2,611 views

Thiên Tượng Trong Năm 2011

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này
Bấm vào đây để download Audio bài chia sẻ này

"Thiên Tượng" là những hiện tượng xảy ra trên trời. Từ ngữ này thường được dùng để chỉ những hiện tượng liên quan đến thời tiết của địa cầu, như: mây, mưa, gió, tuyết, sấm chớp, giông, bão, v.v.; hoặc những hiện tượng liên quan đến sự vận hành của các thiên thể, như: sao chổi, sao băng, nhật thực, nguyệt thực, v.v.. Trong năm 2011 có hai thiên tượng xảy ra trùng khớp vào ngày Lễ Ngũ Tuần 12.06.2011 và Lễ Thổi Kèn 29.09.2011 [1].

Hiện tượng thứ nhất là đúng vào ngày Lễ Ngũ Tuần vừa qua, mặt trời đã ở vào vị trí phía trên đầu và giữa hai sừng của chòm sao Kim Ngưu, (xem hình 1 dưới đây). Hiện tượng thứ hai là đúng vào ngày Lễ Thổi Kèn vừa qua, mặt trời đã ở ngang tầm vai và mặt trăng đã ở ngang tầm chân của chòm sao Xử Nữ, (xem hình 2 dưới đây).

Hình 1
Thiên tượng lúc 12 giờ trưa, ngày 12.06.2011,
nhìn từ Jerusalem, Israel.
(Bấm vào hình để xem toàn cảnh của bầu trời)

Hình 2
Thiên tượng lúc 12 giờ trưa, ngày 29.09.2011,
nhìn từ Jerusalem, Israel.
(Bấm vào hình để xem toàn cảnh của bầu trời)

Các thiên tượng này có ý nghĩa gì khi được đối chiếu với các dữ kiện của Thánh Kinh? Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu những điểm sau đây: (1) Mục đích và ý nghĩa của các vì tinh tú; (2) Mục đích và ý nghĩa của các ngày lễ trong Thánh Kinh [2]; rồi dựa vào đó để tìm kiếm một kết luận có lý về ý nghĩa của hai thiên tượng kể trên. Phần trình bày dưới đây về ý nghĩa thuộc linh của các chòm sao trong Cung Hoàng Đạo và ý nghĩa thuộc linh của các ngày lễ trong Thánh Kinh, phần lớn chỉ dựa trên suy luận, cho nên chúng ta không thể biến đó thành tín lý trong Thánh Kinh. Tuy nhiên, những suy luận đó hoàn toàn phù hợp với các giáo lý của Thánh Kinh, đem lại cho chúng ta nhiều phước hạnh trong việc suy ngẫm Thánh Kinh và chiêm nghiệm các kỳ công của Thiên Chúa trong vũ trụ.

Mục đích của các vì tinh tú

Thiên Chúa dựng nên các vì tinh tú với những mục đích và nghiêm cấm loài người thờ lạy các vì tinh tú. Nhưng từ ngàn xưa, Sa-tan đã cố ý xúi dục loài người thờ lạy các vì tinh tú qua các tôn giáo và các huyền thoại mê tín, dị đoan; qua các thuật chiêm tinh bói toán, chấm tử vi từ đông sang tây. Mỗi dân tộc, mỗi nền văn hóa, ít hay nhiều đều có những huyền thoại để thần thánh hóa các vì tinh tú; cùng những học thuật chiêm tinh để đoán định các việc tương lai. Tuy nhiên, lẽ thật về mục đích và ý nghĩa của các vì sao, đã do chính Thiên Chúa mạc khải cho loài người và được ghi chép lại trong Thánh Kinh.

Sáng Thế Ký 1:14-16:

"Thiên Chúa lại phán rằng: Phải có các vì sáng trong khoảng không trên trời, đặng phân ra ngày với đêm, và dùng làm dấu để định thì tiết, ngày và năm; lại dùng làm các vì sáng trong khoảng không trên trời để soi xuống đất; thì có như vậy. Thiên Chúa làm nên hai vì sáng lớn; vì lớn hơn để cai trị ban ngày, vì nhỏ hơn để cai trị ban đêm; Ngài cũng làm các ngôi sao"[3].

Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:19:

"lại, e khi ngươi ngước mắt lên trời thấy mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, tức là toàn cả thiên binh, thì ngươi bị quyến dụ quì xuống trước các vì đó, và thờ lạy các tinh tú nầy mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã chia phân cho muôn dân dưới trời chăng."

Thi Thiên 19:1-4:

"Các từng trời rao truyền sự vinh quang của Đức Chúa Trời. Bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm. Ngày nầy giảng cho ngày kia. Đêm nầy tỏ sự tri thức cho đêm nọ. Chẳng có tiếng, chẳng có lời nói; Cũng không ai nghe tiếng của chúng nó. Dây do chúng nó bủa khắp trái đất, và lời nói chúng nó truyền đến cực địa. Nơi chúng nó Ngài đã đóng trại cho mặt trời."

Thi Thiên 104:19:

"Ngài đã làm nên mặt trăng để chỉ thì tiết; Mặt trời biết giờ lặn."

Thi Thiên 19:1-4:

"Hỡi mặt trời, mặt trăng, hãy tôn vinh Ngài! Hỡi hết thảy ngôi sao sáng, hãy tôn vinh Ngài!"

Qua Lời Chúa, chúng ta nhận biết các mục đích của Thiên Chúa khi Ngài dựng nên những vì tinh tú là:

  • Dùng chúng làm dấu để phân biệt ngày với đêm.
  • Dùng chúng làm dấu để định thì tiết.
  • Dùng chúng làm dấu để phân định ngày, tháng, năm.
  • Dùng chúng làm các vì sáng trong khoảng không trên trời để soi xuống đất.
  • Phân chia chúng cho muôn dân dưới trời
  • Dùng chúng rao truyền sự vinh quang của Thiên Chúa.
  • Dùng chúng để tôn vinh Thiên Chúa.

Trong công tác rao truyền vinh quang của Thiên Chúa: về mặt thuộc thể, rõ ràng các vì tinh tú là chứng tích cho quyền năng sáng tạo vô biên và sự khôn ngoan tuyệt đối của Thiên Chúa, mà loài người có thể nhìn thấy bằng con mắt xác thịt; về mặt thuộc linh, phải chăng các vì tinh tú trong Cung Hoàng Đạo đã được Thiên Chúa dùng để minh họa lịch sử của loài người và ơn cứu chuộc của Thiên Chúa dành cho nhân loại? Một điểm đáng cho chúng ta lưu ý là Thiên Chúa đã đặt tên cho từng vì sao:

"Ngài dựng nên Sao Bắc Đẩu (Arcturus), Sao Cày (Orion), và Sao Rua (Pleiades), cùng những lầu các bí mật của phương nam" (Gióp 9:9).

"Ngài đếm số các vì sao; gọi từng tên hết thảy các vì ấy" (Thi Thiên 147:4).

"Hãy ngước mắt lên cao mà xem: Ai đã tạo những vật nầy? Ấy là Đấng khiến các cơ binh ra theo số nó, và đặt tên hết thảy; chẳng một vật nào thiếu, vì sức mạnh Ngài lớn lắm, và quyền năng Ngài rất cao" (Ê-sai 40:26).

Trong Gióp 38:31, 32 chính Thiên Chúa gọi tên riêng của Cung Hoàng Đạo và một số chòm sao:

"Ngươi có thế riết các dây chằng Sao Rua (Pleiades) lại, Và tách các xiềng Sao Cày (Orion) ra chăng? Ngươi có thế làm cho Cung Hoàng Đạo (Mazzaroth/Zodiac) ra theo mùa, và dẫn đường cho Bắc Đẩu (Arcturus) với các sao theo nó chăng?"

Về ý nghĩa của từ ngữ, "Cung Hoàng Đạo" là danh từ Hán Việt: "cung" là "hình vòng cung," "hoàng" là "vua," "đạo" là đường đi; "cung hoàng đạo" là đường đi hình vòng cung của vua; và chữ "vua" này dùng để chỉ mặt trời, mà theo cái nhìn của loài người từ địa cầu thì mặt trời là "vua" của các vì tinh tú. Trong tiếng Hy-lạp thì từ ngữ "zōdiakos" được dùng để gọi Cung Hoàng Đạo, được phiên âm sang tiếng La-tin là "zōdiacus," rồi từ tiếng La-tin được phiên âm ra Anh ngữ là "zodiac." Zōdiakos có nghĩa là những con thú, có lẽ, vì hầu hết các hình ảnh tiêu biểu cho những chòm sao trong Cung Hoàng Đạo là hình ảnh của loài thú. Tuy nhiên, từ ngữ "Mazzaroth" trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ chỉ có nghĩa là: được biệt riêng ra (như là biệt riêng ra để làm nhiệm vụ soi sáng và phân định thì tiết, ngày, tháng, năm).

Về thiên văn, Cung Hoàng Đạo là một vòng tròn tưởng tượng trong vũ trụ, cùng tâm điểm với quỹ đạo của địa cầu, tiêu biểu cho đường đi của mặt trời theo cái nhìn từ địa cầu (vòng đỏ sậm bên ngoài trong hình 3 dưới đây). Cung Hoàng Đạo chia đều thành 12 cung, mỗi cung 30o và là vị trí của một chòm sao chính cùng với ba chòm sao phụ liên kết với chòm sao chính.  Nhìn từ địa cầu, dường như mỗi tháng mặt trời di chuyển ngang qua một trong 12 chòm sao chính và  ba chòm sao phụ liên kết với chòm sao chính. Vì thế, các chòm sao trong Cung Hoàng Đạo được dùng làm các dấu hiệu để ấn định ngày, mùa, tháng, năm; và qua đó, ấn định thì tiết của từng mùa như Thánh Kinh đã xác định trong Sáng Thế Ký 1:4. Nói cách khác, trong khi địa cầu quay chung quanh mặt trời thì mỗi tháng địa cầu đối diện với một trong 12 chòm sao đã được Thiên Chúa phân bố đều thành một vòng tròn bao quanh địa cầu, mặt trời và mặt trăng. Vòng tròn của các chòm sao đó ngày nay được dân Á Đông gọi là "Cung Hoàng Đạo," còn dân Tây Phương thì gọi là "Đường Zodiac." Từ đông sang tây, trong môn thiên văn của mọi nền văn hóa, 12 chòm sao chính và 36 chòm sao phụ của Cung Hoàng Đạo luôn luôn giống nhau.

Các nhà thiên văn học từ xa xưa đã biết quan sát và ghi chép sự xuất hiện của các chòm sao trong Cung Hoàng Đạo để làm lịch cho các vụ gieo trồng. Tuy nhiên, Sa-tan đã tạo ra những thần thoại hoặc những ý nghĩa mê tín dị đoan trong việc chiêm tinh bói toán mà gán cho Cung Hoàng Đạo. Đó cũng là một trong những chiến thuật rất hiệu quả của Sa-tan để khiến cho loài người phạm tội trước Thiên Chúa, làm nhục chính mình và Đấng Tạo Hóa, khi họ sấp mình thờ lạy các vì tinh tú và cầu phước từ chúng.

Hình 3
(Bấm vào hình để phóng lớn)
Minh họa vị trí của các chòm sao trong Cung Hoàng Đạo so với mặt trời và địa cầu. Vòng tròn đỏ phía trong là quỹ đạo của địa cầu chung quanh mặt trời. Vòng tròn đỏ lớn phía ngoài là Cung Hoàng Đạo, tiêu biểu cho đường đi tưởng tượng của mặt trời. Những đường xanh lá cây kết nối các vì sao trong mỗi chùm sao thuộc về Cung Hoàng Đạo. Vòng tròn trắng xanh tiêu biểu cho xích đạo trời (celestial equator) tương ứng với xích đạo của địa cầu mà mỗi năm đường đi tưởng tượng của mặt trời cắt ngang qua hai lần, vào tháng ba và tháng chín. Hai thời điểm này được gọi là: Xuân Phân và Thu Phân. Vào hai ngày này thì ngày và đêm dài bằng nhau, khi đó, mặt trời đứng thẳng góc với đường xích đạo trên dất.
Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/File:Ecliptic_path.jpg

Ý nghĩa của các vì tinh tú trong Cung Hoàng Đạo

Dù Thánh Kinh không xác định cách cụ thể nhưng theo niềm tin truyền thống của người Do-thái, được Sử Gia Joshephus chép lại, thì Thiên Chúa đã đặt lời tiên tri về lịch sử của nhân loại và chương trình cứu rỗi nhân loại vào trong Cung Hoàng Đạo. Mười hai chòm sao chính trong Cung Hoàng Đạo mang ý nghĩa của mười hai lời tiên tri.

Vì lời hứa đầu tiên về sự cứu rỗi của Thiên Chúa ban cho nhân loại được ghi chép trong Sáng Thế Ký 3:15 và lời tiên tri về sự xuất hiện của "Vua trên muôn vua, Chúa trên muôn chúa" được ghi chép trong Khải Huyền 19:16, cho nên, sứ điệp của Thiên Chúa được ghi chép trong các vì sao nhất thiết bắt đầu bằng chòm sao Xử Nữ và kết thúc với chòm sao Hải Sư. Dưới đây là bảng liệt kê 12 chòm sao thuộc Cung Hoàng Đạo và ý nghĩa thuộc linh mà chúng tiêu biểu:

  • Virgo – Xử Nữ (Trinh Nữ, Thất Nữ), tương ứng với chòm sao Thất Nữ, mang hình dáng một trinh nữ. Ý nghĩa thuộc linh: Một nữ đồng trinh sẽ sinh ra một Đấng Giải Cứu để giải cứu nhân loại ra khỏi tội lỗi và hậu quả của tội lỗi.

"Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người"(Sáng Thế Ký 3:15).

"Vậy nên, chính Chúa sẽ ban một điềm cho các ngươi: nầy một gái đồng trinh sẽ chịu thai, sanh ra một trai, và đặt trên là Em-ma-nu-ên"(Ê-sai 7:14).

  • Libra – Thiên Bình hoặc Thiên Xứng, tương ứng với chòm sao Thiên Xứng, mang hình dáng một cái cân trong trạng thái cân bằng. Ý nghĩa thuộc linh: Để giải cứu nhân loại ra khỏi tội lỗi và hậu quả của tội lỗi, Đấng Giải Cứu phải trả một giá tương xứng với sự phạm tội của nhân loại mới thỏa mãn đức công chính của Thiên Chúa.

"Theo luật pháp thì hầu hết mọi vật đều nhờ huyết mà được sạch: không đổ huyết thì không có sự tha thứ"(Hê-bơ-rơ 9:22).

"Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét, cũng vậy, Đấng Christ đã dâng mình chỉ một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người; Ngài lại sẽ hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội lỗi đi nữa, nhưng để ban sự cứu rỗi cho kẻ chờ đợi Ngài"(Hê-bơ-rơ 9:27, 28).

  • Scorpio – Hổ Cáp hoặc Thần Nông, Thiên Yết, Thiên Hạt, tương ứng với chòm sao Thiên Hạt, mang hình dáng con bọ cạp. Ý nghĩa thuộc linh: Nọc độc của sự chết là tội lỗi (tội lỗi làm cho chết), vì thế, để trả một giá tương xứng cho sự phạm tội của nhân loại thì Đấng Giải Cứu phải chịu khổ và chịu chết.

"Vì tiền công của tội lỗi là sự chết"(Rô-ma 6:23a).

"Hỡi sự chết, sự thắng của mầy ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mầy ở đâu? Cái nọc sự chết là tội lỗi, sức mạnh tội lỗi là luật pháp"(I Cô-rinh-tô 15:55, 56).

  • Sagittarius – Nhân Mã hoặc Xạ Thủ, Cung Thủ, tương ứng với chòm sao Nhân Mã, mang hình một cung thủ đầu người, mình ngựa. Ý nghĩa thuộc linh: Để cản trở sự ra đời của Đấng Giải Cứu, Sa-tan lập mưu làm ô nhiễm dòng dõi của người nữ bằng cách xui khiến các thiên sứ phạm tội dưới quyền nhập vào những người đàn ông không kính sợ Thiên Chúa, rồi dùng những người này làm băng hoại dòng dõi của loài người, như đã được ghi chép trong Sáng THế Ký 6:1-4:

"Vả, khi loài người khởi thêm nhiều trên mặt đất, và khi loài người đã sanh được con gái rồi, các con trai của Đức Chúa Trời thấy con gái loài người tốt đẹp, bèn cưới người nào vừa lòng mình mà làm vợ. Đức Giê-hô-va phán rằng: Thần ta sẽ chẳng hằng ở trong loài người luôn; trong điều lầm lạc, loài người chỉ là xác thịt; đời người sẽ là một trăm hai mươi năm mà thôi. Đời đó và đời sau, có người cao lớn trên mặt đất, vì con trai Đức Chúa Trời ăn ở cùng con gái loài người mà sanh con cái; ấy những người mạnh dạn ngày xưa là tay anh hùng có danh."

  • Capricornus – Ma Kết, tương ứng với chòm sao Ma Kết, mang hình con dê có đuôi cá. Ý nghĩa thuộc linh: Tội lỗi của loài người lên đến tuyệt đỉnh khiến cho Thiên Chúa phải tiêu diệt thế gian.

"Thế gian bấy giờ đều bại hoại trước mặt Thiên Chúa và đầy dẫy sự hung ác. Nầy, Thiên Chúa nhìn xem thế gian, thấy điều bại hoại, vì hết thảy xác thịt làm cho đường mình trên đất phải bại hoại. Thiên Chúa bèn phán cùng Nô-ê rằng: Kỳ cuối cùng của mọi xác thịt đã đưa đến trước mặt Ta; vì cớ loài người mà đất phải đầy dẫy điều hung hăng; vậy, Ta sẽ diệt-trừ họ cùng đất"(Sáng Thế Ký 6:11-13).

  • Aquarius – Bảo Bình, hay Thủy Bình tương ứng với chòm sao Bảo Bình, manh hình một người đổ nước. Ý nghĩa thuộc linh: Thiên Chúa dùng một cơn lụt lớn để tiêu diệt thế gian.

"Còn Ta đây, Ta sẽ dẫn nước lụt khắp trên mặt đất, đặng tuyệt diệt các xác thịt có sanh khí ở dưới trời; hết thảy vật chi ở trên mặt đất đều sẽ chết hết"(Sáng Thế Ký 6:17).

  • Pisces – Song Ngư, tương ứng với chòm sao Song Ngư, mang hình hai con cá bơi ngược chiều. Ý nghĩa thuộc linh: Trong cơn nước lụt, Thiên Chúa vẫn chừa lại những người đàn ông và đàn bà có lòng tin nơi Ngài và chưa bị băng hoại bởi mưu kế của Sa-tan.

"Mọi loài ở trên mặt đất đều bị hủy diệt, từ loài người cho đến loài thú, loài côn trùng, cùng loài chim trời, chỉ còn Nô-ê và các loài ở với người trong tàu mà thôi"(Sáng Thế Ký 7:23).

  • Aries – Dương Cưu hay Bạch Dương, tương ứng với chòm sao Bạch Dương, mang hình con chiên đực. Ý nghĩa thuộc linh: Chiên Con của Thiên Chúa sẽ xuất hiện để hoàn thành công cuộc cứu rỗi nhân loại.

"Qua ngày sau, Giăng thấy Đức Chúa Jesus đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi"(Giăng 1:29).

"Vì biết rằng chẳng phải bởi vật hay hư nát như bạc hoặc vàng mà anh em đã được chuộc khỏi sự ăn ở không ra chi của tổ tiên truyền lại cho mình, bèn là bởi huyết báu Đấng Christ, dường như huyết của chiên con không lỗi không vít, đã định sẵn trước buổi sáng thế, và hiện ra trong cuối các thời kỳ vì cớ anh em"(I Phi-e-rơ 1:18-20).

  • Taurus – Kim Ngưu, tương ứng với chòm sao Kim Ngưu, mang hình con bò đực. Ý nghĩa thuộc linh: Sau khi chịu chết để chuộc nhân loại ra khỏi tội lỗi và hậu quả của tội lỗi, Đấng Giải Cứu sẽ chỗi dậy, dũng mãnh như một con bò tơ, để phán xét và cai trị muôn dân.

"Rồi, tôi thấy trời mở ra, và này, có một con ngựa trắng. Đấng cưỡi nó được xưng là Thành Tín và Chân Thật. Trong sự công chính Ngài sẽ phán xét và gây chiến. Đôi mắt Ngài như ngọn lửa. Trên đầu Ngài có nhiều mão và có một danh được viết mà không ai biết, ngoại trừ chính Ngài. Ngài được khoác áo đã nhúng trong máu và tên Ngài được xưng là 'Lời của Đức Chúa Trời.' Các đạo binh trên trời, mặc áo vải mịn, trắng và tinh sạch, đều cưỡi ngựa trắng, theo Ngài. Từ miệng Ngài ra một thanh gươm bén và Ngài dùng nó để đánh hạ các quốc gia. Ngài sẽ cai trị chúng bằng một cây gậy sắt. Ngài sẽ giày đạp thùng ép rượu của cơn thịnh nộ dữ dội của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Trên áo và trên đùi Ngài có một danh được viết: 'Vua Của Các Vua và Chúa Của Các Chúa'"(Khải Huyền 19:11-16 – Bản Dịch Ngôi Lời) [4].

  • Gemini – Song Tử (Song Nam), tương ứng với chòm sao Song Tử, mang hình hai bé trai song sinh. Có ba ý nghĩa thuộc linh: (1) A-đam thứ nhất tiếp nhận Ê-va như thế nào thì A-đam thứ hai cũng sẽ tiếp nhận tân nương của Ngài là Hội Thánh như thế ấy. (2) A-đam thứ nhất nhờ A-đam thứ hai mà được phục hồi địa vị làm con của Thiên Chúa và cả hai trở thành anh em. (3) Đấng Christ vừa mang nhân tính (Con Người) lại vừa mang thần tính (Con Trời) cho đến đời đời.

"Giê-hô-va Thiên Chúa dùng xương sường đã lấy nơi A-đam làm nên một người nữ, đưa đến cùng A-đam. A-đam nói rằng: Người nầy là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi mà ra. Người nầy sẽ được gọi là người nữ, vì nó do nơi người nam mà có. Bởi vậy cho nên người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ trở nên một thịt."(Sáng Thế Ký 2:22-24).

"Hỡi kẻ làm vợ, phải vâng phục chồng mình như vâng phục Chúa, vì chồng là đầu vợ, khác nào Đấng Christ là đầu Hội Thánh, Hội Thánh là thân thể Ngài, và Ngài là Đấng Giải Cứu của Hội Thánh" (Ê-phê-sô 5:22, 23).

"Tôi nghe như tiếng của một đám đông lớn, như tiếng của nhiều dòng nước, như tiếng sấm dội vang rền rằng: 'A-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng cai trị; chúng ta hãy vui vẻ, mừng rỡ và dâng sự tôn kính lên Ngài. Hôn lễ của Chiên Con đã tới. Vợ Ngài đã sẵn sàng. Người đã được ban cho trang phục trắng, mịn và sạch. Trang phục là những việc làm công bình của các thánh đồ.' Thiên sứ phán với tôi rằng: 'Hãy viết: Phước cho những kẻ được gọi vào tiệc cưới của Chiên Con.' Người phán với tôi rằng: 'Những lời này là Lời Chân Thật của Đức Chúa Trời'" (Khải Huyền 19:6-9 – Bản Dịch Ngôi Lời) [4].

"Ấy vậy, có lời chép rằng: Người thứ nhứt là A-đam đã nên linh hồn sống. A-đam sau hết là thần ban sự sống"(I Cô-rinh-tô 15:45).

"Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định. Vì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em"(Rô-ma 8:28, 29).

  • Cancer – Cự Giải hay Bắc Giải, tương ứng với chòm sao Cự Giải, mang hình con cua. Ý nghĩa thuộc linh: Muôn dân thuộc muôn nước, từ bốn phương trời sẽ quy tụ trong thành thánh của Thiên Chúa trong cõi trời mới, đất mới.

"Các quốc gia đã được cứu sẽ bước đi trong ánh sáng của thành. Các vua trên đất sẽ đem sự vinh quang và sự oai nghi của họ vào trong thành. Ban ngày, các cổng thành không hề đóng. Tại đó, không còn có ban đêm. Họ sẽ đem sự vinh quang và sự oai nghi của các quốc gia vào trong thành"(Khải Huyền 21:24-26 – Bản Dịch Ngôi Lời) [5].

  • Leo – Sư Tử, tương ứng với chòm sao Hải Sư, mang hình sư tử. Ý nghĩa thuộc linh: Đấng Christ trong địa vị Vua của muôn vua, Chúa của muôn chúa, sẽ cai trị vương quốc của Thiên Chúa cho đến đời đời.

"Thiên sứ thứ bảy thổi loa, có những tiếng nói lớn trên trời rằng: 'Các quốc gia của thế gian đã thuộc về Chúa chúng ta và Đấng Christ Ngài. Ngài sẽ cai trị cho đến đời đời'" (Khải Huyền 11:15 – Bản Dịch Ngôi Lời) [6].

Lễ Ngũ Tuần và ý nghĩa của thiên tượng thứ nhất

Lễ Ngũ Tuần, trong nguyên ngữ là Lễ Mùa Gặt hoặc Lễ Các Tuần Lễ, do Thiên Chúa chỉ định cho dân sự của Ngài cử hành hàng năm (Lê-vi Ký 23: 15-22). Lễ Ngũ Tuần đối với dân I-sơ-ra-ên là cơ hội để nhớ đến sự kiện Thiên Chúa ban hành Mười Điều Răn tại núi Si-na-i; đối với Hội Thánh là cơ hội để nhớ đến sự kiện Đức Thánh Linh được Thiên Chúa ban cho Hội Thánh và Hội Thánh được báp-tem bằng Thánh Linh, cũng là thời điểm luật pháp của Thiên Chúa được chép vào trong lòng của con dân Chúa. Có lẽ, trong ý nghĩa thuộc linh sâu kín, Lễ Ngũ Tuần tiêu biểu cho thời kỳ Thiên Chúa thu hoạch vụ mùa thuộc linh của Ngài sau khi hạt giống Đấng Christ đã được gieo vào trong thế gian, đã chết, đã phục sinh, và mang lại nhiều kết quả. Vì thế, thiên tượng mặt trời hiện ra giữa hai sừng của chòm sao Kim Ngưu trong ngày Lễ Ngũ Tuần có thể là dấu hiệu tỏ ra cho biết Đấng Christ sắp hiện ra cách vinh hiển để đem Hội Thánh về nhà Cha và thi hành sự phán xét trên toàn thế gian. Thiên tượng đó cũng khiến cho chúng ta nhớ đến Thi Thiên 84:11:

"Vì Giê-hô-va Thiên Chúa là mặt trời và là cái khiên; Đức Giê-hô-va sẽ ban ân điển và vinh quang; Ngài sẽ chẳng từ chối điều tốt lành gì cho ai ăn ở ngay thẳng."

Lễ Thổi Kèn và ý nghĩa của thiên tượng thứ nhì

Lễ Thổi Kèn cũng do Thiên Chúa chỉ định cho dân sự của Ngài cử hành hàng năm (Lê-vi Ký 23:23-25). Có lẽ, trong ý nghĩa thuộc linh sâu kín, Lễ Thổi Kèn tiêu biểu cho (1) ngày Đấng Christ đem Hội Thánh ra khỏi thế gian và (2) ngày Đấng Christ nhóm họp con dân Chúa sau thời đại nạn. Những câu Thánh Kinh dưới đây giúp cho chúng ta liên kết Lễ Thổi Kèn với hai sự kiện nói trên:

(1) I Cô-rinh-tô 15:52"Trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại được không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa."

(1) I Tê-sa-lô-ni-ca 4:16"Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Thiên Chúa, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ, sẽ sống lại trước hết."

(2) Ma-thi-ơ 24:31"Ngài sẽ sai thiên sứ mình dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại những kẻ đã được lựa chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời nầy cho đến tận phương kia."

Vì thế, thiên tượng xảy ra trong ngày Lễ Thổi Kèn của năm 2011, rất có thể là dấu lạ báo trước rằng thời đại nạn sẽ đến liền sau khi Đấng Christ đem Hội Thánh ra khỏi thế gian; đặc biệt là cơn đau đớn của I-sơ-ra-ên khi bị Sa-tan bách hại trong thời đại nạn, như đã tiên tri trước trong Khải Huyền 12:1-6.

"Trên trời hiện ra một sự lạ lớn: Một người đàn bà được bao phủ bởi mặt trời; dưới chân có mặt trăng và trên đầu có mão là mười hai ngôi sao. Người mang thai, kêu la trong cơn đau thai nghén và quặn đẻ. Lại xuất hiện một sự lạ khác trên trời. Này, một con rồng đỏ có bảy đầu, mười sừng với bảy cái mão trên những đầu của nó. Đuôi nó kéo một phần ba các ngôi sao trên trời mà quăng xuống đất. Con rồng đứng trước người đàn bà sắp đẻ để vừa khi con của người được sinh ra thì nó nuốt lấy. Người sinh ra một bé trai, là Đấng sẽ cai trị mọi quốc gia bằng một cây gậy sắt. Con trai người được cất lên tới Đức Chúa Trời, tới ngai Ngài. Rồi, người đàn bà trốn vào đồng hoang, nơi Đức Chúa Trời đã chuẩn bị một chỗ cho người và người được nuôi trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày" [6].

Kết luận và lời kêu gọi

Thiên Chúa là ĐấngToàn Năng và là nguồn của sự khôn ngoan. Nếu chúng ta suy luận rằng Thiên Chúa đã chọn thể hiện các lời tiên tri của Ngài về lịch sử của nhân loại và chương trình cứu rỗi của Ngài ban cho nhân loại, qua sự sáng tạo các chòm sao trong Cung Hoàng Đạo, thì đó không phải là điều không hợp lý. Tuy nhiên, vì Thánh Kinh không xác định một cách trực tiếp Thiên Chúa đã làm điều đó, cho nên, chúng ta không thể kể những điều được trình bày trên đây vào trong các tín lý của Thánh Kinh. Dầu vậy, chúng ta có thể dùng các chòm sao như là một sự minh họa và nhắc nhở chúng ta về những lẽ thật của Thánh Kinh. Những khi thiên tượng xảy ra một cách độc đáo, như hai thiên tượng trong ngày Lễ Ngũ Tuần và Lễ Thổi Kèn vừa qua, là thời điểm để chúng ta nhớ rằng: Ngày Đức Chúa Jesus Christ xuất hiện giữa chốn không trung để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian đã rất gần. Chúng ta hãy dùng Lời Chúa để khích lệ lẫn nhau cùng sống cho xứng đáng với tình yêu và ân điển Ngài đã ban cho chúng ta:

"Hỡi anh em, chúng tôi chẳng muốn anh em không biết về phần người đã ngủ, hầu cho anh em chớ buồn rầu như người khác không có sự trông cậy. Vì nếu chúng ta tin Đức Chúa Jesus đã chết và sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những kẻ ngủ trong Đức Chúa Jesus cùng đến với Ngài. Vả, nầy là điều chúng tôi nhờ lời Chúa mà rao bảo cho anh em: chúng ta là kẻ sống, còn ở lại cho đến kỳ Chúa đến, thì không lên trước những người đã ngủ rồi. Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Thiên Chúa, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ, sẽ sống lại trước hết. Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn. Thế thì, anh em hãy dùng lời đó mà yên ủi nhau." (I Tê-sa-lô-ni-ca 4:13-18).

Xin gửi đến bạn là người đang đọc những dòng chữ này, mấy lời kêu gọi sau đây:

Nếu bạn chưa bao giờ thật lòng ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ, xin bạn hãy làm điều đó ngay, trước khi quá trể. Xin xem thêm ý nghĩa về Tin Lành Cứu Rỗi của Thiên Chúa dành cho bạn qua bài viết "Tin Lành Về Vương Quốc của Đức Chúa Trời" tại đây: http://tinlanhvietnam.net/node/848.

Nếu bạn đã tin nhận sự cứu rỗi của Đấng Christ nhưng chưa hết lòng sống nếp sống thánh khiết, vâng phục Lời Chúa, thì xin bạn hãy mau chóng ăn năn, bước ra khỏi nếp sống đạo chiếu lệ, nhiều khi còn nghịch lại lẽ thật của Thánh Kinh, trong các giáo hội do loài người lập ra, mà trở về với lẽ thật của Thánh Kinh, để sống và phục vụ Chúa bằng tâm thần và lẽ thật.

Nếu bạn đang hết lòng sống cho Chúa: hầu việc Chúa, thờ phượng Chúa bằng tâm thần và lẽ thật, tôi xin chúc mừng bạn.

"Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Jesus Christ chúng ta đến! Đấng đã gọi anh em là thành tín, chính Ngài sẽ làm việc đó"(I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23, 24).

Huỳnh Christian Timothy
04.10.2011

Ghi chú

[1] Xem video clip tại đây: http://tinlanhmedia.net/node/69

[2] Xem và download bài "Các Ngày Lễ của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu" tại đây: http://thanhkinhthanhoc.net/node/267

[3] Danh xưng "Đức Chúa Trời" trong Thánh Kinh Việt ngữ Bản Dịch Phan Khôi (1926) được hiệu đính thành "Thiên Chúa" trong "Bản Hiệu Đính Phan Khôi 2011" nếu trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ dùng từ ngữ "Elohim." Về cách thức dùng từ ngữ "Thiên Chúa" và "Đức Chúa Trời" trong Thánh Kinh Việt ngữ xin xem bài: "Công Việc Hiệu Đính Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Phan Khôi" tại đây: http://pk2011.thanhkinhvietngu.net/node/1277

[4] http://ngoiloi.thanhkinhvietngu.net/node/24

[5] http://ngoiloi.thanhkinhvietngu.net/node/26

[6] http://ngoiloi.thanhkinhvietngu.net/node/16

[7] http://ngoiloi.thanhkinhvietngu.net/node/17

Tham khảo

www.stellarium.org

– Henry M. Morris và Henry M. Morrisi III, "Many Evidences for the Infallible Christian Faith Proofs;" Chapter: "The Book of God in Heaven," Master Books, 08/1996.

– Huỳnh Christian Timothy, "Các Ngày Lễ của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu," http://thanhkinhthanhoc.net/node/267

Share This:

2,610 views

Các Ngày Lễ của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu

Xin bấm vào nối mạng dưới đây để đọc:

Chú Giải Cô-lô-se 2:16-23

Share This:

3,410 views

Ý Nghĩa của Một Số Câu Thánh Kinh Liên Quan đến Sự Tái Sinh và Sự Thánh Hóa

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này

 
Lưu ý:Trong bài viết này, những câu Thánh Kinh trong các sách Giăng và Khải Huyền được trích từ Bản Dịch Ngôi Lời [1]; một số câu khác được tác giả dịch sát nghĩa theo nguyên ngữ của Thánh Kinh và ghi chú là "Dịch sát nghĩa;" những câu còn lại được trích từ Bản Dịch Phan Khôi đang được hiệu đính [2].
 
Nếu bạn đang kết nối với Internet trong khi đọc bài này thì bạn có thể bấm vào mã số Strong như: G4151 để xem định nghĩa của từ ngữ; bấm vào ký hiệu phát âm như: (loo-tron') để nghe cách phát âm.
 
Trong bài này, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa chi tiết của một số câu trong Thánh Kinh có liên quan đến sự tái sinh và sự thánh hóa. Ý nghĩa của mỗi câu trong Thánh Kinh phải được giải bày và chứng minh từ những câu khác trong Thánh Kinh chứ không phải theo ý riêng của người nào (II Phi-e-rơ 1:20), đó là nguyên tắc giải kinh nhằm bảo đảm cho chúng ta hiểu đúng lẽ thật của Lời Chúa.
 
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhận ra những trường hợp dùng Thánh Kinh để giải thích Thánh Kinh mà sự giải thích đó không đúng với các lẽ thật căn bản của Thánh Kinh (II Phi-e-rơ 3:16). Thí dụ: Sự kiện dùng Giăng 3:3 và Tít 3:5 để giải thích rằng phép báp-tem bằng nước tạo ra sự tái sinh, (danh từ thần học trong Anh ngữ là: "baptismal regeneration"), nghĩa là: nếu không có sự báp-tem bằng nước thì sẽ không có sự tái sinh.
 
Lẽ thật căn bản của Thánh Kinh dạy rằng: phép báp-tem bằng nước là hình thức tiêu biểu cho sự chúng ta được cứu ra khỏi sự hư mất bởi sự đoán phạt của Đức Chúa Trời, nhờ đức tin vào sự sống lại của Đức Chúa Jesus Christ (Rô-ma 10:9); như xưa kia gia đình của Nô-ê được cứu ra khỏi sự hư mất bởi cơn nước lụt (hình thức Đức Chúa Trời đoán phạt thế gian thời bấy giờ) nhờ đức tin vào lời của Đức Chúa Trời.
 
Phép báp-tem bằng nước chúng ta chịu ngày hôm nay cũng như sự đóng tàu và vào tàu trước cơn nước lụt của gia đình Nô-ê ngày xưa, đều thể hiện sự đáp ứng của một lương tâm tốt với Đức Chúa Trời. Lương tâm tốt tức là tấm lòng tin và làm theo Lời Chúa. I Phi-e-rơ 3:20, 21 chép:
 
"…về thời kỳ Nô-ê, khi Đức Chúa Trời nhịn nhục đã có lần chờ đợi cho chiếc tàu được đóng nên, trong đó chỉ có một số ít, là tám linh hồn được cứu qua nước. Phép báp-tem bây giờ là hình thức tiêu biểu của sự ấy để cứu chúng ta – chứ không phải là sự cất đi sự ô uế của xác thịt, nhưng là sự đáp ứng của một lương tâm tốt với Đức Chúa Trời – qua sự sống lại của Đức Chúa Jesus Christ…"(Dịch sát ý của nguyên ngữ Hy-lạp. Bản Dịch Phan Khôi dịch là "sự liên lạc lương tâm tốt").
 
Khi gọi phép báp-tem bằng nước là hình thức tiêu biểu, Thánh Kinh dạy rằng: hình thức đó giúp cho chúng ta hiểu được ý nghĩa việc làm của Đức Chúa trời trong sự tái sinh chúng ta. Phép báp tem bằng nước không làm ra sự tái sinh nhưng phép báp-tem bằng nước thể hiện một trong hai yếu tố mà Đức Chúa Trời dựa vào đó để tái sinh chúng ta. Yếu tố đó là sự chúng ta thật lòng ăn năn tội và tin nhận sự rửa tội bằng huyết thánh của Đấng Christ; nghĩa là: chúng ta bằng lòng chết đi con người cũ trong sự chết của Đấng Christ (trong danh Đức Cha) để được sống lại một con người mới trong sự sống lại của Đấng Christ (trong Danh Đức Con), và chúng ta bằng lòng tiếp nhận sự thánh hóa bởi Đức Thánh Linh, qua Lời của Đức Chúa Trời (trong Danh Đức Thánh Linh).
 
I. Ý Nghĩa của Một Số Câu Thánh Kinh Liên Quan đến Sự Tái Sinh
 
1. Giăng 3:3:
"Đức Chúa Jesus lên tiếng, đáp rằng: Thật vậy, thật vậy, Ta nói với ngươi: Nếu một người chẳng sinh lại, thì không thể thấy biết được vương quốc của Đức Chúa Trời."
 
Từ ngữ "sinh lại" trong Giăng 3:3 trong nguyên ngữ Hy-lạp là "sinh từ trên cao" hàm ý "được sinh bởi Đức Chúa Trời" như Giăng 1:12, 13 đã nói rõ:
 
"Nhưng hễ những ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho họ năng quyền, để trở nên con cái của Đức Chúa Trời; là ban cho những kẻ tin vào danh Ngài: là những kẻ chẳng phải sinh bởi máu huyết, hoặc bởi ý của xác thịt, cũng chẳng bởi ý người, nhưng sinh bởi Đức Chúa Trời."
 
Từ ngữ "thấy biết" hàm ý sự nhận thức trong tâm trí, nghĩa là sự hiểu biết về Nước Trời, đồng thời cũng nói lên sự nhận thức về tác động của Nước Trời trong cuộc sống mỗi ngày. Nếu một người không được tái sinh thì không thể hiểu được về Nước Trời và cũng không thể nhìn thấy được sự đến của Nước Trời trong thế gian. Trong thời đại của Hội Thánh, Nước Trời thể hiện trong lòng của người thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ, cho nên chỉ những ai đã được tái sinh thì mới nhận biết sự hiện diện của Nước Trời trong lòng mình và trong lòng các anh chị em thật trong Chúa:
 
"Người Pha-ri-si hỏi Đức Chúa Jesus nước Đức Chúa Trời chừng nào đến, thì Ngài đáp rằng: Nước Đức Chúa Trời không đến cách rõ ràng, và người ta sẽ không nói: Ở đây, hay là: Ở đó; vì nầy, nước Đức Chúa Trời ở trong các ngươi" (Lu-ca 17:20, 21).
 
Vì thế, Thánh Kinh gọi những người ở trong Hội Thánh là "uống chung một Thánh Linh:"
 
"Vì chưng chúng ta hoặc người Giu-đa, hoặc người Gờ-réc, hoặc tôi mọi, hoặc tự chủ, đều đã chịu phép báp-tem chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa" (I Cô-rinh-tô 12:13).
 
Từ ngữ "uống chung một Thánh Linh" nói lên sự kiện con dân Thiên Chúa có Đức Thánh Linh hiện diện trong thân thể mình và Thánh Linh của Ngài tuôn trào trong lòng mình:
 
"Người nào tin nơi Ta, thì nước hằng sống sẽ tuôn trào từ trong lòng mình, y như Thánh Kinh đã chép vậy. Ngài phán điều đó chỉ về Đức Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ nhận lấy; bởi bấy giờ, chưa có Thánh Linh, vì Đức Chúa Jesus chưa được vinh hiển." (Giăng 7:38, 39).
 
Từ ngữ "uống chung một Thánh Linh" còn nói lên sự kiện con dân Thiên Chúa "nếm sự ban cho từ trên trời""dự phần về Thánh Linh;" "nếm Lời lành của Đức Chúa Trời và quyền phép của đời sau:"
 
"Vì chưng những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Thánh Linh, nếm Lời lành của Đức Chúa Trời, và quyền phép của đời sau, nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường"(Hê-bơ-rơ 6:4-6).
 
2. Giăng 3:5:
"Đức Chúa Jesus đáp rằng:Thật vậy, thật vậy, Ta nói với ngươi: Nếu một người chẳng sinh ra bởi nước và bởi Thánh Linh, thì không được vào vương quốc của Đức Chúa Trời."
 
Từ ngữ "bởi nước và bởi Thánh Linh" trong Giăng 3:5 là nói đến hai yếu tố, tức là hai điều cần phải có, để một người được tái sinh. Nhiều người cho rằng chữ "nước" là chỉ về Lời Chúa. Tuy nhiên, nguyên tắc giải kinh buộc chúng ta phải dùng cùng một phương cách để giải thích hai từ ngữ được liên kết với nhau bằng liên từ "và." Nếu từ ngữ "Thánh Linh" được hiểu theo nghĩa đen là Thánh Linh của Chúa thì từ ngữ "nước" cũng phải được hiểu theo nghĩa đen là nước. Ngoài ra, Thánh Kinh dùng nước để làm hình bóng về Thánh Linh như trong Giăng 7:38, 39; nhưng không bao giờ Thánh Kinh dùng nước để làm hình bóng về Lời Chúa.
 
Nhờ Ê-phê-sô 5:25, 26 mà chúng ta biết chắc nước và Lời Chúa (Đạo) là hai điều khác nhau. Chữ "Đạo" trong Bản Dịch Phan Khôi thật ra là chữ "Lời" trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh:
 
"Hỡi người làm chồng, hãy yêu vợ mình, như Đấng Christ đã yêu Hội Thánh, phó chính mình vì Hội Thánh, để khiến Hội nên thánh sau khi lấy nước rửa và dùng Lời (Đạo) làm cho Hội tinh sạch…
 
Ý nghĩa của câu này làHội Thánh được nên thánh sau khi: (1) Đấng Christ hy sinh chuộc tội cho Hội Thánh. (2) Hội Thánh ăn năn tội, tin nhận sự chuộc tội của Đấng Christ, thể hiện qua sự chịu báp-tem tức là rửa mình trong nước, tiêu biểu cho sự kiện tội lỗi được rửa sạch bởi huyết của Đấng Christ. (3) Hội Thánh được tiếp tục thánh hóa bởi Lời Chúa (Giăng 17:17). Ý nghĩa Hội Thánh được rửa bằng nước còn được xác định trong Hê-bơ-rơ 10:19-22:
 
"Hỡi anh em, vì chúng ta nhờ huyết Đức Chúa Jesus được dạn dĩ vào nơi rất thánh, bởi đường mới và sống mà Ngài đã mở ngang qua cái màn, nghĩa là ngang qua xác Ngài, lại vì chúng ta có một thầy tế lễ lớn đã lập lên cai trị nhà Đức Chúa Trời, nên chúng ta hãy lấy lòng thật thà với đức tin đầy dẫy trọn vẹn, lòng được tưới sạch khỏi lương tâm xấu, thân thể rửa bằng nước trong, mà đến gần Chúa."
 
Lòng được tưới sạch khỏi lương tâm xấu là bởi huyết của Đấng Christ còn thân thể rửa bằng nước trong là "bởi nước" của phép báp-tem. Sự rửa sạch thân thể bên ngoài bằng nước trong tiêu biểu cho sự rửa sạch bên trong bằng huyết của Đấng Christ. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa một người phải chịu báp-tem bằng nước thì mới được tái sinh hoặc sự tái sinhxảy ra trong giây phút một người chịu báp-tem bằng nước. Chúng ta hãy cùng nhau xem bảng phân tích dưới đây:
 
Yếu tố
Nghĩa đen
Thể hiện
Tiêu biểu
Kết luận
Nước
Phép báp-tem
Lòng ăn năn năn tội và đức tin trong Đấng Christ
Tội lỗi được rửa sạch bởi huyết của Đấng Christ
(I Giăng 1:7;
Khải Huyền 1:6)
Bất kỳ lúc nào, một người thật lòng ăn năn tội, tin nhận Đấng Christ thì người ấy lập tức được Đức Chúa Trời xưng nghĩa và tái sinh thành một người mới trong Đấng Christ, thuộc về Hội Thánh, được làm chức vua và chức thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời. Sự kiện gia đình Cọt-nây được tái sinh khi họ tin nhận lời giảng của Phi-e-rơ là bằng cớ điển hình.
Thánh Linh
Quyền phép của
Đức Chúa Trời
Ân điển và sự ban cho của Đức Chúa Trời
Sự dự phần trong bản tính của Đức Chúa Trời, tức dự phần trong sự sống đời đời
(I Phi-e-rơ 1:3;
II Phi-e-rơ 1:4)
 
Như vậy, dựa trên lòng ăn tội và đức tin nơi Đấng Christ của một người và dựa trên ân điển cùng sự ban cho của Đức Chúa Trời mà Đức Thánh Linh tái sinh người ấy. Lòng ăn năn tội và đức tin nơi Đấng Christ của một người là yếu tố cần phải có về phía loài người, kết hợp với ân điển của Đức Chúa Trời để một người được xưng nghĩa, dẫn đến sự được tái sinh. Lòng ăn năn tội và đức tin nơi Đấng Christ của một người cần được thể hiện qua sự chịu báp-tem bằng nước khi hoàn cảnh cho phép, tức là sự rửa mình trong nước tiêu biểu cho sự người ấy tin nhận tội lỗi mình được rửa sạch bằng huyết của Đức Chúa Jesus Christ; nhưng phép báp-tem bằng nước không hề là yếu tố của sự tái sinh. Nếu phép báp-tem bằng nước là yếu tố của sự tái sinh thì tên trộm bị đóng đinh bên tay phải của Chúa sẽ không được vào Nước Trời.
 
Một người không thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ thì dù cho có chịu báp-tem bằng nước, sinh hoạt trong Hội Thánh, thậm chí đưa dắt nhiều người đến với sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, người ấy vẫn không được tái sinh, không có sự cứu rỗi, và sẽ hư mất đời đời trong hỏa ngục. Mặt khác, một người thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ thì không có lý do gì từ chối chịu báp-tem bằng nước để thể hiện tấm lòng và đức tin của mình. Phép báp-tem bằng nước là mệnh lệnh của Đức Chúa Jesus Christ truyền cho những ai tin nhận Ngài. Người có thể chịu báp-tem bằng nước mà không thi hành là phạm tội không vâng phục Đấng Christ.
Đức Chúa Jesus khẳng định:
 
"Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha Ta ở trên trời mà thôi. Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhơn danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhơn danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? Khi ấy, Ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi Ta"(Ma-thi-ơ 7:21-23)!
 
"Làm theo ý của Cha Ta ở trên trời " là gì? Đức Chúa Jesus dạy rõ:
 
"Đây là ý muốn của Đấng đã sai Ta, hễ ai thấy Con và tin nơi Ngài, thì được sự sống đời đời; và Ta sẽ làm cho kẻ ấy sống lại nơi ngày sau rốt"(Giăng 6:40).
 
"Tin nơi Ngài" là gì? Là đồng ý với những gì Đức Chúa Jesus Christ phán dạy và làm theo như Ngài đã làm, nghĩa là sống như Ngài đã sống: không vi phạm bất cứ một điều răn nào của Đức Chúa Trời và vâng phục Đức Chúa Trời cho đến chết như Ngài đã vâng phục. I Giăng 2:3-6 cho chúng ta biết:
 
"Nầy tại sao chúng ta biết mình đã biết Ngài, ấy là tại chúng ta giữ các điều răn của Ngài. Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ các điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người. Nhưng ai giữ lời phán Ngài, thì lòng kính mến Đức Chúa Trời thật là trọn vẹn trong người ấy. Bởi đó, chúng ta biết mình ở trong Ngài. Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm."
 
Và Khải Huyền 21:8 cho biết phần của những kẻ nói dối sẽ là ở trong hồ lửa!
 
3. Giăng 3:6:
"Hễ chi sinh ra bởi xác thịt là xác thịt; hễ chi sinh ra bởi Đức Thánh Linh là thần.”
 
Từ ngữ "Đức Thánh Linh" trong Giăng 3:6 cho chúng ta thấy sự tái sinh được thực hiện bởi Đức Thánh Linh; và hễ ai đã được sinh ra bởi Đức Thánh Linh thì người ấy là thần linh giống như Chúa. Trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh, hai từ ngữ "Linh" và "thần" của Giăng 3:6 đều dùng chung một danh từ: "πνεῦμα," G4151, phiên âm /pneuma/, phát âm (pnyoo'-mah), tiếng Anh dịch là "spirit," có nghĩa là "thần" hoặc "linh." Tương tự như vậy là từ ngữ "Thần" và "tâm thần" trong Giăng 4:24:
 
"Đức Chúa Trời là Thần. Những người thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong tâm thần và lẽ thật"(Giăng 4:24).
 
Để có thể thật sự thờ phượng Đức Chúa Trời là Thần thì một người phải có tâm thần đã được tái sinh. Người chưa được tái sinh là một người có tâm thần đã chết, tức là một tâm thần không thể thông công với Đức Chúa Trời, mà chỉ có thể thông công với các tà linh. Vì thế, người không biết Chúa chỉ có thể thờ lạy hình tượng và tà thần.
 
4. Tít 3:4, 5:
"Nhưng từ khi lòng nhân từ và tình yêu đối với loài người của Đức Chúa Trời, là Đấng Giải Cứu chúng ta, đã được bày ra, thì không phải vì việc công bình chúng ta đã làm, nhưng cứ theo lòng thương xót Ngài mà Ngài cứu chúng ta bởi sự rửa của sự tái sinh và sự đổi mới của Thánh Linh."
 
Từ ngữ "bởi sự rửa của sự tái sinh" nói đến sự chúng ta được rửa sạch tội lỗi bởi huyết của Đấng Christ khi Đức Thánh Linh tái sinh chúng ta. Điều này được Khải Huyền 1:6 xác chứng:
 
"Đấng yêu thương chúng ta: đã rửa sạch tội lỗi chúng ta trong máu Ngài, đã lập chúng ta làm những vua và những thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời Ngài và Cha Ngài – Nguyện sự vinh quang và quyền thế thuộc về Ngài cho đến đời đời. A-men!"
 
Từ ngữ "sự rửa" nguyên ngữ Hy-lạp của Tân Ước là "λουτρόν," G3067, phiên âm /loutron/, phát âm (loo-tron'), và chỉ xuất hiện có hai lần, trong Tít 3:4 và Ê-phê-sô 5:26, với nghĩa đen là "sự tắm bằng cách báp-tem trong nước, tức dìm mình trong nước." Không phải phép báp-tem bằng nước khiến cho chúng ta được tái sinh nhưng phép báp-tem bằng nước tiêu biểu cho điều mà Đức Chúa Trời đã làm cho con người bên trong của chúng ta. Điều này tương tự như: không phải tình yêu vợ chồng phát sinh ra bởi lễ cưới nhưng lễ cưới tiêu biểu cho tình yêu vợ chồng đã có giữa người đàn ông và đàn bà.
 
Từ ngữ: "sự đổi mới của Thánh Linh" (BảnDịch Phan Khôi dịch là "sự đổi mới của Đức Thánh Linh" )nói đến sự kiện Thánh Linh của Đức Chúa Trời, tức quyền phép, năng lực, và sự sống ra từ Đức Chúa Trời đã làm cho mới lại một người được tái sinh.
 
Khi Đức Chúa Trời dựng nên loài người, Ngài ban Thánh Linh của Ngài vào trong thân thể người (Sáng Thế Ký 2:7), tạo nên tâm thần của loài người, tức phần linh thể của loài người,  để loài người được tương giao với Ngài, có thể sống theo tiêu chuẩn thánh khiết, công chính, và yêu thương của Ngài, đồng thời cai trị đất cùng muôn vật trên đất. Nhưng khi loài người phạm tội thì tâm thần bị chết, tức là bị xa cách Chúa, mất đi sự tương giao với Chúa, trái lại, loài người tương giao với ma quỷ và thờ lạy tà thần, khiến cho quyền phép, năng lực, và sự sống đến từ Đức Chúa Trời trước đó bị băng hoại, ô nhiễm với tội lỗi. Vì thế, khi một người được tái sinh thì Đức Chúa Trời làm mới lại mọi sự bên trong con người đó, tức là làm mới lại Thánh Linh của Ngài trong con người đó. Ngài làm mới bằng cách hiện diện trong thân thể của người được tái sinh qua thân vị Đức Thánh Linh và tuôn tràn Thánh Linh của Ngài trong lòng người. II Cô-rinh-tô 5:17 xác chứng cho sự đổi mới đó:
 
"Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới."
 
5. I Phi-e-rơ 1:22, 23:
"Các anh em đã làm sạch linh hồn mình bởi sự vâng phục lẽ thật trong tâm thần, đặng có lòng yêu thương anh em cách chân thật, nên hãy yêu nhau sốt sắng với tấm lòng tinh sạch đã được sinh lại chẳng phải bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống không hư nát, là bởi Lời sống và bền vững đời đời của Đức Chúa Trời."
 
Linh hồn chính là con người còn được gọi là bản ngã. Linh hồn ở trong thân thể xác thịt và ở trong thân thể thần linh, tức tâm thần. Thân thể xác thịt có thể được rửa sạch bằng nước trong. Thân thể thần linh, còn được gọi là tâm thần, được rửa sạch bởi sự đổi mới Thánh Linh của Đức Chúa Trời như đã trình bày ở trên.
 
Một người trước khi được tái sinh thì linh hồn, tâm thần, và thể xác đang chết, tức là đang bị phân cách với Đức Chúa Trời, sau khi được tái sinh thì linh hồn và tâm thần được sống lại, tức là được phục hòa, được giao thông với Đức Chúa Trời, còn thể xác sẽ được phục sinh hoặc biến hóa trong ngày Đấng Christ trở lại. Khi được tái sinh thì con người bên trong, tức tâm thần và linh hồn, hoàn toàn được dựng nên mới, hoàn toàn tinh sạch và thánh khiết như Đấng Christ. Tuy nhiên, sau đó con người có thể phạm tội trở lại hoặc là vì thiếu sự tri thức trong Chúa mà phạm những tội không biết; hoặc là vì những thói quen xấu của xác thịt chỗi dậy bất ngờ, không kịp chế ngự, như thói quen nóng giận, lớn tiếng; hoặc là vì yếu đuối trước những cám dỗ mà phạm những tội cố ý.
 
Sau khi phạm tội, chúng ta cần ăn năn, xưng tội với Chúa thì Ngài sẽ "tha thứ cho chúng ta và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác" (I Giăng 1:9). Đó là sự vâng phục lẽ thật được bày tỏ trong I Giăng 1:9 để làm sạch tâm thần và linh hồn. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần vâng theo các lẽ thật khác của Lời Chúa để thôi, không còn phạm tội vì bất cứ một lý do nào nữa, giữ cho mình luôn được thánh sạch.
 
Đối với những tội không biết, chúng ta có thể cầu xin sự khôn ngoan từ nơi Chúa để nhận biết chúng. Gia-cơ 1:5:
 
"Ví bằng trong anh em có kẻ kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời, là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không trách móc ai, thì kẻ ấy sẽ được ban cho."
 
Đối với những tội vì những thói quen xấu chỗi dậy bất ngờ, chúng ta cần cầu xin Chúa tha thứ và đem những thói xấu đó ra khỏi đời sống của chúng ta; dâng thân thể mình lên cho Chúa mỗi ngày để làm công cụ cho những việc công bình là những việc Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho chúng ta làm theo; đồng thời phải nhân danh Chúa để cai trị thân thể của mình. bắt nó phải phục:
 
"Vậy, chớ để tội lỗi cai trị trong xác hay chết của anh em, và chớ chiều theo tư dục nó. Chớ nộp chi thể mình cho tội lỗi, như là đồ dùng gian ác, nhưng hãy phó chính mình anh em cho Đức Chúa Trời, dường như đã chết mà nay trở nên sống, và dâng chi thể mình cho Đức Chúa Trời như là đồ dùng về sự công bình"(Rô-ma 6:12, 13).
 
"Vậy hãy làm chết các chi thể của anh em ở nơi hạ giới, tức là tà dâm, ô uế, tình dục, ham muốn xấu xa , tham lam, tham lam chẳng khác gì thờ hình tượng… bởi những sự ấy cơn giận của Đức Chúa Trời giáng trên các con không vâng phục; lúc trước anh em sống trong những nết xấu đó, và ăn ở như vậy. Nhưng bây giờ anh em nên trừ bỏ hết nói sự đó, tức là sự thạnh nộ, buồn giận và hung ác. Đừng nói hành ai, chớ có một lời tục tỉu nào ra từ miệng anh em. Chớ nói dối nhau, vì đã lột bỏ người cũ cùng công việc nó, mà mặc lấy người mới là người đang đổi ra mới theo hình tượng Đấng dựng nên người ấy, đặng đạt đến sự hiểu biết đầy trọn."(Cô-lô-se 3:5-10).
 
"Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em. Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào"(Rô-ma 12:1, 2).
 
"Vậy thì, tôi chạy, chẳng phải là chạy bá vơ; tôi đánh, chẳng phải là đánh gió; song tôi đãi thân thể mình cách nghiêm khắc, bắt nó phải phục, e rằng sau khi tôi đã giảng dạy kẻ khác, mà chính mình phải bị bỏ chăng"(I Cô-rinh-tô 9:26, 27).
 
Đối với những tội vì sự yếu đuối mà chúng ta sa vào sự cám dỗ, thì chúng ta cần cầu xin Chúa tha thứ cho chúng ta và sau đó, mỗi khi đối diện với cám dỗ chúng ta phải dùng Lời của Chúa để chống cự theo gương của Đức Chúa Jesus, đồng thời gọi danh Đức Chúa Jesus Christ, xin Ngài cứu chúng ta ra khỏi sự cám dỗ: "Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu" (Rô-ma 10:13).
 
Chính lòng yêu thương anh chị em trong Chúa một cách chân thật và sốt sắng xác chứng cho chúng ta rằng chúng ta đã được tái sinh.
 
Nguyên cớ của sự tái sinh là bởi Lời của Chúa dẫn chúng ta đến sự ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đấng Christ, là Tin Lành được rao giảng cho muôn dân:
 
"Lời Chúa làm cho tôi được sống lại. Ấy là sự an ủi tôi trong cơn hoạn nạn" (Thi Thiên 119:50).
 
"Nhưng Lời Chúa còn lại đời đời. Và Lời đó là Tin Lành đã giảng ra cho anh em" (I Phi-e-rơ 1:25).
 
"Ấy chính Ngài theo ý muốn mình, đã dùng lời chân thật sinh ra chúng ta, hầu cho chúng ta được nên một loại trái đầu mùa trong những tạo vật của Ngài" (Gia-cơ 1:18 – Dịch sát nghĩa).
 
Nền tảng của sự tái sinh, về phía loài người là lòng ăn năn tội và đức tin nơi Đấng Christ, thể hiện qua phép báp-tem; về phía Đức Chúa Trời là ân điển và sự ban cho của Ngài, thể hiện qua quyền phép của Đức Thánh Linh.
 
6. Ga-la-ti 3:27
"Vả, anh em thảy đều chịu phép báp-tem trong Đấng Christ, đều mặc lấy Đấng Christ vậy."
 
Ý nghĩa của sự kiện "chịu phép báp-tem trong Đấng Christ" là mỗi một tín đồ của Đấng Christ đều đồng chết và đồng sống lại với Đấng Christ. Đấng Christ chết vì tội lỗi của chúng ta, còn chúng ta thì cùng chết đi bản ngã tội lỗi trong cái chết của Ngài. Đấng Christ sống lại, đắc thắng sự chết để ban cho thân thể xác thịt của chúng ta sự sống lại và sự sống đời đời, còn chúng ta thì cùng sống lại với bản ngã mới trong sự sống lại vinh quang của Đấng Christ. Bản ngã mới được sống lại đó của chúng ta cần phải tiếp nhận tất cả những bản tính của Đấng Christ. Sự tiếp nhận đó được gọi là "mặc lấy Đấng Christ." Trong nguyên tác Hy-lạp, từ ngữ "mặc" có nghĩa là chìm ngập trong. Chúng ta cần được chìm ngập trong bản tính của Đấng Christ để chúng ta được trở nên giống như Ngài.
 
7. Ê-phê-sô 4:21-24
"Vì anh em đã nghe Ngài, và được dạy dỗ bởi Ngài, y theo lẽ thật trong Đức Chúa Jesus, rằng anh em phải bỏ cách ăn nết ở ngày trước, thoát lốt người cũ là người bị hư hỏng bởi tư dục dỗ dành, mà phải làm nên mới trong tâm chí mình,và mặc lấy người mới, tức là người đã được dựng nên giống như Đức Chúa Trời, trong sự công bình và sự thánh sạch của lẽ thật."
 
Từ ngữ "mặc lấy người mới" có nghĩa là chìm ngập trong con người mới đã được dựng nên giống như Đức Chúa Trời. Từ ngữ "giống" được giải thích là giống trong phẩm chất công bình và thánh sạch của lẽ thật tức là theo tiêu chuẩn của Lời Chúa, vì Lời Chúa là lẽ thật (Giăng 17:17). Sự dựng nên con người mới của chúng ta đã hoàn tất. Phẩm chất con người mới của chúng ta giống như Đức Chúa Trời theo như các lẽ thật được bày tỏ qua Lời của Ngài. Việc còn lại là chúng ta phải mặc lấy, tức là phải chìm ngập trong con người mới đó, sao cho loài người, các thiên sứ, và ma quỷ cùng thấy được chúng ta sống động trong con người mới đã được Đức Chúa Trời dựng nên giống như Ngài.
 
Muốn được như vậy, chúng ta phải từ bỏ, phải thoát khỏi con người cũ, bản ngã cũ đã chết trong Đấng Christ. Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta con người mới, việc còn lại là chúng ta quyết tâm lìa khỏi con người cũ, bản ngã cũ để sống trong con người mới, bản ngã mới đó.
 
8. Cô-lô-se 3:10
"mà mặc lấy người mới là người đang đổi ra mới theo hình tượng Đấng dựng nên người ấy, đặng đạt đến sự hiểu biết đầy trọn."
 
Chúng ta đã nói đến sự kiện tái sinh, dựng nên mới là sự kiện chỉ xảy ra một lần và hoàn tất do Đức Chúa Trời làm ra cho chúng ta. Vậy, từ ngữ "người mới là người đang đổi ra mới" trong Cô-lô-se 3:10 có ý nghĩa gì? Không lẽ sự tái sinh của chúng ta chưa được trọn vẹn? Không phải vậy. Chúng ta cần phải dịch sát nghĩa Cô-lô-se 3:10 để có thể hiểu rõ ý của kinh văn:
 
"mà mặc lấy người mới, là người được đổi ra mới trong sự hiểu biết, theo hình tượng Đấng dựng nên người ấy."
 
Qua câu dịch sát nghĩa trên đây, chúng ta hiểu rằng Cô-lô-se 3:10 có ý nói: Chúng ta đã vứt bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới. Con người mới đó là con người đã được đổi mới trong sự hiểu biết và đã được dựng nên giống như hình tượng của Đấng đã dựng nên.
 
Làm sao để chúng ta biết rằng mình đã mặc lấy con người mới? Làm sao để người khác nhận biết rằng chúng ta là con người mới? Lời Chúa trong Cô-lô-se 3:12-14 cho chúng ta biết con người mới là con người mặc lấy, tức là chìm ngập trong lòng yêu thương và trong cuộc sống thể hiện lòng thương xót, nhân từ, khiêm nhường, mềm mại, nhịn nhục, nhường nhịn, và tha thứ lẫn nhau như Chúa đã tha thứ cho mình, nghĩa là chịu gánh lấy hậu quả sai trái giùm cho người mình yêu, để người ấy có thể được phục hòa với mình và với Chúa:
 
"Vậy anh em là kẻ chọn lựa của Đức Chúa Trời, là người thánh và rất yêu dấu của Ngài, hãy có lòng thương xót. Hãy mặc lấy sự nhơn từ, khiêm nhường, mềm mại, nhịn nhục, nếu một người trong anh em có sự gì phàn nàn với kẻ khác thì hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau: như Chúa đã tha thứ anh em thể nào, thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy. Nhưng trên hết mọi sự đó, phải mặc lấy lòng yêu thương, vì là dây liên lạc của sự trọn lành."
 
II. Ý Nghĩa của Một Số Câu Thánh Kinh Liên Quan đến Sự Thánh Hóa
 
1. I Cô-rinh-tô 1:2
"gởi cho Hội Thánh Đức Chúa Trời tại thành Cô-rinh-tô, tức là cho những người đã được nên thánh trong Đức Chúa Jesus Christ, được gọi làm thánh đồ, lại cho mọi người bất luận nơi nào, cầu khẩn danh Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, là Chúa của những người ấy và của chúng ta:"
Trong câu này, Sứ Đồ Phao-lô định nghĩa "Hội Thánh của Đức Chúa Trời tại thành Cô-rinh-tô""những người đã được nên thánh trong Đức Chúa Jesus Christ, được gọi làm thánh đồ."
 
Từ ngữ "đã được nên thánh trong Đức Chúa Jesus Christ" nói đến hai phương diện của sự thánh hóa.
 
Phương diện thứ nhất là sự thánh hóa để phục hồi địa vị làm con Đức Chúa Trời cho người được thánh hóa. Sự thánh hóa để phục hồi này được làm ra bởi sự đổ huyết của Đấng Christ trên thập tự giá. Huyết của Đức Chúa Jesus Christ, Con của Đức Chúa Trời, làm sạch mọi tội lỗi của những ai thật lòng ăn năn tội và tin nhận Ngài (I Giăng 1:8,9; Khải Huyền 1:6).
 
Phương diện thứ hai là sự thánh hóa để tiếp tục phát triển sự yêu thương, công bình, và thánh khiết của Đức Chúa Trời trong và qua con người được thánh hóa. Sự thánh hóa này được làm ra bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời và Lời của Đức Chúa Trời. Người được thánh hóa ngày càng hiểu biết về Đức Chúa Trời càng hơn, hiểu biết sâu nhiệm Lời của Đức Chúa Trời càng hơn, và càng giống Đức Chúa Trời trong sự vinh quang của Ngài.
 
"Thánh đồ" là người thuộc riêng về Đức Chúa Trời, sống đúng theo thánh ý của Ngài. Từ ngữ "được gọi làm thánh đồ" nói đến mục đích của những người được thánh hóa trong Đức Chúa Jesus Christ là để họ trở nên những người thuộc riêng về Đức Chúa Trời, sống theo thánh ý của Ngài, và trở nên trọn vẹn như Ngài.
 
2. I Cô-rinh-tô 7:14:
"Bởi vì, chồng không tin Chúa, nhơn vợ mình được nên thánh, vợ không tin Chúa, nhơn chồng mình tin Chúa được nên thánh; bằng chẳng vậy, con cái anh em nên chẳng sạch, song nay đều là thánh."
 
Từ ngữ "được nên thánh" trong câu này hoàn toàn không mang lấy các ý nghĩa sau đây:
  • Một người không tin Chúa có thể nhờ vợ hay chồng tin Chúa mà được cứu rỗi.
  • Một người không tin Chúa có thể nhờ vợ hay chồng tin Chúa mà được thánh hóa bởi huyết của Đấng Christ, bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời, và bởi Lời của Đức Chúa Trời.
Như chúng ta đã biết, từ ngữ "thánh hóa" có nhiều nghĩa, và nghĩa được dùng trong câu này tương tự như nghĩa được dùng trong I Ti-mô-thê 4:4, 5: "Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được; vì nhờ lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được nên thánh."
 
Lời Chúa và lời cầu nguyện làm cho thức ăn được nên thánh có nghĩa là thức ăn đó được dùng để đem ích lợi đến cho con dân Chúa chứ không có nghĩa thức ăn đó được biến hóa, được thay đổi. Cũng vậy, người vợ hay người chồng không tin Chúa được Chúa dùng để đem lại ích lợi cho người phối ngẫu đã tin Chúa của họ và bản thân họ được Chúa bảo vệ, ban phước vì cớ họ liên kết với con dân của Chúa.
 
Trong câu chuyện của Giô-sép, chúng ta thấy nhà của quan Phô-ti-pha được hưng thịnh nhờ có Giô-sép làm quản gia, đất nước Ê-díp-tô được thoát khỏi bảy năm đói kém lớn và trở nên hùng mạnh nhờ có Giô-sép làm tể tướng. Sự thánh hóa được nói đến trong I Cô-rinh-tô 7:14 và I Ti-mô-thê 4:4, 5 là sự biệt riêng một người hay một vật để người ấy, vật ấy hoàn thành mục đích mà Đức Chúa Trời đã đặt để cho. Các loài thú dù trước kia vốn bị kể là không tinh sạch, nhưng nhờ lời phán của Chúa trong Công Vụ Các Sứ Đồ 10:15 và lời cầu nguyện tạ ơn nhận lãnh của con dân Chúa, mà nay được biệt riêng ra làm thức ăn cho con dân Chúa, đúng theo mục đích Chúa đã đặt để trong Sáng Thế Ký 9:3. Người chồng hay người vợ không tin Chúa nhờ liên kết với người phối ngẫu đã tin Chúa mà được Chúa biệt riêng ra, tức thánh hóa, để làm trọn vai trò chồng hoặc vợ đối với con dân của Ngài.
 
Tuy nhiên, nếu người chồng hay vợ không tin Chúa phạm tội ngoại tình, đối xử hà khắc, thờ lạy hình tượng, hoặc muốn phân rẽ thì con dân Chúa nên phân rẽ họ. Lời khuyên không nên để bỏ người chồng hay vợ ngoại đạo với hy vọng là về sau có thể sẽ đưa được họ đến với sự cứu rỗi là một lời khuyên của riêng Phao-lô dành cho con dân Chúa. Lời khuyên đó không phải là điều răn của Chúa. Phao-lô đã nói rõ khi nhập đề: "Đến như những kẻ khác, chẳng phải Chúa, song là chính tôi bảo họ rằng: Nếu người anh em nào có vợ ngoại đạo bằng lòng ở đời với mình, thì không nên để bỏ. Lại nếu một người đờn bà có chồng ngoại đạo bằng lòng ở đời với mình, thì vợ cũng không nên lìa chồng" (I Cô-rinh-tô 7:12, 13). Ngoài ra, lời khuyên trên đây được dùng trong trường hợp cả hai vợ chồng đều không tin Chúa khi kết hôn mà về sau một trong hai người tin Chúa, chứ không phải là lý do để một người tin Chúa kết hôn với người không tin Chúa. Điều răn của Chúa không hề thay đổi: "Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin. Bởi vì công bình với gian ác có hội hiệp nhau được chăng? Sự sáng với sự tối có thông đồng nhau được chăng" (II Cô-rinh-tô 6:14)?
 
3. II Tê-sa-lô-ni-ca 2:13
"Hỡi anh em yêu dấu của Chúa, còn như chúng tôi, phải vì anh em tạ ơn Đức Chúa Trời không thôi, vì vừa lúc ban đầu, Ngài đã chọn anh em bởi sự nên thánh của tâm thần, và bởi tin lẽ thật, đặng ban sự cứu rỗi cho anh em."
 
Sự nên thánh của tâm thần bao gồm:
  • Sự tâm thần được tái sinh bởi Đức Thánh Linh:
    "Đức Chúa Trời ôi! xin hãy dựng nên trong tôi một lòng trong sạch, và làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng" (Thi Thiên 51:10)
    "Hễ chi sinh ra bởi xác thịt là xác thịt; hễ chi sinh ra bởi Đức Thánh Linh là thần" (Giăng 3:6).
  • Sự thờ phượng Đức Chúa Trời trong tâm thần:
    "Nhưng giờ đến và bây giờ là lúc những người thờ phượng thật: sẽ thờ phượng Cha trong tâm thần và lẽ thật. Vì Cha tìm kiếm những người thờ phượng Ngài như vậy. Đức Chúa Trời là Thần. Những người thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong tâm thần và lẽ thật" (Giăng 4:23, 24)
"Vì, ấy chính chúng ta là những người chịu phép cắt bì, là những người thờ phượng Đức Chúa Trời trong tâm thần, vui mừng trong Đấng Christ, và không để lòng tin cậy trong xác thịt bao giờ" (Phi-líp 3:3).
  • Sự chăm những sự thuộc về Đức Thánh Linh, tức trái của Đức Thánh Linh:
    "Thật thế, kẻ sống theo xác thịt thì chăm những sự thuộc về xác thịt; còn kẻ sống theo tâm thần thì chăm những sự thuộc về Đức Linh" (Rô-ma 8:5)
    "Nhưng trái của Đức Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ" (Ga-la-ti 5:22)
  • Sự làm cho chết các việc thuộc về thân thể xác thịt:
    "Thật thế, nếu anh em sống theo xác thịt thì phải chết; song nếu bởi tâm thần, làm cho chết các việc của thân thể, thì anh em sẽ sống" (Rô-ma 8:13).
  • Sự không làm theo, không sống theo thế gian nhưng làm theo, sống theo tâm thần đã được đổi mới:
    "Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào" (Rô-ma 12:2).
  • Sự làm cho sạch mọi sự ô uế trong tâm thần, tức là các tư tưởng tội lỗi, như: kiêu ngạo, mê tín dị đoan, tôn kính hình tượng, tà dâm, tham lam, dối trá, hèn nhác, v.v.:
    "Hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, chúng ta đã có lời hứa dường ấy, thì hãy làm cho mình sạch khỏi mọi sự dơ bẩn phần xác thịt và phần tâm thần, lại lấy sự kính sợ Đức Chúa Trời mà làm cho trọn việc nên thánh của chúng ta" (II Cô-rinh-tô 7:11).
  • Sự luôn cầu nguyện và nài xin trong tâm thần, nghĩa là luôn tương giao với Chúa trong tâm thần:
    "Trong tâm thần, thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin. Hãy dùng sự bền đổ trọn vẹn mà tỉnh thức về điều đó, và cầu nguyện cho hết thảy các thánh đồ" (Ê-phê-sô 6:18).
4. Hê-bơ-rơ 2:11:
"Vì Đấng làm nên thánh và kẻ được nên thánh, đều bởi một Cha mà ra. Cho nên Ngài không thẹn mà gọi những kẻ đó là anh em."
 
Đấng làm nên thánh là Đức Chúa Jesus Christ, kẻ được nên thánh là con dân của Chúa: "Ấy vì đó mà chính mình Đức Chúa Jesus đã chịu khổ tại ngoài cửa thành để lấy huyết mình làm cho dân nên thánh" (Hê-bơ-rơ 13:12). Dầu Đức Chúa Jesus là Con Một của Đức Chúa Trời, có cùng bản thể Đức Chúa Trời với Đức Chúa Trời (Phi-líp 2:6-8), nhưng Ngài đã nhập thế làm người để khiến cho những ai tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời được thánh hóa. Vì thế, Đức Chúa Jesus Christ là anh cả của Hội Thánh:
 
"Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định. Vì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em"(Rô-ma 8:28, 29).
 
"Vì hễ ai làm theo ý muốn Cha Ta ở trên trời, thì người đó là anh em, chị em Ta, cùng là mẹ Ta vậy" (Ma-thi-ơ 12:50).
 
"Ai làm theo ý muốn Đức Chúa Trời, nấy là anh em, chị em, và mẹ Ta vậy"(Mác 3:35).
"Nhưng Ngài đáp rằng: Mẹ Ta và anh em Ta là kẻ nghe Lời Đức Chúa Trời và làm theo Lời ấy"(Lu-ca 8:21)
 
"Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Đừng sợ chi cả; hãy đi bảo cho anh em Ta đi qua xứ Ga-li-lê, ở đó sẽ thấy Ta" (Ma-thi-ơ 28:10).
 
"Đức Chúa Jesus phán rằng: Chớ rờ đến Ta; vì Ta chưa lên cùng Cha! Nhưng hãy đi đến cùng anh em Ta, nói rằng Ta lên cùng Cha Ta và Cha các ngươi, cùng Đức Chúa Trời Ta và Đức Chúa Trời các ngươi"(Giăng 20:17).
 
Bài viết này được viết để bổ sung cho bài "Ba Phương Diện của Sự Cứu Rỗi: Sự Xưng Nghĩa, Sự Tái Sinh, và Sự Thánh Hóa" [3]. Mong rằng những điều trình bày trong bài viết này giúp ích cho quý con dân Chúa trong sự học Lời Chúa. Quý bạn đọc có thể theo links dưới đây [4] để nghe và download phần âm thanh trình bày nội dung của bài viết này.
 
Nguyện Đức Thánh Linh, Thần Lẽ Thật, dẫn chúng ta vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa. A-men!
 
 
Huỳnh Christian Timothy
29.08.2011

Chú Thích
[4] Những câu Thánh Kinh liên quan đến sự tái sinh:  http://tinlanhvietnam.net/node/844
Những câu Thánh Kinh liên quan đến sự thánh hóa: http://tinlanhvietnam.net/node/849

Share This:

4,471 views

Ba Phương Diện của Sự Cứu Rỗi: Sự Xưng Nghĩa, Sự Tái Sinh, và Sự Thánh Hóa

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này

Lưu ý:Trong bài viết này, những câu Thánh Kinh trong các sách Giăng và Khải Huyền được trích từ Bản Dịch Ngôi Lời [1], những câu còn lại được trích từ Bản Dịch Phan Khôi.

Nếu bạn đang kết nối với Internet trong khi đọc bài này thì bạn có thể bấm vào các mã số Strong như: H6663G1334 để xem định nghĩa các từ ngữ; bấm vào các ký hiệu phát âm như: (tsaw-dak') và (dik-ah-yo'-o) để nghe cách phát âm. 

I. Dẫn Nhập

Sự xưng nghĩa, sự tái sinh, và sự thánh hóa là ba yếu tố liên kết với nhau trong sự cứu rỗi mà Đức Chúa Jesus Christ đã ban cho nhân loại. Một người thật lòng tin nhận sự cứu rỗi của Đấng Christ cần hiểu rõ ý nghĩa và sự liên kết của ba yếu tố này trong ơn cứu rỗi; nhờ đó, người ấy có thể sống một đời sống ngày càng tăng trưởng trong đức tin và đắc thắng trong Đấng Christ.

Sự khác biệt và mối tương quan của ba yếu tố này được Thánh Kinh trình bày rất rõ ràng; nhưng từ cuối thế kỷ thứ tư cho đến nay, các tư tưởng thần học lẫn lộn giữa sự xưng nghĩa với sự tái sinh hoặc giữa sự xưng nghĩa với sự thánh hóa, đã tạo ra các giáo lý không đúng với Thánh Kinh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tăng trưởng đức tin của con dân Chúa.

Trước hết, chúng ta cần nhận biết: nguyên cớ, đối tượng, ý nghĩa, phương cách, tiến trình, và thành quả của sự cứu rỗi.

Nguyên cớ của sự cứu rỗi là "vì Ðức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời" (Giăng 3:16).

Đối tượng của sự cứu rỗi là toàn thể loài người, kể từ A-đam cho đến người cuối cùng được sinh ra trong trời cũ đất cũ này: "vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời" (Rô-ma 3:23).

Ý nghĩa của sự cứu rỗi là: (1) Đức Chúa Trời cứu loài người ra khỏi hậu quả của tội lỗi là sự hư mất, bao gồm: sự chết thể xác, sự chết tâm linh, phải chịu phán xét về mọi tội lỗi đã làm ra và chịu khổ đời đời trong hỏa ngục. (2) Đức Chúa Trời cứu loài người ra khỏi quyền lực của tội lỗi đang cai trị trong xác thịt đang chết của loài người. (3) Đức Chúa Trời phục hồi địa vị làm con của Đức Chúa Trời, ban sự sống lại và sự sống đời đời cho người được cứu.

Phương cách của sự cứu rỗi là Đức Chúa Jesus Christ chịu khổ, chịu chết, chịu phân cách với Đức Chúa Cha để gánh thay hậu quả của tội lỗi cho toàn thể nhân loại: "Ấy chính Ngài làm của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa" (I Giăng 2:2).

Tiến trình của sự cứu rỗi bắt đầu với sự xưng nghĩa, dẫn đến sự tái sinh, đem lại một đời sống mới được thánh hóa bởi quyền phép của Đức Thánh Linh qua lẽ thật của Lời Chúa.

Thành quả của sự cứu rỗi là: Trong đời này, người được cứu được thông công với Đức Chúa Trời, được đầy dẫy Thánh Linh, có thẩm quyền trên ma quỷ, trên tội lỗi, và vui hưởng sự bình an, thỏa lòng trong mọi cảnh ngộ của đời sống, dù có phải trải qua nhiều nỗi khó khăn trên bước đường theo Chúa. Trong đời sau, người được cứu sẽ sống đời đời, vô cùng phước hạnh, với Đức Chúa Trời trong trời mới, đất mới.

II. Sự Xưng Nghĩa

Quan hệ giữa Đức Chúa Trời với loài người được thiết lập trên luật pháp của Đức Chúa Trời. Luật pháp của Đức Chúa Trời là mọi ý muốn và lời phán của Ngài, phản ánh bản tính của Ngài, là tiêu chuẩn công bình, thánh khiết, và yêu thương do chính Ngài đặt ra và yêu cầu loài người vâng phục, được ghi chép trong Thánh Kinh. Nếu loài người vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời thì được ở trong địa vị làm con của Đức Chúa Trời và được sống đời đời trong hạnh phúc với Ngài. Nếu loài người không vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời thì sẽ bị hư mất, bị mất quyền làm con của Đức Chúa Trời, và phải chịu khổ đời đời trong hỏa ngục.

Đức tin là sự hoàn toàn tin cậy luật pháp của Đức Chúa Trời, tức là vâng phục mọi ý muốn và lời phán của Đức Chúa Trời, được thể hiện qua sự tôn kính, yêu mến luật pháp của Ngài, và hết lòng, tận sức làm theo luật pháp của Ngài. Tội lỗi là sự không vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời được thể hiện qua sự xem thường luật pháp của Ngài, khó chịu vì luật pháp của Ngài, và quyết định làm nghịch lại luật pháp của Ngài.

Đức Chúa Trời dựng nên loài người giống như Ngài cho nên loài người có trí khôn, biết suy nghĩ, và có ý chí tự quyết. Tổ phụ của loài người là ông A-đam và bà Ê-va đã chọn không vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời, cho nên, đã đem tội lỗi và hậu quả của tội lỗi vào trong toàn thế gian: "Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội" (Rô-ma 5:12).

Thái độ đương nhiên của Đức Chúa Trời công chính và thánh khiết đối với tội lỗi và tội nhân, là tội lỗi phải bị lên án và tội nhân phải bị hình phạt. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời cũng là tình yêu và Ngài yêu thế gian, cho nên, Ngài đã ban cho thế gian sự cứu rỗi qua sự kiện Đức Chúa Jesus Christ hy sinh, gánh thay hình phạt của tội lỗi cho toàn thể nhân loại. Bất cứ tội nhân nào thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đức Chúa Jesus Christ, thì người ấy lập tức được Đức Chúa Trời xưng là công nghĩa (hoặc công bình), nói cách ngắn gọn là được xưng nghĩa. Một người đã được Đức Chúa Trời xưng nghĩa là một người đã được Đức Chúa Trời tha tội và được hòa thuận lại với Ngài.

"Xưng nghĩa" trong tiếng Hê-bơ-rơ là צדק, H6663, phiên âm là /tsâdaq/, và phát âm là (tsaw-dak'); trong tiếng Hy-lạp là δικαιόω, G1334, phiên âm là /dikaioō/, và phát âm là (dik-ah-yo'-o); trong tiếng Anh là "justified."

Sự xưng nghĩa có bảy đặc tính như sau:

1. Sự xưng nghĩa là ân điển của Đức Chúa Trời ban cho người thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ, chứ không do nơi công đức của người ấy:

"Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và họ nhờ ân điển Ngài mà được xưng công bình nhưng không, bởi sự chuộc tội đã làm trọn trong Đức Chúa Jesus Christ"(Rô-ma 3:23, 24).

2. Sự xưng nghĩa đến từ Đức Chúa Trời, là hành động xảy ra chỉ một lần và hoàn tất, do Đức Chúa Trời làm ra cho người thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ, chứ không phải là một tiến trình kéo dài trong đời sống của người tin Chúa:

"Vậy, chúng ta đã được xưng công bình bởi đức tin, thì được hòa thuận với Đức Chúa Trời, bởi Đức Chúa Jesus Christ chúng ta"(Rô-ma 5:1).

3. Một người được Đức Chúa Trời xưng nghĩa là một người được Đức Chúa Trời kể là không còn chịu trách nhiệm về tội lỗi của mình, vì người ấy đã ăn năn tội và tin nhận rằng Đức Chúa Jesus Christ đã gánh hết trách nhiệm cho mình; đồng thời, người ấy được hưởng tất cả những phước hạnh của một người không có tội:

"Ai sẽ kiện kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời là Đấng xưng công bình những kẻ ấy"(Rô-ma 8:33).

"Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jesus Christ"(Rô-ma 8:1).

"Còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình, và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển" (Rô-ma 8:30)

4. Sự xưng nghĩa dựa trên sự đổ huyết của Đức Chúa Jesus Christ, không có sự đổ huyết của Đức Chúa Jesus Christ thì không có sự tha tội cho người ăn năn tội:

"Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết. Huống chi nay chúng ta đã nhờ huyết Ngài được xưng công bình, thì sẽ nhờ Ngài được cứu khỏi cơn thạnh nộ là dường nào"(Rô-ma 5:8, 9)!

"Theo luật pháp thì hầu hết mọi vật đều nhờ huyết mà được sạch: không đổ huyết thì không có sự tha thứ"(Hê-bơ-rơ 9:22).

5. Sự công nghĩa của Đức Chúa Jesus Christ bao gồm: sự Ngài vâng phục Đức Chúa Trời một cách trọn vẹn và sự Ngài gánh chịu hình phạt thay cho toàn thể nhân loại, được mặc lấy cho người thật lòng ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Ngài:

"Vì, như bởi sự không vâng phục của một người mà mọi người khác đều thành ra kẻ có tội, thì cũng một lẽ ấy, bởi sự vâng phục của một người mà mọi người khác sẽ đều thành ra công bình"(Rô-ma 5:19).

6. Sự xưng nghĩa hoàn toàn khác biệt với sự tái sinh. Sự xưng nghĩa là do phán quyết của Đức Chúa Trời công bố người được xưng nghĩa không còn trách nhiệm về sự phạm tội, chứ không hề có tính cách thay đổi phẩm chất của người ấy. Sự tái sinh là sự dựng nên mới người đã được xưng nghĩa, hoàn toàn thay đổi phẩm chất của người ấy. Sự xưng nghĩa thay đổi mối quan hệ với Đức Chúa Trời của một người, còn sự tái sinh thay đổi bản chất của một người.

7. Sự xưng nghĩa hoàn toàn khác biệt với sự thánh hóa. Sự xưng nghĩa là phán quyết của Đức Chúa Cha, giúp cho một người có tội được kể là vô tội, dẫn đến sự người đó được tái sinh. Sự thánh hóa là nếp sống được dẫn dắt và ban ơn bởi Đức Thánh Linh, để giúp cho một người đã được tái sinh có năng lực sống một nếp sống hoàn toàn vâng theo luật pháp của Đức Chúa Trời, như Đức Chúa Jesus Christ đã sống giữa thế gian. Sự xưng nghĩa xảy ra chỉ một lần, trong thời điểm một người thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ. Sự thánh hóa là một tiến trình, xảy ra trong suốt đời sống giữa thế gian của người theo Chúa.

III. Sự Tái Sinh

Như đã trình bày trên đây: Sự xưng nghĩa chỉ thay đổi địa vị của một người từ địa vị tội nhân, là người không vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời, sang địa vị của người công chính, là người vâng giữ luật pháp của Đức Chúa Trời. Sự thay đổi địa vị làm thay đổi mối quan hệ của một người với Đức Chúa Trời, nhưng không làm thay đổi bản chất của người được xưng nghĩa. Sự xưng nghĩa xảy ra nhờ Đấng Christ đứng vào địa vị của tội nhân để tội nhân được đứng vào địa vị của Đấng Christ. Sự xưng nghĩa cần thiết để một người được tái sinh, vì nó khiến cho một người được phục hòa với Đức Chúa Trời để được Ngài ban cho ơn tái sinh; và sự tái sinh làm thay đổi bản chất của người đã được xưng nghĩa.

Từ ngữ "tái sinh" chỉ xuất hiện trong Thánh Kinh Tân Ước, với nguyên ngữ Hy-lạp là παλιγγενεσία, G3824, phiên âm là /paliggenesia/, và phát âm là (pal-ing-ghen-es-ee'-ah), trong tiếng Anh, được dịch là "regeneration" hoặc "new birth," có nghĩa là "sự sinh ra mới." Tuy nhiên, các từ ngữ khác trong Tân Ước như: "sinh từ trên cao" (Giăng 3:3, 7 –  Bản Dịch Phan Khôi dịch là "sanh lại"); "sinh bởi Đức Thánh Linh" (Giăng 3:6, 8); "sinh bởi Đức Chúa Trời" (Giăng 1:13); "làm cho sống" (Ê-phê-sô 2:5; Cô-lô-se 2:13); "lại sanh" (Tít 3:5; I Phi-e-rơ 1:3, 23); "dựng nên mới" (II Cô-rinh-tô 5:17) đều có cùng một ý nghĩa.

Sự tái sinh có bảy đặc tính như sau:

1. Sự tái sinh là ân điển thứ hai của Đức Chúa Trời ban cho người thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ, sau ân điển xưng nghĩa, không liên quan gì đến công đức của người ấy. Ân điển tái sinh được Thánh Kinh gọi là: lòng thương xót lớn của Đức Chúa Trời:

"Tôn vinh Đức Chúa Trời, là Cha Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, là Đấng theo lòng thương xót lớn của Ngài đã tái sinh chúng ta, để chúng ta nhờ sự Đức Chúa Jesus Christ sống lại từ trong kẻ chết mà có sự trông cậy sống"  (I Phi-e-rơ 1:3 – Dịch sát nghĩa).

2. Sự tái sinh là hành động xảy ra chỉ một lần và hoàn tất, do Đức Thánh Linh làm ra cho người thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ, chứ không phải là một tiến trình kéo dài trong đời sống của người tin Chúa. Sự tái sinh khiến cho tâm thần và linh hồn chúng ta được hoàn toàn dựng nên mới, nghĩa là: tâm thần và linh hồn chúng ta, vốn đang chết vì tội lỗi và chết trong tội lỗi, được sinh ra mới bởi Đức Thánh Linh; và chúng ta trở nên giống như Đức Chúa Trời trong bản tính, giống như Đấng Christ trong nếp sống giữa thế gian (thể hiện qua mọi việc làm của xác thịt), trong địa vị làm con thừa kế cơ nghiệp của Đức Chúa Trời:

"Đức Chúa Trời ôi! xin hãy dựng nên trong tôi một lòng trong sạch, và làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng"(Thi Thiên 51:10).

"Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới" (II Cô-rinh-tô 5:17).

"…mặc lấy người mới, tức là người đã được dựng nên giống như Đức Chúa Trời, trong sự công bình và sự thánh sạch của lẽ thật"(Ê-phê-sô 4:24).

"Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định. Vì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em"(Rô-ma 8:28, 29).

3. Sự tái sinh giữ nguyên địa vị được xưng nghĩa của chúng ta, nhờ đó, chúng ta vẫn được gọi là những người công bình của Đức Chúa Trời; đồng thời ban thêm cho chúng ta địa vị được làm con của Đức Chúa Trời, nhờ đó, chúng ta được gọi là con trai và con gái của Đức Chúa Trời. Từ ngữ "con trai và con gái" hàm ý chúng ta nhận được địa vị làm con của Đức Chúa Trời ngay khi còn ở trong thân thể xác thịt này:

"Ta sẽ làm Chúa các ngươi, các ngươi làm con trai con gái Ta, Chúa Toàn năng phán như vậy"(II Cô-rinh-tô 6:18)

"Nhưng hễ những ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho họ năng quyền, để trở nên con cái của Đức Chúa Trời; là ban cho những kẻ tin vào danh Ngài: là những kẻ chẳng phải sinh bởi máu huyết, hoặc bởi ý của xác thịt, cũng chẳng bởi ý người, nhưng sinh bởi Đức Chúa Trời"(Giăng 1:12, 13).

4. Sự tái sinh báp tem chúng ta vào trong sự chết và sự sống lại của Đấng Christ; báp tem chúng ta vào trong thân thể của Đấng Christ, là Hội Thánh; báp-tem chúng ta vào trong Thánh Linh của Đức Chúa Trời, khiến cho chúng ta được dự phần trong bản tính của Đức Chúa Trời, và thân thể của chúng ta trở thành đền thờ của Đức Chúa Trời bởi sự hiện diện của Đức Thánh Linh:

"Hay là, anh em chẳng biết rằng chúng ta thảy đều đã chịu phép báp-tem trong Đức Chúa Jesus Christ, tức là chịu phép báp-tem trong sự chết Ngài sao? Vậy chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp-tem trong sự chết Ngài, hầu cho Đấng Christ nhờ vinh hiển của Cha được từ kẻ chết sống lại thể nào, thì chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy. Vì nếu chúng ta làm một cùng Ngài bởi sự chết giống như sự chết của Ngài, thì chúng ta cũng sẽ làm một cùng Ngài bởi sự sống lại giống nhau"(Rô-ma 6:3-5).

"Anh em há chẳng biết thân thể mình là chi thể của Đấng Christ sao?…"(I Cô-rinh-tô 6:15).

"Hội Thánh là thân thể của Đấng Christ, tức là sự đầy đủ của Đấng gồm tóm mọi sự trong mọi loài"(Ê-phê-sô 1:23).

"Anh em há chẳng biết mình là đền thờ của Đức Chúa Trời, và Thánh Linh Đức Chúa Trời ở trong anh em sao?" (I Cô-rinh-tô 3:16).

"Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao" (I Cô-rinh-tô 6:19)?

Trong trời mới, đất mới, là vương quốc đời đời của Đức Chúa Trời, chúng ta thấy Thánh Kinh nói đến ngai của Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con (Khải Huyền 22:1) nhưng không thấy nói đến ngai của Đức Thánh Linh. Theo tác giả bài này, có lẽ ngai của Đức Thánh Linh được thể hiện qua hình ảnh của dòng nước sống tuôn tràn từ ngai của Chúa Cha và Chúa Con, vào tận trong lòng của con dân Chúa (Giăng 7:38, 39), khiến cho tấm lòng của con dân Chúa trở thành ngai của Đức Thánh Linh.

Ghi chú ngoài lề:I Cô-rinh-tô 3:16; 6:19 và Công Vụ Các Sứ Đồ 5:3, 4 là một trong những chứng cớ của Thánh Kinh về sự kiện Đức Thánh Linh là Thiên Chúa.

5. Vì sự tái sinh khiến cho chúng ta được báp-tem vào trong Thánh Linh của Đức Chúa Trời – tức là chúng ta nhận được sự sống, bản tính, và quyền phép của Đức Chúa Trời, để sống một đời sống thánh khiết đẹp lòng Chúa, đắc thắng: cám dỗ, tội lỗi, và ma quỷ, để có thể thờ phượng và hầu việc Chúa trong tâm thần và lẽ thật – cho nên, chúng ta không cần tìm kiếm sự kiện "được báp-tem bằng Thánh Linh." Một người thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ thì đương nhiên được Đức Chúa Trời xưng nghĩa và tái sinh người ấy. Một người đã được tái sinh thì đương nhiên Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã tuôn đổ trên người ấy và  người ấy đã được nhúng chìm trong Thánh Linh của Chúa, tức ân điển, sự sống, và quyền phép của Đức Chúa Trời. Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần giảng dạy giáo lý tìm kiếm sự nói "tiếng lạ" và báp-tem bằng Thánh Linh là mưu kế thâm độc của Sa-tan nhằm gieo tà giáo vào trong Hội Thánh, khiến những con dân Chúa thiếu sự thông biết Lời Chúa, phủ nhận Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã ban cho mình mà tiếp nhận tà linh đến từ Sa-tan. Linh "nói tiếng lạ" (không phải là nói ngoại ngữ như Thánh Kinh ghi lại trong Công Vụ Các Sứ Đồ 2) và linh của sự "đặt tay té ngã" hoàn toàn không hề được nói đến trong Thánh Kinh, là các tà linh đến từ Sa-tan [2].

Thánh Kinh khẳng định người ở trong Đấng Christ là người được dựng nên mới hoàn toàn:

"Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới"(II Cô-rinh-tô 5:17).

Người được dựng nên mới đó đã được nhận lãnh Đức Thánh Linh và Thánh Linh của Đức Chúa Trời, tức là đã được Đấng Christ báp-tem bằng Thánh Linh, đồng thời đã được nhận lãnh các ân tứ của Đức Thánh Linh. Sự ban cho các ân tứ là tùy theo ý muốn Đức Thánh Linh chứ không phải bởi sự cầu xin của chúng ta (I Cô-rinh-tô 12:11). Chỉ những người còn tánh xác thịt, chưa được tái sinh để nhận lấy bản tính của Đức Chúa Trời mới không nhận được những sự thuộc về Đức Thánh Linh:

"Về phần chúng ta, chúng ta chẳng nhận lấy thần thế gian, nhưng đã nhận lấy Thánh Linh từ Đức Chúa Trời đến, hầu cho được hiểu biết những ơn mà chúng ta nhận lãnh bởi Đức Chúa Trời; chúng ta nói về ơn đó, không cậy lời nói mà sự khôn ngoan của loài người đã dạy đâu, song cậy sự khôn ngoan mà Đức Thánh Linh đã dạy, dùng tiếng thiêng liêng để giải bày sự thiêng liêng. Vả, người có tánh xác thịt không nhận được những sự thuộc về Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời; bởi chưng người đó coi sự ấy như là sự rồ dại, và không có thể hiểu được, vì phải xem xét cách thiêng liêng"(I Cô-rinh-tô 2:12, 13).

Nếu một người thật lòng tin nhận Đấng Christ mà không thật lòng ăn năn tội thì người ấy vẫn không được xưng nghĩa và không được tái sinh. Một người như vậy, sẽ dễ dàng chạy theo các phong trào tìm kiếm sự nói "tiếng lạ" và báp-tem bằng Thánh Linh để rồi mở đường cho các "thần thế gian" tức các tà linh xâm nhập vào thân thể của chính mình. Họ có thể tạo ra các mục vụ lẫy lừng, làm ra nhiều sự lạ lùng trong danh Chúa, nhưng chính Đức Chúa Jesus Christ đã tiên tri về họ trong Ma-thi-ơ 7:22, 23:

"Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhơn danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhơn danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? Khi ấy, Ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi Ta!"

Trách nhiệm của con dân Chúa là cầu xin sự khôn ngoan từ nơi Chúa để có sự thông biết hầu phân biệt được các tiên tri giả và nếp sống của họ, phân biệt Thánh Linh và tà linh:

"Dân ta bị diệt vì cớ thiếu sự thông biết. Bởi ngươi bỏ sự thông biết thì ta cũng bỏ ngươi, đặng ngươi không làm thầy tế lễ cho ta nữa; bởi ngươi đã quên luật pháp của Đức Chúa Trời mình, thì ta cũng sẽ quên con cái ngươi" (Ô-sê 4:6).

"Ví bằng trong anh em có kẻ kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời, là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không trách móc ai, thì kẻ ấy sẽ được ban cho" (Gia-cơ 1:5)

"Hãy coi chừng tiên tri giả, là những kẻ mang lốt chiên đến cùng các ngươi, song bề trong thật là muông sói hay cắn xé. Các ngươi nhờ những trái nó mà nhận biết được…"(Ma-thi-ơ 7:15, 16).

Những ai đã bị lừa gạt bởi sự giảng dạy của các tiên tri giả, đã dự phần trong các Phong Trào Ân Tứ, Ngũ Tuần, tìm kiếm sự nói "tiếng lạ" và sự báp-tem bằng Thánh Linh, cần phải thật lòng, đến với Chúa để ăn năn, xưng tội, hầu cho thật sự được Đức Chúa Trời xưng nghĩa và tái sinh, thật sự được Đấng Christ báp-tem bằng Thánh Linh; sau đó, nhân danh Đức Chúa Jesus Christ để trục xuất các "thần thế gian" tức các tà linh của Sa-tan, và tất cả những quyền lực của các tà linh ra khỏi thân thể mình.

6. Sự tái sinh khiến cho một người nhận biết Nước Trời và được vào trong Nước Trời.

"Đức Chúa Jesus lên tiếng, đáp rằng: Thật vậy, thật vậy, Ta nói với ngươi: Nếu một người chẳng sinh lại, thì không thể thấy biết được vương quốc của Đức Chúa Trời"(Giăng 3:3).

"Đức Chúa Jesus đáp rằng:Thật vậy, thật vậy, Ta nói với ngươi: Nếu một người chẳng sinh ra bởi nước và bởi Thánh Linh, thì không được vào vương quốc của Đức Chúa Trời" (Giăng 3:5).

7. Sự tái sinh là điều phải có để một người thật lòng ăn năn tội, tin nhận Đấng Christ, có thể bước vào nếp sống được thánh hóa. Không có sự xưng nghĩa thì không có sự tái sinh. Không có sự tái sinh thì không có sự thánh hóa. Sự tái sinh khiến cho chúng ta trở nên giống như Đức Chúa Trời trong bản tính, chỉ xảy ra một lần và trọn vẹn. Sự thánh hóa khiến cho chúng ta thực thi bản tính của Đức Chúa Trời trong thân thể xác thịt của chúng ta, và là một tiến trình, bắt đầu liền sau khi chúng ta được tái sinh và chấm dứt khi chúng ta ra khỏi thân thể xác thịt.

IV. Sự Thánh Hóa

Được "thánh hóa" hoặc được "nên thánh" trong tiếng Hê-bơ-rơ làקדשׁ, H6942, phiên âm là /qâdash/, và phát âm là (kaw-dash'); trong tiếng Hy-lạp là ἁγιάζω, G37, phiên âm là /hagiazō/, và phát âm là (hag-ee-ad'-zo); trong tiếng Anh là "sanctified." Ý nghĩa tổng quát của từ ngữ này là một người hay một vật được biệt riêng để dùng cho mục đích mà người hay vật đó được dựng nên. Thí dụ: cây bút được "thánh hóa" khi được dùng để viết; cây thước được "thánh hóa" khi được dùng để đo đạc; lưỡi cày được "thánh hóa" khi được dùng để cày xới đất. Trong Thánh Kinh, một vật được thánh hóa khi vật đó được dùng cho mục đích mà Đức Chúa Trời đã định cho nó; một người được thánh hóa khi người ấy sống theo sự thiết kế và ý muốn của Đức Chúa Trời. Ngoài ra, thánh hóa còn có nghĩa là phục hồi địa vị ban đầu của một người hay một vật đã bị ô uế để người hoặc vật ấy có thể sống hoặc được dùng đúng với ý muốn của Đức Chúa Trời.

Ngược lại với được "thánh hóa" là bị "ô uế." Từ ngữ ô uế trong tiếng Hán Việt có nghĩa là nhiễm vào sự dơ bẩn, bao gồm sự ô uế thuộc thể, lẫn thuộc linh; đó cũng là ý nghĩa của từ ngữ ô uế được dùng trong Thánh Kinh.

Khi Đức Chúa Trời dựng nên muôn vật, Ngài có những mục đích cho muôn vật và Ngài thiết kế muôn vật có chức năng để phục vụ cho những mục đích Ngài đã đặt ra. Muôn vật, bao gồm loài người, được thánh hóa khi ở trong sự vâng phục Đức Chúa Trời. Khi loài người bắt đầu không vâng phục Đức Chúa Trời thì loài người tự làm cho mình bị ô uế, tức là bị nhiễm tội, đồng thời, khiến cho đất và muôn vật trên đất cũng bị ô uế. Từ đó, loài người và muôn vật mà Đức Chúa Trời đã đặt dưới quyền cai trị của loài người đã không còn ở trong tình trạng được thánh hóa nữa; nghĩa là, loài người và muôn vật đã bị ô uế, không còn sống theo sự thiết kế và ý muốn của Đức Chúa Trời. Đó chính là lý do của tất cả đau khổ, bất công, hổn loạn, thiên tai, và chết chóc xảy ra trong thế gian. Đó cũng chính là lý do vì sao loài người cần sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.

Trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời ban cho loài người, điểm chính yếu thứ nhất là Đức Chúa Trời cứu loài người ra khỏi quyền lực và hậu quả của tội lỗi; điểm chính yếu thứ nhì là Đức Chúa Trời thánh hóa những người chịu tin nhận sự cứu rỗi của Ngài. Sự thánh hóa khiến cho chúng ta bày tỏ bản tính của Đức Chúa Trời trong thân thể xác thịt của chúng ta, sống đúng theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Sự thánh hóa là một tiến trình, bắt đầu liền sau khi chúng ta được tái sinh và chấm dứt khi chúng ta ra khỏi thân thể xác thịt.

Người được tái sinh là người được dựng nên mới trong Đức Chúa Jesus Christ, khác với con người cũ được dựng nên trong A-đam. Con người cũ được dựng nên trong A-đam thì mang lấy bản tính ô uế từ A-đam; con người mới được dựng nên trong Đấng Christ thì mang lấy bản tính thánh khiết từ Đấng Christ. Khi Đức Thánh Linh tái sinh một người thì Ngài đã thiết kế cho người được tái sinh có năng lực sống theo tiêu chuẩn thánh khiết, công bình, và yêu thương của Đức Chúa Trời, tức là ý muốn của Đức Chúa Trời, bằng cách dựng nên mới tâm linh của người ấy. Việc còn lại là người đã được tái sinh đó sẽ quyết định sống theo sự đổi mới Đức Thánh Linh đã làm ra cho mình hay tiếp tục sống theo sự ưa muốn của xác thịt.

Khi người đã được tái sinh chịu tiếp nhận sự thánh hóa thì Đức Thánh Linh liên tục khiến cho người ấy sống đúng theo ý muốn của Đức Chúa Trời, bằng cách dùng Lời của Đức Chúa Trời để dạy dỗ, an ủi, cáo trách, ban ơn, và thêm sức. Như vậy, sự thánh hóa bao gồm hành động của Đức Chúa Trời và của loài người. Về phía Thiên Chúa: Đức Chúa Cha thiết kế và ban hành ý muốn, Đấng Christ thì đời đời làm của lễ chuộc tội và cầu thay cho người được thánh hóa, Đức Thánh Linh ban năng lực và dẫn dắt người được thánh hóa. Về phía loài người: loài người phải bằng lòng tiếp nhận và luôn ở trong sự thánh hóa. Thánh Kinh gọi những người ở trong sự thánh hóa là các "thánh đồ."

Lời phán của Đức Chúa Jesus Christ trong Ma-thi-ơ 5:48: "Thế thì, các ngươi hãy nên trọn vẹn, như Cha các ngươi ở trên trời là trọn vẹn;" là mệnh lệnh truyền cho các môn đồ của Ngài phải ở trong sự thánh hóa. Nếu chúng ta tiếp tục ở trong sự thánh hóa thì chúng ta sẽ đạt đến sự trọn vẹn như Cha của chúng ta ở trên trời. Điều đó sẽ xảy ra trong ngày Đấng Christ làm cho thân thể đã trở về bụi đất của chúng ta được sống lại hoặc biến hóa thân thể đang sống của chúng ta thành thân thể siêu vật chất như thân thể phục sinh của Ngài. Tuy nhiên, điều đó chỉ có thể xảy ra nếu trong lúc còn sống trong thân thể xác thịt này, chúng ta chịu tiếp nhận và ở lại trong sự thánh hóa mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn và làm ra cho chúng ta. Nói cách khác, tiến trình thánh hóa là giai đoạn thử thách tình yêu của chúng ta đối với Đức Chúa Trời. Chúng ta có yêu Chúa đến mức sẵn sàng hy sinh tất cả để được trở nên trọn vẹn như chính Ngài là trọn vẹn hay không?

Sự thánh hóa có bảy đặc tính như sau:

1. Sự thánh hóa là ý muốn của Đức Chúa Trời dành cho con dân của Ngài:

"Trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm cho chúng ta nên thánh không chỗ trách được trước mặt Ngài, trong sự yêu thương"(Ê-phê-sô 1:4).

"Vì ý muốn Đức Chúa Trời, ấy là khiến anh em nên thánh: tức là phải lánh sự ô uế"(I Tê-sa-lô-ni-ca 4:3).

"Bởi chưng Đức Chúa Trời chẳng gọi chúng ta đến sự ô uế đâu, bèn là sự nên thánh vậy"(I Tê-sa-lô-ni-ca 4:7).

"Nhưng, như Đấng gọi anh em là thánh, thì anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn ở mình, bởi có chép rằng: Hãy nên thánh, vì Ta là thánh"(I Phi-e-rơ 1:15,16).

2. Sự thánh hóa do Đức Chúa Trời làm ra cho chúng ta trong danh Đức Chúa Jesus Christ, bởi Đức Thánh Linh:

"Trước kia anh em ít nữa cũng có một đôi người như thế; nhưng nhơn danh Đức Chúa Jesus Christ, và nhờ Đức Linh của Đức Chúa Trời chúng ta, thì anh em được rửa sạch, được nên thánh, được xưng công bình rồi"(I Cô-rinh-tô 6:11).

"Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Jesus Christ chúng ta đến"(I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23)!

3. Phương tiện để thánh hóa chúng ta là huyết của Đấng Christ, Thánh Linh, và Lời của Đức Chúa Trời. Huyết của Đấng Christ rửa sạch mọi tội lỗi của chúng ta, giúp cho chúng ta luôn được ở trong tình trạng được nên thánh:

"…huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi huyết của giao ước, tức là huyết mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Đức Linh của ân điển, thì anh em há chẳng tưởng rằng người ấy đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao" (Hê-bơ-rơ 10:29)?

"Ấy vì đó mà chính mình Đức Chúa Jesus đã chịu khổ tại ngoài cửa thành để lấy huyết mình làm cho dân nên thánh"(Hê-bơ-rơ 13:12).

Thánh Linh giúp cho chúng ta có sự khôn ngoan để hiểu biết Lời Chúa, có năng lực để sống theo Lời Chúa:

"Nếu tôi đã lấy lòng thật dạn dĩ mà viết thơ nói điều nầy điều kia với anh em, ấy là để nhắc lại cho anh em nhớ, bởi ơn Đức Chúa Trời đã làm cho tôi nên chức việc của Đức Chúa Jesus Christ giữa dân ngoại, làm chức tế lễ của Tin Lành Đức Chúa Trời, hầu cho dân ngoại được làm của lễ vừa ý Chúa, nên thánh bởi Thánh Linh. (Rô-ma 15:15, 16).

"chúng ta nói về ơn đó, không cậy lời nói mà sự khôn ngoan của loài người đã dạy đâu, song cậy sự khôn ngoan mà Thánh Linh đã dạy, dùng tiếng thiêng liêng để giải bày sự thiêng liêng"(I Cô-rinh-tô 2:13).

"…theo sự biết trước của Đức Chúa Trời Ngôi Cha, thông qua sự nên thánh bởi quyền phép Đức Chúa Trời [Linh], đặng vâng phục Đức Chúa Jesus Christ và có phần trong sự rải huyết Ngài: nguyền xin ân điển và bình an thêm lên cho anh em"(I Phi-e-rơ 1:2)!

Lời của Chúa đem lại sự sống cho chúng ta mà còn làm cho chúng ta trở nên giống như Chúa:

"Đức Chúa Jesus đáp: Có lời chép rằng: Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời" (Ma-thi-ơ 4:4).

"Xin thánh hóa họ bởi lẽ thật của Ngài. Lời Ngài là lẽ thật"(Giăng 17:17)

"…để khiến Hội nên thánh sau khi lấy nước tắm rửa và dùng Lời làm cho Hội tinh sạch" (Ê-phê-sô 5:26).

4. Chúng ta phải bằng lòng tiếp nhận và ở lại trong sự thánh hóa. Tiếp nhận sự thánh hóa là bằng lòng từ bỏ tội lỗi để sống theo Lời Chúa; ở lại trong sự thánh hóa là liên tục sống theo Lời Chúa cho đến ngày Đấng Christ hiện ra.

"Tôi nói theo cách loài người, vì xác thịt của anh em là yếu đuối. Vậy, anh em từng đặt chi thể mình làm tôi sự ô uế gian ác đặng làm tội ác thể nào, thì bây giờ, hãy đặt chi thể mình làm tôi sự công bình đặng làm nên thánh cũng thể ấy" (Rô-ma 6:19).

"Nhưng bây giờ đã được buông tha khỏi tội lỗi và trở nên tôi mọi của Đức Chúa Trời rồi, thì anh em được lấy sự nên thánh làm kết quả, và sự sống đời đời làm cuối cùng" (Rô-ma 6:22).

"Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn. Song le, ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm. Bấy giờ các từng trời sẽ có tiếng vang rầm mà qua đi, các thể chất bị đốt mà tiêu tán, đất cùng mọi công trình trên nó đều sẽ bị đốt cháy cả.Vì mọi vật đó phải tiêu tán thì anh em đáng nên thánh và tôn kính trong mọi sự ăn ở của mình là dường nào"(II Phi-e-rơ 3:9-11).

"Hỡi kẻ rất yêu dấu, chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, còn về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì điều đó chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy. Ai có sự trông cậy đó trong lòng, thì tự mình làm nên thanh sạch, cũng như Ngài là thanh sạch"(I Giăng 3:3).

Khi chúng ta tiếp nhận và ở lại trong sự thánh hóa thì chúng ta sẽ nhận được lời hứa này của Đức Chúa Jesus Christ:

"Nếu các ngươi cứ ở trong Ta, và những lời của Ta cứ ở trong các ngươi, hãy cầu xin điều mình muốn, thì điều đó sẽ được làm cho các ngươi"(Giăng 15:7).

Vì sự thánh hóa bao gồm sự đáp ứng của loài người cho nên loài người gánh trách nhiệm cho sự thánh hóa của chính mình. Mỗi thánh đồ của Chúa phải tự mình làm cho trọn việc thánh hóa bằng sự kính sợ Chúa, cẩn thận làm theo mọi điều phán dạy của Ngài đã được ghi chép rõ ràng trong Thánh Kinh:

"Hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, chúng ta đã có lời hứa dường ấy, thì hãy làm cho mình sạch khỏi mọi sự dơ bẩn phần xác thịt và phần tâm thần, lại lấy sự kính sợ Đức Chúa Trời mà làm cho trọn việc nên thánh của chúng ta."(II Cô-rinh-tô 7:1)

5. Nếp sống ở trong sự thánh hóa của Đức Chúa Trời là nếp sống đem lại nhiều kết quả, làm vinh hiển Đức Chúa Cha, và khiến cho chúng ta trở nên những môn đồ của Đức Chúa Jesus Christ. Trước khi chúng ta tin nhận Đấng Christ thì chúng ta là những tội đồ. Sau khi chúng ta tin nhận Đấng Christ thì chúng ta là những tín đồ. Khi chúng ta nghe và làm theo mọi lời dạy của Chúa thì chúng ta trở nên các môn đồ của Ngài; môn đồ là người học và làm theo sự dạy dỗ của thầy.

"Bởi điều này mà Cha Ta được vinh hiển: Ấy là các ngươi được kết nhiều quả, và các ngươi sẽ trở thành những môn đồ của Ta"(Giăng 15:8).

6. Đức Chúa Trời dùng các tôi tớ của Ngài, là những người được giao cho các chức vụ chăn dắt Hội Thánh và giảng dạy Lời Chúa, để dạy dỗ, khích lệ, cáo trách, và kỷ luật con dân Chúa trong sự thánh hóa. Con dân chân thật của Chúa có bổn phận vâng lời họ nếu lời của họ không trái nghịch với Lời Chúa:

 

"Ấy vậy, hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, như anh em đã vâng lời luôn luôn, chẳng những khi tôi có mặt mà thôi, lại bây giờ là lúc tôi vắng mặt, hãy càng hơn nữa, mà lấy lòng sợ sệt run rẩy làm nên sự cứu chuộc mình"(Phi-líp 2:12).

"Hãy vâng lời kẻ dắt dẫn anh em và chịu phục các người ấy, bởi các người ấy tỉnh thức về linh hồn anh em, dường như phải khai trình, hầu cho các người ấy lấy lòng vui mừng mà làm xong chức vụ mình, không phàn nàn chi, vì ấy chẳng ích lợi gì cho anh em"(Hê-bơ-rơ 13:17).

7. Sự thánh hóa làm hoàn thành công cuộc cứu rỗi của Đức Chúa Trời ban cho chúng ta. Con dân Chúa không ở lại trong sự thánh hóa sẽ không được vào trong vương quốc của Đức Chúa Trời.

"Hãy cầu sự bình an với mọi người, cùng tìm theo sự nên thánh, vì nếu không nên thánh thì chẳng ai được thấy Đức Chúa Trời"(Hê-bơ-rơ 12:14).

V. Kết Luận

Trong sự cứu rỗi Thiên Chúa ban cho chúng ta, hai phương diện: (1) được Đức Chúa Trời xưng nghĩa bởi sự chết chuộc tội của Đấng Christ, (2) được Đức Thánh Linh tái sinh bởi đức tin của chúng ta vào trong sự cứu rỗi của Đấng Christ, hoàn toàn do Thiên Chúa chủ động bởi ân điển của Ngài. Riêng về phương diện thánh hóa mỗi ngày trong đời sống của chúng ta, sau khi chúng ta được xưng nghĩa và được tái sinh, thì bao gồm hành động của Đức Thánh Linh và của chúng ta. Đức Thánh Linh dạy dỗ Lời Chúa cho chúng ta và ban phương tiện, tức Thánh Linh, tức năng lực của Thiên Chúa, để thánh hóa chúng ta; còn chúng ta thì phải chọn sống nếp sống thánh khiết đúng theo Lời Chúa.

Ê-phê sô 2:8-10 chép:"Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình; vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jesus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo."  Trong nguyên ngữ Hy-lạp, nhóm chữ "mà anh em được cứu" được dùng với cấu trúc văn phạm đặc biệt mà dịch cho sát nghĩa sẽ là: "mà các anh em đã và đang được cứu." Nhờ ân điển của Thiên Chúa và bởi đức tin của chúng ta vào Lời Đức Chúa Trời, mà chúng ta đã được cứu và vẫn tiếp tục được cứu khỏi quyền lực và hậu quả của tội lỗi, đã được dựng nên mới trong Đấng Christ, để "làm những việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn  trước cho chúng ta làm theo." Những việc lành đó, chính là làm theo Lời Chúa dạy trong Thánh Kinh. Khi chúng ta sống một nếp sống hoàn toàn vâng theo Lời Chúa, lánh xa mọi sự ô uế từ thể xác đến tâm thần, thì chúng ta tự mình làm nên thánh như Ngài là thánh:

"Vì ý muốn Đức Chúa Trời, ấy là khiến anh em nên thánh: tức là phải lánh sự ô uế"(I Tê-sa-lô-ni-ca 4:3).

"Hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, chúng ta đã có lời hứa dường ấy, thì hãy làm cho mình sạch khỏi mọi sự dơ bẩn phần xác thịt và phần tâm thần, lại lấy sự kính sợ Đức Chúa Trời mà làm cho trọn việc nên thánh của chúng ta" (II Cô-rinh-tô 7:11).

"Ai có sự trông cậy đó trong lòng, thì tự mình làm nên thanh sạch, cũng như Ngài là thanh sạch"(I Giăng 3:3).

Có nên thánh thì chúng ta mới được thấy mặt Đức Chúa Trời, và nếp sống nên thánh là nếp sống tôn kính Lời Chúa,  "…lấy lòng sợ sệt run rẩy làm nên sự cứu chuộc mình" (Phi-líp 2:12b).

Nguyện ân điển, tình yêu, và sự thông công của Ba Ngôi Thiên Chúa ở cùng chúng ta, những người hết lòng tìm kiếm sự nên thánh trong Cứu Chúa Jesus Christ. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
29.08.2011

Chú Thích

[1] http://ngoiloi.thanhkinhvietngu.net/

[2] Quý con dân Chúa nghe được tiếng Anh, có thể đặt mua bộ video "Signs and Wonders Exposed" tại đây để hiểu biết về các Phong Trào Ân Tứ, Ngũ Tuần: http://www.thebereancall.org/node/4874

Xin xem thêm các bài viết trong những links dưới đây:

http://tinlanhvietnam.net/node/625

http://tinlanhvietnam.net/node/485

http://tinlanhvietnam.net/node/474

http://tinlanhvietnam.net/node/652

http://tinlanhvietnam.net/node/653

http://tinlanhvietnam.net/node/662

Share This:

4,561 views

Điềm Chúa Đến và Tận Thế

Huỳnh Christian Timothy

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Bấm vào đây để download bài viết này
Xin vào link dưới đây để nghe và download phần âm thanh:
– Điềm Chúa Đến: http://tinlanhvietnam.net/node/826
– Điềm Tận Thế: http://tinlanhvietnam.net/node/827

I. Dẫn Nhập

Vừa qua, thế giới lại một lần nữa xao động về sự kiện Chúa tái lâm vì Harold Camping, một nhà thuyết giảng Tin Lành nổi tiếng tại Hoa Kỳ, tiên đoán sự kiện Chúa tái lâm sẽ xảy ra vào ngày 21.05.2011. Dĩ nhiên, Chúa đã không tái lâm vào ngày 21.05.2011 và Camping đã định lại một ngày mới là ngày 21.10.2011. Trước đó, Camping tiên đoán Chúa sẽ tái lâm, đem Hội Thánh ra khỏi thế gian vào ngày 21.05.2011, và tận thế sẽ xảy ra vào ngày 21.10.2011;  bây giờ thì Camping tuyên bố một sự phán xét thuộc linh đã xảy ra vào ngày 21.05.2011 và đến ngày 21.10.2011 Hội Thánh sẽ được cất ra khỏi thế gian, cùng lúc, thế gian sẽ bị hủy diệt. Tưởng cũng nên nhắc lại, Camping đã từng đưa ra lời tiên đoán Chúa sẽ tái lâm vào ngày 21.05.1988 và ngày 07.09.1994.

Không riêng gì Harold Camping, từ thế kỷ thứ nhì cho đến nay, đã có ít nhất trên 40 người hoặc tổ chức giáo hội tiên đoán về ngày Chúa tái lâm, trong số đó, Giáo Hội Chứng Nhân Giê-hô-va (Jehovah’s Witnesses) từng tiên đoán Chúa tái lâm vào các năm: 1914, 1915, 1918, 1920, 1925, 1941, 1975, và 1994 [1]. Tất cả các lời tiên đoán đều dựa vào một số phân đoạn trong Thánh Kinh để đưa ra những tính toán khẳng định ngày Chúa tái lâm. Tuy nhiên, tất cả những người đưa ra lời tiên đoán đều bỏ qua lời phán rất rõ ràng của chính Đức Chúa Jesus Christ, rằng: “Về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết chi cả, thiên sứ trên trời hay là Con cũng vậy, song chỉ một mình Cha biết thôi” (Ma-thi-ơ 24:36).

Một khuyết điểm khác của những người đưa ra lời tiên đoán về ngày Chúa tái lâm là họ không phân biệt hai sự kiện: Chúa đến giữa chốn không trung để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian trước khi Chúa đoán phạt thế gian trong bảy năm; và Chúa tái lâm trên đất vào cuối của bảy năm đoán phạt để kết thúc thế gian tội lỗi.

Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu các phân đoạn Thánh Kinh có liên quan đến hai sự kiện này.

 

II. Câu Hỏi Của Các Môn Đồ

Trước hết, chúng ta cần phải cám ơn các môn đồ của Chúa, vì nhờ câu hỏi của họ mà chúng ta có được những lời tiên tri của chính Đức Chúa Jesus Christ về sự kiện Chúa đến và tận thế. Ma-thi-ơ 24:1-3 ghi lại cuộc đối thoại giữa Chúa và các môn đồ bắt đầu như sau:

1 Khi Đức Chúa Jesus ra khỏi đền thờ, đương đi, thì môn đồ đến gần để chỉ cho Ngài xem các nhà thuộc về đền thờ.
2 Ngài phán rằng: Các ngươi có thấy mọi điều đó chăng? Quả thật, ta nói cùng các ngươi, đây sẽ không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn khác mà không bị đổ xuống.
3 Ngài đương ngồi trên núi ô-li-ve, môn đồ tới riêng cùng Ngài, và nói rằng: Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế.

Sau khi Đức Chúa Jesus vào trong đền thờ để giảng dạy cho dân chúng và quở trách sự giả hình của những người Pha-ri-si (Ma-thi-ơ 21:23-23:39) thì Ngài ra khỏi đền thờ, có lẽ để lên núi Ô-li-ve, chuẩn bị cho buổi cầu nguyện tối, thì các môn đồ đến gần Chúa, chỉ cho Ngài xem các kiến trúc của khu đền thờ và trầm trồ về sự hoành tráng của chúng.

Theo lịch sử và Thánh Kinh thì đền thờ tại Giê-ru-sa-lem đương thời Đức Chúa Jesus được gọi là đền thờ thứ nhì. Đền thờ thứ nhất do Vua Sa-lô-môn xây dựng vào năm 950 TCN và bị tàn phá bởi quân đội của Vua Nê-bu-cát-nết-xa (nước Ba-by-lôn) vào năm 586 TCN. Đền thờ thứ nhì được Vua Si-ru (nước Phe-rơ-sơ) ra chiếu chỉ cho phép E-xơ-ra xây dựng lại, được khởi công vào năm 538 TCN và hoàn thành vào năm thứ sáu triều Vua Đa-ri-út (nước Phe-rơ-sơ), nhằm ngày 12.03.515 TCN. Năm 19 TCN, Vua Hê-rốt bắt đầu công cuộc tu bổ và xây cất thêm nhiều kiến trúc cho đền thờ, biến đền thờ thành một thắng tích thời bấy giờ. Công cuộc tu bổ và xây dựng đền thờ được hoàn tất vào năm 63 và đền thờ bị quân đội La-mã phá hủy hoàn toàn vào năm 70 [2].

Đức Chúa Jesus phán lời tiên tri về sự kiện đền thờ sẽ bị phá hủy đến nổi “không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn khác mà không bị đổ xuống” vào khoảng vài ngày trước Lễ Vượt Qua năm 27 [3]. Chúng ta nhận thấy các môn đồ không hỏi Chúa ngay sau khi Chúa phán lời tiên tri về đền thờ mà họ chờ cho tới khi đã lên đến núi Ô-li-ve và Chúa đã ngồi xuống, nghỉ chân. Có lẽ lời phán của Chúa đã làm cho họ kinh ngạc và bàng hoàng nên họ im lặng suy nghĩ. Cũng có thể, suốt chặng đường từ đền thờ lên trên núi Ô-li-ve, các môn đồ đã thầm thì bàn tán với nhau về ý nghĩa lời phán của Chúa và họ liên kết sự kiện Chúa đến, sự kiện tận thế, với sự kiện đền thờ bị phá hủy. Thế nên, Phi-e-rơ, Gia-cơ, Giăng, và Anh-rê đã đem cả ba sự kiện đó đặt chung vào trong một câu để hỏi Chúa: “Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế?”

Đức Chúa Jesus đã lần lượt trả lời ba điều thắc mắc của các môn đồ:

(1) Lúc nào những sự đó – tức là sự kiện đền thờ bị phá hủy – sẽ xảy ra?

(2) Điềm gì chỉ về sự Chúa đến?

(3) Điềm gì chỉ về sự tận thế?

Những câu trả lời của Đức Chúa Jesus được ghi chép lại trong: Ma-thi-ơ 24-25; Mác 13:1-37; và Lu-ca 21:5-36. Ma-thi-ơ và Mác ghi lại câu trả lời của Chúa về điềm tận thế và điềm Chúa đến. Lu-ca ghi lại câu trả lời của Chúa về sự kiện đền thờ bị phá hủy, điềm tận thế, và điềm Chúa đến. Chúng ta hãy cẩn thận liên kết các câu Thánh Kinh trong cả ba sách để có đầy đủ những câu trả lời của Chúa.

III. Những Điều Sẽ Xảy Ra Trước Khi Sự Cuối Cùng Đến

Trước khi sự cuối cùng xảy ra, bao gồm sự Chúa đến, sự Chúa đoán phạt thế gian, và sự tận thế thì sẽ có:

(1) Christ giả

(2) Giặc và tiếng đồn về giặc

(3) Dân này nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia

(4) Đói kém trong nhiều chỗ

(5) Động đất trong nhiều chỗ

(6) Dịch lệ trong nhiều chỗ

(7) Có những điềm lạ kinh khiếp và dấu lớn ở trên trời

(8) Con dân Chúa bị bắt bớ, bị giết hại, và bị mọi dân ghen ghét

(9) Nhiều kẻ phản nghịch nhau và ghen ghét nhau

(10) Nhiều tiên tri giả nổi lên

(11) Tội ác gia tăng trong khi lòng yêu mến Chúa giảm đi

(12) Tin lành được rao giảng khắp đất

Ma-thi-ơ 24:4-13
4 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hãy giữ, kẻo có kẻ dỗ dành các ngươi.
5 Vì nhiều người sẽ mạo danh Ta đến mà nói rằng: Ta là Đấng Christ; và sẽ dỗ dành nhiều người.
6 Các ngươi sẽ nghe nói về giặc và tiếng đồn về giặc: hãy giữ mình, đừng bối rối, vì những sự ấy phải đến; song chưa là cuối cùng đâu.
7 Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia; nhiều chỗ sẽ có đói kém và động đất.
8 Song mọi điều đó chỉ là đầu sự tai hại.
9 Bấy giờ, người ta sẽ nộp các ngươi trong sự hoạn nạn và giết đi; các ngươi sẽ bị mọi dân ghen ghét vì danh Ta.
10 Khi ấy cũng có nhiều kẻ sẽ sa vào chước cám dỗ, phản nghịch nhau, và ghen ghét nhau.
11 Nhiều tiên tri giả sẽ nổi lên và dỗ dành lắm kẻ.
12 Lại vì cớ tội ác sẽ thêm nhiều thì lòng yêu mến của phần nhiều người sẽ nguội lần.
13 Nhưng kẻ nào bền chí cho đến cuối cùng, thì sẽ được cứu.
14 Tin Lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến.

Mác 13:5-13
5 Đức Chúa Jêsus khởi phán rằng: Hãy giữ mình kẻo có ai lừa dối các ngươi chăng.
6 Có nhiều kẻ sẽ lấy danh Ta mà đến, xưng rằng: Chính Ta là Đấng Christ! Họ sẽ dỗ dành nhiều người.
7 Khi các ngươi nghe nói về giặc và nghe tiếng đồn về giặc, thì đừng bối rối: những sự ấy phải xảy đến; nhưng chưa là cuối cùng.
8 Vì dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia; cũng sẽ có động đất nhiều nơi, và đói kém. Đó chỉ là đầu sự khốn khổ mà thôi.
9 Còn các ngươi, phải giữ mình; họ sẽ nộp các ngươi trước tòa án; các ngươi sẽ bị đánh trong các nhà hội, và vì cớ Ta, sẽ đứng trước mặt các quan tổng đốc và các vua, để làm chứng trước mặt họ.
10 Nhưng trước hết Tin Lành phải được giảng ra cho khắp muôn dân đã.
11 Vả, khi họ điệu các ngươi đi nộp, chớ có ngại trước về điều mình sẽ nói, nhưng đến giờ đó, hãy nói theo lời sẽ ban cho; vì ấy không phải các ngươi nói, bèn là Đức Thánh Linh vậy.
12 Bấy giờ, anh sẽ nộp em cho phải chết, cha sẽ nộp con; con cái sẽ dấy lên nghịch cùng cha mẹ mình mà làm cho phải chết.
13 Các ngươi sẽ bị mọi người ghen ghét vì danh Ta; song ai cứ bền lòng đến cuối cùng, người ấy sẽ được cứu.

Lu-ca 21:8-19
8 Ngài đáp rằng: Các ngươi hãy giữ, kẻo bị cám dỗ; vì có nhiều người sẽ mạo danh Ta mà đến, và nói rằng: Ấy chính ta là Đấng Christ, thì giờ đã đến gần. Các ngươi đừng theo họ.
9 Lại khi các ngươi nghe nói về giặc giã loạn lạc, thì đừng kinh khiếp, vì các điều đó phải đến trước; nhưng chưa phải cuối cùng liền đâu.
10 Ngài cũng phán cùng họ rằng: Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia;
11 sẽ có sự động đất lớn, có đói kém và dịch lệ trong nhiều nơi, có những điềm lạ kinh khiếp và dấu lớn ở trên trời.
12 Song trước những điều đó thiên hạ sẽ vì cớ danh Ta mà tra tay bắt bớ các ngươi, nộp tại các nhà hội, bỏ vào ngục, kéo đến trước mặt các vua và các quan tổng đốc.
13 Điều ấy xảy ra cho các ngươi để làm chứng cớ.
14 Vậy các ngươi hãy nhớ kĩ trong trí, đừng lo trước về sự binh vực mình thể nào.
15 Vì Ta sẽ ban cho các ngươi lời lẽ và sự khôn ngoan, mà kẻ nghịch không chống cự và bẻ bác được.
16 Các ngươi cũng sẽ bị cha, mẹ, anh, em, bà con, bạn hữu mình nộp mình; và họ sẽ làm cho nhiều người trong các ngươi phải chết.
17 Các ngươi sẽ vì cớ danh Ta bị mọi người ghen ghét.
18 Nhưng một sợi tóc trên đầu các ngươi cũng không mất đâu.
19 Nhờ sự nhịn nhục của các ngươi mà giữ được linh hồn mình.

IV. “Những Sự Đó”

Trong câu hỏi của các môn đồ: “Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế?” thì nhóm chữ “những sự đó” chỉ về sự kiện đền thờ Giê-ru-sa-lem sẽ bị phá hủy đến nổi “không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn khác mà không bị đổ xuống.” Đức Chúa Jesus không hề nói cụ thể ngày, tháng, năm nhưng Chúa nói đến “điềm” tức là những sự kiện xảy ra trước làm dấu hiệu cho sự kiện đền thờ sắp bị phá hủy:

Lu-ca 21:20-24
20 Vả, khi các ngươi sẽ thấy quân lính vây thành Giê-ru-sa-lem, hãy biết sự tàn phá thành ấy gần đến.
21 Lúc đó, ai ở trong xứ Giu-đê hãy trốn lên núi; ai ở trong thành phải đi ra ngoài, ai ở ngoài đồng đừng trở vào thành.
22 Vì những ngày đó là ngày báo thù, hầu cho mọi lời đã chép được ứng nghiệm.
23 Trong những ngày ấy, khốn cho đờn bà có thai, và đờn bà cho con bú! Vì sẽ có tai nạn lớn trong xứ, và cơn thạnh nộ nghịch cùng dân nầy.
24 Họ sẽ bị ngã dưới lưỡi gươm, sẽ bị đem đi làm phu tù giữa các dân ngoại, thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị dân ngoại giày đạp, cho đến chừng nào các kỳ dân ngoại được trọn.

Bảy mươi ngàn lính La-mã chia thành bốn quân đoàn, dưới sự thống lãnh của Đại Tướng Titus, (về sau trở thành hoàng đế), đã tiến công bao vây thành Giê-ru-sa-lem vào mùa xuân năm 66. Đến mùa thu năm 70, thành Giê-ru-sa-lem hoàn toàn thất thủ: Đền thờ và thành bị thiêu đốt và triệt hạ. Đền thờ không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn đá nào. Thành chỉ còn lại một bức tường phía tây, ngày nay được gọi là “Bức Tường Than Khóc,” vì dân I-sơ ra-ên vẫn thường đứng trước đó để cầu nguyện và than khóc. Theo sử gia Josephus, trên một triệu một trăm ngàn cư dân Giê-ru-sa-lem bị giết và trên 97,000 cư dân khác bị bắt đi làm nô lệ [4].

Từ năm 70 đến  năm 1967, thành Giê-ru-sa-lem hoàn toàn “bị dân ngoại giày đạp.” Trong “Cuộc Chiến Sáu Ngày,” (5-10.6.1967), dân Israel đã chiếm lại được thành Giê-ru-sa-lem vào ngày 7 tháng 6 năm 1967 và nắm trọn chủ quyền cho đến ngày hôm nay [5]. Sự kiện này được xem là “các kỳ dân ngoại được trọn” và một số nhà giải kinh cho rằng ngụ ngôn về cây vả ra nhành non, lá mới đâm, có ý nói đến sự kiện dân Israel hoàn toàn làm chủ trở lại thành Giê-ru-sa-lem, báo hiệu cho ngày Chúa trở lại đã rất gần.

V. “Điềm Chỉ Về Sự Chúa Đến”

Sự kiện Chúa đến để đem Hội Thánh đi với Chúa theo lời Ngài đã hứa trong Giăng 14:1-3 khác với sự kiện Chúa tái lâm trên đất để kết thúc sự đoán phạt thế gian và thiết lập vương quốc ngàn năm của Ngài. Chúng ta có thể nhận ra những điểm khác biệt giữa hai sự kiện như sau:

Chúa đến với Hội Thánh
Giữa chốn không trung

Chúa đến với thế gian
Giáng lâm trên núi Ô-li-ve

* Hội Thánh gặp Chúa giữa chốn không trung: “Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn” (I Tê-sa-lô-ni-ca 4:17).

* Hội Thánh cùng Chúa giáng xuống trên đất: “Các đạo binh trên trời đều mặc vải gai mịn, trắng và sạch, cỡi ngựa bạch theo Ngài” (Khải Huyền 19:14).

* Xảy ra trước bảy năm đại nạn, khi thế gian mãi lo vui chơi, ăn uống, cưới gã: “Vì Đức Chúa Trời chẳng định sẵn cho chúng ta bị cơn thạnh nộ, nhưng cho được sự giải cứu bởi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta” (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:9). “Vì ngươi đã giữ lời nhịn nhục Ta, Ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách, là giờ sẽ đến trong khắp thế gian, đặng thử những người ở trên đất” (Khải Huyền 3:10). “Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con người đến cũng thể ấy. Vì trong những ngày trước nước lụt, người ta ăn, uống, cưới, gả như thường cho đến ngày Nô-ê vào tàu, và người ta không ngờ chi hết cho đến khi nước lụt tới mà đùa đem đi hết thảy, khi Con người đến cũng như vậy” (Ma-thi-ơ 24:37-39).

* Xảy ra sau bảy năm đại nạn là khi thế gian đang kinh hoàng, khốn khổ vì những cơn đoán phạt của Đức Chúa Trời giáng xuống trong bảy năm đại nạn: Khải Huyền 6-19.

* Xảy ra như chớp nhoáng bất ngờ và thế gian không nhìn thấy: “Nầy là sự mầu nhiệm tôi tỏ cho anh em: Chúng ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ biến hóa, trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại được không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa” (I Cô-rinh-tô 15:51, 52).

* Muôn dân trên đất đều nhìn thấy và than khóc: “Khi ấy, điềm Con người sẽ hiện ra ở trên trời, mọi dân tộc dưới đất sẽ đấm ngực, và thấy Con người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà xuống” (Ma-thi-ơ 24:30). “Kìa, Ngài đến giữa những đám mây, mọi mắt sẽ trông thấy, cả đến những kẻ đã đâm Ngài cũng trông thấy; hết thảy các chi họ trong thế gian sẽ than khóc vì cớ Ngài. Quả thật vậy. A-men” (Khải Huyền 1:7).

Điềm chỉ về sự Chúa đến được Đức Chúa Jesus trả lời sau cùng kèm theo ngụ ngôn về cây vả và lời kêu gọi con dân Chúa hãy tỉnh thức, trông chờ ngày Chúa đến. Sau khi Đức Chúa Jesus thăng thiên, trong Hội Thánh Tê-sa-lô-ni-ca có những tin đồn cho rằng Chúa đã trở lại khiến cho Hội Thánh hoang mang. Đức Thánh Linh đã dùng Phao-lô giảng giải cho Hội Thánh như sau:

II Tê-sa-lô-ni-ca 2:1-4
1 Luận về sự đến của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, và về sự chúng ta hội hiệp cùng Ngài,
2 thì, hỡi anh em, xin chớ vội bối rối và kinh hoàng hoặc bởi thần cảm giả mạo, hoặc bởi lời nói hay là bởi bức thơ nào tựa như chúng tôi đã gởi mà nói rằng ngày Chúa gần đến.
3 Mặc ai dùng cách nào, cũng đừng để họ lừa dối mình. Vì phải có sự bỏ đạo đến trước, và có người tội ác, con của sự hư mất hiện ra,
4 tức là kẻ đối địch, tôn mình lên trên mọi sự mà người ta xưng là Đức Chúa Trời hoặc người ta thờ lạy, rất đỗi ngồi trong đền Đức Chúa Trời, chính mình tự xưng là Đức Chúa Trời.

Kết hợp lời của Đức Chúa Jesus và lời của Phao-lô chúng ta nhận thấy: Điềm Chúa đến bao gồm các sự kiện như sau:

(1) Mười hai chi tiết trong lời tiên tri của Chúa như đã trình bày trên đây được ứng nghiệm:

(2) Có sự bỏ đạo trong Hội Thánh: Hiện nay, những hình thức bỏ đạo đang lan rộng khắp Hội Thánh là: Chấp nhận cho người chăn được sống đồng tính luyến ái, xem đồng tính luyến ái là bệnh chứ không phải tội. Chối bỏ thẩm quyền của Thánh Kinh, không tin toàn bộ Thánh Kinh là Lời của Đức Chúa Trời. Chối bỏ thần tính của Đấng Christ.

(3) Người tội ác, con của sự hư mất hiện ra, tức là con thú thứ nhất trong Khải Huyền 13

(4) Về ngày và giờ Chúa đến không ai có thể biết được

Về ý nghĩa của ngụ ngôn cây vả, các nhà giải kinh đưa ra nhiều giả thuyết như sau:

1. Giả thuyết một:“Cây vả” là dân Israel. Cây vả “ra nhành non, lá mới đâm” là sự kiện Israel tái lập quốc vào ngày 14.05.1948. “Mùa hạ” là sự Chúa đến để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian trước khi Đức Chúa Trời giáng cơn đoán phạt xuống thế gian. “Dòng dõi này”  là thế hệ nhìn thấy sự kiện Israel tái lập quốc. Nếu một dòng dõi là 70 năm hay 80 năm như Thi Thiên 90:10 nói đến: “Tuổi tác của chúng tôi đến được bảy mươi, Còn nếu mạnh khỏe thì đến tám mươi; Song sự kiêu căng của nó bất quá là lao khổ và buồn thảm, vì đời sống chóng qua, rồi chúng tôi bay mất đi;” thì sự Chúa đến có thể xảy ra bất kỳ lúc nào trong khoảng thời gian từ hiện tại cho đến 10 năm nữa.

·         Israel tái lập quốc 14.05.1948 70 năm (một dòng dõi) = 2018

·         Vì Chúa đến trước bảy năm đại nạn cho nên: 2018 trừ ra 7 năm đại nạn = 2011 [6]

·         Israel tái lập quốc 14.05.1948 80 năm (một dòng dõi) = 2028

·         Vì Chúa đến trước bảy năm đại nạn cho nên: 2028 trừ ra 7 năm đại nạn = 2021

2. Giả thuyết hai: “Cây vả”là thành Giê-ru-sa-lem. Cây vả “ra nhành non, lá mới đâm” là sự kiện Israel tái chiếm và làm chủ hoàn toàn thành Giê-ru-sa-lem vào ngày 07.06.1967, khiến cho “các kỳ dân ngoại được trọn.”  Như vậy, Chúa có thể đến bất kỳ lúc nào trong khoảng thời gian từ hiện tại cho đến 19 hay 29 năm nữa:

·         Israel tái chiếm thành Giê-ru-sa-lem 07.06.1967 70 năm (một dòng dõi) = 2037

·         Vì Chúa đến trước bảy năm đại nạn cho nên: 2037 trừ ra 7 năm đại nạn = 2030

·         Israel tái chiếm thành Giê-ru-sa-lem 07.06.1967 80 năm (một dòng dõi) = 2047

·         Vì Chúa đến trước bảy năm đại nạn cho nên: 2047 trừ ra 7 năm đại nạn = 2040

Dựa vào II Phi-e-rơ 3:9:“Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn;” và I Ti-mô-thê 2:4: “Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật;” mà chúng ta có thể tin rằng Chúa có thể kéo dài dòng dõi được chứng kiến “điềm cây vả” đến 80 năm. Như vậy, nếu cây vả là Israel thì Chúa sẽ đến trong vòng 10 năm, còn nếu cây vả là thành Giê-ru-sa-lem thì Chúa sẽ đến trong vòng 29 năm.

Tuy nhiên, chúng ta không thể biến giả thuyết thành tín lý. Điều quan trọng là tất cả các dấu hiệu về điềm Chúa đến đã xảy ra và không ai có thể biết ngày và giờ Chúa đến. Chúa có thể đến để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian bất kỳ lúc nào. Chính Đức Chúa Jesus đã khẳng định như vậy.

Ma-thi-ơ 24:32-51
“32 Hãy nghe lời ví dụ về cây vả, vừa lúc nhành non, lá mới đâm, thì các ngươi biết mùa hạ gần tới.
33 Cũng vậy, khi các ngươi thấy mọi điều ấy, khá biết rằng Con Người gần đến, Ngài đương ở trước cửa.
34 Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, dòng dõi nầy chẳng qua trước khi mọi điều kia chưa xảy đến.

35 Trời đất sẽ qua, nhưng lời Ta nói chẳng bao giờ qua đi.
36 Về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết chi cả, thiên sứ trên trời hay là Con cũng vậy, song chỉ một mình Cha biết thôi.
37 Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con Người đến cũng thể ấy.
38 Vì trong những ngày trước nước lụt, người ta ăn, uống, cưới, gả như thường cho đến ngày Nô-ê vào tàu,
39 và người ta không ngờ chi hết cho đến khi nước lụt tới mà đùa đem đi hết thảy, khi Con Người đến cũng như vậy.
40 Lúc ấy, sẽ có hai người nam ở trong một đồng ruộng, một người được đem đi, còn một người bị để lại;
41 và có hai người nữ đương xay cối, một người được đem đi, còn một người bị để lại.

42 Vậy hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày nào Chúa mình sẽ đến.
43 Hãy biết rõ, nếu người chủ nhà đã hay canh nào kẻ trộm sẽ đến, thì tỉnh thức, không để cho đào ngạch nhà mình.
44 Vậy thì các ngươi cũng hãy chực cho sẵn, vì Con Người sẽ đến trong giờ các ngươi không ngờ.
45 Ai là đầy tớ trung tín và khôn ngoan, mà người chủ đặt cai trị đầy tớ mình, đặng cho đồ ăn đúng giờ?
46 Phước cho đầy tớ đó, khi chủ đến thấy làm như vậy!
47 Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, chủ sẽ đặt kẻ ấy coi sóc cả gia tài mình.
48 Nếu, trái lại, là một đầy tớ xấu, nó nghĩ thầm rằng: Chủ ta đến chậm,
49 bèn đánh kẻ cùng làm việc với mình, và ăn uống với phường say rượu,
50 thì chủ nó sẽ đến trong ngày nó không ngờ và giờ nó không biết.
51 Chủ sẽ đánh xé xương và định phần nó đồng với kẻ giả hình. Đó là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng.

Mác 13:28-37
28 Hãy nghe lời thí dụ về cây vả. Vừa khi nhánh nó trở nên non và nứt lộc, thì biết mùa hạ gần tới.
29 Cũng một lẽ ấy, khi các ngươi thấy các điều đó xảy đến, hãy biết Con Người đã tới gần, ở nơi cửa.
30 Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, dòng dõi nầy chẳng qua trước khi mọi sự kia xảy tới.

31 Trời đất sẽ qua đi, song lời Ta không bao giờ qua đâu.
32 về ngày và giờ đó, chẳng ai biết chi hết, các thiên sứ trên trời, hay là Con cũng chẳng biết nữa; song chỉ Cha mà thôi.
33 Hãy giữ mình, tỉnh thức; vì các ngươi chẳng biết kỳ đó đến khi nào.
34 Ấy cũng như một người kia đi đường xa, bỏ nhà, giao cho đầy tớ mỗi đứa cai quản một việc, và cũng biểu đứa canh cửa thức canh.
35 Vậy, các ngươi hãy thức canh, vì không biết chủ nhà về lúc nào, hoặc chiều tối, nửa đêm, lúc gà gáy, hay là sớm mai,
36 e cho người về thình lình, gặp các ngươi ngủ chăng.
37 Điều mà Ta nói cùng các ngươi, Ta cũng nói cho mọi người: Hãy tỉnh thức!

Lu-ca 21: 29-36
29 Đoạn, Ngài phán cùng họ một lời ví dụ rằng: Hãy xem cây vả và các cây khác;
30 khi nó mới nứt lộc, các ngươi thấy thì tự biết rằng mùa hạ đã gần đến.
31 Cũng vậy, khi các ngươi thấy những điều ấy xảy ra, hãy biết nước Đức Chúa Trời gần đến.
32 Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, dòng dõi nầy chẳng qua trước khi mọi sự kia chưa xảy đến.

33 Trời đất sẽ qua, song lời Ta nói sẽ không qua đâu.
34 Vậy, hãy tự giữ lấy mình, e rằng vì sự ăn uống quá độ, sự say sưa và sự lo lắng đời nầy làm cho lòng các ngươi mê mẩn chăng, và e ngày ấy đến thình lình trên các ngươi như lưới bủa;
35 vì ngày đó sẽ đến cho mọi người ở khắp trên mặt đất cũng vậy.
36 Vậy, hãy tỉnh thức luôn và cầu nguyện, để các ngươi được tránh khỏi các tai nạn sẽ xảy ra, và đứng trước mặt Con người.

VI. “Điềm Tận Thế”

Ma-thi-ơ 24:15-31
15 Khi các ngươi sẽ thấy sự gớm ghiếc tàn nát lập ra trong nơi thánh, mà đấng tiên tri Đa-ni-ên đã nói (ai đọc phải để ý),
16 thì ai ở trong xứ Giu-đê hãy trốn lên núi;
17 ai ở trên mái nhà, đừng xuống chuyên của cải trong nhà;
18 và ai ở ngoài ruộng, đừng trở về lấy áo mình.
19 Đang lúc đó, khốn khó thay cho đờn bà có mang, và đờn bà cho con bú!
20 Hãy cầu nguyện cho các ngươi khỏi trốn tránh nhằm lúc mùa đông hay là ngày Sa-bát;
21 vì lúc ấy sẽ có hoạn nạn lớn, đến nỗi từ khi mới có trời đất cho đến bây giờ chưa từng có như vậy, mà sau nầy cũng không hề có nữa.
22 Nếu những ngày ấy không giảm bớt, thì chẳng có một người nào được cứu; song vì cớ các người được chọn, thì những ngày ấy sẽ giảm bớt.
23 Khi ấy, nếu có ai nói với các ngươi rằng: Kìa Đấng Christ ở đây hay là: Ở đó, thì đừng tin.
24 Vì nhiều christ giả và tiên tri giả sẽ dấy lên, làm những dấu lớn, phép lạ, nếu có thể được thì họ cũng đến dỗ dành chính những người được chọn.
25 Nầy, Ta đã bảo trước cho các ngươi.
26 Vậy nếu người ta nói với các ngươi rằng: Nầy, Ngài ở trong đồng vắng, thì đừng đi đến; nầy, Ngài ở trong nhà thì đừng tin.
27 Vì như chớp phát ra từ phương đông, nháng đến phương tây, thì sự Con người đến sẽ cũng thể ấy.
28 Nơi nào có xác chết, thì những chim ó sẽ nhóm tại đó.

29 Sự tai nạn của những ngày đó vừa mới qua, thì mặt trời liền tối tăm, mặt trăng không sáng, các ngôi sao từ trên trời sa xuống, và thế lực của các từng trời rúng động.
30 Khi ấy, điềm Con người sẽ hiện ra ở trên trời, mọi dân tộc dưới đất sẽ đấm ngực, và thấy Con người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà xuống.
31 Ngài sẽ sai thiên sứ mình dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại những kẻ đã được lựa chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời nầy cho đến tận phương kia.

Mác 11: 14-27
14 Khi các ngươi sẽ xem thấy sự tàn nát gớm ghiếc lập ra nơi không nên lập (ai đọc phải để ý), bấy giờ những kẻ ở trong xứ Giu-đê hãy trốn lên núi;
15 ai ở trên mái nhà chớ xuống, và chớ vào trong nhà mà chuyên bất luận vật gì;
16 ai ở ngoài đồng chớ trở về lấy áo xống mình.
17 Trong những ngày đó, khốn cho đờn bà có thai cùng đờn bà cho con bú!
18 Hãy cầu nguyện cho điều đó chớ xảy ra lúc mùa đông.
19 Vì trong những ngày ấy có tai nạn, đến nỗi từ ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất cho đến bây giờ chưa hề có như vậy, và về sau cũng sẽ chẳng hề có nữa.
20 Nếu Chúa chẳng giảm bớt các ngày ấy, thì không có sanh vật nào được cứu; song vì cớ những kẻ Ngài đã chọn, nên Ngài đã giảm bớt các ngày ấy.
21 Khi ấy, dầu có ai bảo các ngươi rằng: Kìa, Đấng Christ ở đây, hay là Ngài ở đó, thì chớ tin.
22 Những christ giả, tiên tri giả sẽ nổi lên, làm những dấu lạ phép lạ, nếu có thể được thì họ cũng dỗ dành chính những người được chọn.
23 Hãy giữ lấy, Ta đã nói trước cho các ngươi cả.

24 Trong những ngày ấy, sau kỳ tai nạn, mặt trời sẽ tối tăm, mặt trăng chẳng chiếu sáng nữa,
25 các ngôi sao sẽ tự trên trời rớt xuống, và thế lực các từng trời sẽ rúng động.
26 Bấy giờ người ta sẽ thấy Con người lấy đại quyền đại vinh ngự đến trên đám mây;
27 Ngài sẽ sai các thiên sứ đặng nhóm những kẻ được chọn ở bốn phương, từ đầu cùng đất cho đến đầu cùng trời.

Lu-ca 21: 25-27
25 Sẽ có các điềm lạ trong mặt trời, mặt trăng, cùng các ngôi sao; còn dưới đất, dân các nước sầu não rối loạn vì biển nổi tiếng om sòm và sóng đào.
26 Người ta nhơn trong khi đợi việc hung dữ xảy ra cho thế gian, thì thất kinh mất vía, vì các thế lực trên trời sẽ rúng động.
27 Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người dùng đại quyền đại vinh mà ngự đến trên đám mây.

VII. Lời Kết

Sự kiện Chúa đến giữa chốn không trung để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian trong khi cả thế gian mãi lo ăn uống cưới gả như thời Nô-ê, lúc trước cơn nước lụt, hoàn toàn khác biệt với sự kiện tận thế là lúc Chúa sẽ cùng với Hội Thánh tái lâm trên đất, sau bảy năm đại nạn, để tiêu diệt các thế lực chống Chúa và những ai không tin nhận Ngài trong thế gian. Sự kiện Chúa đến được Thánh Kinh gọi là “sự chờ đợi sự trông cậy hạnh phước” (Tít 2:13) và được diễn tả cách linh động như sau, trong I Tê-sa-lô-ni-ca 4:15-18:

15 Vả, nầy là điều chúng tôi nhờ lời Chúa mà rao bảo cho anh em: chúng ta là kẻ sống, còn ở lại cho đến kỳ Chúa đến, thì không lên trước những người đã ngủ rồi.
16 Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ, sẽ sống lại trước hết.
17 Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn.
18 Thế thì, anh em hãy dùng lời đó mà yên ủi nhau.

Điềm Chúa đến đã xảy ra y như các lời tiên tri của chính Ngài và Sứ Đồ Phao-lô. Vì vậy, Chúa có thể đến bất kỳ lúc nào để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian, mở đầu cho thời kỳ bảy năm đại nạn.

Điềm Chúa tái lâm trên đất và tận thế sẽ xảy ra sau khi Hội Thánh được Chúa đem ra khỏi thế gian, và sẽ diễn tiến y như đã được Chúa tiên tri trong Khải Huyền từ đoạn 6 đến đoạn 19.

Hiện nay là “thì thuận tiện,” hiện nay là “ngày cứu rỗi” (II Cô-rinh-tô 6:2) cho tất cả những ai muốn thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ, bằng lòng sống một nếp sống thánh khiết theo Lời Chúa, không còn vi phạm các điều răn của Đức Chúa Trời; để được nhập vào trong Hội Thánh của Chúa và được Ngài cất ra khỏi thế gian trước kỳ đại nạn. Bạn đọc nào cần được hướng dẫn để tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ xin liên lạc với tác giả qua điện thoại hoặc email.

Những ai đã tin nhận sự cứu rỗi của Chúa nhưng chưa từ bỏ tội lỗi cần phải ăn năn, từ bỏ tội thì mới thực sự thuộc về Hội Thánh của Chúa và khi Chúa đến mới được cất lên chốn không trung để gặp Chúa và ở cùng Ngài luôn luôn. Bạn đọc nào đã thật lòng tin nhận Chúa nhưng chưa thể từ bỏ tội lỗi, nay muốn được hướng dẫn cách thức từ bỏ tội lỗi và cách thức sống một nếp sống mới trong Chúa, đắc thắng mọi cám dỗ, xin liên lạc với tác giả qua điện thoại hoặc email.

Huỳnh Christian Timothy
Sa-bát 04.06.2011
tim@timhieutinlanh.net

Tham Khảo và Chú Thích

[1] http://www.religioustolerance.org/end_wrl2.htm

[2] http://www.centuryone.com/hstjrslm.html

[3] Huỳnh Christian Timothy. “Ngày Chúa Chết & Ngày Chúa Phục Sinh.” –  http://tinlanhvietnam.net/node/579

[4] Josephus. “The Wars of the Jews.” VI.9.3 –  http://www.gutenberg.org/ebooks/2850

[5] http://www.sixdaywar.org/content/ReunificationJerusalem.asp

http://www.jewishvirtuallibrary.org/jsource/History/67_War.html

[6] Vì ngày 14.05.2011 đã qua khi bài này được viết cho nên giả thiết 1948 70 không còn hiệu lực

Share This:

4,167 views

Lịch Sử Giữ Ngày Sa-bát của Hội Thánh

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy
Nhấp vào đây để download bài viết này

Dẫn Nhập

Vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và có đức tin trong Đức Chúa Jesus Christ là đặc tính cơ bản ắt phải có của con dân Chúa trong thời Hội Thánh lẫn trong thời đại nạn. Thánh Kinh xác nhận rõ đặc tính đó:

"Chịu cắt bì chẳng hề gì, không chịu cắt bì cũng chẳng hề gì; sự quan hệ là giữ các điều răn của Đức Chúa Trời" (I Cô-rinh-tô 7:19).

"Vả, sự yêu thương là tại làm theo các điều răn của Đức Chúa Trời. Đó là điều răn mà các ngươi đã nghe từ lúc ban đầu, đặng làm theo" (II Giăng 1:6).

"Con rồng giận người đờn bà bèn đi tranh chiến cùng con cái khác của người, là những kẻ vẫn giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và lời chứng của Đức Chúa Jesus" (Khải Huyền 12:17).

"Đây tỏ ra sự nhịn nhục của các thánh đồ: chúng giữ điều răn của Đức Chúa Trời và giữ lòng tin Đức Chúa Jesus" (Khải Huyền 14:12).

Nói cách khác, nếu ai xưng nhận mình là thánh đồ của Đấng Christ, xưng nhận mình nhận biết và hết lòng yêu mến Đức Chúa Trời, mà không vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời như Đấng Christ đã vâng giữ thì người ấy tự dối mình và nói dối với Đức Chúa Trời. Thánh Kinh khẳng định:

"Nầy tại sao chúng ta biết mình đã biết Ngài, ấy là tại chúng ta giữ các điều răn của Ngài. Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ các điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người. Nhưng ai giữ lời phán Ngài, thì lòng kính mến Đức Chúa Trời thật là trọn vẹn trong người ấy. Bởi đó, chúng ta biết mình ở trong Ngài. Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm" (I Giăng 2:3-6).

Các điều răn của Đức Chúa Trời tức là Mười Điều Răn được ghi lại trong Xuất Ê-díp-tô Ký 20:1-17 và Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:6-21. Thánh đồ của Đấng Christ là những tội nhân "nhờ ân điển, bởi đức tin" mà được cứu ra khỏi quyền lực và hậu quả đời đời của tội lỗi, họ không còn ở dưới sự đoán phạt của luật pháp Đức Chúa Trời, nhưng họ được ban cho Thánh Linh của Ngài để yêu mến và sống thánh khiết không vi phạm điều răn của Ngài. Người còn ưa thích tội lỗi, vẫn sống trong tội lỗi, không thật lòng ăn năn, từ bỏ tội, mà nói rằng mình tin Chúa thì chỉ là người nói dối.

Ngày nay, nhiều con dân Chúa bị ảnh hưởng từ những sự dạy dỗ truyền thống của các giáo hội đã bỏ qua sự vâng giữ điều răn thứ tư trong Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời: "Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh…" Có hai quan điểm thần học liên quan đến việc KHÔNG vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời. Quan điểm thứ nhất cho rằng Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời không áp dụng cho Hội Thánh. Quan điểm thứ nhì cho rằng chỉ có chín trong Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời áp dụng cho Hội Thánh, ngoại trừ điều răn thứ tư. Cả hai quan điểm thần học này đều nghịch lại lẽ thật của Lời Chúa như đã trích dẫn trên đây. Quan điểm thứ nhất cho rằng Hội Thánh sống trong ân điển chứ không sống dưới luật pháp như dân Israel cho nên không cần vâng giữ các điều răn và luật pháp thời Cựu Ước. Tuy nhiên, Lời của Chúa trong Tân Ước khẳng định rằng khi Cơ-đốc nhân phạm vào các tiêu chuẩn yêu thương, thánh khiết, và công bình của Chúa thì liền bị luật pháp định tội:

"Nhưng nếu anh em tây vị người ta, thì phạm tội, luật pháp bèn định tội anh em như kẻ phạm phép" (Gia-cơ 2:9).

Chính Sứ Đồ Phao-lô tuyên bố Hội Thánh không được bỏ mà phải vâng theo, phải làm cho vững bền luật pháp của Đức Chúa Trời:

"Vậy, chúng ta nhơn đức tin mà bỏ luật pháp hay sao? Chẳng hề như vậy! Trái lại, chúng ta làm vững bền luật pháp" (Rô-ma 3:31).

Không riêng Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời mà kể cả luật pháp được ban hành trước khi có dân Israel như luật chồng cai trị vợ, đàn bà vâng phục đàn ông, Hội Thánh cũng phải vâng theo. So sánh hai câu Thánh Kinh sau đây:

"Đàn bà phải nín lặng trong đám hội của anh em: họ không có phép nói tại nơi đó, nhưng phải phục tùng cũng như luật pháp dạy" (I Cô-rinh-tô 14:34).

"Ngài phán cùng người nữ rằng: Ta sẽ thêm điều cực khổ bội phần trong cơn thai nghén; ngươi sẽ chịu đau đớn mỗi khi sanh con; sự dục vọng ngươi phải xu hướng về chồng, và chồng sẽ cai trị ngươi" (Sáng Thế Ký 3:16).

Riêng đối với quan điểm thứ nhì, cho rằng Hội Thánh không cần vâng giữ điều răn thứ tư, thì Lời Chúa đã dạy rõ:

"Vì người nào giữ trọn luật pháp, mà phạm một điều răn, thì cũng đáng tội như đã phạm hết thảy" (Gia-cơ 2:10).

Từ ngàn xưa, những người Pha-ri-si tự biệt riêng mình ra để sống cho Chúa và hầu việc Chúa nhưng thật ra họ đã vâng giữ theo lời truyền khẩu của loài người mà bỏ qua các điều răn của Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 15:3; Mác 7:8-9); khiến cho danh từ Pha-ri-si trở nên đồng nghĩa với danh từ giả hình. Nguyện rằng Đức Thánh Linh soi dẫn cho các anh chị em đọc bài viết này sẽ thấy được lẽ thật của Lời Chúa để sống đúng theo bản chất chân thật của một Cơ-đốc nhân: vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và có đức tin trong Đức Chúa Jesus Christ. A-men!

Lịch Sử Giữ Ngày Sa-bát Của Hội Thánh

Đức Chúa Trời Thiết Lập Ngày Sa-bát

"Ấy vậy, trời đất và muôn vật đã dựng nên xong rồi. Ngày thứ bảy, Đức Chúa Trời làm xong các công việc Ngài đã làm, và ngày thứ bảy, Ngài nghỉ các công việc Ngài đã làm. Rồi, Ngài ban phước cho ngày thứ bảy, đặt là ngày thánh; vì trong ngày đó, Ngài nghỉ các công việc đã dựng nên và đã làm xong rồi" (Sáng Thế Ký 2:1-3).

Điều Răn Giữ Ngày Sa-bát

"Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh. Ngươi hãy làm hết công việc mình trong sáu ngày; nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi: trong ngày đó, ngươi, con trai, con gái tôi trai tớ gái, súc vật của ngươi, hoặc khách ngoại bang ở trong nhà ngươi, đều chớ làm công việc chi hết; vì trong sáu ngày Đức Giê-hô-va đã dựng nên trời, đất, biển, và muôn vật ở trong đó, qua ngày thứ bảy thì Ngài nghỉ: vậy nên Đức Giê-hô-va đã ban phước cho ngày nghỉ và làm nên ngày thánh" (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8-11).

"Hãy giữ ngày nghỉ đặng làm nên thánh, y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã phán dặn ngươi. Ngươi hãy làm hết công việc mình trong sáu ngày; nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi: chớ làm một công việc nào hết, hoặc ngươi, con trai con gái, tôi trai tớ gái của ngươi, hoặc bò, lừa, hoặc một trong các súc vật của ngươi, hay là khách ở trong nhà ngươi, hầu cho tôi trai và tớ gái ngươi cũng được nghỉ như ngươi" (Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:12-14).

Hội Thánh Vâng Giữ Ngày Sa-bát từ Thế Kỷ Thứ Nhất đến Thế Kỷ Thứ Tư

"Hãy cầu nguyện cho các ngươi khỏi trốn tránh nhằm lúc mùa đông hay là ngày Sa-bát; vì lúc ấy sẽ có hoạn nạn lớn, đến nỗi từ khi mới có trời đất cho đến bây giờ chưa từng có như vậy, mà sau nầy cũng không hề có nữa." (Ma-thi-ơ 24:20-21).

Xin chú ý:Đây là lời tiên tri của Đức Chúa Jesus dành cho dân Israel sống trong thời đại nạn, là lúc mà "sẽ có hoạn nạn lớn, đến nỗi từ khi mới có trời đất cho đến bây giờ chưa từng có như vậy, mà sau nầy cũng không hề có nữa;" cho nên, chính Đức Chúa Jesus, qua câu phán của Ngài, đã khẳng định sự vâng giữ ngày Sa-bát vẫn còn cho đến thời đại nạn và ngày Sa-bát mà dân Do-thái vâng giữ cho đến ngày Đức Chúa Trời phán xét thế gian không hề sai trật với ngày Sa-bát Đức Chúa Trời đã thiết lập từ khi sáng thế (nhằm ngày thứ bảy dương lịch ngày nay).

·         Đức Chúa Jesus có thói quen nhóm họp tại nhà hội vào ngày Sa-bát: "Đức Chúa Jêsus đến thành Na-xa-rét, là nơi dưỡng dục Ngài. Theo thói quen, nhằm ngày Sa-bát, Ngài vào nhà hội, đứng dậy và đọc" (Lu-ca 4:16).

·         Những nữ môn đồ của Chúa giữ ngày Sa-bát: "Ngày Sa-bát, họ nghỉ ngơi theo luật lệ" (Lu-ca 24:56).

·         Phao-lô cùng Ba-na-ba giữ ngày Sa-bát và giảng đạo trong ngày Sa-bát tại thành An-ti-ốt: "Về phần hai người, thì lìa thành Bẹt-giê, cứ đi đường đến thành An-ti-ốt xứ Bi-si-đi; rồi nhằm ngày Sa-bát, vào trong nhà hội mà ngồi" (Công Vụ Các Sứ Đồ 13:14). "Khi hai người bước ra, chúng xin đến ngày Sa-bát sau cũng giảng luận các lời đó" (Công Vụ Các Sứ Đồ 13:42). "Ngày Sa-bát sau, gần hết cả thành đều nhóm lại để nghe đạo Chúa" (Công Vụ Các Sứ Đồ 13:44).

·         Phao-lô và Ti-mô-thê giữ ngày Sa-bát tại thành Phi-líp. Có lẽ, tại thành Phi-líp lúc bấy giờ không có nhà hội cho nên người ta đã nhóm họp nơi bờ sông, ngoài cửa thành, trong ngày Sa-bát: "Đến ngày Sa-bát, chúng ta ra ngoài cửa thành, đến gần bên sông, là nơi chúng ta tưởng rằng người ta nhóm lại đặng cầu nguyện; chúng ta ngồi xong, giảng cho những đàn bà đã nhóm lại" (Công Vụ Các Sứ Đồ 16:13).

·         Phao-lô theo thói quen nhóm họp tại nhà hội vào ngày Sa-bát tại thành Tê-sa-lô-ni-ca: "Phao-lô tới nhà hội theo thói quen mình, và trong ba ngày Sa-bát bàn luận với họ" (Công Vụ Các Sứ Đồ 17:2).

·         Thành Cô-rinh-tô là một thành dân ngoại mà Phao-lô được Đức Thánh Linh sai đến để truyền giáo cho dân ngoại. Nếu Hội Thánh ban đầu nhóm họp vào ngày thứ nhất (tức chủ nhật) chứ không nhóm họp vào ngày Sa-bát thì tại sao Phao-lô lại chờ đến ngày Sa-bát mới rao giảng? Phao-lô đã rao giảng và gây dựng Hội Thánh Chúa tại Cô-rinh-tô vào mỗi ngày Sa-bát trong suốt mười tám tháng. Ngày thường ông may trại chung với A-qui-la và Bê-rít-sin để kiếm sống, ngày Sa-bát ông nghỉ làm việc và rao giảng, dạy dỗ cả người Do-thái lẫn người Hy-lạp: "Rồi đó, Phao-lô đi khỏi thành A-thên, mà tới thành Cô-rinh-tô. Tại đó, người gặp một người Giu-đa, tên là A-qui-la, quê ở xứ Bông, mới từ nước Y-ta-li đến đây với vợ mình là Bê-rít-sin, bởi vì vua Cơ-lốt có chỉ truyền mọi người Giu-đa phải lánh khỏi thành Rô-ma; Phao-lô bèn hiệp với hai người. Vì đồng nghề, nên Phao-lô ở nhà hai người mà làm việc chung nhau; vả, nghề các người đó là may trại. Hễ đến ngày Sa-bát, thì Phao-lô giảng luận trong nhà hội, khuyên dỗ người Giu-đa và người Gờ-réc… Phao-lô ở lại đó một năm sáu tháng, dạy đạo Đức Chúa Trời trong đám họ" (Công Vụ Các Sứ Đồ 18:1-4, 11).

·         Dựa vào những câu Thánh Kinh sau đây, chúng ta biết từ ngữ "ngày của Chúa" được dùng trong Khải Huyền 1:10 "Nhằm ngày của Chúa, tôi được Đức Thánh Linh cảm hóa, nghe đằng sau có tiếng kêu vang, như tiếng loa;" chính là ngày Sa-bát. Đức Chúa Jesus Christ đã ban mạc khải về những ngày cuối cùng của thế gian và cảnh trời mới đất mới cho Sứ Đồ Giăng trong một ngày Sa-bát:"Nếu ngươi ngừa giữ chơn mình trong ngày Sa-bát, không làm vừa ý mình trong ngày thánh của Ta; nếu ngươi xưng ngày Sa-bát là ngày vui thích, coi người thánh của Đức Giê-hô-va là đáng kính; nếu ngươi tôn trọng ngày đó, không đi đường riêng mình, không theo ý riêng mình, và không nói lời riêng mình, bấy giờ ngươi sẽ lấy Đức Giê-hô-va làm vui thích, Ta sẽ làm cho ngươi cỡi lên các nơi cao trên đất, và lấy sản nghiệp của Gia-cốp, tổ phụ ngươi, mà nuôi ngươi; vì miệng Đức Giê-hô-va đã phán vậy" (Ê-sai 58:13-14). "Vì Con người là Chúa ngày Sa-bát" (Ma-thi-ơ 12:8; Mác 2:28; Lu-ca 6:5). Xem thêm những câu Thánh Kinh có từ ngữ "ngày Sa-bát Ta:" Xuất Ê-díp-tô Ký 31:13; Lê-vi Ký 19:3; Ê-sai 56:4; Ê-xê-chi-ên 20:13,16; 20:20-21,24; 22:8,26; 23:38; 44:24.

Dưới đây là lời các sử gia ghi chép về sự giữ ngày Sa-bát của con dân Chúa từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ tư:

·         "Những Cơ-đốc nhân thời ban đầu có sự tôn kính lớn dành cho ngày Sa-bát. Họ dành cả ngày cho sự thờ phượng và nghe giảng. Điều không thể nghi ngờ là họ học được sự thực hành này từ chính các sứ đồ như nhiều câu Thánh Kinh đã cho thấy."(Nguyên văn: "The primitive Christians had a great veneration for the Sabbath, and spent the day in devotion and sermons. And it is not to be doubted but they derived this practice from the Apostles themselves, as appears by several scriptures to the purpose."  Trích từ: Dr. T.H. Morer – A Church of England divine. "Dialogues on the Lord's Day." London, 1701, trang 189).

·         "Những Cơ-đốc nhân người ngoại cũng giữ ngày Sa-bát." (Nguyên văn: "The Gentile Christians observed also the Sabbath" Trích từ: Gieseler's "Church History," Vol.1, ch. 2, par. 30, 93).

·         "Những Cơ-đốc nhân thuở ban đầu đã vâng giữ ngày Sa-bát của người Do-thái… vì thế, các Cơ-đốc nhân, trong suốt một thời gian dài, đã cùng nhau giữ các buổi nhóm họp của họ trong ngày Sa-bát; trong đó, một phần của luật pháp được đọc: và sự kiện này cứ tiếp tục cho đến Công Đồng Lao-đi-xê [1]." (Nguyên văn: "The primitive Christians did keep the Sabbath of the Jews… therefore the Christians, for a long time together, did keep their conventions upon the Sabbath, in which some portions of the law were read: and this continued till the time of the Laodicean council." Trích từ: Jeremy Taylor, "The Whole Works of Jeremy Taylor." Vol. IX, trang 416).

·         "Từ thời các sứ đồ cho đến khi Công Đồng Lao-đi-xê được tổ chức vào khoảng năm 364, sự vâng giữ thánh ngày Sa-bát của người Do-thái vẫn được tiếp tục, như nhiều tác giả đã chứng minh, vâng, mặc cho quy định cấm đoán của công đồng." (Nguyên văn:"From the apostles' time until the council of Laodicea, which was about the year 364, the holy observance of the Jews' Sabbath continued, as may be proved out of many authors: yea, notwithstanding the decree of the council against it." Trích từ: John Ley. "Sunday a Sabbath." London, 1640, trang 163).

Công Đồng Lao-đi-xê do Giáo Hội Công Giáo tổ chức vào năm 364, trong đó có điều khoản thứ (29) quy định việc giữ ngày Sa-bát là bất hợp pháp, thay vào đó, giáo hội buộc con dân Chúa phải thờ phượng Chúa vào chủ nhật và chủ nhật được giáo hội gọi là "Ngày của Chúa" [1]. Như vậy, Hội Thánh Chúa đã tự do giữ ngày Sa-bát cho đến khi bị Giáo Hội Công Giáo ra luật cấm vào năm 364; và cũng từ đó giáo hội dùng danh xưng "Ngày của Chúa" cho chủ nhật. Dầu vậy, theo Sử Gia Socrates Scholasticus thì phần lớn Hội Thánh Chúa khắp nơi vẫn trung tín giữ ngày Sa-bát cho đến thế kỷ thứ năm, ngoại trừ các Cơ-đốc nhân tại Alexandria và tại Rome, là những người đã vâng theo quy luật của giáo hội [2].

·         "Ngươi hãy giữ ngày Sa-bát vì cớ Đấng đã nghỉ công việc sáng tạo của Ngài nhưng không ngưng công việc quan phòng của Ngài: Đó là một sự nghỉ ngơi để suy ngẫm về luật pháp, không phải cho sự biếng nhác của đôi tay."Nguyên văn: "Thou shalt observe the Sabbath, on account of Him who ceased from His work of creation, but ceased not from His work of providence: it is a rest for meditation of the law, not for idleness of the hands." (Trích từ: "The Anti-Nicene Fathers," Vol 7, trang 413 –  "Constitutions of the Holy Apostles," được viết vào thế kỷ thứ ba và thứ tư).

·         "Đó là sự thực hành chung của các Hội Thánh Đông Phương và một số Hội Thánh Tây Phương… Đối với Hội Thánh tại Milan… Ngày thứ bảy rất được tôn kính… Không phải vì các Hội Thánh Đông Phương hay bất cứ Hội Thánh nào giữ ngày ấy có khuynh hướng nghiêng về Do-thái Giáo; nhưng họ đến với nhau trong ngày Sa-bát để thờ phượng Đức Chúa Jesus Christ, Chúa của ngày Sa-bát."(Nguyên văn:  "It was the practice generally of the Easterne Churches; and some churches of the west…For in the Church of Millaine (Milan);…it seems the Saturday was held in a farre esteeme… Not that the Easterne Churches, or any of the rest which observed that day, were inclined to Iudaisme (Judaism); but that they came together on the Sabbath day, to worship Iesus (Jesus) Christ the Lord of the Sabbath." Trích từ: Dr. Heylyn. "History of the Sabbath." London, 1636, giữ nguyên văn lối đánh vần cổ, part 2, par. 5, trang 73, 74).

·         "Các Cơ-đốc nhân thời cổ đã rất cẩn thận trong việc giữ ngày Sa-bát hay ngày thứ bảy… Rõ ràng rằng các Hội Thánh Đông Phương và phần lớn của thế giới đã giữ ngày Sa-bát như một lễ hội… Athanasius cho chúng ta biết rằng họ giữ các sự nhóm họp tôn giáo vào ngày Sa-bát không phải vì họ bị tiêm nhiễm Do-thái Giáo mà là để thờ phượng Đức Chúa Jesus, Chúa của ngày Sa-bát; Epiphanius cũng nói như vậy."(Nguyên văn: "The ancient Christians were very careful in the observance of Saturday, or the seventh day…It is plain that all the Oriental churches, and the greatest part of the world, observed the Sabbath as a festival…Athanasius likewise tells us that they held religious assembles on the Sabbath, not because they were infected with Judaism, but to worship Jesus, the Lord of the Sabbath, Epiphanius says the same." Trích từ: "Antiquities of the Christian Church." Vol.II Book XX, chap. 3, sec.1, 66. 1137,1138) [3].

·         "Trong nửa sau của thế kỷ đó, Thánh Ambrose xứ Milan chính thức tuyên bố rằng Giám Mục Museus của Abyssinian (Ê-thi-ô-bi)đã du hành gần như khắp nơi trong quốc gia của Seres (Trung Quốc). Trong suốt hơn 17 thế kỷ, Hội Thánh Abyssinian vẫn tiếp tục biệt riêng ngày Sa-bát làm ngày thánh theo điều răn thứ tư." (Nguyên văn: "In the last half of that century St. Ambrose of Milan stated officially that the Abyssinian bishop, Museus, had traveled almost everywhere in the country of the Seres' (China). For more than seventeen centuries the Abyssinian Church continued to sanctify Saturday as the holy day of the fourth commandment." Trích từ: Ambrose, DeMoribus, Brachmanorium Opera Ominia, 1132, found in Migne, Patrologia Latima, Vol.17, trang 1131,1132).

Hội Thánh Vâng Giữ Ngày Sa-bát Trong Thế Kỷ Thứ Năm

Dưới đây là lời các sử gia ghi chép về sự giữ ngày Sa-bát của con dân Chúa trong thế kỷ thứ năm:

·         "Vì mặc dầu hầu hết các Hội Thánh khắp thế giới đều cử hành thánh tích huyền nhiệm (Tiệc Thánh)vào ngày Sa-bát hàng tuần, nhưng các Cơ-đốc nhân tại Alexandria và Rome, theo tục lệ cổ truyền, đã từ chối làm theo." (Nguyên văn: "For although almost all churches throughout the world celebrated the sacred mysteries (the Lord's Supper) on the Sabbath of every week, yet the Christians of Allexandria and at Rome, on account of some ancient tradition, refuse to do this."  Phần ghi chú của câu văn trích dẫn giải thích ý nghĩa của từ ngữ "Sabbath" được dùng; chú thích rằng: "Có nghĩa là ngày thứ bảy. Nên nhớ, chủ nhật (Sunday) không bao giờ được gọi là ngày Sa-bát bởi các giáo phụ và các sử gia." Trích từ: Socrates Scholasticus. "Ecclestical History." Book 5, chap. 22, trang 289).

Nhóm chữ "theo tục lệ cổ truyền" trong câu văn ám chỉ tục lệ thờ thần mặt trời của ngoại giáo vào chủ nhật và gọi đó là "Ngày Mặt Trời (Sunday). Các Cơ-đốc nhân tại Alexandria, Ai-cập, và Rome đã vâng theo giáo luật của Giáo Hội Công Giáo, hủy bỏ sự giữ ngày Sa-bát mà chỉ nhóm họp thờ phượng Chúa vào chủ nhật.

·         "Sự thực đó là thói quen cũ của Phương Đông là giữ ngày Sa-bát làm Ngày của Chúa và tổ chức các sự nhóm họp thánh; trong khi đó, ngược lại, dân chúng Tây Phương trong khi tranh luận về Ngày của Chúa đã bỏ qua sự giữ ngày Sa-bát."(Nguyên Văn: "It is a fact that it was formerly the custom in the East to keep the Sabbath in the same manner as the Lord's day and to hold sacred assemblies: while on the other hand, the people of the West, contending for the Lord's day have neglected the celebration of the Sabbath." Trích từ: "Apollinaries Sidonli Epistolae," lib.1, 2; Migne, 57).

·         "Có nhiều thành phố và thôn xóm tại Ai-cập là những nơi, trái với thể thức đã được thiết lập nơi khác, dân chúng gặp nhau vào những buổi chiều Sa-bát, và, mặc dầu họ đã ăn tối trước đó, cùng dự phần trong Tiệc Thánh." (Nguyên văn: "There are several cities and villages in Egypt where, contrary to the usage established elsewhere, the people meet together on Sabbath evenings, and, although they have dined previously, partake of the mysteries." Trích từ: Salminius Hermias Sozomenus. "Ecclesiastical History." Book 7, ch. 119).

Hội Thánh Vâng Giữ Ngày Sa-bát Trong Thế Kỷ Thứ Sáu

Dưới đây là lời các sử gia ghi chép về sự giữ ngày Sa-bát của con dân Chúa trong thế kỷ thứ sáu tại Ái-nhĩ-lan và Scotland:

·         "Trong sự kiện sau này, họ dường như theo một phong tục mà chúng tôi tìm thấy có dấu tích từ các tu viện cổ thời của Hội Thánh tại Ái-nhĩ-lan, đó là, họ giữ ngày thứ bảy làm ngày Sa-bát, trong ngày đó họ nghỉ mọi sự lao động của họ."(Nguyên văn: "In this latter instance they seemed to have followed a custom of which we find traces in the early monastic church of Ireland by which they held Saturday to be the Sabbath on which they rested from all their labours." Trích từ: W.T. Skene. "Adamnan Llife of St. Columbs." 1874, trang 96).

·         "Chúng tôi thấy dường như nơi đây bóng dáng một phong tục được giữ từ các tu viện cổ thời của Hội Thánh tại Ái-nhĩ-lan, về việc giữ ngày nghỉ vào ngày thứ bảy hoặc ngày Sa-bát." (Nguyên văn: "We seem to see here an allusion to the custom, observed in the early monastic Church of Ireland, of keeping the day of rest on Saturday, or the Sabbath." Trích từ:Catholic Histsorian Bellesheim. "History of the Catholic Church in Scotland." Vol.1, trang 86).

Hội Thánh Vâng Giữ Ngày Sa-bát Trong Thế Kỷ Thứ Bảy

Dưới đây là lời các sử gia ghi chép về sự giữ ngày Sa-bát của con dân Chúa trong thế kỷ thứ bảy tại các quốc gia thuộc vùng tây bắc Âu Châu:

·         "Giáo Sư James C. Moffatt, giáo sư dạy môn Lịch Sử Hội Thánh tại Princeton, phát biểu: Dường như đó là phong tục trong các Hội Thánh Celtic từ thuở ban đầu, cũng như tại Ái-nhĩ-lan và Scotland, đó là giữ ngày thứ bảy, ngày Sa-bát của người Do-thái, làm ngày nghỉ lao động. Họ triệt để vâng theo điều răn thứ tư về ngày thứ bảy trong tuần." (Nguyên văn: "Professor James C. Moffatt, D.D., Professor of Church History at Princeton, says: It seems to have been customary in the Celtic churches of early times, in Ireland as well as Scotland, to keep Saturday, the Jewish Sabbath, as a day of rest from labour. They obeyed the fourth commandment literally upon the seventh day of week." Trích từ: "The Church in Scotland." Trang140).

·         "Những người Celts[4] dùng một bản dịch Thánh Kinh La-tin, khác với bản dịch La-tin Vulgate, và giữ ngày thứ bảy làm ngày nghỉ với các buổi nhóm tôn giáo vào chủ nhật." (Nguyên văn: "The Celts used a Latin Bible unlike the Vulgate (R.C.) and kept Saturday as a day of rest, with special religious services on Sunday." Trích từ: Flick. "The Rise of Mediaeval Church." Trang 237).

Hội Thánh Vâng Giữ Ngày Sa-bát  từ Thế Kỷ Thứ Tám đến Thế Kỷ Thứ Chín

Dưới đây là lời các sử gia ghi chép về sự giữ ngày Sa-bát của con dân Chúa từ thế kỷ thứ tám đến thế kỷ thứ chín tại Persia (Iran), Mesopotamia (Iraq), Bung-ga-ry, Ấn-độ, và Trung Hoa:

·         "Những ngọn đồi của Persia cùng những thung lũng của Tigris và Euphrates vang dội những bài ca tôn vinh của họ. Họ thu hoạch vụ mùa và dâng phần mười của mình. Họ kéo đến các nhà thờ của họ vào ngày Sa-bát  để thờ phượng Đức Chúa Trời."(Nguyên văn: "The hills of Persia and the valleys of the Tigris and Euphrates reechoed their songs of praise. They reaped their harvests and paid their tithes. They repaired to their churches on the Sabbath day for the worship of God." Trích từ: "Realencyclopaedie fur Protestatische and Krche." Art. "Nestorianer"; và Yule. "The Book of ser Marco Polo." Vol.2, trang409).

·         "Sự vâng giữ ngày thứ bảy Sa-bát được lan truyền và kiên trì giữa những tín đồ thuộc các Hội Thánh Phương Đông và các Cơ-đốc nhân thuộc Hội Thánh Thomas tại Ấn-độ, là những người không hề gắn bó với La-mã. Sự vâng giữ đó cũng được  bảo tồn giữa những nhóm đã tách khỏi La-mã sau Công Đồng Chalcedon, là các nhóm: Abyssinians, Jacobites, Maronites, và Armenians."Nguyên văn: "Widespread and enduring was the observance of the seventh-day Sabbath among the believers of the Church of the East and the St. Thomas Christians of India, who never were connected with Rome. It also was maintained among those bodies which broke off from Rome after the Council of Chalcedon namely, the Abyssinians, the Jacobites, the Maronites, and the Armenians." Trích từ: Schaff-Herzog. "The New Enclopadia of Religious Knowledge." Art. "Nestorians").

·         "Trong buổi đầu mùa của công cuộc truyền giảng Tin Lành tại Bung-ga-ry, Hội Thánh Bung-ga-ry đã được dạy rằng không nên làm việc trong ngày Sa-bát." (Nguyên văn:  "Bulgaria in the early season of its evangelization had been taught that no work should be performed on the Sabbath." Trích từ: Responsa Nicolai Papae I và Con-Consulta Bulllllgarorum. Responsum 10, found in Mansi, Sacrorum Concilorum Nova et Amplissima Colectio. Vol.15; trang 406; và Hefele. Conciliengeschicte. Vol.4, sec. 478).

Vào năm 781, một bia khắc bằng cẩm thạch, gồm 763 chữ, ghi lại sự phát triển của Hội Thánh Chúa tại Trung Hoa vào thời đó, được thực hiện. Năm 1625, tấm bia được khai quật gần thành phố Changan. Dưới đây là phần trích dẫn từ tấm bia đó, cho thấy ngày Sa-bát được Hội Thánh Chúa tại Trung Hoa thời bấy giờ vâng giữ:

·         "Vào ngày thứ bảy, chúng tôi dâng của lễ sau khi lòng của chúng tôi đã được thanh tẩy và chúng tôi đã nhận được sự tha thứ cho tội lỗi của mình.  Đạo này, vô cùng trọn vẹn và tuyệt hảo, thật khó để mà đặt tên cho nó, nhưng nó đã chiếu sáng sự tối tăm bằng những giáo luật chói lọi của nó."(Nguyên văn: "On the seventh day we offer sacrifices, after having purified our hearts, and received absolution for our sins. This religion, so perfect and so excellent, is difficult to name, but it enlightens darkness by its brilliant precepts." Trích từ: M. I'Abbe Huc. "Christianity in China." Vol. I, ch.2, trang 48, 49).

Hội Thánh Vâng Giữ Ngày Sa-bát  từ Thế Kỷ Thứ Mười đến Thế Kỷ Thứ Mười Một

Dưới đây là lời các sử gia ghi chép về sự giữ ngày Sa-bát của con dân Chúa từ thế kỷ thứ mười đến thế kỷ thứ mười một:

·         "Họ (Hội Thánh tại Scotland)làm việc vào chủ nhật nhưng giữ ngày Sa-bát theo luật Sa-bát." (Nguyên văn: "They worked on Sunday, but kept Saturday in a Sabbatical manner." Trích từ: Andrew Lang. "A history of Scotland from the Roman Occupation." Vol. I, trang 96).

·         "Giáo Hội Nestorians không ăn thịt heo và giữ ngày Sa-bát. Họ không tin vào việc xưng tội (với linh mục)cũng không tin vào Ngục Luyện Tội." (Nguyên văn: "The Nestorians eat no pork and keep the Sabbath. They believe in neither auricular confession nor purgatory." Trích từ:Schaff-Herzog. "The New Encyclopaedia of Religious Knowledge." Art. "Nestorians").

·         "Họ (Hội Thánh tại Scotland)cho rằng thứ bảy đúng là ngày Sa-bát mà họ nghỉ làm việc trong ngày đó." (Nguyên văn: "They held that Saturday was properly the Sabbath on which they abstained from work." Trích từ: "Celtic Scotland." Vol. 2, trang 350).

·         "Trong việc này dân Scots có lẽ đã giữ truyền thống quen thuộc của Hội Thánh Irish thời cổ, là truyền thống giữ ngày thứ bảy thay vì chủ nhật làm ngày nghỉ."(Nguyên văn: "In this matter the Scots had perhaps kept up the traditional usage of the ancient Irish Church which observed Saturday instead of Sunday as the day of rest." Trích từ: T. Ratcliffe Barnett, "Margaret of Scotland: Queen and Saint." Trang 97).

·         "Như mọi người đều biết, việc giữ ngày thứ bảy là đề tài của cuộc tranh cải gay gắt giữa những người Hy-lạp và những người La-tin."(Nguyên văn:  "The observance of Saturday is, as everyone knows, the subject of a bitter dispute between the Greeks and the Latins." Trích từ: Neale. "A History of the Holy Eastern Church." Vol 1, trang 731).

Hội Thánh Vâng Giữ Ngày Sa-bát  từ Thế Kỷ Thứ Mười Hai đến Thế Kỷ Thứ Mười Ba

Dưới đây là lời các sử gia ghi chép về sự giữ ngày Sa-bát của con dân Chúa từ thế kỷ thứ mười hai đến thế kỷ thứ mười ba:

·         "Dấu tích của những người giữ ngày Sa-bát được tìm thấy trong thời Gregory I, Gregory VII [5], và trong thế kỷ thứ mười hai tại Lombardy." (Nguyên văn: "Traces of Sabbath-keepers are found in the times of Gregory I, Gregory VII, and in the twelfth century in Lombardy." Trích từ: "Strong's Cyclopaedia," 1, 660).

Dân Waldenses của vùng Alps, được gọi là Sabbati hoặc Sabbatati, có nghĩa là: người giữ ngày Sa-bát:

·         "Người ta cho rằng họ được gọi như thế, bắt nguồn từ chữ sabbath trong tiếng Hê-bơ-rơ, vì họ giữ ngày thứ bảy làm ngày của Chúa."(Nguyên văn: "One says they were so named from the Hebrew word Sabbath, because they

·         "Trong số các văn kiện mà chúng tôi có được bởi cùng những người đó, có bản giải thích Mười Điều Răn được viết bởi Boyer vào năm 1120: Sự giữ ngày Sa-bát bằng cách nghỉ làm những công việc thế gian được chỉ thị." (Nguyên văn: "Among the documents we have by the same peoples, an explanation of the Ten Commandments dated by Boyer 1120: Observance of the Sabbath by ceasing from worldly labours, is enjoined." Trích từ: Blair. "History of the Waldenses." Vol.1, trang 220).

·         "Có nhiều bằng chứng cho thấy ngày Sa-bát được giữ tại Đại Học Wales cho đến năm 1115, khi giám mục La-mã đầu tiên lên ngôi tại nhà thờ St. David. Những Hội Thánh giữ ngày Sa-bát của người Welslh lúc bấy giờ không quỳ gối trước La-mã nhưng họ bỏ trốn."(Nguyên văn: "There is much evidence that the Sabbath prevailed in Wales university until A.D.1115, when the first Roman bishop was seated at St. David's. The old Welslh Sabbath-keeping churches did not even then altogether bow the knee to Rome, but fled to their hiding places." Trích từ: Lewis. "Seventh Day Baptists in Europe and America." Vol.1, trang 29).

Giáo Hội Công Giáo gọi sự kiện con dân Chúa giữ ngày Sa-bát khắp nơi là sự lan truyền của "tà giáo:"

·         "Sự lan truyền của tà giáo vào lúc này hầu như không thể tin. Từ Gulgaria đến Ebro, từ miền bắc nước Pháp đến Tiber, chúng ta gặp họ khắp mọi nơi. Biết bao nhiêu quốc gia mà toàn xứ bị tiêm nhiễm, như Hung-ga-ry và miền nam nước Pháp; họ đầy dẫy trong các đất nước khác, trong nước Đức, trong nước Ý, trong nước Hòa-lan và họ thể hiện nổ lực của họ ngay cả trong nước Anh."(Nguyên văn: "The spread of heresy at this time is almost incredible. From Gulgaria to the Ebro, from nothern France to the Tiber, everywhere we meet them. Whole countries are infested, like Hungary and southern France; they abound in many other countries, in Germany, in Italy, in the Netherlands and even in England they put forth their efforts." Trích từ: Dr. Hahn. "Gesch. der Ketzer." 1, 13, 14)

Hội Thánh Vâng Giữ Ngày Sa-bát  Trong Thế Kỷ Thứ Mười Bốn

Dưới đây là lời các sử gia ghi chép về sự giữ ngày Sa-bát của con dân Chúa trong thế kỷ thứ mười bốn:

·         "Rằng, chúng ta (Hội Thánh Waldenses)thờ phượng chỉ một Đức Chúa Trời, là Đấng có thể  cứu giúp chúng ta, chứ không phải các thánh đã qua đời; rằng: chúng ta phải giữ sự làm nên thánh ngày Sa-bát." (Nguyên văn: "That we are to worship one only God, who is able to help us, and not the Saints departed; that we ought to keep holy the Sabbath day." Trích từ: "Luther's Fore-runners," trang 38).

·         "Trong nhiều thế kỷ, các cộng đồng Tin Lành, đặc biệt là những người thuộc Giáo Hội Waldenses, được gọi là Insabbati vì sự giữ ngày Sa-bát." (Nguyên văn:  "For centuries evangelical bodies, especially the Waldenses, were called Insabbati because of Sabbath-keeping." Trích từ: Gui. "Manueld' Inquisiteur").

·         "Vào năm 1310, hai trăm năm trước các luận đề của Luther, những anh em Bô-hê-miên bao gồm một phần tư dân số Bô-hê-mia (Tiệp Khắc ngày nay)và họ có tiếp xúc với những người Waldenses, là những người sống tràn lan tại: Áo, Lombardy, Bô-hê-mia, miền bắc nước Đức, Thuringia, Brandenburg, và Moravia. Erasmus chỉ rõ những người Bô-hê-miên thuộc Giáo Hội Waldenses đã giữ ngày thứ bảy làm ngày Sa-bát cách trân trọng." (Nguyên văn: "In 1310, two hundred years before Luther's theses, the Bohemian brethern constituted onefourth of the population of Bohemia, and that they were in touch with the Waldenses who abounded in Austria, Lombardy,. Bohemia, north Germany, Thuringia, Brandenburg, and Moravia. Erasmus pointed out how strictly Bohemian Waldenses kept the seventh day Sabbath." Trích từ: Armitage. "A History of the Baptists." Trang 313; Cox. "The Literature of the Sabbath Question." Vol. 2, trang 201-202).

Hội Thánh Vâng Giữ Ngày Sa-bát  Trong Thế Kỷ Thứ Mười Lăm

Dưới đây là lời các sử gia ghi chép về sự giữ ngày Sa-bát của con dân Chúa trong thế kỷ thứ mười lăm:

·         "Erasmus làm chứng rằng, mãi đến năm 1500 những người Bô-hê-miên này không chỉ giữ ngày thứ bảy một cách trung tín và hết lòng mà họ còn được gọi là những người giữ ngày Sa-bát (Sabbatarians)."(Nguyên văn: "Erasmus testifies that even as late as about 1500 these Bohemians not only kept the seventh day scrupulously, but also were called Sabbatarians." Trích từ: Cox. "The Literature of the Sabbath Question." Vol.2, trang 201, 202 "Truth Triumphant." trang 264).

·         "Nghị sự đầu tiên liên quan đến việc giữ sự thánh khiết cho ngày thứ bảy. Tin đã đến với vị tổng giám mục rằng dân chúng tại nhiều nơi khác nhau trong vương quốc (Na-uy)đã liều lĩnh giữ sự thánh khiết cho ngày thứ bảy. Đó là điều bị nghiêm cấm, như đã ghi rõ trong giáo luật, không ai được tiếp nhận một ngày lễ nào ngoài những ngày mà giáo hoàng, tổng giám mục, hoặc giám mục đã chỉ định." – Hội Đồng Giáo Hội nhóm tại Bergin ngày 22.08.1435. (Nguyên văn: "The first matter concerned a keeping holy of Saturday. It had come to the earth of the archbishop that people in different places of the kingdom had ventured the keeping holy of Saturday. It is strictly forbidden-it is stated-in the Church Law, for any one to keep or to adopt holy-days, outside of those which the pope, archbishop, or bishops appoint." – Church Council held at Bergin, August 22,1435 – Trích từ: R. Keyser. "The History of the Norwegian Church under Catholicism."  Vol.II. Oslo, 1858, trang 488).

·         "Lệnh cấm với cùng một hình phạt cho sự giữ ngày thứ bảy làm ngày thánh bằng cách ngưng làm việc."– Hội Đồng Giáo Hội tại Oslo, Na-uy, năm 1436 – Nguyên văn: "It is forbidden under the same penalty to keep Saturday holy by refraining from labour." – Church Conference at Oslo, Norway, 1436 – Trích từ: "History of the Norwegian Church." Trang 401).

·         "Louis XII, Vua nước Pháp (1498-1515), được báo tin bởi các kẻ thù của cư dân Waldense ngụ trong một phần của tỉnh Province, rằng có nhiều tội ác kinh khủng do cư dân gây ra, nên đã sai Master of Requests(tương đương với trưởng giám sát viện ngày nay) và một tiến sĩ thuộc Đại Học Sorbonne đến điều tra. Khi trở về, họ đã tường trình rằng họ đã viếng thăm tất cả các hội chúng nhưng không tìm thấy một dấu tích nào về các tội ác mà những người ấy đã bị tố cáo. Ngược lại, những người ấy giữ ngày Sa-bát, giữ nghi thức báp-tem theo cách thức của Hội Thánh lúc ban đầu, dạy con cháu của họ các điều khoản về đức tin của Cơ-đốc nhân, và các điều răn của Đức Chúa Trời. Sau khi nghe báo cáo của những người được sai đi, nhà vua đã thề rằng, những người ấy tốt hơn chính nhà vua hoặc những người của nhà vua." (Nguyên văn: "Louis XII, King of France (1498-1515), being informed by the enemies of the Waldense inhabiting a part of the province of Province, that several heinous crimes were laid to their account, sent the Master of Requests, and a certain doctor of the Sorbonne, to make inquiry into this matter. On their return they reported that they had visited all the parishes, but could not discover any traces of those crimes with which they were charged. On the contrary, they kept the Sabbath day, observed the ordinance of baptism, according to the primitive church, instructed their children in the articles of the Christian faith, and the commandmnets of God. The King having heard the report of his commisioners, said with an oath that they were better men than himself or his people." Trích từ: "History of the Christian Church." Third edition. London,1818.

Hội Thánh Vâng Giữ Ngày Sa-bát  Trong Thế Kỷ Thứ Mười Sáu

Dưới đây là lời các sử gia ghi chép về sự giữ ngày Sa-bát của con dân Chúa trong thế kỷ thứ mười sáu:

·         Tại Anh: "Dưới thời cai trị của Elizabeth, nhiều tư tưởng gia độc lập và có lương tâm (như đã xảy ra trước đó với một số người  Đối Kháng xứ Bô-hê-mia) cho rằng điều răn thứ tư đòi hỏi họ phải giữ, không phải ngày thứ nhất, mà rõ ràng là  ngày thứ bảy trong tuần lễ." (Nguyên văn: "In the reign of Elizabeth, it occurred to many conscientious and independent thinkers (as it previously had done to some Protestants in Bohemia) that the fourth commandment required of them the observance, not of the first, but of the specified 'seventh' day of the week." Trích từ "Chambers' Cyclopaedia." 1537. Article "Sabbath," Vol. 8, trang 462).

·         Tại Nga: "Những người bị tố cáo (những người giữ ngày Sa-bát)được triệu tập. Họ công khai tuyên xưng đức tin mới và bảo vệ cho đức tin đó. Những người nổi bật nhất giữa họ, như: bộ trưởng bộ ngoại giao, Kuritzyn, Ivan Maximow, Kassian, viện trưởng tu viện Fury Monastery xứ Novgorod, đều bị xử chết và hỏa thiêu trước công chúng trong các chuồng nhốt tù tại Moscow vào ngày 17.12.1503." Nguyên văn: "The accused (Sabbath-keepers)were summoned; they openly acknowledged the new faith, and defended the same. The most eminent of them, the secretary of state, Kuritzyn, Ivan Maximow, Kassian, archimandrite of the Fury Monastery of Novgorod, were condemned to death, and burned publicly in cages, at Moscow; Dec. 17,1503." Trích từ: H.Sternberfi. "Geschichte der Juden." (Leipsig, 1873), trang 117-122).

·         Tại Sweden: "Lòng nhiệt thành về việc giữ ngày thứ bảy tiếp tục trong một thời gian dài: mặc dù những việc nhỏ nhặt nào nhằm củng cố sự thực hành giữ ngày thứ bảy cũng đều bị trừng phạt." (Nguyên văn: "This zeal for Saturday-keeping continued for a long time: even little things which might strengthen the practice of keeping Saturday were punished." Trích từ: Bishop Anjou. "Svenska Kirkans Historia after Motetthiers, Upsala").

·         Tại Lichenstein: "Những người giữ ngày Sa-bát dạy rằng, Sa-bát bên ngoài, tức là ngày thứ bảy, vẫn phải được giữ. Họ nói rằng chủ nhật là phát minh của giáo hoàng." (Nguyên văn: "The Sabbatarians teach that the outward Sabbath, i.e. Saturday, still must be observed. They say that Sunday is the Pope's invention." Trích từ: Wolfgang Capito. "Refutation of Sabbath." Published 1599).

·         Tại Bô-hê-mia: "Tôi tìm thấy một đoạn văn từ Erasmus, vào thời kỳ phôi thai của cuộc cải chính khi ông ta viết, rằng có những người giữ ngày Sa-bát tại Bô-hê-mia, là những người chẳng những giữ ngày thứ bảy mà còn… cẩn thận nghỉ ngơi trong ngày đó." (Nguyên văn: "I find from a passage in Erasmus that at the early period of the Reformantion when he wrote, there were Sabbatarians in Bohemia, who not only kept the seventh day, but were said to be…scrupulous in resting on it." Trích từ: Dr. R. Cox. "Literature of the Sabbath Question." Vol. II, trang 201, 202).

·         Tại Đức: "Tuy nhiên, giáo hội đã chuyển sự giữ ngày thứ bảy sang chủ nhật bởi quyền lực riêng của giáo hội mà không bởi Thánh Kinh." (Nguyên văn: "However, the church has transferred the observance from Saturday to Sunday by virtue of her own power, without Scripture." Trích từ: Dr. Esk. "Enchiridion." 1533, trang 78,79).

·         Tại Hòa Lan và Đức: "Barbara xứ Thiers, bị xử tử năm 1529, tuyên bố: Đức Chúa Trời ra lệnh cho chúng ta nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy. Một thánh tử đạo khác, Christina Tolingerin, được nhắc đến như sau: Về các ngày lễ và chủ nhật, bà nói, trong sáu ngày Đức Chúa Trời đã làm nên thế giới, vào ngày thứ bảy, Ngài nghỉ. Những ngày lễ khác đã được thiết lập bởi các giáo hoàng, các hồng y, và các tổng giám mục." (Nguyên văn: "Barbara of Thiers, who was executed in 1529, declared: "God has commanded us to rest on the seventh day." Another martyr, Christina Tolingerin, is mentioned thus: "Concerning holy days and Sundays, she said: 'In six days the Lord made the world, on the seventh day he rested. The other holy days have been instituted by popes, cardinals, and archbishops.'" Trích từ: "Martyrology of the Churches of Christ, commonly called Baptists, during the era of the Reformation," from the Dutch of T.J. Van Bright, London, 1850,1, trang 113-114).

·         Tại Ấn-độ: "Tu sĩ Dòng Tên nổi tiếng, Francis Xavier, kêu gọi thành lập Tôn Giáo Pháp Đình, được đặt tại Goa, Ấn-độ, vào năm 1560, để kiểm soát 'Sự Ác Do-thái' (ý nói sự giữ ngày Sa-bát)." (Nguyên văn: "The famous Jesuit, Francis Xavier, called for the Inquisition, which was set up in Goa, India, in 1560, to check the 'Jewish wickedness' (Sabbath-keeping)." Trích từ: Adeney. "The Greek and Eastern Churches." Trang 527, 528).

·         Tại Na-uy, 1544: "Một số người trong các ngươi, nghịch với lời cảnh cáo, đã giữ ngày thứ bảy. Các ngươi đáng bị nghiêm phạt. Bất cứ ai bị bắt gặp giữ ngày thứ bảy phải bị đóng phạt mười marks." (Nguyên văn: "Some of you, contrary to the warning, keep Saturday. You ought to be severely punished. Whoever shall be found keeping Saturday, must pay a fine of ten marks." Trích từ: Niels Krag and S. Stephanius. "History of King Christian the Third").

·         Tại Áo: "Những người giữ ngày Sa-bát bây giờ có mặt tại Áo." (Nguyên văn: "Sabatarians now exist in Austria." Trích từ: Luther. "Lectures on Genesis." 1523-1527).

·         Tại Ê-thi-ô-bi, 1534: "Vì thế, đó không phải là bắt chước người Do-thái, nhưng là vâng phục Đấng Christ và các sứ đồ thánh của Ngài mà chúng tôi giữ ngày đó." (Nguyên văn: "It is not therefore, in imitation of the Jews, but in obedience to Christ and His holy apostles, that we observe the day." Trích từ: Gedde. "Church History of Ethiopia." Trang 87).

·         Tại Phần Lan, thư của Vua Gustavus Vasa I, xứ Sweden, gửi dân chúng Phần Lan, 06.12.1554: "Cách đây không lâu, chúng tôi có nghe rằng một số người tại Phần Lan đã rơi vào một lầm lỗi lớn và đã giữ ngày thứ bảy, gọi là Saturday." (Nguyên văn: "Some time ago we heard that some people in Finland had fallen into a great error and observed the seventh day, called Saturday." Trích từ: Thư Viện Quốc Gia tại Helsingfors, Reichsregister, Vom J., 1554, Teil B.B. leaf 1120, trang 175-180a).

·         Tại Switzerland: "Sự giữ ngày Sa-bát là một phần của luật đạo đức. Ngày đó đã được làm nên thánh từ buổi ban đầu của thế giới." (Nguyên văn:"The observance of the Sabbath is a part of the moral law. It has been kept holy since the beginning of the world." Trích từ: Noted Swiss writer, R Hospinian, 1592).

·         "Đức Chúa Trời ban phước cho ngày Sa-bát và biệt nó ra thánh cho chính Ngài. Đức Chúa Trời đã muốn rằng điều răn này liên quan đến ngày Sa-bát phải được tồn tại. Ngài đã muốn rằng trong ngày Sa-bát lời Ngài phải được rao giảng."(Nguyên văn: "God blessed the Sabbath and sanctified it to Himself. God willed that this command concerning the Sabbath should remain. He willed that on the seventh day the word should be preached." Trích từ: Dr. Martin Luther. "Commentary on Genesis." Vol.1, trang138-140).

·         "Nhiều người chịu khổ vì bị tra tấn bởi họ không nghỉ làm việc trong khi những người khác giữ chủ nhật, bởi vì họ tuyên bố đó là ngày lễ và luật của những kẻ chống nghịch Đấng Christ."(Nguyên văn: "Some have suffered torture because they would not rest when others kept Sunday, for they declared it to be the holiday and law of Antichrist." Trích từ: Sebastian Frank (A.D. 1536).

Hội Thánh Vâng Giữ Ngày Sa-bát  Trong Thế Kỷ Thứ Mười Bảy

·         Tại Anh, 1617: Giáo Hội Báp-tít Ngày Thứ Bảy (Seventh Day Baptist) được thành lập [6].

·         Tại Anh, 1618:"Cuối cùng, vì chỉ dạy học năm ngày trong một tuần và nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy mà bà bị đem đến nhà tù mới ở Maiden Lane, một nơi vào thời đó được dùng để giam cầm nhiều người khác nữa vì có tư tưởng khác với Giáo Hội Anh Quốc. Bà Traske đã là một tù nhân trong mười lăm hoặc mười sáu năm vì tư tưởng của bà về ngày thứ bảy Sa-bát." (Nguyên văn: "At last for teaching only five days in the week, and resting upon Saturday she was carried to the new prison in Maiden Lane, a place then appointed for the restraint of several other persons of different opinions from the Church of England. Mrs. Traske lay fifteen or sixteen years a prisoner for her opinion about the Saturday Sabbath." Trích từ: Pagitt. "Heresiography." Trang 196).

·         Tại Anh: "Sau khi quyển 'Book of Sport' được phát hành vào năm 1618, một cuộc tranh luận dữ dội đã xảy ra giữa các nhà thần học về hai điểm: thứ nhất, ngày Sa-bát của điều răn thứ tư có còn hiệu lực hay không; và, thứ nhì, dựa trên nền tảng nào mà ngày thứ nhất được giữ làm ngày Sa-bát." (Nguyên văn: "Upon the publication of the 'Book of Sports' in 1618 a violent controversy arose among English divines on two points: first, whether the Sabbath of the fourth commandment was in force; and, secondly, on what ground the first day of the week was entitled to be observed as 'the Sabbath.'" Trích từ: "Haydn's Dictionary of Dates." Art. "Sabbatarians." Trang 602).

·         Tại Anh, 1668: "Tại đây trong nước Anh, bên cạnh nhiều môn đồ bị phân tán, có khoảng chín hay mười Hội Thánh giữ ngày Sa-bát, đã được bảo tồn một cách tuyệt vời." (Nguyên văn: "Here in England are about nine or ten churches that keep the Sabbath, besides many scattered disciples, who have eminently preserved." Trích từ: Stennet's letters, 1668 and 1670. Cox, Sab.,1, 268).

·         Tại Anh: "Vì không có chỗ nào trong Thánh Kinh dạy rằng không cần giữ ngày Sa-bát nữa hay là ngày đó đã trở thành chủ nhật, cho nên, đó là thẩm quyền của giáo hội đã thay đổi ngày này và thiết lập ngày kia." (Nguyên văn:  "For it will not be found in Scripture where Saturday is no longer to be kept, or turned into the Sunday wherefore it must be the Church's authority that changed the one and instituted the other." Trích từ: Cox. "Sabbath Laws." Trang 333).

·         Tại Anh: Chắc chắn sẽ an toàn hơn khi giữ ngày thứ bảy theo điều răn của Đức Chúa Trời, thay vì chỉ dựa trên thẩm quyền giả định của loài người mà tiếp nhận ngày thứ nhất." (Nguyên văn: "It will surely be far safer to observe the seventh day, according to express commandment of God, than on the authority of mere human conjecture to adopt the first." Trích từ: John Milton. "Sab. Lit." 2, 46-54).

·         Tại Sweden và Phần Lan: "Chúng ta có thể tìm thấy dấu tích các tư tưởng này hầu như khắp cả xứ Sweden vào thời bấy giờ, từ Phần Lan và miền bắc Sweden. Trong các quận của Upsala, những nông dân giữ ngày thứ bảy thay vì chủ nhật. Vào năm 1625, khuynh hướng tôn giáo này trở thành nổi bật trong các quốc gia đến nổi không phải chỉ số đông những người bình dân bắt đầu giữ ngày thứ bảy làm ngày nghỉ mà ngay cả nhiều linh mục cũng vậy." (Nguyên văn: "We can trace these opinions over almost the whole extent of Sweden of that day-from Finland and northern Sweden. In the district of Upsala the farmers kept Saturday in place of Sunday. About the year 1625 this religious tendency became so pronounced in these countries that not only large numbers of the common people began to keep Saturday as the rest day, but even many priests did the same." Trích từ: "History of the Swedish Church." Vol.I, trang 256).

·         Tại Nga: "Họ giữ ngày thứ bảy (ngày Sa-bát cũ) cách trọng thể." (Nguyên văn: "They solemnize Saturday (the old Sabbath)." Trích từ: Samuel Purchase. "His Pilgrims." Vol. I, trang 350).

·         Tại Hoa Kỳ: "Stephen Mumford, đến từ Luân-đôn vào năm 1664, là người đầu tiên giữ ngày Sa-bát tại Hoa Kỳ." (Nguyên văn: "Stephen Mumford, the first Sabbath-keeper in America come from London in 1664." Trích từ: Jas. Bailey. "History of the Seventh-day Baptist" Gen. Conf. trang 237, 238).

·         Tại Hoa Kỳ 1671: Giáo Hội Báp-tít Ngày Thứ Bảy (Seventh Day Baptist) được thành lập [6].

Hội Thánh Vâng Giữ Ngày Sa-bát  Trong Thế Kỷ Thứ Mười Tám

·         Tại Ê-thi-ô-pi: "Hội Thánh Jacobites nhóm họp vào ngày Sa-bát, trước ngày của Chúa (ám chỉ chủ nhật, theo cách gọi của Công Giáo), trong đền thờ, và giữ ngày đó giống những người Abyssinians như chúng ta đã thấy qua bản tuyên xưng đức tin của họ bởi Vua Claudius xứ Ê-thi-ô-pi." (Nguyên văn: "The Jacobites assembled on the Sabbath day, before the Dominical day, in the temple, and kept that day, as do also the Abyssinians as we have seen from the confession of their faith by the Ethiopian king Claudius." Trích từ: Abundacnus. 'Historia Jacobatarum." Trang118-119 (18th Century).

·         Tại Bô-hê-mia và Moravia: "Lịch sử của họ từ 1635 đến 1867 được mô tả bởi Adolf Dux: Hoàn cảnh của những người giữ ngày Sa-bát thật là thê thảm. Các sách vở của họ bị chuyển tới tòa án tôn giáo tại Karlsburg để trở thành mồi cho lửa." (Nguyên văn: "Their history from 1635 to 1867 is thus described by Adolf Dux: The condition of the Sabbatarians was dreadful. Their books and writings had to be delivered to the Karlsburg Consistory to becomes the spoils of flames." Trích từ: Leipzig. "Aus Ungarn." 1850. Trang 289-291).

·         Tại Hòa Lan và Đức: "Chủ nhật và các ngày lễ (do Công Giáo quy định) đã không được giữ (vì họ là những người giữ ngày Sa-bát)." (Nguyên văn: "Sunday and holidays were not observed, (they were Sabbath-keepers)." Trích từ: "Der Anteil Ostfrieslands and Ref. Muenster." 1852. Trang l29).

·         Tại Hoa Kỳ: "Có một nhóm những người Đức giữ ngày Sa-bát ở tiểu bang Pensylvania." (Nguyên văn: "There was a small body of German Sabbath-keepers in Pennsylvania."Xem chi tiết trong "Rupp's History of Religious Denominations in the United States." Trang 109-123).

Hội Thánh Vâng Giữ Ngày Sa-bát  từ Thế Kỷ Thứ Mười Chín đến Hiện Tại (2011)

·         Tại Nga: "Nhưng số đông chuyển đến Crimea và Caucasus, là nơi mà họ trung tín với giáo lý của họ cho đến hiện nay, mặc cho sự bách hại. Người ta gọi họ là Subotniki hoặc những người giữ ngày Sa-bát." (Nguyên văn: "But the majority moved to the Crimea and the Caucasus, where they remain true to their doctrine in spite of persecution until this present time. The people call them Subotniki, or Sabbatarians." Trích từ: Sternberg. "Geschichte der Juden in Polen." Trang 124).

·         Tại Trung Hoa: "Vào lúc này Hung ngăn cấm việc dùng thuốc phiện và ngay cả thuốc lá cũng như các chất uống say; và ngày Sa-bát được vâng giữ cách sùng tín." (Nguyên văn: "At this time Hung prohibited the use of opium, and even tobacco, and all intoxicating drinks, and the Sabbath was religiously observed." Trích từ: Llin-Le. "The Ti-Ping Revolution."  Vol. 1, trang 36-48, 84).

·         Tại Ấn-độ và Persia (Iran): "Bên cạnh đó, họ bền giữ nghi thức trang trọng về sự thờ phượng của Cơ-đốc nhân vào ngày thứ bảy trong suốt đế quốc của chúng ta." (Nguyên văn: "Besides, they maintain the solemn observance of Christian worship throughout our Empire, on the seventh day." Trích từ: "Christian Researches in Asia." Trang 143).

·         Tại Đan Mạch: "Sự xao động này không phải là không có ảnh hưởng. Mục Tử M.A. Somer bắt đầu giữ ngày thứ bảy và viết trong tờ báo của Hội Thánh ông 'Indovet Kristendom,' số 5, năm 1875 một tiết mục gây ấn tượng về ngày Sa-bát thật. Trong một lá thư gửi cho Trưởng Lão John G. Matteson, ông nói: Giữa những người Báp-tít ở đây, tại Đan Mạch, có một sự xao động lớn liên quan đến điều răn về ngày Sa-bát. Tuy nhiên, có lẽ chỉ một mình tôi là người giảng tại Đan Mạch, đứng rất gần với những người Cơ-đốc Phục Lâm và những người trong nhiều năm công bố về sự đến lần thứ hai của Đấng Christ." (Nguyên văn: "This agitation was not without its effect. Pastor M.A. Sommer began observing the seventh day, and wrote in his church paper. "Indovet Kristendom" No.5,1875 an impressive article about the true Sabbath. In a letter to Elder John G.Matteson, he says: Among the Baptists here in Denmark there is a great agitation regarding the Sabbath commandment. However, I am probably the only preacher in Denmark who stands so near to the Adventists and who for many years has proclaimed Christ's second coming." Trích từ: "Advent Tidente." May, 1875).

·         Tại Sweden: "Giờ đây, chúng tôi cố gắng để trình bày rằng sự làm  nên thánh ngày Sa-bát có nền tảng và nguồn gốc trong một luật pháp mà vào chính buổi sáng thế Đức Chúa Trời đã thiết lập cho toàn thế giới; và vì thế, đương nhiên là áp dụng cho tất cả mọi người trong mọi thời đại." (Nguyên văn: "We will now endeavour to show that the sanctification of the Sabbath has its foundation and its origin in a law which God at creation itself established for the whole world, and as a consequence thereof is binding on all men in all ages." Trích từ: Evangelisten (The Evangelist). Stockholm, May 30 to August 15,1863 (organ of the Swedish Baptist Church).

·         Tại Hoa Kỳ: Từ năm 1844 Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật được thành lập và cho đến hôm nay đã có số lượng hội viên vâng giữ ngày Sa-bát lên đến  trên 16 triệu 600 ngàn (không kể trẻ em), trở thành một tổ chức tôn giáo lớn, đứng hàng thứ 12 trên thế giới, còn xét về ảnh hưởng quốc tế thì đứng hàng thứ sáu [7].

·         Năm 1995: Giáo Hội Báp-tít Ngày Thứ Bảy (Seventh Day Baptist) có 253 hội chúng và trên 20,000 hội viên tại Ấn-độ; 78 hội chúng với 4,885 hội viên tại Hoa Kỳ; hai hội chúng với 55 hội viên tại Anh; và một hội chúng với 40 hội viên tại Gia-nã-đại [8].

·         Năm 1964-1965 Hiệp Hội Báp-tít Ngày Thứ Bảy Toàn Thế Giới (The Seventh Day Baptist World Federation) được thành lập với trên 50,000 hội viên trong 22 quốc gia [8].

·         Website www.the-ten-commandments.org liệt kê trên 500 tổ chức giáo hội vâng giữ ngày Sa-bát [9].

Lời Kết

Thánh Kinh không hề ra lệnh cho con dân Chúa ngưng giữ Mười Điều Răn. Thánh Kinh định nghĩa: tội lỗi là sự vi phạm các điều răn của Đức Chúa Trời. Thánh Kinh định nghĩa: con dân Chúa là những người vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và có đức tin trong Đức Chúa Jesus Christ. Thánh Kinh không hề cho phép con dân Chúa biến chủ nhật thành ngày Sa-bát. Thánh Kinh không hề cho phép con dân Chúa tùy ý chọn bất kỳ ngày nào trong tuần làm ngày Sa-bát.

Vấn đề không phải là nên nhóm họp thờ phượng Chúa vào ngày nào vì con dân Chúa có thể và nên nhóm họp thờ phượng Chúa vào bất kỳ lúc nào thuận tiện cho sự nhóm họp của Hội Thánh, nhưng vấn đề là con dân Chúa phải tôn kính và vâng giữ ngày Sa-bát theo điều răn của Chúa.

Mỗi người tự trách nhiệm về nếp sống đạo của mình. Ai nấy phải hết lòng sống và thờ phượng Chúa theo lẽ thật trong Lời Chúa bằng cách đọc và suy ngẫm Thánh Kinh dưới sự soi sáng của Đức Thánh Linh.

Dù hiện nay trên thế giới có hơn 500 tổ chức giáo hội vâng giữ ngày Sa-bát nhưng không phải các tổ chức đó đều hoàn toàn có các tín lý đúng với Thánh Kinh, điển hình là Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật [7]. Con dân Chúa không cần và không nên lệ thuộc vào một tổ chức giáo hội nào vì Đức Chúa Jesus Christ chỉ thiết lập Hội Thánh của Ngài chứ Ngài không hề lập ra các giáo hội. Thánh Kinh cũng không hề cho phép việc lập ra các giáo hội mang danh Chúa. Con dân Chúa chỉ cần học và làm theo Lời Chúa trong Thánh Kinh thì đương nhiên thuộc về Hội Thánh của Chúa. Người thật lòng ăn năn tội, chán ghét tội, từ bỏ tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ, và khao khát được sống thánh khiết theo điều răn của Đức Chúa Trời sẽ được tái sinh để trở thành một người hoàn toàn mới trong Đức Chúa Jesus Christ (II Cô-rinh-tô 5:17), có Đức Thánh Linh hiện diện trong thân xác để dạy dỗ, dẫn dắt, an ủi, cáo trách, và thánh hóa mỗi ngày. Chính Chúa sẽ đem người đó đến với các tôi tớ và con cái chân thật của Đức Chúa Trời để cùng thông công trong Hội Thánh của Chúa và lớn lên trong đức tin.

 

Huỳnh Christian Timothy
14.05.2011

 

Tham Khảo & Chú Thích

http://www.present-truth.org/6-Library/Inquisitive Christians.pdf

http://temp.lampofmessiahorg.officelive.com/hisstorytobelievers.aspx

[1] http://www.freerepublic.com/focus/f-religion/1950302/posts  Canon 29:CHRISTIANS must not judaize by resting on the Sabbath, but must work on that day, rather honouring the Lord's Day; and, if they can, resting then as Christians. But if any shall be found to be judaizers, let them be anathema from Christ.

[2] http://www.wwco.com/religion/believe/believe_118.html

[3] Athanasius là giám mục của Hội Thánh Alexandria, tại Cairo, Ai-cập và là một tiến sĩ thần học vào cuối thế kỷ thứ tư. Epiphanius là giám mục của Hội Thánh Salamis và Hội Thánh Metropolitan của Cyprus vào cuối thế kỷ thứ tư.

[4] Celts hoặc Celtic là một giống dân cổ sống trong vùng Tây Bắc Âu Châu trước Công Nguyên. Ngày nay, dân tộc Celt bao gồm các dân sau đây: Brittany (Anh Quốc), Ireland (Ái-nhĩ-lan), Scotland, Wales, Isle of Man, và Cornwall.

[5] Gregory I (540-604), Gregory VII (1015-1085) là các giáo hoàng Công Giáo. Lombardy là một trong 20 khu vực của Ý-đại-lợi. Khu vực là đơn vị hành chánh cao nhất của nước Ý, tương đương như tỉnh tại Việt Nam.

[6] http://en.wikipedia.org/wiki/Seventh_Day_Baptist

[7] Huỳnh Christian Timothy. "Những Tín Lý và Quan Điểm Thần Học Nghịch Thánh Kinh của Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật." http://www.divshare.com/download/14872735-f77

[8] http://en.wikipedia.org/wiki/Seventh_Day_Baptist

[9] http://www.the-ten-commandments.org/sabbathkeepingchurches.html

Share This:

3,040 views

Mười Hai Từ Ngữ Liên Quan Đến Điều Răn và Luật Pháp

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy
Nhấp vào đây để download bài viết này

Để có thể hiểu rõ ý nghĩa các câu Thánh Kinh liên quan đến điều răn và luật pháp thì chúng ta cần hiểu rõ các từ ngữ liên quan đến điều răn và luật pháp. Dưới đây là bảng liệt kê 12 từ ngữ có liên quan đến điều răn và luật pháp, được dùng trong Thánh Kinh. Quý bạn đọc có thể bấm vào các mã số Strong như: H8451 để vào website tham khảo ý nghĩa của từ ngữ trong tiếng Anh hoặc bấm vào ký hiệu phát âm như:(to-raw') để vào website nghe cách phát âm từ ngữ.

1. Luật pháp: Danh từ luật pháp trong Thánh Kinh bao gồm tất cả những gì là thánh ý của Đức Chúa Trời đối với loài người. Nói cách khác, ý muốn và lời phán của Đức Chúa Trời đều là điều răn và luật pháp. Chính Đức Chúa Jesus khi trích dẫn Thi Thiên 82:6  "Ta đã nói: Các ngươi là thần. Hết thảy đều là con trai của Đấng Chí Cao" thì Ngài đã gọi đó là luật pháp, là Kinh Thánh: "Nếu luật pháp gọi những kẻ được lời Đức Chúa Trời phán đến là các thần, và nếu Kinh Thánh không thể bỏ được, thì Ta đây, là Đấng Cha đã biệt ra thánh, và sai xuống thế gian, nói: Ta là Con Đức Chúa Trời, cớ sao các ngươi cáo Ta là nói lộng ngôn?" (Giăng 10:35, 36) [1].

Từ ngữ luật pháp trong tiếng Hê-bơ-rơ (Hebrew) có hai cách viết, là תּרהתּורה, H8451, cùng được phiên âm là /tôrâh/, phát âm là (to-raw'). Ý nghĩa chính của từ ngữ này là tất cả những quy định của Đức Chúa Trời về nguyên tắc sống dành cho loài người và hình phạt dành cho những ai vi phạm các quy định ấy. Ý nghĩa hẹp của từ ngữ này là tên gọi chung cho năm sách đầu tiên của Thánh Kinh, gồm: Sáng Thế Ký, Xuất Ê-díp-tô Ký, Lê-vi Ký, Dân Số Ký và Phục Truyền Luật Lệ Ký.

Lần đầu tiên, từ ngữ luật pháp xuất hiện trong Thánh Kinh là lúc Đức Chúa Trời phán truyền với Áp-ra-ham, được ghi lại trong Sáng Thế Ký 26:5 và được dùng dưới hình thức số nhiều:

"Bởi vì Áp-ra-ham đã vâng theo tiếng Ta, đã giữ gìn sự chỉ định của Ta, các điều răn của Ta, các luật lệ của Ta, các luật pháp của Ta."(Dịch sát nghĩa nguyên ngữ Hê-bơ-rơ).

"Bởi vì Áp-ra-ham đã vâng theo tiếng Ta, mà giữ gìn sự chỉ định của Ta, gồm các điều răn của Ta, các luật lệ của Ta, tức là các luật pháp của Ta."(Dịch diễn ý).

"Because that Abraham obeyed my voice, and kept my charge, my commandments, my statutes, and my laws."(Bản dịch King James).

Như vậy, Thánh Kinh cho chúng ta biết các điều răn và các luật lệ của Đức Chúa Trời, gọi chung là luật pháp, chỉ định đường lối sống cho loài người, do chính Ngài phán thành tiếng, đã ban cho loài người từ trước khi dân Israel được hình thành.

Phân tích một cách tổng quát thì luật pháp của Đức Chúa Trời được thể hiện dưới ba hình thức:

a) Luật Đạo Đức:Luật Đạo Đức bao gồm Mười Điều Răn do chính Đức Chúa Trời trực tiếp phán truyền từ trên núi Si-na-i, và sau đó, hai lần dùng chính ngón tay của Ngài ghi chép trên hai bảng đá:

"Bấy giờ Đức Chúa Trời phán mọi lời này rằng… Vả, cả dân sự nghe sấm vang, tiếng kèn thổi, thấy chớp nhoáng, núi ra khói, thì run rẩy và đứng cách tận xa. Dân sự bèn nói cùng Môi-se rằng: Chính mình người hãy nói cùng chúng tôi thì chúng tôi sẽ nghe; nhưng cầu xin Đức Chúa Trời chớ phán cùng, e chúng tôi phải chết chăng… Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Ngươi hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy: Các ngươi đã thấy Ta từ trên trời phán xuống cùng…"(Xuất Ê-díp-tô Ký 20:1-21).

"Khi Đức Giê-hô-va đã phán xong cùng Môi-se tại núi Si-na-i, bèn cho người hai bảng chứng bằng đá, với ngón tay Đức Chúa Trời viết ra"(Xuất Ê-díp-tô Ký 31:18). "Đoạn, Môi-se ở trên núi trở xuống, tay cầm hai bảng chứng; hai bảng chứng có viết hai bên, mặt nầy và mặt kia. Hai bảng đó là việc của Đức Chúa Trời làm ra; chữ cũng là chữ của Đức Chúa Trời khắc trên bảng" (Xuất Ê-díp-tô Ký 32:15-16).

"Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy đục hai bảng đá như hai bảng trước; rồi Ta sẽ viết trên hai bảng nầy các lời đã ở nơi hai bảng kia, mà ngươi đã làm bể… Môi-se ở đó cùng Đức Giê-hô-va trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, không ăn bánh, cũng không uống nước; Đức Giê-hô-va chép trên hai bảng đá các lời giao ước, tức là mười điều răn" (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:1, 28) [2].

"Từ trong lửa, Đức Giê-hô-va phán cùng các ngươi; các ngươi nghe một tiếng nói, nhưng không thấy một hình trạng nào; chỉ nghe một tiếng mà thôi. Ngài rao truyền cho các ngươi biết sự giao ước của Ngài, tức là mười điều răn, khiến các ngươi gìn giữ lấy, và Ngài chép mười điều răn ấy trên hai bảng đá"(Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:12-13) [2].

"Ngài viết trên hai bảng nầy lời Ngài đã viết lần trước, tức là mười điều răn mà Đức Giê-hô-va từ giữa lửa tại trên núi, có phán cùng các ngươi, trong ngày nhóm hiệp; rồi Đức Giê-hô-va trao cho ta"(Phục Truyền Luật Lệ Ký 10:4) [2].

"Đức Giê-hô-va tại trên núi từ giữa lửa, đã đối diện phán cùng các ngươi… Tại trên núi, giữa lửa, mây và sự tối tăm, Đức Giê-hô-va có dùng tiếng lớn phán những lời nầy cho cả hội các ngươi, Ngài không thêm chi hết; đoạn Ngài ghi các lời đó trên hai bảng đá, và trao cho ta"(Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:4-22).

"Và Đức Giê-hô-va trao cho ta hai bảng đá, bởi ngón tay Đức Chúa Trời viết ra, có đủ những lời mà Đức Giê-hô-va từ giữa lửa, tại trên núi, có phán ra cùng các ngươi, trong ngày nhóm hiệp"(Phục Truyền Luật Lệ Ký 9:10).

Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời vì thế không thể gọi là "Luật Pháp Môi-se" vì do chính Đức Chúa Trời phán trực tiếp với dân sự và do chính ngón tay Ngài hai lần viết ra trên bảng chứng. Ngài nay, cũng chính Đức Chúa Trời viết những điều đó vào tấm lòng của con dân Chúa "Đức Giê-hô-va phán: Nầy là giao ước mà Ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật pháp Ta trong bụng chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân Ta" (Giê-rê-mi 31:33). Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời cũng không phải là những điều hình bóng chỉ về những sự sẽ được Đấng Christ làm ra trong thời Tân Ước mà là tiêu chuẩn đạo đức, thánh khiết, công bình, và yêu thương đời đời của Đức Chúa Trời. Lời Chúa khẳng định: Điều răn của Đức Chúa Trời còn lại đời đời còn tất cả các luật pháp khác là ánh sáng của điều răn Ngài:

"Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài ở gần. Các điều răn Ngài là chân thật. Cứ theo chứng cớ Chúa, tôi đã biết từ lâu rằng Chúa lập các điều răn ấy đến đời đời"(Thi Thiên 119:151-152).

"Vì điều răn là một cái đèn, luật pháp là ánh sáng; Và sự quở trách khuyên dạy là con đường sự sống"(Châm Ngôn 6:23).

Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời được chính Ngài viết trên hai bảng đá, ra lệnh cho Môi-se cất vào Hòm Giao Ước. Một ngày trong tương lai, vào khoảng giữa của bảy năm đại nạn, Hòm Giao Ước sẽ hiện ra trong đền thờ ở trên trời, trước khi Đức Chúa Trời phán xét toàn thế gian. Người viết tin chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ căn cứ vào Mười Điều Răn do chính ngón tay của Ngài chép trên hai bảng đá để phán xét toàn thế gian về tội làm cho đất bị ô uế,"vì họ đã phạm luật pháp, trái điều răn" của Đức Chúa Trời(Ê-sai 24:5). Khải Huyền 11:19 chép: "Đền thờ Đức Chúa Trời bèn mở ra ở trên trời, Hòm Giao Ước bày ra trong đền thờ Ngài, rồi có chớp nhoáng, tiếng, sấm sét, động đất và mưa đá lớn." Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời, vì thế, khác biệt với các luật pháp khác về lễ nghi hầu việc, thờ phượng Đức Chúa Trời và các luật dân sự.

Hai hình thức kế tiếp được gọi chung là "Luật Môi-se" vì mặc dù cũng là luật pháp của Đức Chúa Trời, do Đức Chúa Trời truyền dạy cho dân sự của Chúa, nhưng Ngài không phán truyền trực tiếp cũng không tự tay Ngài ghi chép mà do Môi-se chép lại và truyền lại cho dân sự, nên Thánh Kinh Tân Ước ghi là "Luật Môi-se" với ý nghĩa: "Luật pháp của Đức Chúa Trời do Môi-se truyền đạt cho dân sự của Chúa" để phân biệt với luật pháp của Đức Chúa Trời phán truyền trực tiếp cho dân sự của Ngài là "Mười Lời Phán," còn gọi là "Mười Điều Răn."

b) Luật Lễ Nghi:Luật Lễ Nghi bao gồm tất cả những điều luật liên quan đến sự tẩy uế, chuộc tội, và hầu việc, thờ phượng Đức Chúa Trời. Những Luật Lễ Nghi liên quan đến sự tẩy uế thuộc linh và chuộc tội đều là hình bóng về những điều mà Đấng Christ sẽ làm trong chức vụ tiên tri, thầy tế lễ, và Cứu Chúa của thế gian khi Ngài nhập thế làm người để cứu chuộc nhân loại. Ngày nay, con dân Chúa không cần phải làm các nghi thức tẩy uế thuộc linh và chuộc tội vì đó là công việc của Đấng Christ đã hoàn thành một lần đủ cả cho những ai tin nhận Ngài:

"…Ngài làm việc đó một lần thì đủ cả, mà dâng chính mình Ngài làm tế lễ" (Hê-bơ-rơ 7:27).

 "Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời là Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men" (Khải Huyền 1:6).

"Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác"(I Giăng 1:9).

Còn những luật lễ nghi về tẩy uế thuộc thể, hầu việc và thờ phượng Đức Chúa Trời thời Cựu Ước là hình bóng cho sự tẩy uế thuộc thể, hầu việc và thờ phượng Đức Chúa Trời của con dân Chúa trong thời Tân Ước sau khi đã được dựng nên mới trong Đấng Christ. Những điều đó đã được Đức Thánh Linh giảng dạy trong toàn bộ các thư tín Tân Ước.

c) Luật Dân Sự:Luật Dân Sự bao gồm tất cả những luật lệ liên quan đến mọi sinh hoạt dân sự trong xã hội. Ngày nay, luật dân sự đã được Đức Chúa Trời trao vào trong tay các nhà cầm quyền địa phương. Vì thế, Lời Chúa trong Tân Ước buộc con dân Chúa phải tuân phục các nhà cầm quyền vì không có quyền nào không đến từ Đức Chúa trời. Rô-ma 13:1-7:

"1 Mọi người phải vâng phục các đấng cầm quyền trên mình; vì chẳng có quyền nào mà chẳng đến bởi Đức Chúa Trời, các quyền đều bởi Đức Chúa Trời chỉ định.

2 Cho nên ai chống cự quyền phép, tức là đối địch với mạng lịnh Đức Chúa Trời đã lập; và những kẻ đối địch thì chuốc lấy sự phán xét vào mình.

3 Vả, các quan quyền không phải để cho người làm lành sợ, mà để cho người làm dữ sợ. Ngươi muốn không sợ quyền phép chăng? Hãy làm điều lành, sẽ được khen thưởng;

4 vì quan quyền là chức việc của Đức Chúa Trời để làm ích cho ngươi. Song nếu ngươi làm ác, thì hãy sợ, vì người cầm gươm chẳng phải là vô cớ; người là chức việc của Đức Chúa Trời để làm ra sự công bình và phạt kẻ làm dữ.

5 Vậy nên cần phải vâng phục, chẳng những vì sợ hình phạt thôi, nhưng cũng vì cớ lương tâm.

6 Ấy cũng bởi lẽ đó mà anh em nộp thuế, vì các quan quyền là đầy tớ của Đức Chúa Trời, hằng giữ việc ấy.

7 Phải trả cho mọi người điều mình đã mắc: nộp thuế cho kẻ mình phải nộp thuế; đóng góp cho kẻ mình phải đóng góp; sợ kẻ mình đáng sợ; kính kẻ mình đáng kính."

"Vì cớ Chúa, hãy phục theo mọi phép tắc loài người lập lên, hoặc vua, như đấng rất cao, hoặc các quan, như người vua sai ra để phạt kẻ làm dữ và khen người làm lành" (I Phi-e-rơ 2:13-14).

Ngày nay, con dân Chúa sống ở địa phương nào thì tuân theo luật dân sự của chính quyền địa phương nơi ấy. Trừ khi, chính quyền ra những luật vi phạm các điều răn của Đức Chúa Trời thì khi ấy con dân Chúa phải chọn thái độ:"Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta" (Công Vụ Các Sứ Đồ 5:29).

Thánh Kinh Tân Ước được viết bằng tiếng Hy-lạp và từ ngữ luật pháp là νόμος, G3551, được phiên âm là /nomos/, phát âm là (nom'-os). Khi có mạo tự đi trước thì từ ngữ này dùng để chỉ chung các Luật Môi-se nhưng khi được dùng không có mạo tự thì chỉ đến sức mạnh thôi thúc trong lòng của một người để làm một điều gì đó, như sức mạnh của đức tin được gọi là luật pháp của đức tin:"Vậy thì sự khoe mình ở đâu? Đã bị trừ bỏ rồi. Bởi luật pháp nào? Luật pháp của việc làm chăng? Không phải, nhưng bởi luật pháp của đức tin" (Rô-ma 3:27).

Khi phân tích Sáng Thế Ký 26:5, chúng ta nhận thấy từ ngữ "luật pháp" là danh từ gọi chung các từ ngữ: Tiếng Ta – Sự chỉ định của Ta – Các điều răn của Ta – Các luật lệ của Ta. "Bởi vì Áp-ra-ham đã vâng theo tiếngTa, đã giữ gìn sự chỉ định của ta, các điều răn của ta, các luật lệ của Ta, các luật pháp của Ta." (Dịch sát nghĩa nguyên ngữ Hê-bơ-rơ). Về sau, trong Xuất Ê-díp-tô Ký bắt đầu dùng từ ngữ: Mạng lịnh; trong Phục Truyền Luật Lệ Ký bắt đầu dùng từ ngữ: Chứng cớ; và trong Thi Thiên bắt đầu dùng các từ ngữ: Giềng mối – Đoán ngữ.

2. Chỉ định: Nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là משׁמרת, H4931, được phiên âm là /mishmereth/, phát âm là (mish-meh'-reth), dịch sang tiếng Anh là guard, charge. Ý nghĩa của từ ngữ này là: thi hành một bổn phận; hoặc gìn giữ, canh gác, bảo tồn điều được giao phó. Loài người có bổn phận thi hành và gìn giữ, canh gác, bảo tồn tất cả luật pháp của Đức Chúa Trời đã ban truyền.

3. Điều răn:Nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là מצוה, H4687, phiên âm là /mitsvâh/, phát âm là (mits-vaw'), dịch sang tiếng Anh là commandments. Ý nghĩa của từ ngữ này là: lời sai khiến hoặc lời ngăn cấm, ra từ chữ gốc צוה, H6680 (mạng lịnh). Trong điều răn không đề cập đến hình phạt.

4. Luật lệ:Nguyên ngữ Hê-bơ-rơ với hình thức giống đực là חקּה, H2708, phiên âm là /chûqqâh/, phát âm là (khook-kaw'); với hình thức giống cái là חק, H2706, phiên âm là /chôq/, phát âm là (khoke). Cả hai hình thức được dịch sang tiếng Anh là statutes. Ý nghĩa của từ ngữ này là: những điều phải làm và những điều không được làm trong sinh hoạt của xã hội. Các luật lệ giải thích các điều răn và quy định hình phạt dành cho người vi phạm.

5. Mạng lịnh: Nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là צוה, H6680, được phiên âm là /tsâvâh/, phát âm là (tsaw-vaw'), dịch sang tiếng Anh là commandment. Ý nghĩa của từ ngữ này là: sai khiến, ra lệnh; lần đầu tiên xuất hiện trong Sáng Thế Ký 2:16 mà bản dịch Phan Khôi dịch là "phán dạy:"  "Rồi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn." Bản dịch Phan Khôi có nhiều chỗ dùng "mạng lịnh" để dịch hai từ ngữ חק, H2706, và חקּה, H2708 (luật lệ), như trong Xuất Ê-díp-tô Ký 28:43: "A-rôn cùng các con trai người sẽ mặc quần đó trong khi vào hội mạc hay là đến gần bàn thờ đặng làm việc tế lễ trong nơi thánh, thì chẳng mắc tội và chẳng chết đâu. Ấy là một mạng lịnh đời đời cho A-rôn và dòng dõi người."

6. Giềng mối:Nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là פּקּוּדפּקּד, H6490, cùng được phiên âm là /piqqûd/, phát âm là (pik-kood'), dịch sang tiếng Anh là precepts. Ý nghĩa của từ ngữ này là: những lời giảng dạy về luật pháp. Thi Thiên 19:8: "Giềng mối của Đức Giê-hô-va là ngay thẳng, làm cho lòng vui mừng; Điều răn của Đức Giê-hô-va trong sạch, làm cho mắt sáng sủa."

7. Đoán ngữ: Nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là משׁפּט, H4941, được phiên âm là /mishpâṭ/, phát âm là (mish-pawt'), dịch sang tiếng Anh là verdict. Ý nghĩa của từ ngữ này là: phán quyết, án lệnh; sự tuyên phán của quan tòa về hành vi phạm pháp của một người hoặc bản án dành cho phạm nhân. Thi Thiên 119:7: "Khi tôi học các đoán ngữ công bình của Chúa, Thì tôi sẽ lấy lòng ngay thẳng mà ngợi khen Chúa."

8. Chứng cớ: Nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là עדוּת, H5715, được phiên âm là /‛êdûth/, phát âm là (ay-dooth'), dịch sang tiếng Anh là testimony. Ý nghĩa của từ ngữ này là: chứng cớ, lời chứng. Thi Thiên 19:7:"Luật pháp của Đức Giê-hô-va là trọn vẹn, bổ linh hồn lại; Sự chứng cớ Đức Giê-hô-va là chắc chắn, làm cho kẻ ngu dại trở nên khôn ngoan." Tất cả những gì do Đức Chúa Trời nói và làm để bày tỏ chính Ngài, ý muốn của Ngài, và công việc của Ngài đều là chứng cớ về Đức Chúa Trời. Vì vậy, toàn bộ điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời cũng chính là chứng cớ về Ngài, do chính Ngài trưng bày.

9. Ở dưới luật pháp:Ở dưới luật pháp có nghĩa là khi vi phạm luật pháp thì bị chế tài theo như hình phạt đã định trong luật pháp. Một người ở dưới luật pháp là một người dù vô tình hay cố ý, hễ vi phạm luật pháp thì phải gánh lấy sự hình phạt do luật pháp quy định. Đức Chúa Jesus được sinh ra làm người ở dưới luật pháp: "Nhưng khi kỳ hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài bởi một người nữ sanh ra, sanh ra dưới luật pháp, để chuộc những kẻ ở dưới luật pháp, và cho chúng ta được làm con nuôi Ngài" (Ga-la-ti 4:4-5); có nghĩa là nếu Đức Chúa Jesus vi phạm luật pháp thì sẽ bị hình phạt bởi luật pháp và Con Người Vô Tội Jesus có thể nhận lãnh hình phạt của luật pháp thay cho loài người vi phạm luật pháp. Khi nói, một người không còn ở dưới luật pháp có nghĩa là người đó đã thi hành xong án phạt của luật pháp hoặc có người đã gánh thay án phạt của luật pháp dành cho sự phạm tội của người ấy chứ không có nghĩa là người ấy tha hồ phạm tội mà không bị hình phạt bởi luật pháp.

10. Ở dưới ân điển của Đấng Christ:Ở dưới ân điển của Đấng Christ có nghĩa là: ăn năn, từ bỏ tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đấng Christ. Từ bỏ tội là từ bỏ sự vi phạm điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời, vì tội lỗi là sự vi phạm điều răn và luật pháp của Đức Chúa trời, I Giăng 3:4 chép: "Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp." Một người chưa có tấm lòng từ bỏ tội thì không thể nào ở dưới ân điển cứu rỗi của Đấng Christ. Tin Lành của Đấng Christ được Ngài rao giảng bằng lời mở đầu: "Các ngươi hãy ăn năn, vì nước thiên đàng đã đến gần" (Ma-thi-ơ 4:17). Sau khi một người có tội đã ăn năn thì Chúa truyền rằng: "Ta cũng không định tội ngươi; hãy đi, đừng phạm tội nữa" (Giăng 8:11). Sứ Đồ Phi-e-rơ đã rao giảng như sau: "…Hãy hối cải, ai nấy phải nhân danh Đức Chúa Jesus chịu phép báp-tem, để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh" (Công Vụ Các Sứ Đồ 2:38). Như vậy, chỉ những ai vâng theo lời phán dạy của Chúa, tức là ăn năn tội và không phạm tội nữa thì mới ở dưới ân điển của Đấng Christ, ở trong Đấng Christ, thoát khỏi sự phán xét của luật pháp.

11. Luật pháp của Đấng Christ: "Với những người không luật pháp, (dầu đối với Đức Chúa Trời tôi không phải là không luật pháp, vì tôi ở dưới luật pháp của Đấng Christ), song tôi cũng ở như người không luật pháp" (I Cô-rinh-tô 9:21). "Hãy mang lấy gánh nặng cho nhau, như vậy anh em sẽ làm trọn luật pháp của Đấng Christ" (Ga-la-ti 6:2). Tất cả nhữnglời phán dạy của Đức Chúa Jesus đều là luật pháp của Đấng Christ. Từ các mạng lịnh "Hãy ăn năn" (Ma-thi-ơ 4:17); "Hãy yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi" (Ma-thi-ơ 5:44); "Hãy nên trọn vẹn như Cha các ngươi trên trời là trọn vẹn" (Ma-thi-ơ 5:48); cho đến mạng lịnh "Hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà Ta đã truyền cho các ngươi" (Ma-thi-ơ 28:19, 20); đều là luật pháp của Đấng Christ. Điều răn mới mà Chúa phán truyền trong Giăng 13:34: "Các ngươi phải yêu nhau; như Ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy" chỉ là một điều răn trong các luật pháp của Đấng Christ.

12. Luật pháp của Thánh Linh sự sống:"Vì luật pháp của Thánh Linh sự sống trong Đức Chúa Jesus Christ đã buông tha tôi khỏi luật pháp của sự tội và sự chết" (Rô-ma 8:2 – Dịch sát nghĩa). Thánh Linh sự sống trong Đức Chúa Jesus Christ chính là Đức Thánh Linh. Khi một người thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ thì người ấy lập tức được tái sinh, tức là được thoát khỏi quyền lực của tội lỗi và sự chết, và được nhận lãnh Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh ngự trong thân thể của người đã được tái sinh để ban Thánh Linh tức là sự sống và năng lực của Đức Chúa Trời cho người ấy; và giảng dạy thánh ý của Đức Chúa Trời cho người ấy qua những lời mà Ngài đã thần cảm cho các sứ đồ và môn đồ của Chúa chép lại trong Thánh Kinh Tân Ước. Tất cả những sự giảng dạy đó chính là luật pháp của Đức Thánh Linh.

 

Huỳnh Christian Timothy
12.04.2011

 

Ghi Chú

[1] Đối chiếu thêm các câu sau đây: Giăng 15:25 với Thi Thiên 35:19; I Cô-rinh-tô 14:21 với Ê-sai 28:11-12.

[2] Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ của Thánh Kinh không dùng từ ngữ "mười điều răn" mà dùng từ ngữ "mười lời." Sáng Thế Ký 1 ghi lại mười lời phán của Chúa trong công cuộc sáng thế, ban phước và giao việc cho loài người. Xuất Ê-díp-tô Ký 34:28, Phục Truyền Luật lệ Ký 4:13; 10:4, ba lần ghi lại "mười lời" phán của Chúa (mà bản dịch Phan Khôi dịch là "mười điều răn) làm nền tảng đạo đức cho con dân của Ngài.

Share This:

3,630 views

Mười Hai Lẽ Thật Về Điều Răn và Luật Pháp của Đức Chúa Trời

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào đây để download bài viết này

Bấm vào đây để nghe và download audio bài viết này

Ngày nay, có một giáo lý nghịch Thánh Kinh được rao giảng cách rộng khắp trong Hội Thánh của Chúa. Giáo lý đó dạy rằng: "Điều Răn và luật pháp của Đức Chúa Trời được ghi chép trong Thánh Kinh Cựu Ước chỉ áp dụng cho dân Israel sống trong thời Cựu Ước chứ không áp dụng cho Hội Thánh thời Tân Ước; và tín đồ của Đấng Christ không cần phải vâng giữ Mười Điều Răn, nhất là điều răn thứ tư." Chúng ta hãy cùng nhau tra xem lời của Chúa là Thánh Kinh để tìm biết giáo lý đó đã nghịch lại những lẽ thật của Lời Chúa như thế nào.

Có ít nhất là 12 lẽ thật trong Lời Chúa khẳng định giá trị, thẩm quyền của điều răn và luật pháp đối với con dân Chúa trong mọi thời đại, bao gồm cả Hội Thánh thời Tân Ước.

1. Các điều răn của Đức Chúa Trời còn lại cho đến đời đời: "Cứ theo chứng cớ Chúa, tôi đã biết từ lâu rằng Chúa lập các điều răn ấy đến đời đời" (Thi Thiên 119:152).

2. Luật pháp và điều răn của Đức Chúa Trời là thánh, công bình và tốt lành:"Ấy vậy, luật pháp là thánh, điều răn cũng là thánh, công bình và tốt lành" (Rô-ma 7:12).

3. Điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời áp dụng chung cho toàn thể nhân loại. Tội lỗi tức là sự vi phạm điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời. Thế gian bị bại hoại, ô uế vì sự phạm tội của dân cư trên đất: "Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp" (I Giăng 3:4). "Đất bị dân cư làm ô uế, vì họ đã phạm luật pháp, trái điều răn, dứt giao ước đời đời" (Ê-sai 24:5).

4. Tín đồ của Đấng Christ được cứu nhờ ân điển của Ngài thì không thể tiếp tục phạm điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời nữa:"Vậy thì làm sao! Vì chúng ta không thuộc dưới luật pháp, nhưng thuộc dưới ân điển, thì chúng ta sẽ phạm tội hay sao? Chẳng hề như vậy" (Rô-ma 6:15 )!

5. Đức tin của một người nơi Đấng Christ để được Đức Chúa Trời tha tội và làm cho sạch tội không hề hủy bỏ luật pháp của Đức Chúa Trời nhưng giúp cho người ấy có thể hoàn toàn vâng giữ điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời:"Vậy, chúng ta nhơn đức tin mà bỏ luật pháp hay sao? Chẳng hề như vậy! Trái lại, chúng ta làm vững bền luật pháp" (Rô-ma 3:31). "Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi" (Phi-líp 4:13) [1].

6. Không một người nào có thẩm quyền hủy bỏ bất kỳ một điều răn nào trong các điều răn của Đức Chúa Trời:"Vậy, ai hủy một điều cực nhỏ nào trong những điều răn nầy, và dạy người ta làm như vậy, thì sẽ bị xưng là cực nhỏ trong nước thiên đàng; còn như ai giữ những điều răn ấy, và dạy người ta nữa, thì sẽ được xưng là lớn trong nước thiên đàng" (Ma-thi-ơ 5:19).

7. Người hết lòng hết sức yêu mến Đức Chúa Trời là người vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời:"Vì nầy là sự yêu mến Đức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng giữ các điều răn Ngài. Các điều răn của Ngài chẳng phải là nặng nề" (I Giăng 5:3). "Vả, sự yêu thương là tại làm theo các điều răn của Đức Chúa Trời. Đó là các điều răn mà các ngươi đã nghe từ lúc ban đầu, đặng làm theo" (II Giăng 1:6) [2].

8. Người biết Đức Chúa Trời là người vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời theo như Đấng Christ đã vâng giữ.I Giăng 2:3-6:

"3 Nầy tại sao chúng ta biết mình đã biết Ngài, ấy là tại chúng ta giữ các điều răn của Ngài.
 4 Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ các điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người.
 5 Nhưng ai giữ lời phán Ngài, thì lòng kính mến Đức Chúa Trời thật là trọn vẹn trong người ấy. Bởi đó, chúng ta biết mình ở trong Ngài.
 6 Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm."

9. Chỉ có Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời được cất vào Hòm Giao Ước) chứ không phải tất cả luật pháp. Điều đó nói lên sự tách biệt giữa Mười Điều răn và các luật pháp khác:

"10 Vậy, chúng hãy đóng một cái hòm bằng cây si-tim; bề dài hai thước rưỡi, bề ngang một thước rưỡi, và bề cao cũng một thước rưỡi,
 11 lấy vàng ròng bọc trong, bọc ngoài, và chạy đường viền chung quanh hòm bằng vàng.
12 Ngươi cũng hãy đúc bốn khoen bằng vàng để tại bốn góc hòm: hai cái bên hông nầy, hai cái bên hông kia,
13 cùng làm hai cây đòn bằng cây si-tim, bọc vàng;
14 rồi lòn đòn vào khoen hai bên hông hòm, để dùng đòn khiêng hòm.
15 Đòn sẽ ở trong khoen luôn, không nên rút ra.
16 Ngươi hãy cất vào trong hòm bảng chứng mà Ta sẽ ban cho.
17 Ngươi cũng hãy làm một cái nắp thi ân bằng vàng ròng, bề dài hai thước rưỡi, bề ngang một thước rưỡi.
18 Lại làm hai tượng chê-ru-bin bằng vàng giát mỏng, để hai đầu nắp thi ân,
19 ló ra ngoài, một tượng ở đầu nầy và một tượng ở đầu kia.
20 Hai chê-ru-bin sẽ sè cánh ra, che trên nắp thi ân, đối diện nhau và xây mặt vào nắp thi ân.
21 Ngươi hãy để nắp thi ân trên hòm, rồi để vào trong hòm bảng chứng mà Ta sẽ ban cho."

(Xuất Ê-díp-tô Ký 25:10-21).

"Đoạn, người cũng lấy bảng chứng, để trong hòm, xỏ đòn khiêng vào, để nắp thi ân lên trên hòm"(Xuất Ê-díp-tô Ký 40:20).

"1 Trong lúc đó, Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hãy đục bai bảng đá như hai bảng trước, và hãy lên đến ta trên núi; ngươi cũng phải đóng một cái hòm bằng cây.
2 Ta sẽ viết trên hai bảng nầy những lời đã có trên hai bảng trước mà ngươi đã đập bể, rồi để hai bảng nầy trong hòm.
3 Vậy, ta đóng một cái hòm bằng cây si-tim, đục hai bảng đá, y như hai bảng trước, rồi đi lên trên núi, cầm hai bảng đó trong tay.
4 Ngài viết trên hai bảng nầy lời Ngài đã viết lần trước, tức là mười điều răn mà Đức Giê-hô-va từ giữa lửa tại trên núi, có phán cùng các ngươi, trong ngày nhóm hiệp; rồi Đức Giê-hô-va trao cho ta.
5 Ta trở đi xuống núi, để hai bảng vào hòm mà ta đã đóng, và hai bảng ấy còn ở tại đó, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn ta vậy"
(Phục Truyền Luật lệ Ký 10:1-5).

"2 Vả, một đền tạm đã dựng lên: phần thứ nhứt gọi là nơi thánh, có chơn đèn, bàn và bánh bày ra;
3 rồi đến phía trong màn thứ hai, tức là phần gọi là nơi rất thánh,
4 có lư hương bằng vàng và hòm giao ước, toàn bọc bằng vàng. Trong hòm có một cái bình bằng vàng đựng đầy ma-na, cây gậy trổ hoa của A-rôn, và hai bảng giao ước"
(Hê-bơ-rơ 9:2-4).

Và một ngày kia, Hòm Giao Ước giao ước sẽ hiện ra ở trên trời để mở đầu cho sự phán xét toàn thế gian: "Đền thờ Đức Chúa Trời bèn mở ra ở trên trời, Hòm Giao Ước bày ra trong đền thờ Ngài, rồi có chớp nhoáng, tiếng, sấm sét, động đất và mưa đá lớn" (Khải Huyền 11:19). Hòm Giao Ước được gọi là  là Hòm Giao Ước vì nó chứa hai bảng đá do chính ngón tay của Đức Chúa Trời ghi chép Mười Điều Răn của Ngài là giao ước của Đức Chúa Trời lập ra cho toàn thể nhân loại. Toàn thể nhân loại trong mọi thời đại đều có bổn phận vâng giữ Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời cho tới khi "mọi sự được trọn" nghĩa là cho tới khi trời cũ đất cũ qua đi và trời mới đất mới được tạo dựng. Chính vì "Đất bị dân cư làm ô uế, vì họ đã phạm luật pháp, trái điều răn, dứt giao ước đời đời" (Ê-sai 24:5) cho nên Hòm Giao Ước hiện ra trên trời để mở đầu cho sự phán xét toàn thế gian dựa theo sự thế gian "trái điều răn" của Đức Chúa Trời, là Mười Điều Răn được Đức Chúa Trời bảo tồn trong Hòm Giao Ước.

10. Dân ngoại như là nhánh ô-li-ve hoang được tháp vào dân Israel là gốc ô-li-ve thánh để cùng với dân Israel làm thành Hội Thánh của Đức Chúa Trời cho nên tất cả những mệnh lệnh và lời hứa của Đức Chúa Trời đối với dân Israel đều áp dụng cho Hội Thánh. Nói cách khác: Tuyển dân Israel thời Cựu Ước là hình ảnh của Hội Thánh Đức Chúa Trời thời Tân Ước.Rô-ma 11:16-24:

"16 Vả, nếu trái đầu mùa là thánh, thì cả đồng cũng thánh; và nếu rễ là thánh, thì các nhánh cũng thánh.
17 Ví bằng có một hai nhánh bị cắt đi, và ngươi vốn là cây ô-li-ve hoang được tháp vào chỗ các nhánh ấy để có phần về nhựa và rễ của cây ô-li-ve,
18 thì chớ khoe mình hơn các nhánh đó. Nhưng nếu ngươi khoe mình, thì hãy biết rằng ấy chẳng phải là ngươi chịu đựng cái rễ, bèn là cái rễ chịu đựng ngươi.
19 Ngươi sẽ nói rằng: Các nhánh đã bị cắt đi, để ta được tháp vào chỗ nó.
20 Phải lắm; các nhánh đó đã bị cắt bởi cớ chẳng tin, và ngươi nhờ đức tin mà còn; chớ kiêu ngạo, hãy sợ hãi.
21 Vì nếu Đức Chúa Trời chẳng tiếc các nhánh nguyên, thì Ngài cũng chẳng tiếc ngươi nữa.
22 Vậy hãy xem sự nhơn từ và sự nghiêm nhặt của Đức Chúa Trời: sự nghiêm nhặt đối với họ là kẻ đã ngã xuống, còn sự nhơn từ đối với ngươi, miễn là ngươi cầm giữ mình trong sự nhơn từ Ngài: bằng chẳng, ngươi cũng sẽ bị chặt.
23 Về phần họ, nếu không ghì mài trong sự chẳng tin, thì cũng sẽ được tháp; vì Đức Chúa Trời có quyền lại tháp họ vào.
24 Nếu chính ngươi đã bị cắt khỏi cây ô-li-ve hoang thuận tánh mình, mà được tháp vào cây ô-li-ve tốt nghịch tánh, thì huống chi những kẻ ấy là nhánh nguyên sẽ được tháp vào chính cây ô-li-ve mình!"

11. Ngoài Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời, Đức Thánh Linh đã thêm hai điều răn cho Hội Thánh. Thứ mười một: Không được ăn đồ cúng hình tượng, huyết, và thịt thú vật chết ngột. Thứ mười hai: Không được phạm tội tà dâm.Theo nguyên ngữ Hê-bơ-rơ của Thánh Kinh thì điều răn thứ bảy chỉ nói đến người đã lập gia đình không được ngoại tình. Theo nguyên ngữ Hy-lạp thì điều răn không được tà dâm bao gồm sự quan hệ tình dục ngoài hôn nhân của những người độc thân và tội đồng tính luyến ái: "Ấy là Đức Thánh Linh và chúng ta đã ưng rằng chẳng gán gánh nặng nào khác cho anh em ngoài những điều cần dùng, tức là anh em phải kiêng ăn của cúng thần tượng, huyết, thú vật chết ngột, và chớ tà dâm; ấy là mọi điều mà anh em khá kiêng giữ lấy vậy. Kính chúc bình an" (Công Vụ Các Sứ Đồ 15:28-29).

12. Mệnh lệnh của Đức Thánh Linh phán cho mọi tín đồ của Đấng Christ trong thời Tân Ước là: Phải vâng giữ điều răn của Đức Chúa Trời, giữ mình thánh sạch cho đến ngày Đấng Christ hiện ra: "Chịu cắt bì chẳng hề gì, không chịu cắt bì cũng chẳng hề gì; sự quan hệ là giữ các điều răn của Đức Chúa Trời"(I Cô-rinh-tô 7:19). "Phải giữ điều răn, ở cho không vết tích và không chỗ trách được, cho đến kỳ sự hiện ra của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta" (I Ti-mô-thê 6:14).

 

Huỳnh Christian Timothy
10.04.2011

 

Ghi Chú:

[1] Dịch sát ý theo nguyên tác Thánh Kinh: "Tôi có thể làm được mọi sự qua Đấng Christ là Đấng ban thêm sức cho tôi."

[2] Trong nguyên tác, Thánh Kinh dùng hình thức số nhiều: "Các điều răn" trong hai câu này.

[3] Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ của Thánh Kinh không dùng từ ngữ "mười điều răn" mà dùng từ ngữ "mười lời." Sáng Thế Ký 1 ghi lại mười lời phán của Chúa trong công cuộc sáng thế, ban phước và giao việc cho loài người. Xuất Ê-díp-tô Ký 34:28, Phục Truyền Luật lệ Ký 4:13; 10:4, ba lần ghi lại "mười lời" phán của Chúa (mà bản Thánh Kinh Việt Ngữ dịch là "mười điều răn) làm nền tảng đạo đức cho con dân của Ngài.

Share This:

6,102 views

Sách Khải Huyền: Mạc Khải Cuối Cùng

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.
 
Huỳnh Christian Timothy
 
"Phước cho người đọc cùng những ai nghe các lời tiên tri này
và giữ gìn những điều đã chép trong đó,
vì thì giờ đã gần."

(Khải Huyền 1:3)
 
Ý nghĩa tên sách

Tên cuốn sách cuối cùng của Thánh Kinh, trong các bản dịch Việt ngữ, được dịch là "Khải Huyền" hoặc "Khải Thị". Các bản dịch Anh ngữ cùng thống nhất dịch là "Revelation". Chữ revelation phát xuất từ chữ gốc apokalupsis trong tiếng Hy-lạp. Apokalupsis là một từ ngữ ghép, gồm "apo" có nghĩa là lấy khỏi, cất đi và "kalupsis" có nghĩa là tấm màn che. Như vậy, nghĩa gốc của apokalupsis là vén màn, cất màn che đi, nghĩa biến thể là sự bày tỏ, sự tiết lộ một điều gì vốn kín giấu trước đó.

Dưới đây là ý nghĩa một số từ ngữ liên quan đến tên sách được dùng trong các bản dịch Việt ngữ:

1. Khải Huyền = Mở ra, trình bày những sự kín giấu (khải = khai mở – huyền = kín giấu)
2. Khải Thị = Mở ra, trình bày cho xem xét (khải = khai mở – thị = xem xét, quan sát)
3. Khải Tượng = Mở ra, trình bày bằng hình ảnh (khải = khai mở – tượng = hình ảnh)
4. Mạc Khải = Mở màn, vén màn (mạc = tấm màn che = khải = khai mở)

Thánh Kinh Việt ngữ, bản dịch Phan Khôi, có dùng từ ngữ "mặc thị" để dịch chữ apokalupsis. Trong tiếng Hán Việt, mặc = im lặng, tĩnh mịch – thị = xem xét, quan sát; vậy, mặc thị = xem xét hay quan sát sự tĩnh mịch, im lặng. Thiển nghĩ, dùng "sự mặc thị" để dịch "the revelation" là không đúng nghĩa. Đôi khi, chữ "mặc khải" cũng bị dùng lầm, thay vì dùng đúng chữ "mạc khải". Mặc khải = khai mở sự im lặng.

Người ghi chép

Người ghi chép Khải Huyền tự xưng là một tôi tớ của Đấng Christ tên là Giăng (1:1), được Đức Chúa Trời kêu gọi làm tiên tri để "nói tiên tri về nhiều dân, nhiều nước, nhiều tiếng, và nhiều vua" (10:11). Theo truyền thống thì Hội Thánh ban đầu tin rằng tiên tri Giăng chép sách Khải Huyền cũng chính là sứ đồ Giăng, người chép Phúc Âm Giăng. Đến thế kỷ thứ 3, một giám mục Phi Châu tên là Dionyssius nêu ra vài bằng cớ cho thấy tiên tri Giăng, người ghi sách Khải Huyền không phải là sứ đồ Giăng:

1) Văn phong và kiến thức về Hy văn của người ghi chép sách Khải Huyền khác và kém xa với người ghi chép Phúc Âm Giăng (sứ đồ Giăng).
2) Sứ đồ Giăng tránh nhắc đến tên mình trong Phúc Âm Giăng trong khi người ghi chép Khải Huyền thường xuyên nhắc đến tên mình trong sách Khải Huyền.
Mặc khải cuối cùng Trang 2
3) Toàn bộ nội dung của sách Khải Huyền không cho thấy có chỗ nào người ghi chép tự nhận hoặc ngụ ý mình là một sứ đồ.

Phần lớn các nhà giải kinh ngày nay đều chấp nhận quan điểm cổ truyền: Sứ đồ Giăng chính là người chép sách Khải Huyền.

Ngôn ngữ được dùng để ghi chép

Sách Khải Huyền được ghi chép bằng tiếng Hy-lạp, là ngôn ngữ phổ thông thời ấy. Tuy nhiên, theo các nhà ngôn ngữ học thì lối hành văn của tác giả sách Khải Huyền đầy dẫy những lỗi lầm về văn phạm. Dường như người viết nhận thức khải tượng trong ngôn ngữ mẹ đẻ của ông là tiếng A-ram rồi viết lại bằng tiếng Hy-lạp, hoặc là Khải Huyền đã được ghi chép bằng tiếng A-ram rồi mới được dịch sang tiếng Hy-lạp, và được dịch bởi một người rất kém về văn phạm Hy-lạp.

Địa điểm ghi chép

Theo lời của Giăng (1:9-11) thì những khải tượng đến với ông đang khi ông ở trên đảo Bát-mô. Nhưng không ai biết chắc ông đã ghi lại thành sách Khải Huyền lúc ông vẫn còn trên đảo Bát-mô hay là về sau, trở lại Ê-phê-sô ông mới ghi chép. Các sử gia không thống nhất về địa điểm sách Khải Huyền được ghi chép.

Victirinus viết: "Giăng đang bị hoàng đế Domitian đày làm phu mỏ tại đảo Bát-mô, và tại đó, ông đã nhận được mạc khải…. Sau khi được trả tự do, ông đã viết lại những mạc khải đã nhận được từ Đức Chúa Trời."
Jerome viết: "Năm thứ mười bốn sau cơn bách hại của Nero, Giăng bị đày tới đảo Bát-mô, và tại đó, ông đã viết sách Khải Huyền… Sau khi Domitian qua đời, các chiếu chỉ tàn ác của hoàng đế bị nghị viện hủy bỏ, và Giăng được về lại Ê-phê-sô dưới thời Nerva."

Thời điểm ghi chép

Căn cứ vào các sự kiện lịch sử, nhiều nhà giải kinh cho rằng sách Khải Huyền được ghi chép vào khoảng năm 95 đến 96 trong bối cảnh đạo Chúa bị bách hại dữ dội dưới triều đại của hoàng đế La-mã Domitian.
VI. Bối cảnh lịch sử lúc sách được ghi chép

Domitian (81-96) là hoàng đế La-mã bạo ngược và bách hại Hội Thánh Đấng Christ dã man nhất trong lịch sử La-mã. Mặc dù trước đó, Nero (54-68), trong những năm cuối đời mình có bách hại các tín đồ Đấng Christ nhưng không phải vì cớ đức tin của họ. Truyền thuyết cho rằng Nero ra mật lệnh đốt bỏ những khu dân cư lụp xụp của thành La-mã để lấy chỗ xây dựng cung điện mới cho mình. Sau khi cơn hỏa hoạn khủng khiếp xảy ra, dân chúng nghi ngờ đó là dã tâm của Nero nên muốn nổi loạn. Nero bèn trút đổ hết trách nhiệm làm cháy thành La-mã lên những tín đồ Đấng Christ, vốn là một cộng đồng hiền hòa, yếu đuối và ra lệnh tàn sát họ. Khi Domitian lên ngôi, ông tuyên bố mình là Đức Chúa Trời, hạ lệnh cho mọi người phải thờ lạy và gọi mình là Đức Chúa Trời. Tất cả những ai không chịu thờ lạy Sê-sa Domitian, tôn xưng ông là Đức Chúa Trời, đều bị xử chết.

Dĩ nhiên, các tín đồ Đấng Christ thời ấy không thể vâng phục sắc lệnh của Domitian, sự kháng lệnh ấy dẫn đến những cuộc bắt bớ, tàn sát Hội Thánh Chúa cách dã man (93-96). Trong bối cảnh đau thương, kinh hoàng đó, sứ điệp Khải Huyền đã đến với các Hội Thánh Chúa. Sứ điệp Khải Huyền chính là bản hùng ca của Chân Lý và Đức Tin, vang lên giữa chiến trận khốc liệt của quyền lực bóng tối và sự chết đang cố chà đạp thân xác những con người đã "vượt khỏi sự chết mà vào sự sống đời đời" (1 Giăng 3:13-14).

Hoàng đế Nerva (96-98), người kế vị Domitian, ngay sau khi lên ngôi liền hủy bỏ những sắc lệnh dã man của Domitian, nhưng máu của các thánh đồ đã nhuộm thấm khắp đế quốc La-mã! Họ đã "trung tín cho đến chết" (2:10) với "Đấng yêu thương chúng ta, rửa chúng ta sạch mọi tội lỗi của chúng ta trong chính huyết Ngài, và khiến chúng ta trở nên những vua, những thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời, Cha Ngài" (1:5-6).
Khải Huyền 1:1-3 (dịch sát nghĩa):
 
Nguyên nhân, mục đích và nội dung của sách Khải Huyền
 
(1) Sự mạc khải về Đức Jesus Christ mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài đặng tỏ ra cho các tôi tớ Ngài về những điều sắp phải xảy đến thì Ngài đã sai thiên sứ Ngài biểu thị cho tôi tớ Ngài là Giăng: (2) người đã làm chứng về Lời của Đức Chúa Trời, về chứng cớ của Đức Jesus Christ, cùng những gì ông đã thấy. (3) Phước cho người đọc cùng những ai nghe các lời tiên tri này và giữ gìn những điều đã chép trong đó, vì thì giờ đã gần!

Ba câu đầu tiên của sách Khải Huyền giới thiệu nguyên nhân và mục đích của sách. Kèm theo đó là lời hứa phước hạnh cho những ai quan tâm đến sự mạc khải này bằng cách đọc, nghe theo, và giữ gìn tính trung thực của sự mạc khải. Có thể nói, sách Khải Huyền là một nguồn phước hạnh cho mọi tín đồ của Đấng Christ, thế nhưng, Khải Huyền lại là một trong những sách ít được tín đồ đọc thường xuyên và ít được giảng dạy trong Hội Thánh. Thế hệ hiện nay của chúng ta càng gần với "những ngày cuối cùng" hơn bao giờ hết, cho nên, có thể nói một cách bóng bẩy rằng: Khải Huyền là sứ điệp đặc biệt dành riêng cho thế hệ của chúng ta! Mệnh đề chót trong câu 3: "vì thì giờ đã gần!" gợi ý tính cấp bách và chung cuộc của sứ điệp được thông truyền.
 
 
1. Mạc khải đến từ Đức Chúa Trời: "Sự mạc khải của Đức Jesus Christ mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài…" (c. 1). Sự mạc khải được ghi lại trong sách Khải Huyền đến từ Đức Chúa Trời Ngôi Cha, và được bày tỏ bởi Đức Chúa Jesus Christ, là Đức Chúa Trời Ngôi Con. Sự mạc khải đó sẽ được thành toàn bởi Đức Chúa Trời Ngôi Thánh Linh, và kết quả của nó sẽ được bảo tồn bởi Ngài.

2. Mạc khải được ban cho các tôi tớ của Đấng Christ: "đặng tỏ ra cho các tôi tớ Ngài." (c. 1) Đối tượng đón nhận sự mạc khải này là những tôi tớ của Đức Chúa Jesus Christ. Tất cả những ai tin nhận Đức Chúa Jesus Christ đều được "quyền phép trở nên con cái của Đức Chúa Trời" (Giăng 1:1:12) nhưng trong số các "con cái của Đức Chúa Trời" chỉ có một số người được Ngài kêu gọi làm "tôi tớ;" (xin xem Rô-ma 1:1; Phi-líp 1:1; Tít 1:1; Gia-cơ 1:1; II Phi-e-rơ 1:1; và Giu-đe 1:1). Theo các dẫn chứng của Thánh Kinh, chúng ta có thể hiểu danh từ "tôi tớ của Đức Chúa Trời" hoặc "tôi tớ của Đức Chúa Jesus Christ" trong thời đại Ân Điển dùng để chỉ những ai được biệt riêng làm công tác loan truyền Tin Lành, giảng dạy Lời Chúa, hoặc chăn bầy của Ngài.

Xét theo nghĩa rộng thực dụng, mỗi một con dân Chúa là một thầy tế lễ của Đức Chúa Trời, (Khải Huyền 1:6), được kêu gọi đi khắp thế gian để giảng Tin Lành, (Ma-thi-ơ 20:19, 20; Mác 16:15), cho nên, bất kỳ ai đáp lại lời kêu gọi đó đều là tôi tớ của Đức Chúa Trời và của Đấng Christ. Trách nhiệm của các tôi tớ Chúa là loan truyền Lời Chúa cho muôn dân và giảng dạy Lời Chúa cho bầy của Ngài nên mạc khải được tỏ ra cho họ. Ngày nay, hơn bao giờ hết, các tôi tớ Chúa sẽ thiếu sót và phạm tội nếu không tích cực giảng và dạy những lời tiên tri trong sách Khải Huyền, "vì thì giờ đã gần!"

3. Nội dung của sự mạc khải: "về những điều sắp phải xảy đến" (c. 1). Sự mạc khải được tỏ ra cho các tôi tớ của Chúa để họ biết trước những điều sắp phải xảy đến. Xin để ý đến chữ "sắp" và chữ "phải". Khải Huyền 1:19 sẽ giải thích cho chữ "sắp" còn chữ "phải" nói lên sự chắc chắn ứng nghiệm của những lời tiên tri này. Khi đọc tiếp phần còn lại của sách Khải Huyền, chúng ta sẽ thấy những điều sắp phải xảy đến đó, sẽ xảy ra trong thế giới vật chất thuộc về thế gian, trên thiên đàng, và dưới hỏa ngục! Những điều sắp phải xảy đến đó, sẽ là câu trả lời tối hậu cho những ai thắc mắc "tại sao tội lỗi, bạo quyền, đau khổ, chiến tranh, dịch lệ, đói kém, thiên tai, chết chóc… xảy ra trong thế giới?" và "nếu có một Đức Chúa Trời thì Ngài đang ở đâu trước những nan đề của nhân loại?" Sự mạc khải trong sách Khải Huyền còn là mở đầu cho bản "khải hoàn ca" đời đời của mọi thánh đồ (Khải Huyền 21; 22:1-5).

4. Sự mạc khải mang phước hạnh đến cho những ai đọc, những ai nghe, và giữ những điều được mạc khải: "Phước cho người đọc cùng những ai nghe các lời tiên tri này, và giữ gìn những điều đã chép trong đó, vì thì giờ đã gần!" (c. 3)

Có hai thành phần được phước:

a) Người đọc: Có hai cách để giải thích về từ ngữ "người đọc." Thuở xưa, những lời tiên tri này được ghi lại và sao chép bằng tay. Có thể lắm, Giăng đã gửi cho mỗi Hội Thánh của vùng Tiểu Á một bản sao. Khi Hội Thánh nhận được các lời tiên tri thì người giữ việc đọc Lời Chúa (một chức vụ trong các Hội Thánh thuở ban đầu) sẽ tuyên đọc trước Hội Thánh. Như vậy, "người đọc" được phước ở đây là người đọc các lời tiên tri trong Khải Huyền cho Hội Thánh nghe. Hiểu theo nghĩa rộng hơn, những ai phổ biến, rao giảng những lời tiên tri trong Khải Huyền sẽ được phước!

Cách giải thích thứ hai, dựa trên ý nghĩa và cách dùng của động từ "đọc" trong nguyên tác, cho rằng bất cứ ai đọc các lời tiên tri này, cách cá nhân, đều được phước. Kinh nghiệm thực tế trong nếp sống đạo cho chúng ta thấy rằng, hễ ai có thành ý đọc Lời Chúa đều nhận được phước hạnh từ nơi Ngài, qua Lời của Ngài. Và, chỉ khi một người có lòng tìm đọc Lời Chúa, thì Đức Thánh Linh mới có cơ hội để ban phước cho người ấy qua sự tuôn đổ khôn ngoan thiên thượng để người ấy hiểu điều mình đọc.

b) Người nghe và giữ gìn những điều đã chép: Thành phần được phước thứ hai là những ai nghe và giữ gìn những lời tiên tri được ghi lại trong Khải Huyền. Lời Chúa nói rõ: chỉ những ai nghe và giữ gìn những lời tiên tri này mới được phước. Cũng có hai cách để giải thích về từ ngữ "nghe" và "giữ gìn". Cách thứ nhất cho rằng chữ "nghe" ở đây chỉ về sự các tín đồ nghe đọc các lời tiên tri bởi người giữ việc đọc Lời Chúa trong Hội Thánh. Chữ "giữ gìn" có nghĩa là ghi nhớ trong trí những điều đã nghe đọc. Cách giải thích thứ hai cho rằng chữ "nghe" được dùng với nghĩa bóng là "tin theo, vâng theo, làm theo" (so sánh chữ nghe trong Giăng 10:3) chứ không phải nghe âm thanh mà thôi. Như vậy, "nghe các lời tiên tri này" nghĩa là nhận thức những gì được bày tỏ, tin những điều đó sẽ xảy đến, và làm theo mọi khuyến cáo trong đó. Từ ngữ "giữ gìn" trong nguyên tác là tēreō có nghĩa là "canh giữ" được dùng để chỉ sự canh gác, trông chừng đừng để cho bị biến đổi mất phẩm chất hoặc bị thiệt hại, mất mát. Như vậy, những ai hiểu, tin, làm theo và giữ gìn sự trung thực của những lời tiên tri trong sách Khải Huyền trong khi loan truyền lại cho người khác sẽ được phước (Xem Khải Huyền 22:18-19).

Chúng tôi tin rằng, sách Khải Huyền là mạc khải cuối cùng của Đức Chúa Trời dành cho toàn thể nhân loại, và sách Khải Huyền hoàn tất Thánh Kinh. Sau sách Khải Huyền không còn một sự mạc khải nào của Đức Chúa Trời ban chung cho loài người. Chúng tôi không bác bỏ những mạc khải Đức Chúa Trời dành riêng cho từng cá nhân để chỉ thị, dạy dỗ hoặc làm vững đức tin của cá nhân ấy.

Ngày nay, có nhiều sách do những người tự xưng là hầu việc Chúa viết và được in ra để tuyên truyền các mạc khải về hoả ngục và thiên đàng, như là một hình thức bổ sung cho sách Khải Huyền. Tất cả những sách đó có nhiều điểm không phù hợp với sự dạy dỗ của Thánh Kinh. Những mạc khải được ghi lại trong các sách đó, nếu có thực, thì chắc chắn không phải đến từ Đức Chúa Trời. Chính Chúa Jesus đã cảnh cáo trước rằng, trong những ngày cuối cùng sẽ có nhiều kẻ giả mạo Đấng Christ và nhiều tiên tri giả sẽ dấy lên, làm nhiều phép lạ để lường gạt thiên hạ và thậm chí lường gạt ngay cả các tín đồ thật của Chúa (Ma-thi-ơ 7:15; 24:23). Chúng ta không cần bất cứ một mạc khải nào khác về thiên đàng và địa ngục ngoài những mạc khải đã được ghi lại trong Thánh Kinh.

Chúng ta, những thánh đồ của Chúa, cần ghi nhớ ý nghĩa của điều Chúa dạy trong Khải Huyền 1:3 – "đọc, nghe, và giữ gìn những điều đã chép trong sách Khải Huyền." Riêng những thánh đồ đáp ơn kêu gọi, đứng vào chức vụ rao giảng và dạy dỗ Lời Chúa, cần phải rao giảng và dạy dỗ những lời tiên tri trong Khải Huyền một cách cấp bách và quyết chắc như tính cấp bách và chung cuộc của sự mạc khải!

"Phước cho người đọc cùng những ai nghe các lời tiên tri này và giữ gìn những điều đã chép trong đó, vì thì giờ đã gần" (Khải Huyền 1:3)!

Huỳnh Christian Timothy
Ngày 07.09.2008
 

Share This:

2,826 views

Quan Hệ Giữa Hội Thánh và Chính Quyền

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2006 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy

Dù là dân tộc nào, đất nước nào, chính quyền nào, thể chế nào thì mối quan hệ giữa công dân và chính quyền luôn luôn là một mối quan hệ hai chiều: bổn phận của công dân đối với chính quyền và trách nhiệm của chính quyền đối với công dân. Thánh Kinh có dạy rõ về bổn phận công dân của tín đồ đối với chính quyền và trách nhiệm của chính quyển đối với công dân. Hội Thánh là tập thể những tín đồ Đấng Christ, cho nên khi thảo luận về mối quan hệ giữa Hội Thánh và chính quyền, những dạy dỗ của Thánh Kinh phải được dùng làm nền tảng cho sự thảo luận và áp dụng vào thực tế trong cuộc sống.

Trong bài này, chúng ta sẽ lần lượt thảo luận về các điểm chính sau đây:

(1) Thiên Chức của chính quyền
(2) Trách nhiệm của chính quyền đối với công dân
(3) Bổn phận của công dân đối với chính quyền
(4) Khi chính quyền trở thành bạo quyền
(5) Thái độ của tín đồ đối với bạo quyền
(6) Trách nhiệm của tín đồ đối với nạn nhân của bạo quyền
(7) Áp dụng vào thực tế trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam.

(1) Thiên chức của chính quyền

Thánh Kinh cho biết chính quyền là một thiên chức. Thực vậy, Rô ma 13:1-2 chép rằng: "Mọi người phải vâng phục các đấng cầm quyền trên mình; vì chẳng có quyền nào mà không đến bởi Đức Chúa Trời, các quyền đều bởi Đức Chúa Trời chỉ định. Cho nên ai chống cự quyền phép, tức là đối địch với mạng lịnh Đức Chúa Trời đã lập; và những kẻ đối địch thì chuốc lấy sự phán xét vào mình."

Câu hỏi được đặt ra là: "Không lẽ những chính quyền ngoại đạo, tà giáo, độc tài, hoặc vô thần, gian ác như các chính quyền Hồi Giáo và Cộng Sản cũng là do Chúa chỉ định hay sao? Không lẽ chống cự lại những chính quyền như vậy tức là đối địch với mạng lịnh Đức Chúa Trời đã lập?" Câu trả lời là: "Đúng vậy! Thánh Kinh khẳng định chẳng có quyền nào mà không đến bởi Đức Chúa Trời, các quyền đều bởi Đức Chúa Trời chỉ định." Khi Chúa Jesus bị bắt và giải đến trước Thống Đốc Phi-lát của chính quyền La-mã, Phi-lát ngạo nghễ hỏi Chúa: "Ngươi há chẳng biết rằng ta có quyền buông tha ngươi và quyền đóng đinh ngươi sao?" Đức Chúa Jesus đã đáp lại: "Nếu chẳng phải từ trên cao đã ban cho ngươi, thì ngươi không có quyền gì trên Ta" (Giăng 19:10-11)

Trong lịch sử dân Do-thái, dưới thời Vua Sê-đê-kia làm vua nước Giu-đa, vì dân Chúa phạm tội thờ lạy tà thần nên Đức Chúa Trời dùng Vua Nê-bu-cát-nết-xa của đế quốc Ba-by-lôn để cai trị họ. Tiên Tri Giê-rê-mi được lệnh Chúa rao truyền cho Vua Sê-đê-kia và dân Giu-đa phải đầu phục Vua Nê-bu-cát-nết-xa của Ba-by-lôn. Lúc đó, có một tiên tri giả tên là Ha-na-nia, nói ngược lại lời nói của Tiên Tri Giê-rê-mi và xúi Vua Sê đê kia cùng dân Giu-đa chống lại Vua Nê-bu-cát-nết-xa. Kết quả, Ha-na-nia chuốc lấy cái chết còn dân Giu-đa bị giết từ trai trẻ, gái đồng trinh cho đến người tóc bạc, kẻ còn sót lại thì bị giải qua Ba-by-lôn làm tôi mọi (II Sử ký: 36 & Giê rê mi: 27-28).

Sau bảy mươi năm là hạn kỳ Chúa trách phạt dân Giu-đa, chính Chúa lại trừng phạt Nê-bu-cát-nết-xa và dân Ba-by-lôn vì sự tàn ác của họ. Bài học lịch sử cho chúng ta thấy: Chúa chỉ định các chính quyền. Chúa dùng chính quyền này để sửa phạt chính quyền kia nhưng khi chính quyền được Chúa dùng để sửa phạt trở thành mất phẩm chất của một chính quyền thì đến phiên chính quyền ấy lại bị sửa phạt bởi Chúa.

(2) Trách nhiệm của chính quyền đối với công dân

Thánh Kinh ghi rõ trách nhiệm của chính quyền đối với công dân như sau:

1) Chính trực:
"Vả, các quan quyền không phải để cho người làm lành sợ, mà để cho người làm dữ sợ." (Rô ma 13:3a)

2) Khen thưởng người làm điều lành: "Ngươi muốn không sợ quyền phép chăng? Hãy làm điều lành, sẽ được khen thưởng" (Rô ma 13:3b), (1 Phi e rơ 2:14).

3) Làm ích cho công dân: "Vì quan quyền là chức việc của Đức Chúa Trời để làm ích cho ngươi" (Rô ma 13:4a).

4) Phạt kẻ làm dữ: "Song nếu ngươi làm ác, thì hãy sợ, vì người cầm gươm chẳng phải là vô cớ; người là chức việc của Đức Chúa Trời để làm ra sự công bình và phạt kẻ làm dữ" (Rô ma 13:4b), (1 Phi e rơ 2:14).

Vậy, theo Thánh Kinh, chính quyền là chức việc của Chúa chỉ định để cai trị một dân tộc, một đất nước bằng sự chính trực, thưởng lành, phạt ác, và làm ích cho công dân.

(3) Bổn phận của công dân đối với chính quyền

Thánh Kinh cũng dạy tín đồ phải làm tròn những bổn phận của công dân đối với chính quyền. Những bổn phận ấy được nêu rõ như sau:

1) Vâng phục vì cớ lương tâm:
"Mọi người phải vâng phục các đấng cầm quyền trên mình" (Rô ma 13:1a). "Vì cớ Chúa, hãy phục theo mọi phép tắc loài người lập nên, hoặc vua như đấng rất cao, hoặc các quan như người vua sai ra để phạt kẻ làm dữ và khen người làm lành" (I Phi e rơ 2:13-14). "Vậy nên cần phải vâng phục, chẳng những vì sợ hình phạt thôi, nhưng cũng vì cớ lương tâm" (Rô ma 13:5). "Hãy nhắc lại cho các tín đồ phải vâng phục những bậc cầm quyền chấp chánh, phải vâng lời các bậc ấy, sẵn sàng làm mọi việc lành" (Tít 3:1).

2) Tôn trọng và kính sợ:
"Ngươi chớ nên nói lộng ngôn cùng Đức Chúa Trời, và cũng đừng rủa sả vua chúa của dân sự ngươi" (Xuất 22:28). "Hãy kính mọi người; yêu anh em; kính sợ Đức Chúa Trời; tôn trọng vua" (I Phi e rơ 2:17). "Sợ kẻ mình đáng sợ, kính kẻ mình đáng kính" (Rô ma 13:7b).

3) Nộp thuế và đóng góp:
"Ấy cũng bởi lẽ đó mà anh em nộp thuế, vì các quan quyền là đày tớ của Đức Chúa Trời, hằng giữ việc ấy. Phải trả cho mọi người điều mình đã mắc: nộp thuế cho kẻ mình phải nộp thuế; đóng góp cho kẻ mình phải đóng góp" (Rô ma 13:6,7a).

4) Cầu thay:
"Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhơn đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn. Ấy là một sự lành và đẹp mắt Đức Chúa Trời là Cứu Chúa chúng ta" (I Ti mô thê 2:1-3).

Chính quyền có bốn trách nhiệm với công dân thì công dân cũng có bốn bổn phận với chính quyền: Vâng phục, tôn trọng, nộp thuế và cầu thay.

(4) Khi chính quyền biến thành bạo quyền

Cho đến ngày hôm nay, những sự dạy dỗ của Thánh Kinh từ mấy ngàn năm trước về mối quan hệ hai chiều giữa công dân và chính quyền vẫn không thay đổi. Tuy nhiên, khi chính quyền không công chính mà trở thành phe đảng, bè phái, hư hại, thối nát; khi chính quyền không thưởng lành phạt ác mà trở thành băng đảng của kẻ làm dữ, bức hiếp những công dân lương thiện; khi chính quyền không làm ích cho dân mà trở thành nhũng lạm, bốc lột, phá tan tài nguyên, sinh lực của đất nước thì chính quyền đó đã không làm tròn thiên chức mà Đức Chúa Trời đã chỉ định và giao phó. Chính quyền đó đã biến thành bạo quyền. Bạo quyền sẽ bị Đức Chúa Trời sửa trị. Chính Đức Chúa Trời sẽ dấy lên hoặc dùng một chính quyền khác để sửa trị hoặc tiêu diệt bạo quyền.

(5) Thái độ của tín đồ đối với bạo quyền

Khi chính quyền biến thành bạo quyền thì chắc chắn tín đồ là công dân dưới quyền sẽ hứng chịu nhiều bất công và thiệt hại. Bạo quyền có thể ra lệnh bắt tín đồ phải làm những điều ngược lại với đức tin Cơ-đốc. Bạo quyền cũng có thể vô cớ bách hại các tín đồ. Trong tình huống đó, tín đồ phải cư xử ra sao đối với bạo quyền?

1) Tín đồ không được trả thù bạo quyền:
"Hỡi kẻ rất yêu dấu của tôi ơi, chính mình chớ trả thù ai, nhưng hãy nhường cho cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời; vì có Lời Chúa phán rằng: Sự trả thù thuộc về Ta, Ta sẽ báo ứng" (Rô ma 12:19). "Sự trả thù thuộc về Ta, Ta sẽ báo ứng. Ấy là Lời Chúa phán" (Hê bơ rơ 10:30). "Chớ lấy ác trả ác cho ai, phải chăm tìm điều thiện trước mặt mọi người. Nếu có thể được, thì hãy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người" (Rô ma 12:17-18). "Hãy giữ, đừng có ai lấy ác báo ác cho kẻ khác; nhưng hãy tìm điều thiện luôn luôn, hoặc trong vòng anh em, hoặc đối với thiên hạ" (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:15).

2) Tín đồ không được chống cự bạo quyền:
"Song Ta bảo các ngươi, đừng chống cự kẻ dữ" (Ma-thi-ơ 5:39).

3) Tín đồ không thỏa hiệp, không van xin với bạo quyền để được thờ phượng, hầu việc Chúa:
"Phước cho người nào chẳng theo mưu kế của kẻ dữ, chẳng đứng trong đường tội nhân, không ngồi chỗ của kẻ nhạo báng" (Thi Thiên 1:1). "Chớ mang ách chung vớ kẻ chẳng tin. Bởi vì công bình với gian ác có hội hiệp nhau được chăng? Sự sáng với sự tối có thông đồng nhau được chăng?" (II Cô-rinh-tô 6:14).
Khi Tiên tri Đa ni ên nghe chiếu chỉ của vua cấm thờ lạy hoặc cầu nguyện với bất cứ thần nào khác ngoài vua trong vòng ba mươi ngày, ông vẫn thản nhiên thờ lạy cầu nguyện với Đức Chúa Trời mỗi ngày ba lần mà không cần tìm cách thỏa hiệp hay van xin vua, mặc dù vua là người rất thương mến và quý trọng ông (Đa ni ên 6). Con dân Chúa không cần phải "thỏa hiệp" hoặc "van xin" bất kỳ ai để được thờ phượng Chúa. Đặc quyền và cũng là đặc ân thờ phượng Chúa đã được Chúa trả bằng chính huyết báu của Ngài trên thập tự giá cho những ai tin nhận Ngài.

4) Tín đồ không cần tuân theo những mạng lịnh và luật lệ đi ngược lại mạng lịnh và luật lệ của Chúa:
Thánh Kinh ghi rõ, khi phải chọn lựa giữa sự tuân phục bạo quyền hoặc tuân phục Lời của Đức Chúa Trời thì người tín đồ chỉ có tuân phục Chúa. Khi Phi-e-rơ và Giăng bị Tòa Công Luận Do-thái cấm tiệt chẳng cho nhân danh Chúa Jesus mà nói hay giảng dạy thì hai ông trả lời rằng: "Chính các ông hãy suy xét, trước mặt Đức Chúa Trời có nên vâng lời các ông hơn là vâng lời Đức Chúa Trời chăng?" (Công vụ 4:19). Sau đó, một lần nữa, Phi-e-rơ và các sứ đồ lại bị Tòa Công Luận Do-thái cấm nhặt không cho giảng Tin Lành, thì ông và các sứ đồ đã khẳng khái đáp lời thầy cả thượng phẩm: "Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta" (Công Vụ 5:29). Trong thời Cựu Ước, khi Pha-ra-ôn ra lệnh cho các bà mụ dân Hê-bơ-rơ phải giết các trẻ sơ sinh trai của người Hê-bơ-rơ "Nhưng các bà mụ kính sợ Đức Chúa Trời, chẳng làm theo lời vua Ê díp tô phán dặn, đều để cho các con trai sống hết" (Xuất 1:17). Và Thánh Kinh chép rằng: "Đức Chúa Trời ban ơn cho các bà mụ … Ấy vậy, vì bà mụ có lòng kính sợ Đức Chúa Trời, nên Ngài làm cho nhà họ được thạnh vượng" (Xuất Ê-díp-tô Ký 1:20-21).

(6) Trách nhiệm của tín đồ đối với những nạn nhân của bạo quyền

Trong Thánh Kinh, chúng ta thấy có nhiều chỗ ghi lại những gương sáng của con dân Chúa về việc bênh vực, giải cứu những nạn nhân của bạo quyền:

– Các bà mụ Hê-bơ-rơ bênh vực và giải cứu các hài nhi sơ sinh thoát chết (Xuất Ê-díp-tô Ký 1:15-21).
– Tín đồ tại thành Đa-mách giải cứu Sau-lơ, tức Phao-lô, khi ông bị người Giu-đa tại thành này truy sát vì rao giảng Tin Lành (Công Vụ 9:19-25).
– Con trai của chị Phao-lô báo tin cho ông biết mưu kế người Giu-đa tại thành Giê-ru-sa-lem muốn phục kích, bắt cóc và giết ông (Công Vụ 23:12-22).

Tuy nhiên có hai câu chuyện nỗi bật nhất mà chúng ta cần đọc kỷ và áp dụng vào thực tế trong cuộc sống:

1) Áp-ram giải cứu gia đình của Lót và dân chúng Sô-đôm:
Sáng Thế Ký chương 14 ghi lại câu chuyện vua Kết-rô Lao-me cùng đồng minh đánh với vua Sô-đôm và vua Gô-mô-rơ, thắng trận, bèn cướp hết của cải và lương thực của Sô-đôm, Gô-mô-rơ đồng thời bắt theo dân chúng trong đó có gia đình của Lót, là cháu của Áp-ram. "Khi Áp-ram hay được cháu mình bị quân giặc bắt, bèn chiêu tập ba trăm mười tám gia nhân đã tập luyện, sanh đẻ nơi nhà mình, mà đuổi theo các vua đó cho đến đất Đan" (Sáng Thế Ký 14:14). Sau đó, Áp-ram đánh bại vua Kết-rô Lao-me và các vua đồng minh, giải cứu toàn bộ người và vật, đem trở về… được vua Sa-lem là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời ra đón, chúc phước và ngợi khen rằng "Đức Chúa Trời Chí cao đã phó kẻ thù nghịch vào tay Áp ram."

Trong câu chuyện này, chúng ta thấy:

a) Chính quyền của Kết-rô Lao-me bức hiếp chính quyền Sô-đôm và Gô-mô-rơ [tỉ như chính quyền Iraq bức hiếp chính quyền Kuwait].
 
b) Áp-ram không phải là công dân của chính quyền Kết-rô Lao-me, cũng không phải là công dân của chính quyền Sô-đôm hay Gô-mô-rơ [tỉ như Hoa Kỳ không thuộc về chính quyền Iraq hoặc Kuwait].

c) Hành động của Áp-ram không phải là chống lại chính quyền trên ông. Hành động của Áp-ram là hành động cứu khốn phò nguy.

d) Chúa chấp nhận hành động của Áp-ram, qua lời chúc phước và ngợi khen của vua và thầy tế lễ Mên-chi-xê-đéc.

2) Hoàng hậu Ê xơ tê giải cứu dân Giu đa thoát nạn diệt chủng:
Trong hết 66 sách của Thánh Kinh, có một sách duy nhất không nhắc đến Đức Chúa Trời nhưng được kể là "Lời của Đức Chúa Trời", đó là sách Ê-xơ-tê. Cuốn sách ghi lại câu chuyện bạo quyền Ha-man vì kiêu ngạo và tư thù cá nhân nên lập mưu mượn tay vua A-suê-ru để diệt chủng dân Giu-đa. Tuy nhiên, Mạc-đô-chê, anh họ của Hoàng Hậu Ê-xơ-tê đã khiến bà phải liều chết đứng ra vạch trần âm mưu của Ha-man. Kết cuộc, bạo quyền bị tiêu diệt, dân Giu-đa được sinh tồn mà còn có cơ hội báo thù.

Trong câu chuyện này, chúng ta thấy:

a) Ê-xơ-tê, Mạc-đô-chê là công dân mà cũng là "viên chức" của chính quyền A-suê-ru.

b) Ha-man, một "viên chức" khác của A-suê-ru vì kiêu ngạo và tư thù đã biến thành bạo quyền, có dã tâm diệt chủng toàn dân Giu-đa, là đồng hương của Mạc-đô-chê và Ê-xơ-tê.

c) Bằng vào đức tin, lòng can đảm và sự khôn ngoan, anh em Mạc-đô-chê, Ê-xơ-tê đã giải thoát dân tộc của mình khỏi bàn tay độc ác của kẻ lạm quyền.

(7) Áp dụng vào thực tế trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam

Để áp dụng thực tế những sự dạy dỗ và mệnh lệnh của Chúa về mối quan hệ giữa Hội Thánh và chính quyền trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, chúng ta cần phải nhận rõ những điểm quan trọng sau đây:

1) Chính quyền Cộng Sản hiện tại ở Việt Nam là một bạo quyền vì đã làm ngược lại thiên chức Đức Chúa Trời giao phó.

2) Hội Thánh và dân tộc Việt Nam trong nước đang là nạn nhân của bạo quyền.
 
3) Hội Thánh Việt Nam tại hải ngoại có trách nhiệm đối với Hội Thánh và đồng hương trong nước.

a) Trách nhiệm thực tế của Hội Thánh Việt Nam tại hải ngoại đối với Hội Thánh và đồng hương trong nước:
Hội Thánh Việt Nam tại hải ngoại tức là chúng ta, những tín đồ Đấng Christ không sống dưới quyền cai trị của bạo quyền Cộng Sản Việt Nam. Trách nhiệm của chúng ta đối với Hội Thánh và đồng hương ở trong nước, đang là nạn nhân bị bạo quyền bách hại nặng nề, là trách nhiệm có tên gọi Trách nhiệm Áp-ram, do từ ý nghĩa dạy dỗ của câu chuyện Áp-ram giải cứu Lót và dân chúng Sô-đôm. Trách nhiệm này cũng dựa trên nền tảng của Lời Chúa trong Châm ngôn 31:8 "Hãy mở miệng mình binh kẻ câm, và duyên cớ của các người bị để bỏ." Trong Rô ma 12:15 "Hãy vui với kẻ vui, khóc với kẻ khóc;" và trong Hê bơ rơ 13:1,3 "Hãy hằng có tình yêu thương anh em. Hãy nhớ những kẻ mắc vòng xiềng xích, như mình cùng phải xiềng xích với họ, lại cũng nhớ những kẻ bị ngược đãi, vì mình cũng có thân thể giống như họ."
– Chúng ta có trách nhiệm chia sẻ sự đau đớn, thiếu thốn, bị bách hại về thuộc linh của anh em cùng đức tin và dân tộc chúng ta tại Việt Nam bằng lòng tha thiết kiêng ăn cầu thay (Ê xơ tê 4:16).
– Chúng ta có trách nhiệm chia sẻ sự đau đớn, thiếu thốn, bị bách hại về vật chất của anh em cùng đức tin và dân tộc chúng ta tại Việt Nam qua sự tiếp trợ tài chánh, vật lực. "hãy mang lấy gánh nặng cho nhau, như vậy anh em sẽ làm trọn luật pháp của Đấng Christ" (Ga la ti 6:2), (Hê bơ rơ 13:1,3 & 16).
– Chúng ta có trách nhiệm bênh vực duyên cớ công bình cho anh em cùng đức tin và dân tộc chúng ta tại Việt Nam bằng mọi phương cách hợp với sự dạy dỗ của Thánh Kinh, và trong khả năng của chúng ta. Những phương cách đó có thể là phản đối, kêu nài, khiếu nại, kiến nghị, công bố những sự thật về hoàn cảnh bị bách hại của anh em cùng đức tin và dân tộc của chúng ta trong nước.

Khi bạo quyền Hê rốt muốn giết Chúa Jesus, Ngài gọi bạo quyền bằng bản chất thật của nó. Ngài gọi Vua Hê rốt là "chồn cáo" (Lu ca 13:32). Khi Chúa Jesus bị bắt, bị đánh trước mặt thầy cả thượng phẩm Do Thái, chính Ngài đã phản đối sự bất công của bạo quyền: "Ví thử Ta nói quấy, hãy chỉ chỗ quấy cho Ta xem, nhược bằng Ta nói phải, làm sao ngươi đánh Ta" (Giăng 18:23)? Khi Phao-lô bị bạo quyền A-na-nia đánh trước tòa công luận Do-Thái, ông đã phản đối: "Hỡi bức tường tô trắng kia, Đức Chúa Trời sẽ đánh ông; ông ngồi để xử đoán tôi theo luật pháp, mà lại không kể luật pháp, biểu người đánh tôi" (Công vụ 23:3). Khi Phao lô đứng trước mặt tổng đốc Phê-tu của La-mã, ông mạnh dạn khiếu nại cho duyên cớ vô tội của mình: "Ví bằng tôi có tội hay là phạm điều gì đáng chết, thì tôi chẳng từ chối chết đâu; trái lại, nếu trong đơn từ họ kiện tôi không có cớ gì hết, thì chẳng ai được nộp tôi cho họ. Tôi kêu nài sự đó đến Sê-sa (tức hoàng đế La-mã lúc đương thời)" (Công vụ 25:11).

Thậm chí, nếu Chúa cho phép và chúng ta có khả năng, chúng ta phải sẵn sàng "chiêu tập ba trăm mười tám gia nhân đã tập luyện, sanh đẻ nơi nhà mình" để dẹp tan bạo quyền, giải phóng anh em cùng đức tin và dân tộc chúng ta như Áp-ram đã hành động xưa kia. Đức Chúa Trời Chí Cao sẽ "phó kẻ thù nghịch vào tay" chúng ta (Sáng Thế Ký 14:20).

b) Hậu quả nghiêm trọng sẽ đến nếu chúng ta lơ là trách nhiệm:
Trách nhiệm nào cũng kèm theo hậu quả của sự tắc trách. Nếu chúng ta tắc trách trong trách nhiệm rao giảng Tin Lành của Chúa cho người chưa được cứu, thì chúng ta chuốc lấy sự khốn khó cho chính mình, máu của những người hư mất vì sự tắc trách của chúng ta sẽ đổ lại trên đầu chúng ta (Công Vụ 20:26,27 & I Cô rinh tô 9:16). Còn nếu chúng ta tắc trách trong sự mang lấy gánh nặng cho nhau, trong sự bênh vực, giải cứu anh em cùng đức tin và dân tộc của chúng ta dưới sự bách hại của bạo quyền thì chúng ta cũng sẽ gánh chịu hậu quả nặng nề. Lời cảnh cáo được chép rõ trong Ê xơ tê 4:14 "Vì nếu ngươi làm thinh trong lúc này đây, dân Giu đa hẳn sẽ được tiếp trợ và giải cứu bởi cách khác, còn ngươi và nhà cha ngươi đều sẽ bị hư mất."

Kết luận

Khuôn mẫu của Thánh Kinh về mối quan hệ hai chiều giữa Hội Thánh và chính quyền không hề thay đổi. Bổn phận của mỗi con dân Chúa là phải hết lòng tuân thủ mạng lịnh của Ngài, được ghi chép rõ ràng trong Thánh Kinh. Nhưng một khi chính quyền biến thành bạo quyền, không còn làm tròn thiên chức mà Thiên Chúa đã chỉ định và giao phó: "Cai trị dân tộc, đất nước bằng sự chính trực, thưởng lành, phạt ác, và làm ích cho công dân" thì tín đồ, Hội Thánh phải vâng phục Chúa hơn là vâng phục bạo quyền. Trong sự cai trị của bạo quyền, tín đồ, Hội Thánh còn có trách nhiệm bênh vực và giải cứu nạn nhân của bạo quyền trong khả năng, phương tiện và sự khôn ngoan Chúa ban. Đẹp ý Chúa, tín đồ cũng có thể trở thành những "quyền" được Chúa dấy lên để bênh vực con dân Chúa bị bạo quyền bách hại, và để sửa phạt hoặc tiêu diệt bạo quyền.
 
Huỳnh Christian Timothy
4/22/2003

 

Share This: