thắt lưng, hãy tiết độ, lấy sự trông cậy trọn vẹn đợi chờ ơn sẽ ban cho mình trong khi Đức Chúa Jesus Christ hiện ra” (I Phi-e-rơ 1:13).

Tình yêu trông cậy mọi sự có nghĩa là tình yêu mong muốn và chờ đợi tất cả những gì Chúa hứa trong Thánh Kinh được Ngài làm cho ứng nghiệm; đồng thời mong muốn và chờ đợi tất cả những việc làm đúng với Lời Chúa của con dân Chúa.

14. Tình yêu nín chịu mọi sự: Từ ngữ “nín chịu:” Từ ngữ này khác với từ ngữ “nhẫn nại.” Trong khi “nhẫn nại” có nghĩa là chậm lại việc hình phạt kẻ có lỗi thì “nín chịu” nói đến sức mạnh chịu đựng bất công và nghịch cảnh cho đến cuối cùng, cho đến khi đạt được mục đích.

Đức Chúa Trời là Đấng Toàn Năng, cho nên, không có điều gì Ngài không thể chịu đựng. Nhưng khi Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thế làm người, chịu giới hạn trong xác thịt thì Ngài đã nín chịu mọi nghịch cảnh cho đến khi hoàn thành sự cứu rỗi nhân loại. Con dân Chúa chỉ có thể nín chịu bằng ân điển của Chúa: “Nhưng Chúa phán rằng: Ân điển Ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của Ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối. Vậy, tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi” (II Cô-rinh-tô 12:9). Nhờ đó mà con dân Chúa có thể đồng thanh với Sứ Đồ Phao-lô: “Qua Đấng Christ là Đấng ban thêm sức cho tôi, tôi làm được mọi sự” (Phi-líp 4:13).

Kết Quả của Tình Yêu  – I Phi-e-rơ 4:8

“Nhứt là trong vòng anh em phải có tình yêu chân thật; vì tình yêu che đậy vô số tội lỗi.”

Tình yêu chân thật là tình yêu được mô tả trong I Cô-rinh-tô 13:4-8 trên đây. Mệnh đề: “vì tình yêu che đậy vô số tội lỗi” không có nghĩa là tình yêu bao che và dung túng cho vô số tội lỗi. Từ ngữ “che đậy” trong nguyên tác của Thánh Kinh có nghĩa là: (1) che đậy sự hiểu biết về một điều gì đó; (2) làm cho một điều gì đó không thể hiện thực. Như vậy, “tình yêu che đậy vô số tội lỗi” có nghĩa là: (1) tình yêu khiến cho người ta không hiểu biết cách thức phạm tội, vì thế người ta không thể phạm tội; (2) nhờ đó, tình yêu khiến cho biết bao nhiêu tội lỗi không thể xảy ra.

Một ngày kia, Thiên Chúa của tình yêu sẽ làm mới lại tất cả muôn vật. Kẻ ác, sự dữ, tội lỗi và hậu quả của tội lỗi sẽ bị nhốt đời đời trong hồ lửa (Khải Huyền 20:10-15); và đối với tất cả con dân Chúa, Ngài “sẽ lau hết mọi nước mắt khỏi mắt họ. Sẽ không còn sự chết, không còn buồn khổ, không còn khóc lóc, cũng không còn đau đớn nữa vì những sự cũ đã qua rồi” Khải Huyền 21:4). Đó là lúc kết quả của tình yêu đã kết thành trọn vẹn.

Từ Ngữ Đoán Xét Trong Thánh Kinh

Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ ý nghĩa của từ ngữ “đoán xét” hoặc “xét đoán.” Trong nguyên ngữ của Thánh Kinh, từ ngữ “krinō,” G2919, phiên âm là /kree’-no/, có nhiều nghĩa khác nhau: phân biệt, lựa, chọn; phán đoán; nhận định; thẩm định; xử án; tuyên án; phán quyết, vv… Vì thế, tùy theo văn cảnh mà từ ngữ này phải được dịch  sang tiếng Việt bằng những từ ngữ khác nhau với những nghĩa khác nhau. Thí dụ sau đây trong tiếng Việt cho chúng ta thấy, cùng là một từ ngữ nhưng nếu ở trong văn cảnh khác nhau thì ý nghĩa sẽ khác nhau, nhiều khi hai ý nghĩa của cùng một từ ngữ chẳng có liên quan gì với nhau: “giàu có thì ăn tiêu thoải mái” khác xa với “ăn tiêu để giải cảm.” Cùng là từ ngữ “ăn tiêu” nhưng có khi mang nghĩa “sử dụng tiền bạc, của cải” và có khi mang nghĩa “ăn hạt tiêu” là một thứ gia vị.

Theo “W. E. Vine’s Complete Expository Dictionary” thì Thánh Kinh Tân Ước dùng từ ngữ “krinō” với những ý sau đây:

1. Định tội như một quan tòa:

“Các ngươi đừng định tội ai, để mình khỏi bị định tội(Ma-thi-ơ 7:1)

“Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài đến thế gian, chẳng phải để định tội thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con ấy, mà được cứu”(Giăng 3:17)

2. Xét xử hoặc chịu sự xét xử:

“Ai tin nơi Con ấy, thì chẳng bị định tội. Ai không tin, thì đã bị định tội rồi; vì không tin nơi danh Con Một của Đức Chúa Trời”(Giăng 3:18).

“Phi-lát bèn nói với họ: Các ngươi hãy tự bắt lấy người và xử theo luật của các ngươi. Những người Giu-đa thưa với người rằng: Chúng tôi chẳng được phép giết ai cả”(Giăng 18:31).

“Hãy nói và làm dường như phải chịu luật pháp tự do đoán xét mình”(Gia-cơ 2:12).

3. Phán quyết:

“Vậy, theo phán quyết của tôi, thật chẳng nên khuấy rối những người ngoại trở về cùng Đức Chúa Trời” (Công Vụ Các Sứ Đồ 15:19).

“Hễ ghé qua thành nào, hai người cũng dặn biểu phải giữ mấy lề luật mà các sứ đồ và trưởng lão tại thành Giê-ru-sa-lem đã phán quyết(Công Vụ Các Sứ Đồ 16:4).

“Còn người ngoại đã tin, chúng tôi có viết thơ cho họ về điều chúng tôi đã phán quyết: là chỉ phải kiêng ăn của cùng thần tượng, máu và thú vật chết ngộp, cùng chớ gian dâm”(Công Vụ Các Sứ Đồ 21:25).

4. Kết tội, buộc tội:

“Người nào chối bỏ Ta và không nhận lãnh những lời của Ta, thì đã có kẻ kết tội người. Lời Ta đã phán, lời ấy sẽ kết tội người trong ngày sau cùng”(Giăng 12:48).

“Vì dân và các quan ở thành Giê-ru-sa-lem chẳng nhìn biết Đức Chúa Jesus nầy, nên lúc kết tội Ngài, chúng đã làm ứng nghiệm lời của các đấng tiên tri mà người ta thường đọc trong mỗi ngày Sa-bát”(Công Vụ Các Sứ Đồ 13:27).

“Kẻ vốn không chịu cắt bì, mà làm trọn luật pháp sẽ kết tội ngươi, là kẻ dẫu có chữ của luật pháp và phép cắt bì, lại phạm luật pháp”(Rô-ma 2:27).

5. Thi hành án phạt:

Đức Chúa Trời lại phán rằng: Nhưng Ta sẽ thi hành án phạt dân đã bắt chúng nó làm tôi, kế đó, chúng nó sẽ ra khỏi, và thờ phượng Ta trong nơi nầy” (Công Vụ Các Sứ Đồ 7:7).

“Hầu cho hết thảy những người không tin lẽ thật, song chuộng sự không công bình, đều bị phục dưới sự thi hành án phạt của Ngài”(II Tê-sa-lô-ni-ca 2:12).

6. Dính dáng đến một vụ thưa kiện:

a) với tư cách là nguyên cáo: Ma-thi-ơ 5:40; I Cô-rinh-tô 6:1;

b) hoặc với tư cách là bị cáo: Công Vụ Các Sứ Đồ 23:6.

7. Cai trị:

“Đức Chúa Jesus đáp rằng: Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, đến kỳ muôn vật đổi mới, là khi Con người sẽ ngự trên ngôi vinh quang của Ngài, thì các ngươi là kẻ đã theo Ta, cũng sẽ ngồi trên mười hai ngôi, mà xét đoán mười hai chi phái I-sơ-ra-ên”(Ma-thi-ơ 19:28).

8. Suy xét, phán đoán, cho rằng:

“Si-môn thưa rằng: Tôi tưởng là người mà chủ nợ đã tha nhiều nợ hơn. Đức Chúa Jesus phán rằng: Ngươi phán đoán phải lắm”(Lu-ca 7:43).

“Đừng phán xét theo bề ngoài, nhưng phải phán xét theo sự phán xét công chính”(Giăng 7:24).

“Nhưng Phi-e-rơ và Giăng trả lời rằng: Chính các ông hãy suy xét, trước mặt Đức Chúa Trời có nên vâng lời các ông hơn là vâng lời Đức Chúa Trời chăng”(Công Vụ Các Sứ Đồ 4:19)?

“Người nầy cho rằng ngày nầy hơn ngày khác, kẻ kia cho rằng mọi ngày đều bằng nhau; ai nấy hãy tin chắc ở trí mình”(Rô-ma 14:5).

9. Có ý định, quyết định:

“Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, I-sác, và Gia-cốp, Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta đã làm vinh quang đầy tớ Ngài là Đức Chúa Jesus, là Đấng mà các ngươi đã bắt nộp và chối bỏ trước mặt Phi-lát, trong khi người có ý tha Ngài ra”(Công Vụ Các Sứ Đồ 3:13).

“Vì Phao-lô đã quyết định đi qua trước thành Ê-phê-sô xong không dừng lại tại đó, e cho chậm trễ trong cõi A-si. Người vội đi đặng có thể đến thành Giê-ru-sa-lem kịp trong ngày Lễ Ngũ Tuần”(Công Vụ Các Sứ Đồ 20:16).

“Vì tôi đã định ý rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Đức Chúa Jesus Christ, và Đức Chúa Jesus Christ bị đóng đinh trên cây thập tự”(I Cô-rinh-tô 2:2).

Những Câu Thánh Kinh Có Từ Ngữ Đoán Xét Bị Lạm Dụng

Với những ý nghĩa được dùng trên đây của từ ngữ “đoán xét” (“krinō“), chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa của những câu Thánh Kinh mang từ ngữ này thường bị lạm dụng.

1. Ma-thi-ơ 7:1, 2 

“Các ngươi đừng định tội ai, để mình khỏi bị định tội. Vì các ngươi định tội người ta thể nào, thì họ cũng định tội lại thể ấy; các ngươi lường cho người ta mực nào, thì họ cũng lường lại cho mực ấy.”

Nếu Chúa chỉ phán như thế thì rõ ràng là Chúa không cho phép có sự lên án và kết tội người có tội. Tuy nhiên khi chúng ta đặt hai câu này vào trong văn cảnh của nó là Ma-thi-ơ 7:1-5 thì chúng ta thấy đây là lời quở trách của Đức Chúa Jesus dành cho những kẻ giả hình, tức là những kẻ phạm cùng một tội như người khác, thậm chí còn phạm tội trầm trọng hơn, mà lại đóng vai quan tòa buộc tội người khác. Chúa không hề có ý ngăn cấm không cho phép có sự xét đoán công chính. Vì nếu thế sẽ không ai được làm quan tòa và Hội Thánh cũng không thể lên án và kỷ luật kẻ có tội mà không chịu cải hối.

Ma-thi-ơ 7:1-5

1 Các ngươi đừng định tội ai, để mình khỏi bị định tội.

2 Vì các ngươi định tội người ta thể nào, thì họ cũng định tội lại thể ấy; các ngươi lường cho người ta mực nào, thì họ cũng lường lại cho mực ấy.

3 Sao ngươi dòm thấy cái rác trong mắt anh em ngươi, mà chẳng thấy cây đà trong mắt mình?

4 Sao ngươi dám nói với anh em rằng: Để tôi lấy cái rác ra khỏi mắt anh, mà chính ngươi có cây đà trong mắt mình?

5 Hỡi kẻ giả hình! trước hết phải lấy cây đà khỏi mắt mình đi, rồi mới thấy rõ mà lấy cái rác ra khỏi mắt anh em mình được.

Ý nghĩa của Ma-thi-ơ 7:1, 2 về sau được Đức Thánh Linh, qua ngòi bút của Phao-lô, nhắc lại trong Rô-ma 2:1, 3:

“Vậy hỡi người kia, ngươi là ai mặc lòng, hễ đoán xét kẻ khác thì không thể chữa mình được; vì trong khi đoán xét họ, ngươi cũng lên án cho chính mình ngươi nữa, bởi ngươi đoán xét họ, mà cũng làm các việc như họ… Hỡi người đoán xét kẻ phạm những việc dường ấy mà mình cũng phạm kia, vậy ngươi tưởng rằng chính mình ngươi sẽ tránh khỏi sự phán xét của Đức Chúa Trời sao?”

2. Lu-ca 6:37

“Đừng đoán xét ai, thì các ngươi khỏi bị đoán xét; đừng lên án ai, thì các ngươi khỏi bị lên án; hãy tha thứ, thì ngươi sẽ được tha thứ.”

Ý nghĩa của từ ngữ “đoán xét” trong câu này liên quan đến những điều Chúa dạy các môn đồ của Ngài trước đó, từ câu 27 đến câu 36, nói đến sự yêu thương kẻ thù, làm ơn cho kẻ ghét mình, chúc phước cho kẻ rủa mình, cầu nguyện cho kẻ sỉ nhục mình, làm cho người điều mình muốn người làm cho mình, và hãy thương xót như Đức Chúa Cha là Đấng hay thương xót. Trong văn cảnh đó, Chúa dạy chúng ta đừng đoán xét người ngoại là kẻ thù của chúng ta vì cớ họ ghét chúng ta, bách hại chúng ta, làm ra những điều bất công đối với chúng ta. Chúng ta cần cư xử với người ngoại như vậy vì chính chúng ta đã được hưởng ơn tha thứ của Chúa. Việc đoán xét người ngoại thuộc về Đức Chúa Trời và các nhà cầm quyền Chúa đã lập nên:

“Vì chưng có phải tôi nên đoán xét kẻ ở ngoài sao? Há chẳng phải anh em nên đoán xét những người ở trong sao? Còn như kẻ ở ngoài, thì Đức Chúa Trời sẽ đoán xét họ. Hãy trừ bỏ kẻ gian ác khỏi anh em” (I Cô-rinh-tô 5:12, 13).

“Vì quan quyền là chức việc của Thiên Chúa để làm ích cho ngươi. Song nếu ngươi làm ác, thì hãy sợ, vì người cầm gươm chẳng phải là vô cớ; người là chức việc của Thiên Chúa để làm ra sự công bình và phạt kẻ làm dữ”(Rô-ma 13:4).

3. Rô-ma 14:13

“Vậy chúng ta chớ xét đoán nhau; nhưng thà nhứt định đừng để hòn đá vấp chơn trước mặt anh em mình, và đừng làm dịp cho người sa ngã.”

Đây là câu kết luận cho những điều Sứ Đồ Phao-lô đã trình bày trước đó, từ câu 1-6, về việc trong Hội Thánh có sự phê bình, chỉ trích lẫn nhau giữa người ăn thịt và người ăn rau, giữa người chọn kiêng ăn vào ngày này với người chọn kiêng ăn vào ngày kia. Ai nấy cho rằng mình đúng và lên án người khác là sai. Sự đoán xét như vậy là không công bình, tức không dựa trên lẽ thật của Lời Chúa, cho nên Phao-lô khuyên Hội Thánh đừng làm ra những sự đoán xét như vậy. Phao-lô không hề có ý nói rằng con dân Chúa hoàn toàn không được đoán xét lẫn nhau, vì nếu thế, ông đã không bảo Hội Thánh phải đoán xét những người phạm tội trong Hội Thánh và trừ bỏ họ ra khỏi Hội Thánh, như chúng ta đã nói đến ở trên.

4. I Cô-rinh-tô 4:5

“Vậy, chớ xét đoán sớm quá, hãy đợi Chúa đến; chính Chúa sẽ tỏ những sự giấu trong nơi tối ra nơi sáng, và bày ra những sự toan định trong lòng người; bấy giờ, ai nấy sẽ bởi Đức Chúa Trời mà lãnh sự tôn vinh mình đáng lãnh.”

Sự xét đoán mà Phao-lô nói đến ở đây là sự đoán xét để luận công của những người hầu việc Chúa. Trong Hội Thánh Cô-rinh-tô lúc bấy giờ có sự chia bè, lập đảng; người thì tung hô Phao-lô, người thì tung hô A-bô-lô (I Cô-rinh-tô 3:4). Có lẽ mỗi phe thi nhau kể thành tích của người mà họ mến chuộng.  Vì thế, trong thư I Cô-rinh-tô từ 3:1-22 Phao-lô quở trách và nhắc cho họ biết chỉ Đấng Christ là nền Hội Thánh, những người hầu việc Chúa đồng công với nhau trong việc xây dựng Hội Thánh nhưng chính Đức Chúa Trời là Đấng làm cho Hội Thánh lớn lên. Phao-lô giải thích cho họ biết là mọi việc làm của con dân Chúa sẽ bị thử nghiệm bởi Đức Chúa Jesus Christ và Ngài sẽ ban thưởng cho mỗi người tùy theo giá trị của mỗi việc làm. Ngoài ra, hết thảy mọi sự thuộc về Hội Thánh, Hội Thánh thuộc về Đấng Christ, Đấng Christ thuộc về Đức Chúa Trời, cho nên, con dân Chúa không nên chia bè, lập đảng tự phân cách mình với nhau. Phao-lô khuyên họ hãy nhường sự đoán xét luận công khen thưởng cho Chúa, vì chỉ có chính Chúa sẽ tỏ những sự giấu trong nơi tối ra nơi sáng, và bày ra những sự toan định trong lòng người,mà ban thưởng cách xứng đáng. I Cô-rinh-tô 4:5 hoàn toàn không liên quan gì đến việc đoán xét những điều không công bình theo lời Chúa dạy trong Lu-ca 12:57 hoặc đoán xét những kẻ phạm tội trong Hội Thánh theo lời Chúa dạy trong Ma-thi-ơ 18:17 và I Cô-rinh-tô 5:13.

5. Cô-lô-se 2:16

“Vì vậy, chớ để ai đoán xét anh em về sự ăn hay sự uống, hoặc trong sự dự phần của một ngày lễ, hoặc của một ngày mặt trăng mới, hoặc của những ngày Sa-bát.”

Trước hết, trong Bản Dịch Truyền Thống dịch là “chớ có ai đoán xét anh em” không đúng với nguyên ngữ, là “chớ để ai đoán xét anh em.” Đây cũng là một câu thường bị lạm dụng để ủng hộ cho lý luận “con dân Chúa không cần giữ ngày Sa-bát.” Tuy nhiên, đây không phải là câu mà Phao-lô hủy bỏ sự giữ ngày Sa-bát và ra lệnh cho Hội Thánh không được đoán xét những người không giữ ngày Sa-bát. Chính Phao-lô là người có thói quen giữ ngày Sa-bát:

“Phao-lô tới nhà hội theo thói quen mình, và trong ba ngày Sa-bát bàn luận với họ”(Công Vụ Các Sứ Đồ 17:2).

“Hễ đến ngày Sa-bát, thì Phao-lô giảng luận trong nhà hội, khuyên dỗ người Giu-đa và người Gờ-réc”(Công Vụ Các Sứ Đồ 18:4).

Kế tiếp, từ ngữ Sa-bát được dùng trong câu này là số nhiều, dùng để chỉ các ngày lễ Sa-bát trong năm, không phải ngày Sa-bát cuối tuần. “Sa-bát” có nghĩa là “ngưng lao động,” cho nên ngày Sa-bát là ngày ngưng lao động. Ngoài ngày ngưng lao động cuối tuần là ngày thứ bảy thì mỗi năm có nhiều ngày ngưng lao động trong các dịp lễ hội, và những ngày đó được gọi là “những ngày Sa-bát.” Ý nghĩa rõ ràng của câu này là: “Tất cả những hình thức lễ nghi trong thời Cựu Ước tiêu biểu cho sự chuộc tội, sự thánh hóa, sự thờ phượng Thiên Chúa đã được hoàn tất trong Đấng Christ, cho nên, ngày nay sự vâng giữ các lễ nghi đó không còn phải theo hình thức cũ nữa mà theo hình thức mới trong tâm thần của con dân Chúa (thay vì tại đền thờ Giê-ru-sa-lem) và theo lẽ thật của Lời Chúa được giải bày trong Tân Ước. Vì vậy, đừng cho phép ai lên tiếng phê phán mình cách ăn uống, như sự không kiêng cử các thức ăn vốn bị coi là không tinh sạch, hoặc cách thức giữ các ngày lễ, ngày trăng mới, và những ngày lễ Sa-bát không theo hình thức cũ!”

Câu này hoàn toàn không liên quan gì đến việc đoán xét những điều không công bình theo lời Chúa dạy trong Lu-ca 12:57 hoặc đoán xét những kẻ phạm tội trong Hội Thánh theo lời Chúa dạy trong Ma-thi-ơ 18:17 và I Cô-rinh-tô 5:13.

6. Gia-cơ 4:11, 12

“Hỡi anh em, chớ vu khống nhau. Ai vu khống anh em mình và kết tội anh em mình, tức là vu khống luật pháp và kết tội luật pháp. Vả, nếu ngươi kết tội luật pháp, thì ngươi chẳng phải là kẻ vâng giữ luật pháp, bèn là người kết tội luật pháp vậy. Chỉ có một Đấng lập ra luật pháp và một Đấng kết tội, tức là Đấng cứu được và diệt được. Nhưng ngươi là ai, mà dám kết tội kẻ lân cận mình?”

Bản Dịch Truyền Thống dịch là “Ai nói hành anh em mình hoặc xét đoán anh em mình” là không đúng vì trong nguyên ngữ là: “Ai vu khống anh em mình kết tội anh em mình;” tức là hành động kết tội theo sau việc vu khống. Từ ngữ “nói hành” được dùng trong bản Dịch Truyền Thống, trong nguyên ngữ có nghĩa là “vu khống,” tức là nói oan cho người khác. Vì thế, ý nghĩa của Gia-cơ 14:11, 12 là: “Đừng vu khống nhau. Ai vu khống anh em mình rồi dựa vào lời vu khống đó để kết tội anh em mình thì người đó vu khống luật pháp và kết tội luật pháp. Bởi vì khi một người dùng luật pháp để kết tội người khác về một việc không có thật do mình vu khống thì người ấy đã làm cho luật pháp ra xấu, tức là đã vu khống cho luật pháp và kết tội luật pháp.”

Rõ ràng, câu này cũng hoàn toàn không liên quan gì đến việc đoán xét những điều không công bình theo lời Chúa dạy trong Lu-ca 12:57 hoặc đoán xét những kẻ phạm tội trong Hội Thánh theo lời Chúa dạy trong Ma-thi-ơ 18:17 và I Cô-rinh-tô 5:13.

Không Được Đụng Đến Người Được Chúa Xức Dầu

Cũng liên quan đếnsự đoán xét, có một câu thường được các bậc chức sắc trong các giáo hội mang danh Chúa sử dụng để chống lại những ai lên tiếng phê bình, chỉ trích nếp sống nghịch Lời Chúa của họ. Câu đó hoàn toàn không có trong Thánh Kinh nhưng được họ khẳng định là có. Đó là câu: “Không được đụng đến người Chúa đã xức dầu,” và câu này được họ dùng Rô-ma 14:4 để củng cố: “Ngươi là ai mà dám xét đoán tôi tớ của kẻ khác? Nó đứng hay ngã, ấy là việc chủ nó; song nó sẽ đứng, vì Chúa có quyền cho nó đứng vững vàng”.

Thật ra, tương tự như Sa-tan bẻ cong Lời Chúa khi biến: “Vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết” thành “Hai ngươi chẳng chết đâu” (Sáng Thế Ký 2:17; 3:4); họ đã bẻ cong những lời nói của Vua Đa-vít, được ghi lại trong các câu liệt kê dưới đây:

I Sa-mu-ên 24:7 “Người nói cùng kẻ theo mình rằng: Nguyện Đức Giê-hô-va chớ để ta phạm tội cùng chúa ta, là kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va, mà tra tay trên mình người, vì người là kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va.”

I Sa-mu-ên 24:11 “Kìa, hãy xem, chính mắt vua có thế thấy được rằng ngày nay, trong hang đá, Đức Giê-hô-va đã phó vua vào tay tôi. Có người biểu giết vua; nhưng tôi dong-thứ cho vua, mà rằng: ta không tra tay trên mình chúa ta, vì người là đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va.”

I Sa-mu-ên 26:9 “Nhưng Đa-vít bảo A-bi-sai rằng: Đừng giết người; ai có thế tra tay trên kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va mà không bị phạt?”

I Sa-mu-ên 26:11 “Nguyện Đức Giê-hô-va giữ, chớ cho tôi tra tay vào kẻ chịu xức dầu của Ngài! Ta xin ngươi chỉ hãy lấy cây giáo nơi đầu giường người cùng cái bình nước, rồi chúng ta hãy đi.”

I Sa-mu-ên 26:23 “Đức Giê-hô-va sẽ báo trả cho mọi người tùy theo sự công bình và trung tín của người; vì ngày nay Ngài đã phó vua vào tay tôi, mà tôi không khứng tra tay vào đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va.”

II Sa-mu-ên 1:14 “Đa-vít nói rằng: Cớ sao ngươi không sợ giơ tay lên giết kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va?”

Đọc xong những câu Thánh Kinh kể trên chúng ta nhận thấy ý nghĩa câu nói của Vua Đa-vít là “Đừng giết người chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va,” ông không nói đừng phê bình, đừng quở trách những việc làm sai trái của họ. Trong thực tế, Vua Đa-vít đã thẳng thắn quở trách hành động sai trái, bất công của Vua Sau-lơ trước mặt các tướng sĩ, khi Vua Sau-lơ vì ganh tỵ mà đuổi giết ông (I Sa-mu-ên 24:10-16).

Sứ Đồ Phao-lô truyền lệnh cho Ti-mô-thê về việc quở trách và sửa phạt các trưởng lão có lỗi trong Hội Thánh như sau:

“Đừng chấp một cái đơn nào kiện một trưởng lão mà không có hai hoặc ba người làm chứng. Kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ”(I Ti-mô-thê 5:19, 20).

Sự xức dầu trong Cựu Ước tiêu biểu cho sự một người được Đức Chúa Trời kêu gọi, giao cho chức vụ, ban cho thẩm quyền, năng lực và ân tứ để hầu việc Chúa. Ngày nay, mỗi một người tin và làm theo Lời Chúa đều được kêu gọi làm con cái của Đức Chúa Trời, làm sứ giả rao giảng Tin Lành (Ma-thi-ơ 28:19, 20), làm vua và thầy tế lễ (I Phi-e-rơ 2:9; Khải Huyền 1:6), được xức dầu qua sự kiện được báp-tem bằng Thánh Linh; và như thế, mỗi con dân chân thật của Chúa đều là “người chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va.” Hễ ai giết những người chịu xức dầu của Chúa thì sẽ bị Thiên Chúa hình phạt xứng đáng nhưng hễ người chịu xức dầu của Chúa phạm lỗi thì phải bị quở trách trước Hội Thánh để làm gương cho người khác.

Những giáo sư giả, tiên tri giả, kẻ chăn thuê, quân trộm cướp, sói đội lốt chiên, dê, cỏ lùng “mượn đạo tạo đời” không bao giờ là tôi tớ của Chúa, làm gì được Chúa xức dầu? Và vì thế, Rô-ma 14:4 không hề được áp dụng cho họ. Mặt khác, ý nghĩa của Rô-ma 14:4 là nói đến những người thật lòng tin Chúa nhưng còn non kém trong đức tin thì sẽ được Chúa làm cho họ vững mạnh; chứ không phải nói đến những người không chịu từ bỏ nếp sống tội, làm gương xấu cho Hội Thánh.

Rất có thể, ngày nay, những kẻ giả hình đó mang trên mình nhiều bằng cấp thần học, giữ những chức vụ quan trọng trong các tổ chức giáo hội, quản nhiệm những tổ chức tôn giáo có số đông đến hàng ngàn hay hàng chục ngàn người; họ ồn áo, náo động, nhân danh Chúa nói tiên tri, đuổi quỷ và làm ra nhiều dấu kỳ phép lạ; nhưng một ngày không xa nữa, chính Đức Chúa Jesus Christ sẽ phán với họ rằng: “Hỡi những kẻ làm gian ác, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi Ta” (Ma-thi-ơ 7:22, 23). “Ta chẳng biết các ngươi bao giờ” có nghĩa là họ chưa bao giờ thật lòng tin nhận Chúa, chưa bao giờ ở trong sự cứu rỗi của Ngài, cho nên, Chúa chưa bao giờ biết đến họ trong gia đình của Ngài.

Con Dân Chúa và Sự Đoán Xét

Lý luận cho rằng con dân Chúa không được đoán xét là lý luận hoàn toàn nghịch lại lời Chúa dạy trong Thánh Kinh. Trái lại, Chúa truyền lệnh cho con dân Chúa phải đoán xét mọi sự (Lu-ca 12:57) và đoán xét lẫn nhau trong Hội Thánh (I Cô-rinh-tô 5:12, 13) theo lẽ công bình, tức là dựa trên sự yêu thương, thánh khiết, và công chính của Lời Chúa mà đoán xét mọi sự và đoán xét lẫn nhau, khuyên dạy lẫn nhau, quở trách lẫn nhau. Nếu kẻ có tội không chịu cải hối thì phải sửa phạt.

Trong Lu-ca 12:57 Chúa quở trách dân chúng đến nghe Ngài giảng rằng, họ đã không tự mình suy xét xem điều gì là công bình để biết và làm theo, đồng thời tránh làm ra những điều không công bình:

“Lại sao các ngươi cũng không tự mình xét đoán điều gì là công bình?”

Trong Giăng 7:24 Chúa quở trách những người Do-thái đã theo hình thức bên ngoài mà xét đoán Chúa và Ngài khuyên họ phải xét đoán theo lẽ công bình. Xét đoán theo lẽ công bình là xét đoán theo tiêu chuẩn của Lời Chúa:

“Đừng cứ bề ngoài mà xét đoán, nhưng phải xét đoán theo lẽ công bình.”

Trong I Cô-rinh-tô 5:12, 13 Sứ Đồ Phao-lô nhắc và chỉ thị cho Hội Thánh không nên đoán xét người ngoại nhưng phải đoán xét những người trong Hội Thánh; và phải khai trừ kẻ gian ác ra khỏi Hội Thánh. Kẻ gian ác là kẻ phạm tội mà không chịu cải hối:

“Vì chưng có phải tôi nên đoán xét kẻ ở ngoài sao? Há chẳng phải anh em nên đoán xét những người ở trong sao? Còn như kẻ ở ngoài, thì Đức Chúa Trời sẽ đoán xét họ. Hãy trừ bỏ kẻ gian ác khỏi anh em.”

Trong I Cô-rinh-tô 6:1 Sứ Đồ Phao-lô nói đến việc anh chị em trong Hội Thánh có sự gì nghịch cùng nhau thì hãy để cho người trong Hội Thánh đoán xét, đừng đưa ra tòa án của người thế gian, khiến cho người thế gian đoán xét con dân Chúa.

Khi trong anh em ai có sự nghịch cùng người khác, sao dám để cho kẻ không công bình đoán xét hơn là cho các thánh đồ?

Kết Luận

Dấu hiệu tỏ ra bên ngoài để thế gian nhận biết con dân Chúa chính là sự kiện con dân Chúa yêu thương lẫn nhau: “Nếu các ngươi có yêu lẫn nhau, thì bởi đó, mọi người sẽ biết các ngươi là những môn đồ của Ta” (Giăng 13:35). Nhưng trong sự yêu thương có sự quở trách, khuyên dạy, vì “sự quở trách khuyên dạy là con đường sự sống” (Châm Ngôn 6:23). Để có thể quở trách, khuyên dạy thì trước hết phải có sự đoán xét công chính, là điều mà con dân Chúa phải luôn thực hiện (Lu-ca 12:57). Sự quở trách phải công khai trước mặt Hội Thánh, theo lời Chúa dạy, để làm gương: “Kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ” (I Ti-mô-thê 5:20). Đối với kẻ rời bỏ nếp sống Đạo trong Chúa, phạm tội không ăn năn thì Hội Thánh phải kỷ luật nặng nề, bằng cách dứt kẻ ấy ra khỏi Hội Thánh: “Hãy trừ bỏ kẻ gian ác khỏi anh em” (I Cô-rinh-tô 5:13). “Sự hình phạt nặng nề dành cho kẻ bỏ chánh lộ” (Châm Ngôn 15:10).

Nguyện Đức Thánh Linh dùng mọi lẽ thật của Lời Chúa để tẩy rửa tâm trí chúng ta sạch hết những ý tưởng sai lạc mà Sa-tan và các tôi tớ của nó đã gieo rắc trong quá khứ. Nguyện Đức Thánh Linh dùng mọi lẽ thật của Lời Chúa để giúp chúng ta nhận thức được những lý luận lạm dụng Lời Chúa trong tương lai và ban cho chúng ta ơn cùng thẩm quyền để đoán xét chúng. Nguyện Lời Chúa thánh hóa chúng ta mỗi ngày trong cuộc sống. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
05.05.2012

Ghi Chú

[1] Từ ngữ “kỵ tà” trong những câu Thánh Kinh sau đây đã được hiệu đính thành “hay ghen” trong “Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012”Xuất Ê-díp-tô Ký 20:5; 34:14; Dân Số Ký 25:11; Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:24; 5:9; 6:15; 29:20; 24:19.

Share This:

9,561 views

Các Giao Ước của Đức Chúa Trời

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Ghi Chú: Bấm vào các từ ngữ Hê-bơ-rơ hoặc Hy-lạp để nghe phát âm. Bấm vào các mã số Strong (bắt đầu bằng H hoặc G) để xem định nghĩa trong tiếng Anh.

Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này

I. Dẫn Nhập

Đức tin của Cơ-đốc nhân được xây dựng trên Lời của Đức Chúa Trời, là Thánh Kinh, do các tiên tri của Đức Chúa Trời cùng các sứ đồ của Đức Chúa Jesus Christ rao giảng và ghi chép lại. Điều đó được chính Lời của Chúa khẳng định trong Thánh Kinh, thư Ê-phê-sô 2:20:

“Anh em đã được dựng nên trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri, chính Đức Chúa Jesus Christ là đá góc nhà.”

Nội dung của Thánh Kinh là sự bày tỏ về Đức Chúa Trời và tình yêu của Ngài dành cho loài người qua các giao ước do chính Ngài lập nên với loài người. Những tiên tri của Đức Chúa Trời thời Cựu Ước (Giao Ước Cũ) ghi lại các giao ước của Đức Chúa Trời lập nên với loài người trong từng giai đoạn lịch sử, trước khi Đấng Christ đến thế gian, là những giao ước làm nền tảng và hình bóng cho giao ước cuối cùng, còn gọi là Giao Ước Mới (Tân Ước), do Đức Chúa Jesus Christ làm trung bảo (người đứng giữa hai bên kết ước làm bão lãnh cho sự thi hành giao ước) và thi hành. Các sứ đồ ghi lại và giải thích ý nghĩa, kết quả của Giao Ước Mới.

Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu về các giao ước của Đức Chúa Trời đã lập ra với loài người để có thể hiểu rõ nền tảng đức tin của Cơ-đốc nhân.

II. Ý Nghĩa và Các Yếu Tố của Giao Ước

Theo nguyên ngữ của Thánh Kinh, từ ngữ “giao ước” trong tiếng Hê-bơ-rơ (Hebrew) là “berı̂yth,” H1285, phiên âm là /be-rít/, có nghĩa là “sự ràng buộc,” và trong tiếng Hy-lạp (Greek) là “diathēkē,” G1242, phiên âm là /đi-a-phế-kê/, có nghĩa là “giao ước” hoặc “lời di chúc.” Giao ước là sự đồng ý giữa hai hay nhiều người hoặc hai hay nhiều nhóm người về một điều gì đó. Giao ước bao gồm bốn yếu tố sau đây:

1. Các bên dự phần trong giao ước: Có thể là giữa các cá nhân như Áp-ra-ham lập giao ước với Vua A-bi-mê-léc (Sáng Thế Ký 21:27). Có thể là giữa các dân tộc như dân I-sơ-ra-ên lập giao ước với dân Ga-ba-ôn (Giô-suê 9:3-16). Có thể là giữa Đức Chúa Trời và một người như Đức Chúa Trời lập giao ước với Nô-ê (Sáng Thế Ký 6:18). Có thể là giữa Đức Chúa Trời và một dân tộc như Đức Chúa Trời lập giao ước với dân I-sơ-ra-ên (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:27). Có thể là giữa Đức Chúa Trời và tất cả những ai muốn được cứu rỗi như Giao Ước Mới mà Đức Chúa Trời đã lập và được Đức Chúa Jesus Christ bảo chứng bằng máu của Ngài (Giê-rê-mi 31:31; Lu-ca 22:20; Hê-bơ-rơ 9:15).

2. Các điều kiện trong giao ước: Trong mỗi giao ước đều có các điều kiện, tức là các bổn phận, mà mỗi bên kết ước phải thi hành. Tuy nhiên, trong một số các giao ước của Đức Chúa Trời đối với loài người thì về phía loài người không bị ràng buộc phải làm một điều gì cả nhưng về phía Đức Chúa Trời thì Ngài tự ràng buộc mình làm ra những điều phước hạnh cho loài người. Các giao ước mà Đức Chúa Trời không đặt ra điều kiện hay bổn phận cho loài người là các giao ước do Ngài thiết lập dựa trên đức tin và sự vâng lời của loài người đối với Ngài đã được thể hiện trước đó, làm cho Ngài được vui lòng, như giao ước Ngài lập ra với Nô-ê sau cơn nước lụt.

3. Các kết quả từ giao ước: Có hai loại kết quả ra từ giao ước: (1) Lời hứa và phúc lợi dành cho sự thi hành trọn vẹn các điều kiện trong giao ước. (2) Lời cảnh cáo và hình phạt dành cho sự làm ra những điều trái nghịch với hoặc không thi hành chính xác các điều kiện trong giao ước. Riêng trong các giao ước có điều kiện Đức Chúa trời lập ra với loài người thì hai kết quả trên đây chỉ áp dụng về phía loài người; về phía Đức Chúa Trời thì Ngài dành quyền hủy bỏ lời hứa của Ngài khi loài người vi phạm các điều kiện của giao ước.

4. Sự bảo đảm cho giao ước: Giao ước nào cũng phải có sự bảo đảm cho sự thi hành và hoàn thành. Đối với loài người thì có thể là một lễ vật như trường hợp Áp-ra-ham dâng chiên và bò cho Vua A-bi-mê-léc (Sáng Thế Ký 21:27); hoặc dựng nên tiêu chí bằng một đống đá như Gia-cốp kết ước với La-ban (Sáng Thế Ký 31:48); hoặc nhân danh Đức Giê-hô-va như trong trường hợp Giô-na-than kết ước cùng Đa-vít (I Sa-mu-ên 20:8)… Riêng Đức Chúa Trời thì Ngài chỉ danh của Ngài để thề (Sáng Thế Ký 22:16; Phục Truyền Luật Lệ Ký 29:12; Hê-bơ-rơ 6:13), dùng máu của bò tơ để bảo đảm cho Giao Ước Cũ Ngài lập ra với dân I-sơ-ra-ên (Xuất Ê-díp-tô Ký 24:5-8) và làm hình bóng về sự Ngài sẽ dùng chính máu của Đấng Christ để làm bảo đảm cho Giao Ước Mới (Giê-rê-mi 31:31; Lu-ca 22:20).

III. Những Đặc Điểm của Các Giao Ước do Đức Chúa Trời Lập Ra với Loài Người

Có bảy đặc điểm trong các giao ước do Đức Chúa Trời lập ra với loài người:

1. Đức Chúa Trời chủ động, thiết lập các giao ước ban lời hứa về sự cứu rỗi, sự quan phòng, và sự ban phước của Ngài đối với loài người. Tất cả các giao ước giữa Đức Chúa Trời với loài người đều do chính Đức Chúa Trời chủ động lập nên. Nội dung của các giao ước bao gồm: (1) Lời hứa về sự cứu rỗi loài người ra khỏi tội lỗi và hậu quả của tội lỗi. (2) Lời hứa về sự quan phòng của Đức Chúa Trời đối với loài người khi loài người còn sống trong xác thịt. (3) Lời hứa về sự Đức Chúa Trời ban phước cho loài người trong cuộc sống của đời này và các phước hạnh đời đời trong trời mới, đất mới.

2. Các giao ước của Đức Chúa Trời luôn mang tính chất tiên tri, báo trước những điều Ngài sẽ làm cho loài người. Có thể nói, các giao ước của Đức Chúa Trời là những lời Ngài tự ý hứa với loài người về những điều phước hạnh Ngài muốn làm và sẽ làm thành cho loài người. Lúc các giao ước được thiết lập là lúc các điều khoản trong giao ước chưa được thi hành, vì thế các giao ước của Đức Chúa Trời đối với loài người luôn mang tính chất tiên tri.

3. Tất cả mọi điều khoản trong các giao ước Đức Chúa Trời yêu cầu loài người phải thi hành đều có chung mục đích là khiến cho loài người được luôn luôn giống như Đức Chúa Trời trong sự thánh khiết, yêu thương, và công chính. Điển hình như Mười Điều Răn trong Giao Ước Cũ tại Si-na-i hay ba điều kiện trong Giao Ước Mới tại Gô-gô-tha: (1) Hãy ăn năn, đừng phạm tội nữa; (2) Hãy tin cậy Đấng Christ; (3) Hãy nên thánh. Toàn bộ Thánh Kinh thời Tân Ước triển khai ba điều kiện trong Giao Ước Mới thành các mệnh lệnh chi tiết như: Hãy bước đi theo Thánh Linh, chớ hề làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt. Chớ yêu thế gian và những sự thuộc về thế gian. Hãy yêu thương, tha thứ kẻ thù. Phải từ bỏ mọi sự, mỗi ngày vác thập tự giá mình đi theo Chúa. Hãy trung tín với Chúa cho đến chết…

4. Các giao ước của Đức Chúa Trời dù bắt đầu với một cá nhân nhưng luôn bao gồm cả gia tộc, dù bắt đầu với một gia tộc nhưng luôn bao gồm cả một dân tộc, và dù bắt đầu với một dân tộc nhưng luôn bao gồm cả muôn dân.

♦ Khi Đức Chúa Trời kết ước trước cơn nước lụt với Nô-ê thì giao ước đó bao gồm vợ con và các con dâu của ông cùng các loài sinh vật được ông mang theo (Sáng Thế Ký 6:18-20). Khi Đức Chúa Trời kết ước cùng Nô-ê và dòng dõi của ông sau cơn nước lụt thì giao ước đó bao gồm tất cả mọi người và những sinh vật khác trong thế gian (Sáng Thế Ký 9:8-17).

♦ Khi Đức Chúa Trời kết ước với Áp-ra-ham thì giao ước đó bao gồm dòng dõi ông về phần thuộc thể (Sáng Thế Ký 15:18) còn về phần thuộc linh thì bao gồm tất cả những ai có đức tin nơi Đức Chúa Trời giống như ông. Điều đó dẫn đến sự kiện, về phương diện thuộc linh, giao ước của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham bao gồm Hội Thánh: “Vậy, người đã nhận lấy dấu cắt bì, như dấu ấn của sự công bình mà người đã được bởi đức tin, khi chưa chịu cắt bì; hầu cho làm cha hết thảy những kẻ tin mà không chịu cắt bì, đặng họ được kể là công bình” (Rô-ma 4:11). “Thánh Kinhcũng biết trước rằng Đức Chúa Trời sẽ xưng dân ngoại là công bình bởi đức tin, nên đã rao truyền trước cho Áp-ra-ham tin lành nầy: Các dân sẽ nhờ ngươi mà được phước” (Ga-la-ti 3:8).

♦ Khi Đức Chúa Trời kết ước với dân tộc I-sơ-ra-ên tại núi Si-na-i thì giao ước đó cũng bao gồm những ai không thuộc về I-sơ-ra-ên mà chịu vâng theo các điều khoản trong giao ước đó, bất kể họ thuộc về dân tộc nào; điển hình là vô số những người ngoại bang đi theo dân I-sơ-ra-ên rời bỏ xứ Ê-díp-tô (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:38) và các nô lệ hoặc khách ngoại bang kiều ngụ trong xứ của dân I-sơ-ra-ên (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:48, 49).

♦ Giao Ước Mới được công bố và bảo chứng bởi Đấng Christ (I Ti-mô-thê 2:5; Hê-bơ-rơ 8:6; 9:15; 12:24) là giao ước Đức Chúa Trời thiết lập với dân I-sơ-ra-ên qua 11 sứ đồ người I-sơ-ra-ên trong đêm Lễ Vượt Qua tại thành Giê-ru-sa-lem. Đấng Christ đã bảo chứng giao ước đó bằng máu của Ngài trên thập tự giá tại núi Gô-gô-tha (Ma-thi-ơ 26:28; Mác 14:24; Lu-ca 22:20; I Cô-rinh-tô 11:25). Mặc dù Giao Ước Mới, còn được gọi là Giao Ước Của Lời Hứa, được thiết lập với dân I-sơ-ra-ên theo như lời hứa của Đức Chúa Trời trong Giê-rê-mi 31:31, “Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ Ta sẽ lập một giao ước mới với nhà I-sơ-ra-ên và với nhà Giu-đa;” nhưng giao ước ấy bao gồm tất cả những ai dù không phải là dân I-sơ-ra-ên mà chịu vâng theo các điều khoản trong giao ước ấy, nghĩa là: (1) chịu ăn năn, từ bỏ tội; (2) hết lòng tin cậy Đấng Christ; (3) và chịu nên thánh. Ê-phê-sô 2:12-19 chép:

12 Trong thuở đó, anh em không có Đấng Christ, bị ngoại quyền công dân I-sơ-ra-ên, chẳng dự vào giao ước của lời hứa, không có sự trông cậy và vô thần trong thế gian.

13 Nhưng trong Đấng Christ Jesus, anh em là kẻ ngày trước cách xa, hiện nay đã nhờ huyết Đấng Christ mà được gần rồi.

14 Vì, ấy chính Ngài là sự hòa hiệp của chúng ta; Ngài đã hiệp cả hai lại làm một, phá đổ bức thường ngăn cách,

15 chấm dứt sự thù nghịch, luật pháp của các điều răn trong các điều lệ, trong xác thịt Ngài. Như vậy, khi làm cho hòa nhau, Ngài lấy cả hai lập nên một người mới trong Ngài,

16 và vì bởi thập tự giá Ngài đã làm cho sự thù nghịch tiêu diệt, nên nhờ thập tự giá đó Ngài khiến cả hai hiệp thành một thể, mà làm hòa thuận với Đức Chúa Trời.

17 Ngài lại đã đến rao truyền sự hòa bình cho anh em là kẻ ở xa, và sự hòa bình cho kẻ ở gần.

18 Vì ấy là nhờ Ngài mà chúng ta cả hai đều được phép đến gần Đức Chúa Cha, đồng trong một thần trí.

19 Dường ấy anh em chẳng phải là người ngoại, cũng chẳng phải là kẻ ở trọ nữa, nhưng là người đồng quốc với các thánh đồ, và là người nhà của Đức Chúa Trời.

5. Các giao ước của Đức Chúa Trời không hề triệt tiêu lẫn nhau nhưng bổ sung cho nhau, có tính thừa kế và tiếp nối lẫn nhau. Xét qua các giao ước, chúng ta sẽ nhận thấy Giao Ước Áp-ra-ham thừa kế và tiếp nối Giao Ước Nô-ê; Giao Ước Si-na-i thừa kế và tiếp nối Giao Ước Áp-ra-ham; Giao Ước Mới thừa kế và tiếp nối Giao Ước Si-na-i. Nói cách khác, trong Giao Ước Mới bao gồm các giao ước: Nô-ê, Áp-ra-ham, và Si-na-i; còn Giao Ước Áp-ra-ham thì đã bao gồm các giao ước: I-sác, Gia-cốp, và Đa-vít.

Chúng ta có thể hình dung ra một loại cây ăn trái từ khi nảy mầm cho đến khi kết quả là ba năm, làm minh họa cho sự tương quan và hiệp một của các giao ước. Năm thứ nhất, thân cây có một lớp thịt, năm thứ nhì, thân cây có thêm một lớp thịt khác, năm thứ ba thân cây lại có thêm một lớp thịt khác và hoàn toàn trưởng thành, ra hoa, ra trái. Mỗi một lớp thịt của thân cây tiêu biểu cho một giao ước, mạch nhựa sống giữa thân cây tiêu biểu cho ý nghĩa và mục đích của các giao ước, bông trái là kết quả của giao ước.

6. Các giao ước của Đức Chúa Trời đối với loài người được lập ra trước khi Đấng Christ đến thế gian đều là hình bóng và nền tảng cho Giao Ước Mới được thiết lập qua Đấng Christ. Cùng một hình ảnh minh họa trong tiết mục trên đây, chúng ta có thể nhận thấy tất cả các giao ước cũ là để chuẩn bị cho và làm nền tảng cho Giao Ước Mới như các lớp thịt của thân cây được hình thành mỗi năm (I Cô-rinh-tô 10:11; Hê-bơ-rơ 9:9).

7. Tất cả các giao ước của Đức Chúa Trời còn được gọi là lời tiên tri và luật pháp, có hiệu lực liên tục và sẽ không qua đi cho đến khi trời cũ đất cũ qua đi (Ma-thi-ơ 5:18), ngoại trừ Giao Ước Mới do Đấng Christ công bố và làm trung bảo là Giao Ước được hoàn thành trọn vẹn trong trời mới, đất mới.

IV. Phân Loại Các Giao Ước do Đức Chúa Trời Lập Ra với Loài Người

Có hai hình thức phân loại các giao ước do Đức Chúa Trời lập ra với loài người: Hình thức phân loại theo nhận thức thần học và hình thức phân loại theo thống kê.

1. Phân loại thần học: Theo nhận thức thần học thì có ba loại giao ước do Đức Chúa Trời lập ra với loài người như được liệt kê và giải thích dưới đây:

♦ Giao Ước Lương Tâm còn gọi là Giao Ước Lựa Chọn hoặc Giao Ước A-đam hoặc Giao Ước Ê-đen: (1) Bày tỏ ý muốn nguyên thỉ của Đức Chúa Trời đối với loài người. Ngài muốn loài người tự nguyện tin cậy Ngài và vui hưởng tình yêu của Ngài. (2) Thử nghiệm lương tâm của loài người. Loài người tự mình lựa chọn tin cậy hoặc không tin cậy Đức Chúa Trời, cũng có nghĩa là lựa chọn sự sống hoặc sự chết.

Giao Ước Lương Tâm bao gồm các yếu tố như sau:

a) Các bên kết ước: Đức Chúa Trời kết ước với loài người qua A-đam.

b) Các điều kiện:

– Về phía Đức Chúa Trời: (1) Ban cho A-đam cơ hội được nhận sự sống đời đời qua cây sự sống. (2) Ban cho A-đam quyền cai trị đất và muôn vật trên đất. (3) Chăm sóc và bảo vệ A-đam.

– Về phía A-đam: Yêu kính, tin cậy, và vâng phục Đức Chúa Trời, thể hiện qua hành động: (1) Không ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác. (2) Trồng và giữ vườn Ê-đen. (3) Sinh sản, làm cho đầy dẫy đất. (4) Cai trị đất và muôn vật trên đất.

c) Các kết quả:

– Thưởng: Sự sống đời đời thuộc thể lẫn thuộc linh trong địa vị con cái của Đức Chúa Trời. Sự sống đời đời là được mãi mãi thực hữu bên cạnh Đức Chúa Trời, vui hưởng các ơn phước từ nơi Ngài, được Thánh Kinh diễn tả như sau: “Tôi nghe một tiếng lớn từ trời phán rằng: “Này, lều của Đức Chúa Trời ở với loài người và Ngài sẽ ở với họ. Họ sẽ làm dân của Ngài và chính mình Đức Chúa Trời sẽ ở với họ, làm Đức Chúa Trời của họ. Đức Chúa Trời sẽ lau hết mọi nước mắt khỏi mắt họ. Sẽ không còn sự chết, không còn buồn khổ, không còn khóc lóc, cũng không còn đau đớn nữa vì những sự cũ đã qua rồi” (Khải Huyền 21:3, 4).

– Phạt: Sự chết đời đời thuộc thể lẫn thuộc linh và trở thành con cái của Sa-tan. Sự chết đời đời là bị mãi mãi xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của quyền phép Ngài: “Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của quyền phép Ngài” (II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9); là chịu khổ đời đời trong hỏa ngục: “Ma Quỷ là kẻ lừa dối chúng bị ném vào hồ lửa và lưu hoàng, nơi có con thú và tiên tri giả. Chúng sẽ bị đau khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời… Sự chết và âm phủ bị ném vào hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai. Bất kỳ kẻ nào không tìm thấy được chép trong Sách Sự Sống thì bị ném vào hồ lửa.” (Khải Huyền 20:10, 14, 15).

d) Sự bảo đảm:

– Về phía Đức Chúa Trời: Lời phán của Chúa là sự bảo đảm cho A-đam vì Lời Ngài là chân thật.

– Về phía A-đam: Lương tâm.

♦ Giao Ước Luật Pháp còn gọi là Giao Ước Việc Làm hoặc Giao Ước Si-na-i hoặc Giao Ước Cũ: Chuẩn bị cho sự thiết lập Giao Ước Ân Điển. (1) Qua các điều răn và luật pháp: dạy về tiêu chuẩn thánh khiết và công bình tuyệt đối của Đức Chúa Trời là điều luôn đối nghịch với những sự ưa muốn xấu xa của xác thịt; mọi sự vi phạm điều răn và luật pháp đều phải bị hình phạt. (2) Qua các lễ nghi chuộc tội: bày tỏ sự nhân từ, thương xót của Đức Chúa Trời dành cho những người biết ăn năn tội, muốn sống theo điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời. (3) Qua sự ban phước: giảm thiểu hậu quả của tội lỗi trên người có đức tin nơi Đức Chúa Trời trong khi họ chờ đợi sự cứu chuộc của Đấng Christ.

Giao Ước Luật Pháp bao gồm các yếu tố như sau:

a) Các bên kết ước: Đức Chúa Trời kết ước với dân I-sơ-ra-ên, bao gồm tất cả những ai không phải người I-sơ-ra-ên nhưng chịu sống chung với dân I-sơ-ra-ên và vâng giữ các điều kiện của giao ước. Vì thế, có thể nói, Đức Chúa Trời kết ước với nhân loại qua dân tộc I-sơ-ra-ên.

b) Các điều kiện:

– Về phía Đức Chúa Trời: (1) Ban đất Ca-na-an cho dân I-sơ-ra-ên làm lãnh thổ. (2) Ban phước cho dân I-sơ-ra-ên được trở thành một dân thánh, một nước thầy tế lễ thuộc về Đức Chúa Trời (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:6). (3) Tha thứ và phục hồi dân I-sơ-ra-ên nếu dân I-sơ-ra-ên biết ăn năn tội và dâng tế lễ chuộc tội.

– Về phía dân I-sơ-ra-ên: (1) Vâng giữ Mười Điều Răn. (2) Vâng giữ các luật lệ về lễ nghi thờ phượng Đức Chúa Trời, về sự dâng của lễ chuộc tội, và các mạng lịnh khác của Đức Chúa Trời được ghi lại trong sách luật pháp.

Chúng ta có thể nhận thấy các lời hứa của Đức Chúa Trời trong Giao Ước Luật Pháp (Giao Ước Cũ) là nền tảng và hình bóng cho các lời hứa trong Giao Ước Ân Điển (Giao Ước Mới):

(1) Ban đất Ca-na-an cho dân I-sơ-ra-ên làm lãnh thổ là hình bóng cho lời hứa ban đất trong Giao Ước Mới: “Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưởng được đất” (Ma-thi-ơ 5:5)! Lời hứa này sẽ hiện thực trong Vương Quốc Ngàn Năm và trong trời mới, đất mới.

(2) Ban phước cho dân I-sơ-ra-ên được trở thành một dân thánh, một nước thầy tế lễ thuộc về Đức Chúa Trời là hình bóng cho sự ban phước cho con dân Chúa trong Giao Ước Mới: “Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh, là dân thuộc về Đức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhơn đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài; anh em ngày trước không phải là một dân, mà bây giờ là dân Đức Chúa Trời, trước không được thương xót, mà bây giờ được thương xót” (I Phi-e-rơ 2:9, 10). “Đấng yêu thương chúng ta: đã rửa sạch tội lỗi chúng ta trong máu Ngài, đã lập chúng ta làm những vua và những thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời Ngài và Cha Ngài – Nguyện sự vinh quang và quyền thế thuộc về Ngài cho đến đời đời. A-men” (Khải Huyền 1:6).

(3) Sự tha thứ và phục hồi dân I-sơ-ra-ên nếu dân I-sơ-ra-ên biết ăn năn tội và dâng máu của sinh tế làm tế lễ chuộc tội là hình bóng tha thứ và phục hồi con dân Chúa bởi sự ăn năn, xưng tội và bởi máu của Đấng Christ trong Giao Ước Mới: “Ngài đã vào nơi rất thánh một lần thì đủ hết, không dùng máu của dê đực và của bò con, nhưng dùng chính máu mình, mà được sự chuộc tội đời đời” (Hê-bơ-rơ 9:12). “Nhưng, nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao thông cùng nhau; và máu của Đức Chúa Jesus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta” (I Giăng 1:7). “Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác” (I Giăng 1:9).

Chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy bổn phận vâng giữ Mười Điều Răn và các luật lệ khác trong Thánh Kinh Cựu Ước của dân I-sơ-ra-ên là hình bóng cho sự con dân Chúa trong Giao Ước Mới có bổn phận vâng giữ Mười Điều Răn và tất cả các luật lệ khác trong Thánh Kinh: Vì ta nói thật cùng các ngươi, đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn. Vậy, ai hủy một điều cực nhỏ nào trong những điều răn nầy, và dạy người ta làm như vậy, thì sẽ bị xưng là cực nhỏ trong Vương Quốc Trời; còn như ai giữ những điều răn ấy, và dạy người ta nữa, thì sẽ được xưng là lớn trong Vương Quốc Trời.”(Ma-thi-ơ 5:18, 19). “Vì nầy là sự yêu Đức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng giữ các điều răn Ngài. Các điều răn của Ngài chẳng phải là nặng nề” (I Giăng 5:3).

c) Các kết quả:

– Thưởng: (1) Được tha tội qua sự dâng sinh tế chuộc tội. (2) Được trở thành một nước thầy tế lễ, một dân tộc thánh. (3) Được ban cho đất Ca-na-an làm cơ nghiệp trên đất. (4) Được an cư, lạc nghiệp và phú cường. (5) Được phục hồi nếu sau khi phạm tội biết ăn năn.

– Phạt: (1) Bị thiên tai, chiến tranh cùng các thứ dịch lệ. (2) Bị mất nước, bị thảm sát và bị bắt làm phu tù, làm nô lệ, bị tan lạc cho đến đầu cùng đất.

d) Sự bảo đảm:

– Về phía Đức Chúa Trời: Rương Giao Ước chứa hai bảng đá ghi khắc Mười Điều Răn và cuốn sách luật pháp để bên cạnh Rương Giao Ước, được rưới huyết của bò tơ.

– Về phía dân I-sơ-ra-ên: Đức tin vào Lời Chúa được bày tỏ qua sự chịu cắt bì.

♦ Giao Ước Ân Điển còn gọi là Giao Ước Lời Hứa hoặc Giao Ước Mới: Dẫn đến sự phục hồi mục đích của Giao Ước Lương Tâm. Làm trọn luật pháp công bình và thánh khiết của Đức Chúa Trời: Tội lỗi bị hình phạt. Làm trọn sự nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời đối với loài người: Ban sự cứu rỗi cho nhân loại.

Giao Ước Ân Điển bao gồm các yếu tố như sau:

a) Các bên kết ước: Đức Chúa Trời kết ước với mọi dân tộc qua dân I-sơ-ra-ên.

b) Các điều kiện:

– Về phía Đức Chúa Trời: (1) Trừng phạt tội lỗi của nhân loại trên Đức Chúa Jesus Christ. (2) Tha thứ và làm cho sạch tội những ai ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ. (3) Ban cho người ăn năn tội, tin nhận Đấng Christ địa vị làm con cái của Đức Chúa Trời. (4) Ban cho người ăn năn tội, tin nhận Đấng Christ Thánh Linh của Đức Chúa Trời để người ấy có năng lực sống một nếp sống thánh khiết vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời. (5) Ban cho người ăn năn tội, tin nhận Đấng Christ và trung tín cho đến chết: sự sống lại và sự sống đời đời. (6) Ban cho người ăn năn tội, tin nhận Đấng Christ và trung tín cho đến chết: được kết hợp mầu nhiệm với Đấng Christ trong tiệc cưới Chiên Con. (7) Ban cho người ăn năn tội, tin nhận Đấng Christ và trung tín cho đến chết: được cùng với Đấng Christ thừa kế mọi cơ nghiệp của Đức Chúa Trời. (8) Ban cho người ăn năn tội, tin nhận Đấng Christ và trung tín cho đến chết: được đồng trị với Đấng Christ.

– Về phía mọi dân tộc: (1) Thật lòng ăn năn, từ bỏ mọi sự phạm tội, nghĩa là không còn cố ý vi phạm các điều răn của Đức Chúa Trời. (2) Tin nhận sự cứu chuộc của Đấng Christ. (3) Vui lòng bỏ hết mọi sự, sẵn sàng chịu khổ để có thể làm theo mọi điều Đấng Christ phán dạy.

c) Các kết quả:

– Thưởng: Được sống đời đời trong hạnh phúc với Đức Chúa Trời.

– Phạt: Bị hình phạt tùy theo mỗi việc làm tội lỗi và bị hư mất đời đời trong hỏa ngục. 

d) Sự bảo đảm:

– Về phía Đức Chúa Trời: Máu của Đấng Christ và sự ấn chứng của Đức Thánh Linh.

– Về phía loài người: Đức tin thể hiện qua sự chịu báp-tem và nếp sống thánh khiết theo Lời Chúa.

2. Phân loại thống kê: Hình thức phân loại thống kê ghi ra tất cả những giao ước do Đức Chúa Trời thiết lập với loài người được chép lại trong Thánh Kinh. Có những giao ước được nói đến nhưng không ghi rõ chi tiết, như giao ước giữa Đức Chúa Trời với Y-sác hoặc Gia-cốp.

Thánh Kinh đề cập đến tám giao ước, đó là: Giao Ước Nô-ê, Giao Ước Áp-ra-ham, Giao Ước I-sác, Giao Ước Gia-cốp, Giao Ước Si-na-i, (còn gọi là Giao Ước Luật Pháp hoặc Giao Ước Môi-se hoặc Giao Ước Cũ), Giao Ước Đất Hứa, Giao Ước Đa-vít, và Giao Ước Mới (còn gọi là Giao Ước Lời Hứa hoặc Giao Ước Ân Điển). Trong tám giao ước thì Giao Ước Áp-ra-ham, Giao Ước Si-na-i, và Giao Ước Mới có liên quan mật thiết với nhau trong Sự Cứu Rỗi.

♦ Giao Ước Nô-ê trước cơn nước lụt (Sáng Thế Ký 6:13-22):

13 Thiên Chúa bèn phán cùng Nô-ê rằng: Kỳ cuối cùng của mọi xác thịt đã đưa đến trước mặt Ta; vì cớ loài người mà đất phải đầy dẫy điều hung hăng; vậy, Ta sẽ diệt trừ họ cùng đất.

14 Ngươi hãy đóng một chiếc tàu bằng cây gô-phe, đóng có từng phòng, rồi trét chai bề trong cùng bề ngoài.

15 Vậy, hãy làm theo thế nầy: Bề dài tàu ba trăm thước, bề ngang năm mươi thước, bề cao ba mươi thước.

16 Trên tàu ngươi sẽ làm một cửa sổ, bề cao một thước, và chừa một cửa bên hông; ngươi sẽ làm một từng dưới, một từng giữa và một từng trên.

17 Còn Ta đây, Ta sẽ dẫn nước lụt khắp trên mặt đất, đặng tuyệt diệt các xác thịt có sanh khí ở dưới trời; hết thảy vật chi ở trên mặt đất đều sẽ chết hết.

18 Nhưng Ta sẽ lập giao ước cùng ngươi, rồi ngươi và vợ, các con và các dâu của ngươi, đều hãy vào tàu.

19 Về các loài sanh vật, ngươi hãy dẫn xuống tàu mỗi loài một cặp, có đực có cái, có trống có mái, hầu cho ở cùng ngươi đặng giữ tròn sự sống;

20 chim tùy theo loại, súc vật tùy theo loại, côn trùng tùy theo loại, mỗi thứ hai con, sẽ đến cùng ngươi, để ngươi giữ tròn sự sống cho.

21 Lại, ngươi hãy lấy các thứ đồ ăn đem theo, đặng để dành làm lương thực cho ngươi và các loài đó.

22 Nô-ê làm các điều nầy y như lời Thiên Chúa đã phán dặn.

Nhận xét: Đây là một giao ước có điều kiện. Trong giao ước này Đức Chúa Trời hứa bảo toàn sự sống cho gia đình Nô-ê cùng các loài sinh vật được ông mang vào tàu với điều kiện Nô-ê vâng lời Chúa: đóng tàu và vào tàu trước khi cơn nước lụt xảy ra.

♦ Giao Ước Nô-ê sau cơn nước lụt (Sáng Thế Ký 9:8-17):

8 Thiên Chúa cũng phán cùng Nô-ê và các con trai người rằng:

9 Còn phần Ta đây, Ta lập giao ước cùng các ngươi, cùng dòng dõi các ngươi,

10 và cùng mọi vật sống ở với ngươi, nào loài chim, nào súc vật, nào loài thú ở trên đất, tức là các loài ở trong tàu ra, cho đến các loài vật ở trên đất.

11 Vậy, Ta lập giao ước cùng các ngươi, và các loài xác thịt chẳng bao giờ lại bị nước lụt hủy diệt, và cũng chẳng có nước lụt để hủy hoại đất nữa.

12 Thiên Chúa lại phán rằng: Đây là dấu chỉ về sự giao ước mà Ta lập cùng các ngươi, cùng hết thảy vật sống ở với các ngươi, trải qua các đời mãi mãi.

13 Ta đặt mống của Ta trên từng mây, dùng làm dấu chỉ sự giao ước của Ta với đất.

14 Phàm lúc nào Ta góp các đám mây trên mặt đất và phàm mống được nhìn thấy trên từng mây,

15 thì Ta sẽ nhớ lại sự giao ước của Ta đã lập cùng các ngươi, và cùng các loài xác thịt có sự sống, thì nước chẳng bao giờ lại trở nên lụt mà hủy diệt các loài xác thịt nữa.

16 Vậy, cái mống sẽ ở trên mây, Ta nhìn xem nó đặng nhớ lại sự giao ước đời đời của Thiên Chúa cùng các loài xác thịt có sự sống ở trên đất.

17 Thiên Chúa lại phán cùng Nô-ê rằng: Đó là dấu chỉ sự giao ước mà Ta đã lập giữa Ta và các xác thịt ở trên mặt đất.

Nhận xét: Đây là một giao ước không điều kiện. Nô-ê không bị ràng buộc phải làm gì. Giao ước này, qua Nô-ê, được thiết lập với mọi sinh vật trên đất và vẫn còn hiệu lực cho đến khi trời đất hiện tại qua đi.

♦ Giao Ước Áp-ra-ham (Sáng Thế Ký 15:18-21):

18 Ngày đó, Đức Giê-hô-va lập giao ước cùng Áp-ram, mà phán rằng: Ta cho dòng dõi ngươi xứ nầy, từ sông Ê-díp-tô cho đến sông lớn kia, tức sông Ơ-phơ-rát,

19 là xứ của các dân Kê-nít, Kê-nê-sít, Cát-mô-nít

20 Hê-tít, Phê-rê-sít, Rê-pha-im,

21 A-mô-nít, Ca-na-an, Ghi-ê-ga-sít và Giê-bu-sít.

(Sáng Thế Ký 17:1-14):

1 Khi Áp-ram được chín mươi chín tuổi, thì Đức Giê-hô-va hiện đến cùng người và phán rằng: Ta là Thiên Chúa Toàn Năng; ngươi hãy đi ở trước mặt Ta làm một người trọn vẹn.

2 Ta sẽ lập giao ước cùng ngươi, làm cho dòng dõi ngươi thêm nhiều quá-bội.

3 Áp-ram bèn sấp mình xuống đất; Thiên Chúa phán cùng người rằng:

4 Nầy, phần Ta đây, Ta đã lập giao ước cùng ngươi; vậy ngươi sẽ trở nên tổ phụ của nhiều dân tộc.

5 Thiên hạ chẳng còn gọi ngươi là Áp-ram nữa, nhưng tên ngươi là Áp-ra-ham, vì Ta đặt ngươi làm tổ phụ của nhiều dân tộc.

6 Ta sẽ làm cho ngươi sanh sản rất nhiều, làm cho ngươi thành nhiều nước; và các vua sẽ do nơi ngươi mà ra.

7 Ta sẽ lập giao ước cùng ngươi, và cùng hậu tự ngươi trải qua các đời; ấy là giao ước đời đời, hầu cho Ta làm Thiên Chúa của ngươi và của dòng dõi ngươi.

8 Ta sẽ cho ngươi cùng dòng dõi ngươi xứ mà ngươi đương kiều ngụ, tức toàn xứ Ca-na-an, làm cơ nghiệp đời đời. Vậy, Ta sẽ làm Thiên Chúa của họ.

9 Đoạn, Thiên Chúa phán cùng Áp-ra-ham rằng: Phần ngươi cùng dòng dõi ngươi, từ đời nọ sang đời kia, sẽ giữ sự giao ước của Ta.

10 Mỗi người nam trong vòng các ngươi phải chịu phép cắt bì; ấy là giao ước mà các ngươi phải giữ, tức giao ước lập giữa Ta và các ngươi, cùng dòng dõi sau ngươi.

11 Các ngươi phải chịu cắt bì; phép đó sẽ là dấu hiệu của sự giao ước giữa Ta cùng các ngươi.

12 Trải qua các đời, mỗi người nam trong vòng các ngươi, hoặc sanh đẻ tại nhà, hoặc đem tiền ra mua nơi người ngoại bang, chẳng thuộc về dòng giống ngươi, hễ lên được tám ngày rồi, đều phải chịu phép cắt bì.

13 Chớ khá bỏ làm phép cắt bì cho ai sanh tại trong nhà ngươi, hay đem tiền ra mua về; sự giao ước của Ta sẽ lập đời đời trong xác thịt của các ngươi vậy.

14 Một người nam nào không chịu phép cắt bì nơi xác thịt mình, sẽ bị truất ra khỏi ngoài dân sự mình; người đó là kẻ bội lời giao ước Ta.

Nhận xét: Đây là một giao ước có điều kiện. Áp-ra-ham và các người nam trong dòng họ ông phải chịu cắt bì, còn gọi là “cắt bao quy đầu,” tức là cắt bỏ lớp da bao bọc phần đầu của bộ phận sinh dục. Giao Ước Áp-ra-ham: về mặt thuộc thể bao gồm dân I-sơ-ra-ên và bất cứ ai chịu cắt bì như dân I-sơ-ra-ên; về mặt thuộc linh, tiêu biểu cho sự Đức Chúa Trời tiếp nhận và ban phước cho bất cứ dân tộc nào chịu từ bỏ nếp sống tội lỗi và cùng đức tin vào Đức Chúa Trời như dân I-sơ-ra-ên: “Vậy, người đã nhận lấy dấu cắt bì, như dấu ấn của sự công bình mà người đã được bởi đức tin, khi chưa chịu cắt bì; hầu cho làm cha hết thảy những kẻ tin mà không chịu cắt bì, đặng họ được kể là công bình” (Rô-ma 4:11). “Kinh Thánh cũng biết trước rằng Đức Chúa Trời sẽ xưng dân ngoại là công bình bởi đức tin, nên đã rao truyền trước cho Áp-ra-ham tin lành nầy: Các dân sẽ nhờ ngươi mà được phước” (Ga-la-ti 3:8).

Về mặt thuộc thể, sự cắt bì giúp tránh được các chứng nhiễm trùng đường tiểu và bộ phận sinh dục, do các chất bẩn và vi trùng tích tụ giữa lớp da bọc và bộ phận sinh dục gây nên. Về mặt thuộc linh, sự cắt bì tiêu biểu cho sự cắt bỏ bản chất tội lỗi bẩm sinh.

♦ Giao Ước I-sác (Sáng Thế Ký 17:19,21):

19 Thiên Chúa bèn phán rằng: Thật vậy, Sa-ra vợ ngươi, sẽ sanh một con trai, rồi ngươi đặt tên là I-sác. Ta sẽ lập giao ước cùng nó, để làm giao ước đời đời cho dòng dõi của nó.

21 Nhưng Ta sẽ lập giao ước Ta cùng I-sác, độ khoảng nầy năm tới, Sa-ra phải sanh cho ngươi.

Về sau, còn nhiều chỗ trong Thánh Kinh đề cập đến giao ước của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham, I-sác, và Gia-cốp nhưng không một chỗ nào ghi rõ các chi tiết về giao ước Đức Chúa Trời thiết lập với I-sác hoặc Gia-cốp.

Nhận xét: Giao ước Đức Chúa Trời lập với Áp-ra-ham cũng chính là giao ước Ngài lập với dòng dõi của ông qua I-sác và Gia-cốp. Áp-ra-ham có hai con trai, I-sác và Ích-ma-ên, nhưng giao ước của Đức Chúa Trời được thiết lập với I-sác. I-sác cũng có hai con trai, Ê-sau và Gia-cốp (sau này được Chúa đổi tên thành I-sơ-ra-ên), nhưng giao ước của Đức Chúa Trời được thiết lập với Gia-cốp và mười hai con trai của Gia-cốp, gọi chung là dân I-sơ-ra-ên. Vì thế, chúng ta có thể kết luận rằng: Giao Ước I-sác và Giao Ước Gia-cốp chính là Giao Ước Áp-ra-ham được nối dài.

♦ Giao Ước Gia-cốp (Sáng Thế Ký 28:10-15):

10 Gia-cốp từ Bê-e-sê-ba đi đến Cha-ran,

11 tới một chỗ kia, mặt trời đã khuất, thì qua đêm tại đó. Người lấy một hòn đá làm gối đầu, và nằm ngủ tại đó;

12 bèn chiêm bao thấy một cái thang bắc từ dưới đất, đầu đến tận trời, các thiên sứ của Đức Chúa Trời đi lên xuống trên thang đó.

13 Nầy, Đức Giê-hô-va ngự trên đầu thang mà phán rằng: Ta là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, tổ phụ ngươi, cùng là Thiên Chúa của I-sác. Ta sẽ cho ngươi và dòng dõi ngươi đất mà ngươi đương nằm ngủ đây.

14 Dòng dõi ngươi sẽ đông như cát bụi trên mặt đất, tràn ra đến đông tây nam bắc, và các chi họ thế gian sẽ nhờ ngươi và dòng dõi ngươi mà được phước.

15 Nầy, Ta ở cùng ngươi, ngươi đi đâu, sẽ theo gìn giữ đó, và đem ngươi về xứ nầy; vì Ta không bao giờ bỏ ngươi cho đến khi Ta làm xong những điều Ta đã hứa cùng ngươi.

Nhận xét: Dù trong phân đoạn Sáng Thế Ký 28:10-15 không nói rõ là Đức Chúa Trời lập giao ước với Gia-cốp nhưng hầu hết các nhà giải kinh đều cho rằng đây là nội dung của Giao Ước Gia-cốp, bao gồm các lời hứa riêng của Đức Chúa Trời với Gia-cốp, thêm vào giao ước Ngài đã thiết lập với Áp-ra-ham.

♦ Giao Ước Si-na-i, còn gọi là Giao Ước Luật Pháp hoặc Giao Ước Môi-se hoặc Giao Ước Cũ (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:10-28):

10 Đức Giê-hô-va phán rằng: Nầy, Ta lập một giao ước. Trước mặt các dân sự của ngươi, Ta sẽ làm các phép lạ chưa hề có làm trên cả mặt đất, hay là nơi dân nào; và toàn dân sự mà trong đó có ngươi, sẽ xem thấy việc Đức Giê-hô-va, vì điều Ta sẽ làm cùng ngươi là một điều đáng kinh khiếp.

11 Hãy cẩn thận về điều Ta truyền cho ngươi hôm nay. Nầy, Ta sẽ đuổi khỏi trước mặt ngươi dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít.

12 Hãy cẩn thận đừng lập giao ước cùng dân của xứ mà ngươi sẽ vào, e chúng nó sẽ thành cái bẫy giữa ngươi chăng.

13 Nhưng các ngươi hãy phá hủy bàn thờ, đập bể pho tượng và đánh hạ các thần chúng nó.

14 Vì ngươi đừng sấp mình xuống trước mặt Chúa nào khác, bởi Đức Giê-hô-va tự xưng là Thiên Chúa hay ghen; Ngài thật là một Thiên Chúa hay ghen vậy.

15 Hãy cẩn thận đừng lập giao ước cùng dân của xứ đó, e khi chúng nó hành dâm cùng các tà thần chúng nó và tế các tà thần của chúng nó, có kẻ mời, rồi ngươi ăn của cúng họ chăng.

16 Lại đừng cưới con gái chúng nó cho con trai ngươi, e khi con gái chúng nó hành dâm với các tà thần chúng nó, quyến dụ con trai ngươi cũng hành dâm cùng các tà thần của chúng nó nữa chăng.

17 Ngươi chớ đúc thần tượng.

18 Ngươi hãy giữ lễ bánh không men. Nhằm kỳ tháng lúa trỗ, hãy ăn bánh không men trong bảy ngày, như Ta đã truyền dặn ngươi; vì nhằm tháng đó ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô.

19 Các con trưởng nam đều thuộc về Ta; cùng các con đực đầu lòng của bầy súc vật ngươi, hoặc bò hoặc chiên cũng vậy.

20 Nhưng ngươi sẽ bắt một chiên con hay là dê con mà chuộc một con lừa đầu lòng. Nếu chẳng chuộc nó, ngươi hãy bẻ cổ nó. Ngươi sẽ chuộc các con trưởng nam mình; và chớ ai đi tay không đến chầu trước mặt Ta.

21 Trong sáu ngày ngươi hãy làm công việc, nhưng qua ngày thứ bảy hãy nghỉ, dẫu mùa cày hay mùa gặt ngươi cũng phải nghỉ vậy.

22 Đầu mùa gặt lúa mì, ngươi hãy giữ lễ của các tuần lễ; và cuối năm giữ lễ mùa màng.

23 Thường năm ba lần, trong vòng các ngươi, mỗi người nam sẽ ra mắt Chúa Giê-hô-va, là Thiên Chúa của I-sơ-ra-ên.

24 Vì Ta sẽ đuổi các dân khỏi trước mặt ngươi, Ta sẽ mở rộng bờ cõi ngươi; và trong khi ngươi lên ra mắt Giê-hô-va Thiên Chúa ngươi, mỗi năm ba lần, thì sẽ chẳng ai tham muốn xứ ngươi hết.

25 Ngươi chớ dâng huyết của con sinh tế Ta cùng bánh pha men; thịt của con sinh về lễ Vượt-qua chớ nên giữ đến sáng mai.

26 Ngươi sẽ đem dâng hoa quả đầu mùa của đất sanh sản vào đền Giê-hô-va, là Thiên Chúa ngươi. Ngươi chớ nấu thịt dê con trong sữa mẹ nó.

27 Đức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se rằng: Hãy chép các lời nầy; vì theo các lời nầy mà Ta lập giao ước cùng ngươi và cùng I-sơ-ra-ên.

28 Môi-se ở đó cùng Đức Giê-hô-va trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, không ăn bánh, cũng không uống nước; Đức Giê-hô-va chép trên hai bảng đá các lời giao ước, tức là mười điều răn.

Nhận xét: Mười Điều Răn (trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là Mười Lời) được gọi là các “lời giao ước.” Đây là một giao ước có điều kiện. Dân I-sơ-ra-ên và những ai muốn sống chung với dân I-sơ-ra-ên phải vâng giữ Mười Lời Giao Ước do chính Đức Chúa Trời ghi trên hai bảng đá và những luật lệ ra từ Mười Lời Giao Ước đó, được Môi-se chép trong một cuốn sách gọi là sách luật pháp (Lê-vi Ký 18:26; Phục Truyền Luật Lệ Ký 31:24-26).

Giao Ước Si-na-i làm nền tảng và hình bóng cho Giao Ước Mới được hứa trong Giê-rê-mi 31 và tái xác nhận trong Hê-bơ-rơ 10.

Làm nền tảng vì nội dung Mười Lời Giao Ước, tức Mười Điều Răn không hề thay đổi. Trong Giao Ước Si-na-i, còn gọi là Giao Ước Cũ, thì Mười Lời Giao Ước được Đức Chúa Trời chép trên bảng đá; còn trong Giao Ước Mới, còn gọi là Giao Ước Ân Điển, thì toàn bộ luật pháp của Thiên Chúa được Đức Chúa Trời chép vào lòng người: “Đức Giê-hô-va phán: Nầy là giao ước mà Ta sẽ lập với nhà I-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật pháp Ta trong bụng chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Thiên Chúa chúng nó, chúng nó sẽ làm dân Ta” (Giê-rê-mi 31:33). Đức Chúa Trời khẳng định: “Đức Giê-hô-va, là Đấng đã ban mặt trời làm sự sáng ban ngày, ban thứ tự mặt trăng và ngôi sao soi ban đêm, lật biển lên, đến nỗi sóng nó gầm thét, Đức Giê-hô-va vạn quân là danh của Ngài phán rằng: Nếu lệ luật đó mất đi khỏi trước mặt Ta, thì bấy giờ dòng giống I-sơ-ra-ên cũng sẽ thôi không làm một nước trước mặt Ta đời đời, Đức Giê-hô-va phán vậy” (Giê-rê-mi 31:35, 36).

Giao Ước Cũ làm hình bóng của Giao Ước Mới vì hình thức tha tội, chuộc tội, và thờ phượng trong Giao Ước Cũ tiêu biểu cho sự tha tội, chuộc tội, và thờ phượng thật được thể hiện trong Giao Ước Mới (Cô-lô-se 2:17; Hê-bơ-rơ 9:9; 10:1).

♦ Giao Ước Đất Hứa còn gọi là Giao Ước Pa-lét-tin (Phục Truyền Luật Lệ Ký 29-30):

Thánh Kinh ghi rằng đây là giao ước Đức Chúa Trời lập thêm với dân I-sơ-ra-ên, ngoài giao ước đã lập tại xứ Hô-rếp, trên núi Si-na-i: “Nầy là các lời của sự giao ước mà Đức Giê-hô-va dặn biểu Môi-se lập cùng dân Y-sơ-ra-ên, trong xứ Mô-áp, ngoài sự giao ước Ngài đã lập cùng chúng tại Hô-rếp” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 29:1).

Nhận xét: Đây là một giao ước bổ sung có điều kiện: Nếu dân I-sơ-ra-ên vi phạm Giao Ước Si-na-i, bị Đức Chúa Trời hình phạt mà biết ăn năn tội thì Ngài sẽ phục hồi Giao Ước Si-na-i. Giao ước này được “trời và đất làm chứng” (Phục Truyền Luật lệ Ký 30:19).

♦ Giao ước Đa-vít: Những câu Thánh Kinh dưới đây nhắc đến Giao Ước Đa-vít:

“Bởi sự giao ước bằng muối, Giê-hô-va Thiên Chúa của I-sơ-ra-ên đã ban nước I-sơ-ra-ên cho Đa-vít và cho các con trai người đến đời đời, các ngươi há chẳng biết sao” (II Sử Ký 13:5)?

“Nhưng, vì Đức Giê-hô-va đã lập giao ước với Đa-vít, bởi Ngài đã hứa rằng sẽ ban một ngọn đèn cho người và cho con cháu người đến đời đời, nên Ngài không muốn diệt nhà Đa-vít” (II Sử Ký 21:7).

“Ta đã lập giao ước cùng kẻ được chọn của Ta, Ta đã thề cùng Đa-vít, kẻ tôi tớ Ta, mà rằng: Ta sẽ lập dòng dõi ngươi đến mãi mãi, và dựng ngôi ngươi lên cho vững bền đến đời đời” (Thi Thiên 89:3, 4).

Tương tự như trường hợp của Giao Ước Gia-cốp, các nhà giải kinh cho rằng II Sa-mu-ên 7:8-16 cũng chính là nội dung chi tiết của Giao Ước Đa-vít, dù trong bản văn không hề đề cập đến từ ngữ giao ước:

8 Vậy bây giờ, ngươi hãy nói cùng Đa-vít, kẻ tôi tớ Ta, như vầy: Đức Giê-hô-va vạn quân có phán như vầy: Ta đã gọi ngươi từ giữa đồng cỏ, từ nơi ngươi chăn chiên, đặng lập ngươi làm kẻ dẫn dắt dân I-sơ-ra-ên của Ta.

9 Ta đã ở cùng ngươi trong mọi công việc ngươi làm, tuyệt diệt các kẻ thù nghịch ngươi khỏi trước mặt ngươi, khiến cho ngươi được danh lớn như danh người sang trọng của thế gian.

10 Ta đã sắm sẵn một chỗ cho dân I-sơ-ra-ên Ta, làm cho nó châm rễ tại đó, và nó sẽ ở nơi mình, chẳng còn bị quấy rối nữa; các con loài ác sẽ chẳng hà hiếp nó nữa như ngày xưa,

11 tức là như lúc Ta lập quan xét trị dân I-sơ-ra-ên Ta. Ta đã giải cứu ngươi khỏi các thù nghịch ngươi mà ban bình an cho ngươi. Rốt lại, Đức Giê-hô-va phán hứa rằng Ngài sẽ dựng cho ngươi một cái nhà.

12 Khi các ngày ngươi đã mãn, và ngươi ngủ với các tổ phụ ngươi, thì Ta sẽ lập dòng giống ngươi kế vị ngươi, là dòng giống do ngươi sanh ra, và Ta sẽ khiến cho nước nó bền vững.

13 Nó sẽ xây một đền thờ cho danh Ta, và Ta sẽ khiến cho ngôi cùng nước nó bền đổ đời đời.

14 Ta sẽ làm cha nó, nó sẽ làm con Ta. Nếu nó phạm tội ác, tất Ta sẽ sửa phạt nó bằng roi và thương vít loài người;

15 nhưng Ta sẽ không rút ân điển Ta khỏi nó như Ta rút khỏi Sau-lơ, là kẻ Ta đã trừ diệt khỏi trước mặt ngươi.

16 Như vậy, nhà ngươi và nước ngươi được bền đổ trước mặt ngươi đời đời; ngôi ngươi sẽ được vững lập đến mãi mãi.

Giao Ước Đa-vít bao gồm Đấng Christ:

“Nầy, ngươi sẽ chịu thai và sanh một con trai mà đặt tên là Jesus. Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Đấng Rất Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít là tổ phụ Ngài. Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, nước Ngài vô cùng” (Lu-ca 1:31-33).

“Hỡi anh em, ta thật có thể nói cách vững vàng với anh em về tổ Đa-vít rằng người đã chết và chôn rồi, ngày nay mồ mả người còn ở giữa chúng ta. Nhưng, vì người là đấng tiên tri, và biết Đức Chúa Trời đã thề hứa với người Ngài sẽ dấy lên Đấng Christ ngồi trên ngai mình” (Công Vụ Các Sứ Đồ 2:29, 30).

Nhận xét: Đây là một giao ước không điều kiện. Đa-vít không bị ràng buộc phải làm gì. Giao ước này liên quan đến sự cai trị của Đức Chúa Jesus Christ trên dân I-sơ-ra-ên.

♦ Giao Ước Mới: Được hứa trong Giê-rê-mi 31:31, được ban hành trong đêm Lễ Vượt Qua trước khi Đức Chúa Jesus Christ bị bắt, được ấn chứng bằng máu của Đức Chúa Jesus Christ trên thập tự giá.

Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ Ta sẽ lập một giao ước mới với nhà I-sơ-ra-ên và với nhà Giu-đa” (Giê-rê-mi 31:31).

“Khi ăn xong, Ngài cũng làm như vậy, lấy chén đưa cho môn đồ, mà phán rằng: Chén nầy là giao ước mới trong máu Ta vì các ngươi mà đổ ra” (Lu-ca 22:20).

“Cũng một lẽ ấy, sau khi ăn bữa tối rồi, Ngài lấy chén và phán rằng: Chén nầy là sự giao ước mới trong máu Ta; hễ khi nào các ngươi uống, hãy làm điều nầy để nhớ Ta” (I Cô-rinh-tô 11:25).

“Và ấy là Ngài đã ban tài năng cho chúng tôi giúp việc giao ước mới, chẳng phải giao ước bằng chữ, bèn là giao ước bằng Linh; vì chữ làm cho chết, song Linh làm cho sống” (II Cô-rinh-tô 3:6).

“Nhơn đó, Ngài là Đấng trung bảo của giao ước mới, để khi Ngài chịu chết mà chuộc tội đã phạm dưới giao ước cũ, thì những kẻ được kêu gọi nhận lãnh cơ nghiệp đời đời đã hứa cho mình” (Hê-bơ-rơ 9:15).

“gần Đức Chúa Jesus, là Đấng trung bảo của giao ước mới, và gần máu rưới ra, máu đó nói tốt hơn máu của A-bên vậy” (Hê-bơ-rơ 12:24).

V. Kết Luận

Tất cả các giao ước do Đức Chúa Trời thiết lập với loài người trước khi Đấng Christ đến thế gian đều được đúc kết và hình thành trong Giao Ước Mới.

Giao Ước Luật Pháp được Đức Chúa Trời kết ước với toàn thể nhân loại qua dân tộc I-sơ-ra-ên để khiến muôn dân nhận biết và tôn kính tiêu chuẩn yêu thương, thánh khiết, công chính của Đức Chúa Trời. Giao Ước Luật Pháp làm hình bóng cho Giao Ước Ân Điển, tức là Giao Ước Mới.

Giao Ước Mới được Đức Chúa Trời kết ước với toàn thể nhân loại qua dân tộc I-sơ-ra-ên. Đức Chúa Jesus Christ làm trung bảo cho cả hai bên. Ngài đại diện cho Đức Chúa Trời để ban ơn tha thứ, ơn tái sinh, ơn phục hồi địa vị con cái của Đức Chúa Trời, ơn được sống lại và sống đời đời cho những ai tin nhận giao ước. Ngài đại diện cho những người tin nhận giao ước để làm thành những đòi hỏi của luật pháp về sự hình phạt tội lỗi.

Giao Ước Mới không hề triệt tiêu các Giao Ước Cũ (Cựu Ước) vì tinh thần của tất cả các điều khoản và kết quả trong các Giao Ước Cũ đều được giữ nguyên vẹn và thể hiện trong Giao Ước Mới. Giao Ước Mới có những điều khoản được thêm vào để giúp cho loài người có thể thi hành được những điều khoản được ấn định trong Giao Ước Luật Pháp mà loài người đã thất bại trong việc thi hành. Đó là sự thương xót lớn của Đức Chúa Trời dành cho loài người.

Quan điểm thần học cho rằng Giao Ước Ân Điển thay thế và triệt tiêu Giao Ước Luật Pháp, khiến cho Giao Ước Luật Pháp không còn hiệu lực, nghĩa là loài người không cần vâng giữ Mười Điều Răn nữa, là một quan điểm phản nghịch Thánh Kinh. Nếu Giao Ước Luật Pháp không còn hiệu lực thì ngày nay không còn có sự phạm tội, vì “sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp” (I Giăng 3:4). Giao Ước Luật Pháp vẫn còn hiệu lực cho đến khi trời đất cũ qua đi, vì thế, loài người sinh ra trong thời Giao Ước Ân Điển, nếu vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời, điển hình là Mười Hai Điều Răn – mười điều ban hành trong Giao Ước Cũ và hai điều ban hành trong Giao Ước Mới (Công Vụ Các Sứ Đồ 15:28, 29) – thì vẫn bị án phạt hư mất đời đời trong hỏa ngục. Nếu kẻ vi phạm thật lòng cải hối và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ thì chính Đấng Christ gánh thay án phạt cho kẻ ấy. Sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ không hề cho phép loài người ngưng vâng giữ Mười Điều Răn của Thiên Chúa, vì chính mục đích của sự chết đó là để trả giá cho mọi hành động vi phạm Mười Điều Răn.

Thánh Kinh dạy rõ:

“Vậy, chúng ta nhơn đức tin mà bỏ luật pháp hay sao? Chẳng hề như vậy! Trái lại, chúng ta làm vững bền luật pháp” (Rô-ma 3:31).

“Ấy vậy, luật pháp là thánh, điều răn cũng là thánh, công bình và tốt lành” (Rô-ma 7:12).

Sứ Đồ Phao-lô khi viết thư cho Hội Thánh tại Cô-rinh-tô là nơi có nhiều con dân Chúa không phải là người I-sơ-ra-ên, đã nhấn mạnh, đối với người không phải là dân I-sơ-ra-ên thì việc chịu cắt bì không quan hệ gì với họ nhưng họ phải giữ các điều răn. Bởi vì, phép cắt bì là để một người I-sơ-ra-ên được dự phần trong Giao Ước Áp-ra-ham, còn sự giữ điều răn của Đức Chúa Trời là giao ước chung cho toàn thể nhân loại. Phao-lô viết như sau:

“Chịu cắt bì chẳng hề gì, không chịu cắt bì cũng chẳng hề gì; sự quan hệ là giữ các điều răn của Thiên Chúa” (I Cô-rinh-tô 7:19).

Người thật lòng tin và làm theo Lời Chúa là người vâng giữ các điều răn. I Giăng 2:3-6 chép:

3 Nầy tại sao chúng ta biết mình đã biết Ngài, ấy là tại chúng ta giữ các điều răn của Ngài.

4 Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người.

5 Nhưng ai giữ lời phán Ngài, thì lòng yêu Đức Chúa Trời thật là trọn vẹn trong người ấy. Bởi đó, chúng ta biết mình ở trong Ngài.

6 Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm.

Nguyện Đức Thánh Linh, Thần Lẽ Thật, soi sáng tâm trí những ai đọc bài này để họ được sự hiểu biết rõ ràng về ý nghĩa và mục đích của các giao ước Đức Chúa Trời đã lập ra với nhân loại. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
www.timhieutinlanh.net
tim@timhieutinlanh.net

Share This:

8,662 views

Ngươi Chớ Phạm Tội Ngoại Tình

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Ghi Chú: Bấm vào các từ ngữ Hê-bơ-rơ hoặc Hy-lạp để nghe phát âm. Bấm vào các mã số Strong để xem định nghĩa trong tiếng Anh.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này
Bấm vào đây để nghe mp3

"Ngươi chớ phạm tội ngoại tình."
(Xuất Ê-díp-tô Ký 20:14; Phục Truyền Luật lệ Ký 5:18)

Trước hết, chúng ta cần ghi nhớ: "bản tính dâm" hay "bản năng tính dục" không phải là điều xấu xa, tội lỗi. Thiên Chúa dựng nên loài người có nam, có nữ và ban cho loài người bản năng tính dục. Bản năng tính dục cần thiết cho việc lưu truyền nòi giống và đem lại những cảm giác vui thích trong mối quan hệ vợ chồng. Bản năng tính dục cũng như bao nhiêu bản năng khác của loài người, nếu được thể hiện đúng thì sẽ đem lại phước hạnh và ích lợi, nếu thể hiện sai thì sẽ đem lại đau khổ và thiệt hại. Sự thể hiện bản năng tính dục theo thánh ý của Thiên Chúa được gọi là "chính dâm." Tất cả những sự thể hiện bản năng tính dục nghịch lại thánh ý của Thiên Chúa được gọi chung là "tà dâm:"

1. Chính dâm: sự quan hệ tình dục giữa vợ chồng

2. Tà dâm: sự quan hệ tình dục giữa những người không phải là vợ chồng, bao gồm các hành động sau đây:

► ngoại tình: sự quan hệ tình dục giữa một người đã lập gia đình với người không phải là vợ hoặc chồng của mình

► gian dâm: sự quan hệ tình dục giữa những người chưa lập gia đình

► thủ dâm: sự tự thỏa mãn dâm dục bằng tay hoặc đồ vật

► bán dâm: sự quan hệ tình dục để đổi lấy tiền bạc, đồ vật, địa vị, ân huệ…

► mua dâm: sự dùng tiền bạc, đồ vật, địa vị, ân huệ… để đổi lấy quan hệ tình dục

► hiếp dâm hoặc cưỡng dâm: sự bắt ép người khác phải quan hệ tình dục với mình

► thú dâm: sự quan hệ tình dục với loài thú

► đồng tính luyến ái: sự quan hệ tình dục giữa những người cùng phái tính

► loạn luân: sự quan hệ tình dục giữa những người có quan hệ gia đình và bà con gần

► trao đổi vợ chồng: sự những cặp vợ chồng trao đổi người hôn phối để quan hệ tình dục với người hôn phối của người khác

► Chính Dâm

Từ buổi ban đầu, Thiên Chúa dựng nên người nam và người nữ, kết hợp họ với nhau để người nữ giúp đỡ và làm bạn với người nam; đồng thời để cả hai lưu truyền dòng dõi của loài người trên đất và quản trị đất (Sáng Thế Ký 1:26-28; 2:18-25). Việc lưu truyền dòng dõi đòi hỏi sự quan hệ tình dục giữa hai phái tính, vì thế, sự quan hệ tình dục giữa vợ chồng là việc thi hành mệnh lệnh của Thiên Chúa. Sự quan hệ tình dục giữa vợ chồng còn là ơn phước Chúa ban vì nó đem lại những cảm giác và cảm xúc vui sướng, thỏa lòng trong mối quan hệ vợ chồng.

Thánh Kinh dạy rõ, vợ chồng phải xem trọng việc quan hệ tình dục, và đó là mối quan hệ bình đẳng: thân thể của chồng thuộc về vợ, thân thể của vợ thuộc về chồng:

Ma-thi-ơ 19:4-6 " Ngài trả lời rằng: Các ngươi há chưa đọc lời chép về Đấng Tạo Hóa, hồi ban đầu, dựng nên một người nam, một người nữ, và có phán rằng: Vì cớ đó người nam sẽ lìa cha mẹ, mà dính díu với vợ mình; hai người sẽ cùng nên một thịt hay sao? Thế thì, vợ chồng không phải là hai nữa, nhưng một thịt mà thôi. Vậy, loài người không nên phân rẽ những kẻ mà Đức Chúa Trời đã phối hiệp!"

Mác 10:6-8"Nhưng từ lúc đầu sáng thế, Đức Chúa Trời làm ra một người nam và một người nữ. Vì cớ đó, người nam lìa cha mẹ mình mà dính díu với vợ;và hai người cùng nên một thịt mà thôi. Như thế, vợ chồng chẳng phải mà hai nữa, mà chỉ một thịt."

I Cô-rinh-tô 7:2-5 " Song, cho được tránh khỏi mọi sự dâm dục, thì mỗi người đàn ông phải có vợ, mỗi người đàn bà phải có chồng. Chồng phải làm hết bổn phận đối với vợ, và vợ đối với chồng cũng vậy. Vợ không có quyền tự chủ về thân mình, bèn là chồng; chồng cũng vậy, không có quyền tự chủ về thân mình bèn là vợ. Đừng từ chối nhau, trừ ra khi hai bên ưng thuận tạm thời, để chuyên việc cầu nguyện; rồi trở lại hiệp cùng nhau, kẻo quỷ Sa-tan thừa khi anh em không thìn mình mà cám dỗ chăng."

Ngoài ra, con dân Chúa phải giữ cho mối quan hệ tình dục giữa vợ chồng luôn được thánh sạch, bằng cách không bắt chước người đời sử dụng các đồ chơi tình dục (sex toys) và các tài liệu khiêu gợi tình dục qua phim ảnh, sách báo, internet. Con dân Chúa phải tuân theo các luật vệ sinh, thực hành mối quan hệ tình dục giữa vợ chồng trong danh Chúa và biết cầu nguyện cảm tạ Chúa:

Lê-vi Ký 15:18 "Khi nào người nam và người nữ giao cấu nhau, thì phải tắm trong nước, và bị ô uế cho đến chiều tối."

Lê-vi Ký 18:19 "Trong lúc người nữ có kinh nguyệt, chớ đến gần mà cấu hiệp."

Hê-bơ-rơ 13:4 "Mọi người phải kính trọng sự hôn nhân, chốn quê phòng chớ có ô uế, vì Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt kẻ dâm dục cùng kẻ phạm tội ngoại tình."

I Cô-rinh-tô 10:31 "Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hay là làm sự chi khác, hãy vì sự vinh quang của Thiên Chúa mà làm."

Ê-phê-sô 5:20 "Hãy thường thường nhân danh Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, vì mọi sự tạ ơn Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta."

► Tà Dâm: Ngoại Tình

Điều răn thứ bảy được chép trong Xuất Ê-díp-tô Ký 20:14 và Phục Truyền Luật lệ Ký 5:18 nghiêm cấm việc phạm tội ngoại tình. (Bản dịch Phan Khôi 1926 dịch là "Ngươi chớ phạm tội tà dâm.") Từ ngữ "ngoại tình" trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là "nâ'aph" (H5003), có nghĩa là: một người đã có gia đình nhưng quan hệ tình dục với một người không phải là vợ hay chồng của mình.

Tội ngoại tình không chỉ giới hạn trong hành động ngoại tình mà bao gồm:

1. Tư tưởng ham muốn tình dục với người không phải là vợ hay chồng mình, điều này bao gồm việc tư tưởng đến người khác trong khi có quan hệ tình dục với vợ hay chồng:

Ma-thi-ơ 5:27, 28 "Các ngươi có nghe lời phán rằng: Ngươi chớ phạm tội ngoại tình. Song Ta phán cho các ngươi biết: Hễ ai ngó đàn bà mà động tình tham muốn, thì trong lòng đã phạm tội ngoại tình cùng người rồi."

Có người đặt ra vấn đề là: Ma-thi-ơ 5:27, 28 chỉ đề cập đến việc đàn ông nhìn đàn bà mà động tình ham muốn, cho nên, câu này không áp dụng cho đàn bà. Người lý luận như thế tức là đã cho rằng Đức Chúa Jesus tây vị: cùng một hành động xảy ra nhưng Chúa chỉ kết tội phái nam mà không kết tội phái nữ. Thánh Kinh cho chúng ta biết "Thiên Chúa không tây vị ai hết" (Ga-la-ti 2:6; Ê-phê-sô 6:9; I Phi-e-rơ 1:17). Câu phán của Chúa thuộc loại nêu thí dụ làm điển hình, tức là nêu lên một sự kiện để chỉ ra bất cứ sự kiện nào tương tự như vậy đều mang chung một tính chất. Sự kiện được Chúa nêu lên là: nhìn một người không phải là phối ngẫu của mình mà động lòng ham muốn. Tính chất của sự kiện ấy là: phạm tội ngoại tình. Vì thế, bất kể đàn ông hay đàn bà, nếu nhìn một người khác, không phải là vợ hay chồng của mình mà động tình ham muốn thì trong lòng đã phạm tội ngoại tình (hoặc tội gian dâm nếu cả hai, người nhìn và người bị nhìn đều là độc thân). Còn nếu người bị nhìn là người cùng phái tính với người nhìn thì người nhìn vừa phạm tội ngoại tình hoặc gian dâm vừa phạm tội đồng tính luyến ái.

2. Sự ly-dị vợ vì bất cứ lý do gì nếu không phải là vì vợ phạm tội tà dâm.

Ma-thi-ơ 5:32 "Song Ta phán cùng các ngươi: Nếu người nào ly dị  vợ mà không phải vì cớ tà dâm, thì người ấy làm cho vợ mình ra người ngoại tình; lại nếu người nào cưới đàn bà bị ly dị đó, thì cũng phạm tội ngoại tình."

Lý do chính đáng duy nhất để một người ly dị vợ là vì cớ người vợ phạm bất cứ hình thức nào của tội tà dâm. Vì thế, dù người vợ không phạm tội tà dâm nhưng nếu bị chồng ly dị thì người vợ vẫn bị xem là người ngoại tình. Mặc khác, nếu một người vợ bị chồng ly dị vì lý do nào khác hơn là vì phạm tội tà dâm thì sự ly dị đó không hợp pháp trước mặt Chúa, cho nên, quan hệ vợ chồng vẫn còn. Nếu người vợ tái giá thì đối với luật pháp của Chúa cả người vợ lẫn người chồng mới của bà ta đều phạm tội ngoại tình.

Nếu một người ly dị vợ hay chồng vì bất cứ lý do gì khác hơn là vì người phối ngẫu phạm tội tà dâm thì chính người đó đã phạm tội ngoại tình:

Mác 10:11, 12 "Ngài phán rằng: Ai ly dị vợ mình mà cưới vợ khác, thì phạm tội tà dâm nghịch lại nàng; còn nếu người đàn bà bỏ chồng mình mà lấy chồng khác, thì cũng phạm tội tà dâm."

Như đã trình bày, ngoại tình là một trong các hình thức của sự tà dâm. Mặc dù điều răn thứ bảy chỉ đề cập đến tội ngoại tình nhưng trong các nơi khác của Thánh Kinh có nghiêm cấm mọi hình thức tà dâm. Trong thời Tân Ước, Đức Thánh Linh đã thêm hai điều răn cho Hội Thánh (Công Vụ Các Sứ Đồ 15:28):

1. Kiêng ăn của cúng thần tượng, huyết, thú vật chết ngột

2. Chớ tà dâm

Đây là hai điều răn thêm vào Mười Điều Răn đã có trong thời Cựu Ước chứ không phải để thay thế Mười Điều Răn. Thật là vô lý nếu cho rằng thời Tân Ước con dân Chúa chỉ cần vâng giữ hai điều răn này mà không cần vâng giữ Mười Điều Răn. Thế nhưng, có nhiều "tiến sĩ thần học" thời nay công bố rằng tín đồ chỉ cần vâng giữ hai điều răn nói trên mà không cần vâng giữ Mười Điều Răn!

Đức Thánh Linh thêm hai điều răn này là để tóm gọn các sự nghiêm cấm khác trong Thánh Kinh không được đề cập trong Mười Điều Răn cho những người không thuộc dân I-sơ-ra-ên mới gia nhập Hội Thánh, là những người vốn không biết gì về Thánh Kinh Cựu Ước như những người I-sơ-ra-ên.

► Anh Chị Em Ruột Kết Hôn Lẫn Nhau

Trong buổi đầu sáng thế, Thiên Chúa cho phép anh chị em ruột kết hợp làm vợ chồng, nhờ đó, loài người mới có thể tiếp tục thi hành mệnh lệnh sanh sản làm cho đầy dẫy đất. Sau khi dân I-sơ-ra-ên được mang ra khỏi Ai-cập thì Thiên Chúa nghiêm cấm việc anh chị em ruột kết hôn lẫn nhau. Giải thích hợp lý nhất để giúp cho chúng ta hiểu vì sao trước đó việc anh chị em ruột kết hôn với nhau không bị kể vào tội loạn luân, là: Trong khoảng 2000 năm đầu tiên của lịch sử loài người, các tế bào của loài người chưa bị suy thoái trầm trọng, cho nên, việc kết hôn giữa anh chị em ruột với nhau không tạo ra các hiệu quả tật bệnh cho con cái. Theo thời gian, các tế bào bị suy thoái ngày càng trầm trọng vì tội lỗi ngày càng gia tăng và môi sinh ngày càng bị ô nhiễm nặng, khiến cho việc kết hợp giữa hai bộ DNA cùng loại sẽ giảm thiểu khả năng thích nghi phát triển và khả năng kháng thể của thai nhi.

► Hậu Quả của Sự Tà Dâm

Tà dâm dưới bất cứ hình thức nào cũng đều là vi phạm luật pháp của Thiên Chúa, là tội lỗi. Tuy nhiên sự phạm tội tà dâm có hậu quả nghiêm trọng hơn những tội khác; vì những tội khác mà người ta phạm thì ở bên ngoài thân thể còn tội tà dâm "phạm đến chính thân thể" của người phạm tội, và người phạm tội trở nên cùng một xác thịt với người mình có quan hệ tà dâm:

I Cô-rinh-tô 6:15-18 "Anh em há chẳng biết thân thể mình là chi thể của Đấng Christ sao? Vậy thì mình có nên lấy chi thể của Đấng Christ mà làm thành chi thể của điếm đĩ chăng? Đức Chúa Trời không cho phép! Anh em há chẳng biết người nào kết hiệp với điếm đĩ, thì trở nên một xác với nó sao? Vì có chép rằng: Hai người sẽ đồng nên một thịt. Còn ai kết hiệp với Chúa thì trở nên một tánh thiêng liêng cùng Ngài. Hãy tránh sự tà dâm. Mặc dầu người ta phạm tội gì, tội ấy còn là ngoài thân thể; nhưng kẻ buông mình vào sự tà dâm, thì phạm đến chính thân thể mình."

Chính vì thế mà những người phạm tội tà dâm đem các thứ tật bệnh từ thân thể của người khác vào trong thân thể của mình, làm hại thân thể của mình. Trong trường hợp một người bị tà linh nhập thì người có quan hệ tình dục với người ấy cũng sẽ bị tà linh xâm nhập.

► Ngoại Tình Thuộc Linh

Thánh Kinh gọi việc con dân Chúa thờ lạy hình tượng, tà thần là phạm tội ngoại tình, là làm điếm:

Giê-rê-mi 3:8 "Dầu Ta đã bỏ I-sơ-ra-ên bội nghịch và đã cho nó tờ ly-dị, vì cớ nó ngoại tình, Ta cũng còn thấy em gái quỷ quyệt nó, là Giu-đa, chẳng sợ sệt chi; nhưng nó cũng cứ đi hành dâm."

Thời Tân Ước, tội ngoại tình thuộc linh hay là thờ lạy hình tượng, tà thần không giới hạn trong hành động thờ lạy hình tượng và tà thần mà còn bao gồm lòng ưa thích các hình tượng tà thần, tức là phạm tội ngoại tình thuộc linh trong tư tưởng, và lòng tham lam, bất kể là tham lam điều gì:

Ê-phê-sô 5:5 "Vì anh em phải biết rõ rằng kẻ gian dâm, ô uế, tham lam, tức là kẻ thờ hình tượng, không một kẻ nào được dự phần kế nghiệp vương quốc của Đấng Christ là Thiên Chúa."

Cô-lô-se 3:5 "Vậy hãy làm chết các chi thể của anh em ở nơi hạ giới, tức là tà dâm, ô uế, tình dục, ham muốn xấu xa , tham lam, tham lam chẳng khác gì thờ hình tượng."

Tham lam là muốn có nhiều hơn sự nhu cầu của mình hoặc ưa thích và muốn chiếm đoạt điều không thuộc về mình. Con dân Chúa, nếu không vâng theo Lời Chúa trong I Ti-mô-thê 6:8 tức là phạm tội ngoại tình thuộc linh vì đã tôn thờ tiền bạc:

"Như vậy, miễn là đủ ăn đủ mặc thì phải thỏa lòng."

Hậu quả của sự tham tiền bạc rất là kinh khiếp:

I Ti-mô-thê 6:9, 10 "Còn như kẻ muốn nên giàu có, ắt sa vào sự cám dỗ, mắc bẫy dò, ngã trong nhiều sự tham muốn vô lý thiệt hại kia, là sự làm đắm người ta vào sự hủy diệt hư mất. Bởi chưng sự tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác, có kẻ vì đeo đuổi nó mà bội đạo, chuốc lấy nhiều điều đau đớn."

Từ ngữ ô uế trong Ê-phê-sô 5:5 cũng như những nơi khác trong Thánh Kinh, như: Khải Huyền 3:4; 21:27; 22:11, có nhiều nghĩa và một trong những nghĩa quan trọng được định nghĩa trong Ê-sai 56:2 là sự không vâng giữ ngày Sa-bát, làm theo những điều nghịch lại Lời Chúa mà thế gian vẫn làm:

"Phước thay cho người làm điều đó, và con người cầm vững sự đó, giữ ngày Sa-bát đặng đừng làm ô uế, cấm tay mình không làm một điều ác nào!"

Gia-cơ 1:27 "Sự tin đạo thanh sạch không vết, trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, là : thăm viếng kẻ mồ côi, người góa bụa trong cơn khốn khó của họ, và giữ lấy mình cho khỏi sự ô uế của thế gian."

► Kết Luận

Bản năng tính dục là sự ban cho của Thiên Chúa để loài người được vui thỏa trong quan hệ vợ chồng và làm tròn thiên chức sanh sản thêm nhiều, làm cho loài người đầy dẫy đất (Sáng Thế Ký 1:28). Nhưng nếu bản năng tính dục được thể hiện một cách tùy tiện vượt ngoài nguyên tắc của Thánh Kinh thì sẽ khiến cho loài người phạm tội. Điều răn thứ sáu: "Ngươi chớ phạm tội ngoại tình" được bổ sung thêm bởi điều răn "Chớ tà dâm" trong Tân Ước là nguyên tắc sống đạo cho con dân Chúa trong phương diện tính dục.

Tội ngoại tình nói lên sự không chung thủy của một người đối với vợ hay chồng của mình. Thánh Kinh dùng tội ngoại tình làm hình bóng cho sự không trung tín của con dân Chúa đối với Thiên Chúa khi họ say mê, tôn thờ, và trông cậy nơi các thần tượng.

Huỳnh Christian Timothy
13.04.2012

www.timhieutinlanh.net
tim@timhieutinlanh.net

 

 

Share This: