5,069 views

Thời Kỳ Chúa Đến

Huỳnh Christian Timothy

Dẫn Nhập

Thời gian gần đây, tin tức về thiên tai, dịch bệnh, sự suy sụp kinh tế toàn cầu, và tiếng đồn về chiến tranh ngày càng dồn dập, nhất là tình trạng khủng hoảng lớn về chính trị và quân sự tại Trung Đông lẫn Biển Đông, khiến cho phần lớn con dân Chúa có cảm tưởng là ngày Đức Chúa Jesus Christ trở lại để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian đã rất gần. Thêm vào đó, cũng trong thời gian gần đây, nhiều con dân Chúa có chiêm bao hoặc khải tượng về sự được Chúa cất lên hoặc về những cảnh trạng của kỳ tận thế, càng khiến cho nhiều người quan tâm về thời kỳ Chúa đến.

Dù không có những tin tức thời sự hay những chiêm bao, khải tượng báo hiệu ngày Chúa đến đã gần, thì sự quan tâm về thời kỳ Chúa đến và sống trong tư thế chuẩn bị gặp Chúa là điều mà Thánh Kinh truyền cho chúng ta. Đức Chúa Jesus Christ dạy chúng ta hãy tỉnh thức về ngày đó. Lý do con dân Chúa cần phải tỉnh thức được chính Đức Chúa Jesus Christ đưa ra: Vì chúng ta không biết ngày nào hoặc giờ nào Chúa đến.

Vậy hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày nào Chúa mình sẽ đến”(Ma-thi-ơ 24:42).

Vậy, hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày, cũng không biết giờ”(Ma-thi-ơ 25:13).

Hãy giữ mình, tỉnh thức; vì các ngươi chẳng biết kỳ đó đến khi nào”(Mác 13:33).

Đọc Tiếp →

Share This:

2,746 views

Ngươi Chớ Ham Muốn…

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Ghi Chú: Bấm vào các từ ngữ Hê-bơ-rơ hoặc Hy-lạp để nghe phát âm. Bấm vào các mã số Strong (bắt đầu bằng H hoặc G) để xem định nghĩa trong tiếng Anh.

Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Bạn đọc có thể truy cập trực tiếp trên mạng tại đây: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào đây để download bài viết này
Bấm vào đây để nghe và download MP3 bài giảng này

"Ngươi chớ ham muốn nhà kẻ lân cận ngươi,
cũng đừng ham muốn vợ người, hoặc tôi trai tớ gái, bò, lừa,
hay là điều chi thuộc về kẻ lân cận ngươi."

(Xuất Ê-díp-tô Ký 20:17)

"Ngươi chớ ham muốn vợ của kẻ lân cận mình;
chớ ham muốn nhà của người, hoặc ruộng, tôi trai tớ gái, bò, lừa,
 hay là điều chi thuộc về kẻ lân cận ngươi."

(Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:21)

Dẫn Nhập

Điều răn thứ mười được chép trong Xuất Ê-díp-tô Ký 20:17 và Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:21. Xuất Ê-díp-tô Ký 20:17 không đề cập đến "ruộng" nhưng Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:21 thì có chữ "ruộng" và chữ "vợ" được đặt ở đầu câu. Chúng ta tin "Cả Thánh Kinh đều là bởi Thiên Chúa hà hơi" (II Ti-mô-thê 3:16), nghĩa là từng chữ trong Thánh Kinh đều là do Đức Thánh Linh thần cảm các tôi tớ của Chúa viết ra; như vậy, không thể có sự sai lầm hoặc mâu thuẫn trong Thánh Kinh. Vậy, chúng ta phải hiểu như thế nào khi gặp những chi tiết khác nhau thuộc hai hay nhiều phân đoạn trong Thánh Kinh khi chúng cùng đề cập đến một sự kiện?

Cách hiểu thứ nhất là: Chúa cho phép có nhiều nhân chứng cùng ghi lại một sự kiện dưới những hướng nhìn khác nhau để bổ sung lẫn nhau, đem lại cho chúng ta một bản tường thuật đầy đủ các chi tiết. Điều này tương tự như bốn họa sĩ cùng lúc vẽ một ngọn núi từ bốn hướng khác nhau. Bốn bức tranh cùng diễn tả một ngọn núi nhưng chắc chắn là các chi tiết hoàn toàn khác nhau. Một thí dụ khác, bốn phóng viên cùng  tham dự một vụ xử án sẽ viết bốn bài tường trình có những điểm khác nhau. Tương tự như vậy, bốn sách Tin Lành ghi chép về Đức Chúa Jesus Christ cho chúng ta có cái nhìn chi tiết về những lời Chúa phán và những việc Chúa làm.

Cách hiểu thứ nhì là: Có những lỗi trong việc sao chép Thánh Kinh. Ngày nay, chúng ta không còn nguyên bản của Thánh Kinh mà chỉ có các bản chép tay sao chép lại từ các nguyên bản và lẫn nhau. Trong tiến trình sao chép, dù các thư ký rất là cẩn thận nhưng vẫn có thể xảy ra các lỗi. Những lỗi này không làm mất đi sự chân thật của Lời Chúa. Với phương pháp phân tích và đối chiếu các nhà giải kinh có thể nhận biết và sửa chữa những lỗi xảy ra trong việc sao chép.

Cách hiểu thứ ba là: Lời Chúa phán được ghi chép cách trung thực lần thứ nhất trong Thánh Kinh. Về sau, khi được các tôi tớ của Chúa trích dẫn thì có sự khác biệt về từ ngữ so với nguyên văn nhưng không hề có sự khác biệt về ý; như khi chính Đức Chúa Jesus Christ và các sứ đồ trích dẫn Cựu Ước. Những sự khác biệt đó nhằm diễn giải nội dung của nguyên văn và cũng được thần cảm bởi Đức Thánh Linh, cho nên, cũng là Lời Chúa.

Mười Điều Răn được Đức Chúa Trời ghi chép trên hai bảng đá đã được Môi-se chép lại trong Xuất Ê-díp-tô Ký 20:1-17, nhưng gần 40 năm sau đó, khi Môi-se ứng khẩu lập lại trước mặt dân I-sơ-ra-ên và ghi lại trong Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:6-21 thì các từ ngữ có khác một chút trong các điều răn thứ tư, thứ năm, và thứ mười. Với cách hiểu thứ ba được đưa ra trên đây, chúng ta nhận thấy, trong Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:6-21, Môi-se trích dẫn Mười Điều Răn và thêm lời diễn giải trong các điều răn thứ tư, thứ năm, và thứ mười. Tương tự như vậy khi Đức Chúa Jesus Christ và các sứ đồ trích dẫn Cựu Ước.

Thí dụ: Ê-sai 40:3 chép: "Có tiếng kêu rằng: Hãy mở đường trong đồng vắng cho Đức Giê-hô-va; hãy ban bằng đường cái trong đất hoang cho Thiên Chúa chúng ta!" Nhưng khi Sứ Đồ Ma-thi-ơ trích dẫn và ghi lại trong Ma-thi-ơ 3:3 thì các từ ngữ có hơi khác một chút nhưng ý nghĩa thì không thay đổi: "Ấy là về Giăng Báp-tít mà đấng tiên tri Ê-sai đã báo trước rằng: Có tiếng kêu trong đồng vắng: Hãy dọn đường Chúa, Ban bằng các nẻo Ngài". Cả Ê-sai 40:3 và Ma-thi-ơ 3:3 đều là Lời của Đức Chúa Trời.

Nói cách khác, lần thứ nhất Lời của Đức Chúa Trời được ghi chép cách trung thực trong Thánh Kinh, sau đó, Đức Thánh Linh thần cảm các tôi tớ Chúa nhắc lại và thêm lời diễn giải để làm cho lời đó được dễ hiểu hơn; những lần nhắc lại và diễn giải đó vẫn là Lời của Đức Chúa Trời. Vì thế, lời nguyên thỉ trong Cựu Ước hay là lời được trích dẫn trong Tân Ước cũng đều là Lời của Đức Chúa Trời phán dạy về cùng một sự việc với các từ ngữ khác nhau.

Chúng ta sẽ cùng nhau học hỏi điều răn thứ mười như được ghi chép trong Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:21 là câu có thêm chi tiết so với Xuất Ê-díp-tô Ký 20:17.

Sự Ham Muốn

Điều răn thứ mười bắt đầu bằng mệnh đề: "Ngươi chớ ham muốn!" (Bản Truyền Thống dịch là "Ngươi chớ tham" là dịch theo lối diễn ý). Chữ "ham muốn" trong nguyên ngữ của Thánh Kinh là "châmad," H2530, /khaw-mad'/, là một động từ gốc, có nghĩa là: ưa thích, vui vẻ trong những những sự xinh đẹp, dễ yêu, tôn quý. Nếu dịch cho chính xác sang tiếng Việt thì có thể dịch là "ưa thích," "ham muốn" hoặc "khao khát." Ham muốn hoặc khao khát tự mình nó không sai vì Thiên Chúa dựng nên chúng ta với bản tính biết ham muốn. Thi Thiên 19:9, 10 ghi rằng: "Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là trong sạch, hằng còn đến đời đời; các mạng lịnh của Đức Giê-hô-va là chân thật, thảy đều công bình cả. Các điều ấy đáng chuộng hơn vàng, thật hơn vàng ròng; lại ngọt hơn mật, hơn nước ngọt của tàng ong;" từ ngữ "đáng chuộng" trong nguyên ngữ của Thánh Kinh chính là động từ "châmad" thể thụ động, có thể dịch là: "đáng ưa chuộng," "đáng ham muốn," "đáng khao khát." Nếu chúng ta không có bản tính ham muốn thì chúng ta sẽ không biết ham muốn Chúa và Lời Chúa, không biết ham muốn những sự công bình và thánh sạch, không biết ham muốn nếp sống phước hạnh và đẹp lòng Chúa.

Điều răn thứ mười không cấm chúng ta ham muốn nhưng cấm chúng ta ham muốn những gì thuộc về người khác. Điều răn thứ mười không nhắc lại sự cấm ngoại tình và cấm trộm cắp trong điều răn thứ bảy và thứ tám nhưng cấm chúng ta hình thành những ý tưởng ham muốn sai trái dẫn đến tội ngoại tình, tội trộm cắp và đủ các thứ tội khác.

Hậu Quả của Sự Ham Muốn Sai Trái

Sự ham muốn mà thiếu lòng kính sợ Chúa sẽ biến thành lòng tham và khiến cho chúng ta vi phạm các điều răn của khác của Chúa. Chúng ta hãy xét đến sự ham muốn sai trái của bà Ê-va. Sáng Thế Ký 2:15-17 chép như sau:

15 Giê-hô-va Thiên Chúa đem người ở vào cảnh vườn Ê-đen để trồng và giữ vườn.

16 Rồi, Giê-hô-va Thiên Chúa phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn;

17 nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết.

Sáng Thế Ký 3:1-8 chép như sau:

1 Vả, trong các loài thú đồng mà Giê-hô-va Thiên Chúa đã làm nên, có con rắn là giống quỷ quyệt hơn hết. Rắn nói cùng người nữ rằng: Mà chi! Thiên Chúa há có phán dặn các ngươi không được phép ăn trái các cây trong vườn sao?

2 Người nữ đáp rằng: Chúng ta được ăn trái các cây trong vườn,

3 song về phần trái của cây mọc giữa vườn, Thiên Chúa có phán rằng: Hai ngươi chẳng nên ăn đến và cũng chẳng nên đá-động đến, e khi hai ngươi phải chết chăng.

4 Rắn bèn nói với người nữ rằng: Hai ngươi chẳng chết đâu;

5 nhưng Thiên Chúa biết rằng hễ ngày nào hai ngươi ăn trái cây đó, mắt mình mở ra, sẽ như Thiên Chúa, biết điều thiện và điều ác.

6 Người nữ thấy trái của cây đó bộ ăn ngon, lại đẹp mắt và quý vì để mở trí khôn, bèn hái ăn, rồi trao cho chồng đứng gần mình, chồng cũng ăn nữa.

7 Đoạn, mắt hai người đều mở ra, biết rằng mình lỏa lồ, bèn lấy lá cây vả đóng khố che thân.

8 Lối chiều, nghe tiếng Giê-hô-va Thiên Chúa đi ngang qua vườn, A-đam và vợ ẩn mình giữa bụi cây, để tránh mặt Giê-hô-va Thiên Chúa.

Điều trước hết chúng ta nhận thức qua câu chuyện kể trên, đó là: bà Ê-va đã không vâng lời Chúa, làm điều Chúa cấm làm. (Ở đây chúng ta sẽ không bàn đến ý nghĩa của cây biết điều thiện và điều ác. Quý bạn đọc có thể nghe ba bài giảng về cây biết điều thiện và điều ác tại đây: http://timhieutinlanh.net/node/622). Mỗi một lần không vâng lời Chúa có thể khiến cho chúng ta phạm nhiều tội khác nhau. Trong cùng một hành động bẻ trái của cây biết điều thiện và điều ác để ăn và đưa cho chồng ăn, bà Ê-va đã phạm các tội sau đây:

1. Ham muốn một điều không thuộc về mình (vi phạm điều răn thứ mười).

2. Thay thế địa vị của Thiên Chúa trong lòng mình bằng sự ham muốn, biến lòng ham muốn thành một thần khác, vâng theo sự ham muốn hơn là vâng theo Thiên Chúa (vi phạm điều răn thứ nhất).

3. Thờ lạy thần tượng (vi phạm điều răn thứ nhì) vì Thánh Kinh gọi những sự ham muốn sai trái là tham lam và gọi tham lam tức là thờ thần tượng (Ê-phêsô 5:5; Cô-lô-se 3:5).

4. Không tôn kính cha mẹ (vi phạm điều răn thứ năm). Lu-ca 3:38 cho chúng ta biết "A-đam con Đức Chúa Trời," cho nên, bà Ê-va vừa phạm tội không tôn kính Thiên Chúa vừa phạm tội không tôn kính cha mẹ.

5. Trộm cắp (vi phạm điều răn thứ tám).

6. Giết người, giết chính bà và giết chồng bà là A-đam (vi phạm điều răn thứ sáu).

7. Cám dỗ và khiến cho người khác phạm tội (Lu-ca 17:1).

Lòng ham muốn sai trái của bà Ê-va đã dẫn đến hậu quả là sự đau khổ và sự chết cho toàn thể loài người.

Ý Nghĩa của Điều Răn Thứ Mười

Điều răn thứ mười dạy cho chúng ta biết nguồn gốc của mọi tội lỗi phát sinh từ những sự ham muốn bất chính trong lòng của chúng ta. Khoảng 4,300 năm trước, Thiên Chúa đã phán về tấm lòng của loài người như sau: "Đức Giê-hô-va thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn" (Sáng Thế Ký 6:5). Khoảng 2,600 năm trước, Thiên Chúa lại phán: "Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được" (Giê-rê-mi 17:9)? Khoảng 2,000 năm trước, Đức Chúa Jesus Christ phán: "Vì thật là tự trong, tự lòng người mà ra những ác tưởng, sự dâm dục, trộm cướp, giết người, tà dâm, tham lam, hung ác, gian dối, hoang đàng, con mắt ganh đố, lộng ngôn, kiêu ngạo, điên cuồng. Hết thảy những điều xấu ấy ra từ trong lòng thì làm cho dơ dáy người" (Mác 7:21-23). Chúng ta để ý đến sự kiện Đức Chúa Jesus đặt từ ngữ "những ác tưởng," tức là những tư tưởng ác, những ý nghĩ tội lỗi đứng đầu các hành vi tội lỗi, bởi vì, từ các ác tưởng mà sinh ra các việc ác. Gia-cơ 1:14, 15 giải thích tiến trình dẫn đến sự phạm tội và hậu quả của sự phạm tội như sau:

"Nhưng mỗi người bị cám dỗ khi mắc tư dục xui giục mình. Đoạn, lòng tư dục cưu mang, sanh ra tội ác; tội ác đã trọn, sanh ra sự chết."

Tư dục là những ham muốn sai trái, nghịch lại điều răn và luật pháp của Thiên Chúa. Điều răn thứ mười nêu lên sáu phương diện mà chúng ta có thể ham muốn bất chính dẫn đến sự phạm tội.

1. Phương diện thứ nhất: Ham muốn chồng hoặc vợ của người khác. Trước hết, chúng ta cần phải hiểu rằng mệnh lệnh "Ngươi chớ ham muốn vợ của kẻ lân cận mình"không có nghĩa điều răn thứ mười chỉ dành riêng cho đàn ông. Toàn bộ Mười Điều Răn được Thiên Chúa phán truyền cho mọi dân tộc qua dân tộc I-sơ-ra-ên và lúc bất giờ, những người đàn ông là gia trưởng của mỗi nhà, đại diện cho gia đình của mình (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:15), trực tiếp nghe nhận các điều răn của Thiên Chúa. Vì thế, điều răn thứ mười cũng như chín điều răn trước đó là dành chung cho tất cả mọi người. Khi điều răn thứ mười áp dụng cho một người đàn ông thì là: "Ngươi chớ ham muốn vợ của kẻ lân cận mình," còn khi áp dụng cho một người đàn bà thì là: "Ngươi chớ ham muốn chồng của kẻ lân cận mình." Thật ra, đối với một xã hội sa lầy trong tội đồng tính luyến ái thì một người đàn bà vẫn có thể phạm tội ham muốn vợ của người khác và một người đàn ông cũng có thể phạm tội ham muốn chồng của người khác.

Nền tảng của điều răn thứ mười là Thiên Chúa nghiêm cấm chúng ta có lòng ham muốn sai trái bất cứ những gì không thuộc về chúng ta, và Ngài nêu lên một số chi tiết điển hình, như ham muốn: vợ, nhà, ruộng, tôi trai tớ gái, bò, lừa… của người lân cận. Nếu có ai cho rằng điều răn thứ mười không cấm việc đàn bà ham muốn chồng của người khác thì họ đã không hiểu mệnh đề cuối cùng của điều răn này: "hay là điều chi thuộc về kẻ lân cận ngươi." Từ ngữ "điều chi" bao gồm tất cả những gì đã được liệt kê trước đó và tất cả những gì không được liệt kê; nghĩa là: hễ người nào, vật nào, việc nào, sự nào thuộc về của người khác thì chúng ta không được ham muốn.

Sự ham muốn chồng hay vợ của người khác không nhất thiết có liên quan đến tình dục hay sắc đẹp. Chúng ta có thể ham muốn một người vì cá tính, vì học thức, vì địa vị hoặc vì nếp sống đạo của người ấy. Chúng ta cũng cần phân biệt sự quý mến hoặc tôn kính với sự ham muốn bất chính. Sự ham muốn bất chính là ý muốn chiếm đoạt chồng hay vợ của người khác về cho chính mình trong khi sự quý mến hoặc tôn kính phát xuất từ tình yêu chân thật trong Chúa.

2. Phương diện thứ nhì: Ham muốn gia đình của người khác. Từ ngữ "nhà" được dùng trong điều răn thứ mười có nghĩa hẹp là nơi cư trú nhưng có nghĩa rộng là gia đình. Vì thế, chẳng những chúng ta không được ham muốn nhà ở của người khác mà chúng ta cũng không được ham muốn những gì thuộc về gia đình của người khác. Những gì thuộc về một gia đình bao gồm cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em, nhà ở và mọi vật dụng trong gia đình.

3. Phương diện thứ ba: Ham muốn phương tiện sinh sống của người khác. Trong Xuất Ê-díp-tô Ký 20:17 không đề cập đến "ruộng" nhưng gần 40 năm sau, khi Môi-se lập lại điều răn thứ mười và ghi chép trong Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:21 thì ông đã thêm từ ngữ "ruộng." Như trên đã giải thích, không phải Môi-se tự ý thêm vào Lời của Chúa nhưng ông trích dẫn Lời Chúa và diễn giải theo sự thần cảm của Đức Thánh Linh, vì thế, Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:21 cũng là Lời Chúa. Khi Thiên Chúa phán truyền Mười Điều Răn trên núi Si-na-i thì dân I-sơ-ra-ên mới bắt đầu hành trình vào đất hứa Ca-na-an; khi đó, chưa người nào sở hữu ruộng đất. Gần 40 năm sau, dân I-sơ-ra-ên chuẩn bị tiến vào đất hứa và sẽ được phân chia đất ruộng, cho nên, Đức Thánh Linh đã thần cảm cho Môi-se thêm danh từ "ruộng" vào điều răn thứ mười để giúp dân I-sơ-ra-ên hiểu rõ sự Thiên Chúa ngăn cấm. Vì ruộng đất là nền tảng cho việc chăn nuôi và trồng trọt, đem lại sự sống cho loài người, cho nên, danh từ "ruộng" trong điều răn thứ mười tiêu biểu cho tất cả những gì liên quan đến nghề nghiệp và phương tiện sinh sống.

4. Phương diện thứ tư: Ham muốn nhân lực của người khác. Danh từ "tôi trai tớ gái" có thể dùng để chỉ những nô lệ được chủ bỏ tiền ra mua về (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:44) mà cũng có thể dùng để chỉ những người được thuê mướn làm việc (I Các Vua 5:6). Vì thế, điều răn thứ mười cấm chúng ta ham muốn nhân lực của người khác.

5. Phương diện thứ năm: Ham muốn tài sản của người khác. Bò và lừa tiêu biểu cho tài sản, vật lực, cho nên, điều răn thứ mười cấm chúng ta ham muốn tài sản, vật lực của người khác chứ không chỉ riêng bò và lừa.

6. Phương diện thứ sáu: Ham muốn bất cứ điều chi thuộc về người khác. Năm phương diện được liệt kê trên đây là những điều cụ thể mà chúng ta đối diện thường ngày trong cuộc sống, được Thiên Chúa nêu ra để làm thí dụ. Điều răn thứ mười không giới hạn sự ham muốn bất chính những điều thuộc về người khác trong năm phương diện đó, mà bao gồm tất cả những gì thuộc về người khác. Nói cách khác, điều răn thứ mười có thể được rút gọn như sau: "Ngươi chớ ham muốn điều chi thuộc về kẻ lân cận ngươi."

Phương Cách Đắc Thắng Lòng Ham Muốn Bất Chính

Chúng ta không thể dùng sức riêng để chiến thắng lòng ham muốn bất chính. Thánh Kinh dạy rằng chúng ta phải nhờ quyền năng của Đức Chúa Trời để đánh đổ mọi lý luận, mọi sự tự cao nghịch lại lẽ thật của Lời Chúa và nhờ đó mà khiến cho các ý tưởng của mình vâng phục Đấng Christ như những kẻ nô lệ vâng phục chủ:

"Vì chúng tôi dầu sống trong xác thịt, chớ chẳng tranh chiến theo xác thịt. Vả, những khí giới mà chúng tôi dùng để chiến tranh là không phải thuộc về xác thịt đâu, bèn là bởi quyền năng của Đức Chúa Trời, có sức mạnh để đạp đổ các đồn lũy: nhờ khí giới đó chúng tôi đánh đổ các lý luận, mọi sự tự cao nổi lên nghịch cùng sự hiểu biết Đức Chúa Trời, và bắt hết các ý tưởng làm tôi vâng phục Đấng Christ" (II Cô-rinh-tô 10:3-5)

Chỉ khi nào trong chúng ta không còn những lý luận nghịch lại Lời Chúa, không còn dựa vào sự khôn ngoan tri thức của thế gian, và hoàn toàn để cho Đấng Christ làm chủ mọi suy tưởng của chúng ta thì chúng ta mới có thể thực hành được lời Chúa dạy trong Phi-líp 4:8:

"Rốt lại, hỡi anh em, phàm điều chi chơn thật, điều chi đáng tôn, điều chi công bình, điều chi thánh sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhân đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến."

Kết Luận

Lòng ham muốn sai trái khiến cho chúng ta không thỏa lòng trong cuộc sống, nó khiến cho chúng ta không biết hưởng thụ những gì Chúa đã ban cho chúng ta mà cứ miệt mài theo đuổi những gì thuộc về người khác. Lòng ham muốn sai trái khiến cho chúng ta không thỏa lòng về người khác, nó khiến cho chúng ta đầy lòng ganh tỵ với những người chung quanh khi họ sở hữu những điều mà chúng ta ham muốn. Trên hết, lòng ham muốn sai trái khiến cho chúng ta không thỏa lòng với Chúa, nó khiến cho chúng ta không biết cảm tạ những điều Chúa đã ban cho chúng ta và oán trách Chúa những gì chúng ta ham muốn mà không có được.

Bí quyết để chúng ta thắng được lòng ham muốn sai trái là sự vững tin vào Lời Chúa, nương cậy nơi sức toàn năng của Ngài, và thỏa lòng trong mọi cảnh ngộ của đời sống mà Chúa cho phép xảy ra cho chúng ta. Câu chuyện của ông Gióp được ghi lại trong sách Gióp là bài học tuyệt vời cho chúng ta về đức tin nơi Chúa và thái độ sống Đạo. Chúng ta hãy ghi nhớ những lời sau đây:

"Vả, sự tin kính cùng sự thỏa lòng ấy là một lợi lớn. Vì chúng ta ra đời chẳng đem gì theo, chúng ta qua đời cũng chẳng đem gì đi được. Như vậy, miễn là đủ ăn đủ mặc thì phải thỏa lòng; Còn như kẻ muốn nên giàu có, ắt sa vào sự cám dỗ, mắc bẫy dò, ngã trong nhiều sự tham muốn vô lý thiệt hại kia, là sự làm đắm người ta vào sự hủy diệt hư mất. Bởi chưng sự tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác, có kẻ vì đeo đuổi nó mà bội đạo, chuốc lấy nhiều điều đau đớn"(I Ti-mô-thê 6:6-10).

"Chớ tham tiền; hãy lấy điều mình có làm đủ rồi, vì chính Ngài phán rằng: Ta sẽ chẳng lìa ngươi đâu, chẳng bỏ ngươi đâu"(Hê-bơ-rơ 13:5).

Nguyện ân điển và bình an từ Thiên Chúa Hằng Sống bao phủ chúng ta trong mọi nơi, mọi lúc. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
26.05.2012

Share This:

4,411 views

Ngươi Chớ Nói Chứng Dối

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Ghi Chú: Bấm vào các từ ngữ Hê-bơ-rơ hoặc Hy-lạp để nghe phát âm. Bấm vào các mã số Strong (bắt đầu bằng H hoặc G) để xem định nghĩa trong tiếng Anh.

Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Bạn đọc có thể truy cập trực tiếp trên mạng tại đây: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này
Bấm vào đây để nghe và download mp3 bài này

"Ngươi chớ nói chứng dối cho kẻ lân cận mình."
(Xuất Ê-díp-tô Ký 20:16 – Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:20)

Dẫn Nhập

Tội nói dối có lẽ là tội có nhiều người phạm nhất với số lần phạm cũng nhiều nhất. Tội nói dối cũng xưa như lịch sử của loài người. Thánh Kinh cho chúng ta biết, loài người đã đi vào bất hạnh ngay từ buổi đầu sáng thế bởi một lời nói dối của Sa-tan. Điều răn thứ chín cấm loài người nói chứng dối cho kẻ lân cận mình, không phải chỉ cấm việc nói dối khi làm chứng về người khác trong một phiên tòa, mà là áp dụng cho mỗi lời nói của chúng ta về người khác trong mọi nơi, mọi lúc. Khi chúng ta nói về một người nào đó, dù là nói trong tòa án hay ngoài tòa án, là chúng ta làm chứng về người ấy; vì thế, nếu chúng ta nói một điều gì không thật về người ấy là chúng ta đã nói chứng dối cho người ấy.

Sự nói chứng dối có thể là vì ác ý, muốn làm hại hoặc trả thù người khác, có thể là vì thiện ý muốn bảo vệ hoặc tôn cao người khác, và cũng có thể là vì không biết rõ sự thật. Trước khi đi vào chi tiết của sự nói chứng dối chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa các từ ngữ được dùng trong điều răn thứ chín.

Kẻ Lân Cận Mình

Trong nguyên ngữ của Thánh Kinh từ ngữ "kẻ lân cận mình" bao gồm những ai thân thuộc, quen biết hoặc có mối tương quan xã hội nào đó với chúng ta: là cha mẹ, là vợ chồng, là người yêu, là anh chị em, là bạn bè, là người hàng xóm, là người cộng sự, hoặc là người cùng quốc tịch. Từ ngữ này còn có một ý bao quát là "người khác," tức là bất cứ ai ngoài chính mình. Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, Thiên Chúa cấm chúng ta nói chứng dối về người khác. Dĩ nhiên, điều răn thứ chín không hàm ý là chúng ta có thể nói chứng dối về chính mình. Trong Lê-vi ký 6:1-7, Thiên Chúa cấm sự nói dối và thề dối. Trong Lê-vi Ký 19:11, Thiên Chúa cấm sự nói dối và lường gạt: "Các ngươi chớ trộm cắp, chớ nói dối, và chớ lừa đảo nhau."

Nói Chứng Dối

Từ ngữ "nói" được dùng trong điều răn thứ chín không phải là động từ "nói" thông thường mà là một từ ngữ biến thể từ một động từ gốc, có nghĩa là "nhìn chăm chú," với nghĩa rộng là "thuật lại điều đã thấy và biết." Những lời được thuật lại đó được gọi là "lời chứng." Như vậy, "nói chứng dối" có nghĩa là thuật lại không đúng sự thật những gì mình đã thấy và biết.

Cố Ý Nói Chứng Dối

Như đã trình bày trên đây, chúng ta có thể cố ý hoặc vô ý mà nói chứng dối. Trong trường hợp cố ý nói chứng dối thì có ba lý do:

1. Cố ý nói chứng dối để hãm hại hoặc trả thù người khác. Người phạm tội này có mục đích muốn làm hại người khác và cũng có thể tự mình tạo ra chứng cớ giả để khiến cho lời chứng dối của mình được xem là thật.

2. Cố ý nói chứng dối để tôn cao hoặc lấy lòng người khác. Đây là thói quen của những người ưa xu nịnh.

3. Cố ý nói chứng dối để tự bảo vệ hoặc thủ lợi cho mình. Người phạm tội này có thể là vì muốn trốn trách trách nhiệm về một việc làm sai trái nào đó của mình mà đổ tội của mình cho người khác hoặc không muốn bí mật của mình bị tiết lộ. Người phạm tội này cũng có thể là vì được mua chuộc để làm chứng dối cho ai đó hoặc vì sự nói chứng dối về một điều gì đó đem lại quyền lợi cho mình.

Vô Ý Nói Chứng Dối

Trường hợp vô ý nói chứng dối xảy ra khi chúng ta quan sát không kỷ hoặc nhớ không hết các dữ kiện hoặc hiểu không đúng sự kiện mà mình chứng kiến. Sự biểu diễn của các nhà ảo thuật điển hình cho sự kiện khả năng quan sát của loài người rất có giới hạn. Nếu một nhân chứng được hỏi rằng, anh ta có thấy nhà ảo thuật đưa tay ra khoảng không trước mặt thì lập tức một bông hồng xuất hiện trên tay của ông ta hay không, thì nhân chứng buộc phải nói là có thấy. Tuy nhiên, chúng ta biết đó không phải là sự thật. Ngoài ra, còn có trường hợp nhân chứng không thấy hoặc không biết hết diễn tiến của một sự kiện, cho nên, lời làm chứng không hoàn toàn đúng sự thật. Tục ngữ có câu: "Một nửa ổ bánh mì vẫn là bánh mì nhưng một nửa sự thật không còn là sự thật," mà chúng ta có thể dùng để nói lên tính cách nghiêm trọng của sự làm chứng. Chúng ta hãy xét qua các thí dụ dưới đây:

1. Một người bị bệnh mù màu không thể làm chứng một cách trung thực về những điều liên quan đến màu sắc. Thủ phạm có thể mặc áo màu đỏ khi gây án nhưng người chứng lại nói là thủ phạm mặc áo màu xám.

2. Một người giúp thổi bụi trong mắt của người khác có thể bị nhìn thấy là đang hôn người khác.

3. Trong các loại thuốc trị bệnh chúng ta thường thấy có những loại thuốc mà khi uống vào có thể làm cho người ta buồn ngủ. Nếu chúng ta giới thiệu công dụng chữa bệnh của thuốc mà không nói đến tác động phụ làm buồn ngủ của thuốc thì chúng ta chỉ mới nói một nửa sự thật. Điều đó có thể khiến gây ra tai nạn chết người nếu bệnh nhân uống thuốc và ngủ gục trong khi lái xe. Cho dù chúng ta vô ý không nói đến tác động phụ của thuốc nhưng sự vô ý đó vẫn có thể đem lại hậu quả làm thiệt hại người khác.

Nói Chứng Dối về Chính Mình

Chúng ta sẽ mang tội nói chứng dối về chính mình khi chúng ta nói về mình một cách không trung thực. Sự nói chứng dối về chính mình có thể là kết quả của sự khoác lác và kiêu ngạo. Khoác lác là nói dối khiến cho người ta tin cậy mình hoặc tôn trọng mình. Kiêu ngạo là thổi phồng một lẽ thật, tức là nói dối dựa trên một lẽ thật, khiến cho người ta tin cậy mình hoặc tôn trọng mình. Sự nói chứng dối về chính mình cũng có thể là nhằm để tự bảo vệ hoặc thủ lợi cho mình. Con dân Chúa dựa vào sức toàn năng của Chúa bảo vệ mình và không hề thủ lợi mà chỉ vui nhận sự ban cho từ nơi Chúa.

Trên phương diện thuộc linh, một người phạm tội nói chứng dối về chính mình khi xưng nhận mình là con dân của Thiên Chúa mà không sống đúng theo Lời Chúa:

"Ví bằng chúng ta nói mình được giao thông với Ngài, mà còn đi trong sự tối tăm, ấy là chúng ta nói dối và không làm theo lẽ thật" (I Giăng 1:6).

"Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ các điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người" (I Giăng 2:4).

"Vì có ai nói rằng: Ta yêu Đức Chúa Trời, mà lại ghét anh em mình, thì là kẻ nói dối; vì kẻ nào chẳng yêu anh em mình thấy, thì không thể yêu Đức Chúa Trời mình chẳng thấy được" (I Giăng 4:20).

Nói Chứng Dối về Chúa

Chúng ta sẽ mang tội nói chứng dối về Chúa khi chúng ta "làm chứng" hoặc thuật lại những điều không có thật về Chúa.

Thông thường người ta hay nói: "Chúa phán với tôi" như thế này, "Chúa phán với tôi" như thế nọ, nhưng thật ra, đó chỉ là những ý tưởng của chính họ chứ không phải là lời phán của Chúa. Một người vẫn còn sống theo những sự ưa muốn của xác thịt, chưa chịu vâng theo các điều răn của Chúa thì không thể nghe được Chúa phán điều gì khác hơn là "Hãy ăn năn!" Ngoài ra, cũng có thể họ nghe tiếng nói của Ma Quỷ mạo làm tiếng Chúa. Con dân chân thật của Chúa, là những người thật lòng ăn năn tội, hoàn toàn tin cậy nơi sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ, và sống theo Lời Chúa, thì không bị tiếng nói của xác thịt hoặc tiếng nói của Ma Quỷ dẫn dụ. Con dân chân thật của Chúa được nghe sự phán dạy của Chúa mỗi ngày trong cuộc sống qua Lời của Chúa là Thánh Kinh và mỗi mệnh lệnh riêng tư của Chúa phán trong tâm trí họ cũng đều dựa trên các lẽ thật của Thánh Kinh.

Nhiều người có thói quen nói chứng dối về Chúa với mục đích muốn tôn cao Chúa. Tuy nhiên, Thiên Chúa không cần những lời dối trá của loài người để được vinh hiển. Trái lại, những lời nói chứng dối về Thiên Chúa làm xúc phạm Ngài. Người ta cũng có thể nói chứng dối về Chúa để tỏ ra rằng mình được Thiên Chúa ban ơn cách đặc biệt. Những lời nói chứng dối về Thiên Chúa cũng có thể dựa trên một số chi tiết có thật nhưng được thổi phồng lên.

Đặc biệt, trong công tác rao giảng Tin Lành, chúng ta sẽ phạm tội nói chứng dối về Chúa khi chúng ta chỉ nói đến các phước hạnh về sự tin Chúa mà không nói đến cái giá phải trả khi đi theo Chúa. Chúng ta cần ghi nhớ: "Một nửa ổ bánh mì vẫn là bánh mì nhưng một nửa sự thật không còn là sự thật." Chúa không bao giờ hứa sự giàu có hoặc sức khỏe cho những ai theo Chúa, cho nên, chúng ta sẽ phạm tội nói chứng dối về Chúa khi chúng ta kêu gọi người ta tin Chúa để được được thoát nghèo hoặc được chữa lành bệnh tật.  Mục đích của sự tin Chúa là để được cứu rỗi ra khỏi quyền lực và hậu quả của tội lỗi, để không bị hư mất đời đời trong hỏa ngục mà được vui sống đời đời trong Chúa; còn sự được thoát nghèo hoặc được chữa lành bệnh tật là tùy thuộc nơi ý muốn của Chúa dành cho từng cá nhân.

Có lẽ tội nói chứng dối về Chúa nghiêm trọng nhất là nếp sống không đúng với Lời Chúa của chúng ta. Chúng ta nói đến sự đổi mới, nói đến quyền phép của Thiên Chúa, nói đến tình yêu trong Chúa, nói đến sự thánh khiết, công bình trong Chúa… nhưng nếu đời sống chúng ta nghịch lại những tiêu chuẩn yêu thương, thánh khiết, và công chính của Chúa, vi phạm các điều răn của Ngài, thì chúng ta đã nói chứng dối về Ngài; bởi vì, nếp sống của chúng ta khiến cho người ta kết luận là Chúa không có quyền năng thay đổi chúng ta!

Kết Luận

Nói chứng dối tức là nói dối. Đức Chúa Jesus gọi Ma Quỷ là cha của sự nói dối (Giăng 8:44), vì thế, tất cả mọi lời nói dối đều ra từ Ma Quỷ, dù là một lời nói dối mà chúng ta cho rằng không gây hại cho ai hoặc nhằm an ủi người khác; và những ai ưa thích nói dối thì người đó là con cái của Ma Quỷ. Thật ra, không có một lời nói dối nào mà không gây hại cho ai. Bất cứ lời nói dối nào cũng trước hết là vi phạm tiêu chuẩn thánh khiết của Thiên Chúa. Thiên Chúa là lẽ thật cho nên một lời nói không thật là sự xúc phạm đến phẩm chất của Thiên Chúa. Con dân Chúa không thể dùng lời nói dối để mua vui hoặc an ủi người khác. Thánh Kinh dạy: "Chớ nói lời tục tỉu, chớ giễu cợt, chớ giả ngộ tầm phào, là những điều không đáng, những thà cảm tạ ơn Chúa thì hơn" (Ê-phê-sô 5:4). Tất cả những lời nói dối đều là những lời dữ vì vi phạm luật pháp của Thiên Chúa. Thánh Kinh dạy: "Chớ có một lời dữ nào ra từ miệng anh em; nhưng khi đáng nói hãy nói một vài lời lành giúp ơn cho và có ích lợi cho kẻ nghe đến" (Ê-phê-sô 4:29).

Thánh Kinh lên án những kẻ nói dối và hình phạt của kẻ nói dối mà không ăn năn là hư mất đời đời trong hỏa ngục (Khải Huyền 21:8). Thánh Kinh cũng dạy con dân Chúa phải từ bỏ sự nói dối: "Như vậy, mỗi người trong anh em phải chừa sự nói dối, hãy nói thật với kẻ lân cận mình, vì chúng ta làm chi thể cho nhau" (Ê-phê-sô 4:25). "Chớ nói dối nhau, vì đã lột bỏ người cũ cùng công việc nó" (Cô-lô-se 3:9).

Là con dân Chúa, chúng ta đã được Thiên Chúa "định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài" (Rô-ma 8:29), đã được Đức Thánh Linh tái sinh thành người mới "tức là người đã được dựng nên giống như Thiên Chúa, trong sự công bình và sự thánh sạch của lẽ thật" (Ê-phê-sô 4:24); vì thế, chúng ta phải nhờ ơn Chúa để sống một nếp sống sao cho trong miệng của chúng ta "không thấy có chút chi dối trá" như Đức Chúa Jesus Christ yêu dấu của chúng ta (I Phi-e-rơ 2:22); và trong ngày chúng ta vào trong cõi đời đời thì được xác chứng rằng trong miệng chúng ta "chẳng có lời nói dối nào hết" (Khải Huyền 14:5).

Những ai phạm tội nói chứng dối và nói dối hãy đến với Chúa, ăn năn tội và xưng tội với Ngài, để được Ngài tha tội và làm cho sạch mọi điều gian ác (I Giăng 1:9). Chúng ta hãy cầu xin Chúa đem mọi sự dối trá ra khỏi chúng ta và gìn giữ chúng ta không vô ý phạm tội nói chứng dối và nói dối.

Nguyện Đức Thánh Linh, Thần Lẽ Thật, giúp chúng ta hiểu biết và sống đúng theo Lời Chúa mỗi ngày. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
19.05.2012

Ghi Chú

1.Lời tục tỉu, (aischrotēs), G151, /ahee-skhrot'-ace/: Những lời thô tục, dâm dật.

2. Giễu cợt, (mōrologia), G3473, /mo-rol-og-ee'-ah/: Những lời chọc cười không đem lại bổ ích hay gây dựng; nói như là một người thiếu hiểu biết; điển hình là các "danh hài" Việt Nam ngày nay.

3. Giả ngộ tầm phào, (eutrapelia), G2160, /yoo-trap-el-ee'-ah/: Những lời tục tỉu được trá hình dưới hình thức một lời hai ý kiểu "đố tục giảng thanh" hoặc "đố thanh giảng tục;" điển hình là thơ của bà Hồ Xuân Hương.

Nhiều "mục sư" Việt Nam ngày nay đã đưa sự "giễu cợt" và "giả ngộ tầm phào" vào trong bài giảng, biến chức vụ "cho chiên ăn" thành "hề thuộc linh."

Con dân Chúa không nên xem các hài kịch mà trong đó "mười câu hết chín" các diễn viên kêu "Trời!"

Share This:

4,240 views

Ngươi Chớ Trộm Cắp

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Ghi Chú: Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài này
Bấm vào đây để nghe và download mp3

"Ngươi chớ trộm cắp."
(Xuất Ê-díp-tô Ký 20:15 – Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:19)

Dẫn Nhập

Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ của Thánh Kinh thì điều răn thứ tám là: "Ngươi chớ trộm cắp." Bản Dịch Truyền Thống dịch là: "Ngươi chớ trộm cướp" thì không được đúng ý, bởi vì "trộm cắp" khác với "trộm cướp." "Trộm cắp" là hành động lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác; gọi là "trộm" khi hành động chiếm đoạt xảy ra lúc chủ nhân ngủ mê hoặc vắng mặt; gọi là "cắp" khi chủ nhân có mặt nhưng lơ đễnh hoặc bị làm cho mất cảnh giác. Nếu công khai dùng sức mạnh hoặc đe dọa bằng vũ khí hay quyền thế để chiếm đoạt tài sản của người khác thì gọi là "cướp." Vậy, "trộm cắp" là từ ngữ gọi riêng các hành động lén lút còn "trộm cướp" là từ ngữ gọi chung các hành động lén lút lẫn công khai dùng sức mạnh hay thế lực để chiếm đoạt tài sản của người khác.

Khi nói rằng điều răn thứ tám cấm "trộm cắp" chứ không cấm "trộm cướp" là chúng ta muốn khẳng định sự phiên dịch trung thực Lời Chúa chứ không cho rằng trộm cướp thì không vi phạm luật của Chúa. Bởi vì, ngoài Mười Điều Răn còn có các luật lệ ra từ Mười Điều Răn, do Chúa ban hành, mà hai trong những luật lệ đó cấm đoán hành động cướp giựt: "chớ lường gạt kẻ lân cận ngươi, chớ cướp giựt người" (Lê-vi Ký 19:13) và "chớ cướp giựt kẻ nghèo" (Châm Ngôn 22:22).

Trộm Cắp

Điều cơ bản mà chúng ta cần phải ghi nhớ, đó là: "Lấy một vật gì không phải của mình mà không được sự đồng ý của người chủ là phạm tội trộm cắp." Hành động trộm cắp phát xuất từ lòng tham. Lòng tham là sự ưa thích một điều gì đó quá mức, như: tham ăn, tham tiền, tham danh tiếng… và cũng có thể là muốn chiếm lấy làm của riêng một điều gì đó không phải là của mình, là điều bị Chúa nghiêm cấm trong điều răn thứ mười. Vì tham ăn nên xảy ra hành động ăn vụng. Vì tham tiền nên xảy ra việc trộm cắp tiền bạc, của cải. Vì tham danh tiếng nên xảy ra việc đánh cắp công lao của người khác.

Không một ý muốn trộm cắp nào mà không bị lương tâm lên tiếng cáo trách. Thánh Kinh cho biết luật pháp của Đức Chúa Trời được ghi vào lương tâm của nhân loại: "Họ tỏ ra rằng việc mà luật pháp dạy biểu đã ghi trong lòng họ: chính lương tâm mình làm chứng cho luật pháp, còn ý tưởng mình khi thì cáo giác mình, khi thì binh vực mình" (Rô-ma 2:15). Tuy nhiên, bản chất tội lỗi khiến cho người ta dập tắt sự lên án của lương tâm để biến ý muốn trộm cắp thành hành động. Khi tiếng cáo trách của lương tâm đã bị dập tắt thì lương tâm trở nên chai lì (I Ti-mô-thê 4:2). Một lương tâm đã chai lì sẽ tạo ra tiêu chuẩn đạo đức riêng nghịch lại điều răn và luật pháp của Thiên Chúa. Thay vì lên án hành động trộm cắp, lương tâm chai lì sẽ lên án một người không thừa cơ trộm cắp là: ngu dại, hèn nhát, bỏ lỡ cơ hội… Khi lương tâm đã chai lì, người ta có thể phạm tội trộm cắp mỗi ngày mà không còn ý thức là mình phạm tội, lại tự cho là mình khôn ngoan, khéo léo!

Một vài thí dụ điển hình về sự trộm cắp mà lương tâm chai lì khiến người ta không còn ý thức đó là hành động trộm cắp: Một người lấy vài tờ giấy hay một cây bút chì của sở làm đem về nhà dùng cho việc cá nhân là một hành động trộm cắp tài sản; còn nếu dùng thời gian làm việc tại sở làm để đọc báo, xem Internet, gửi email, gọi điện thoại mà không liên quan đến công việc của sở làm thì đó là hành động trộm cắp thời gian. Người mua bán mà cân, đong, đo, đếm gian lận tức là phạm tội trộm cắp tiền bạc. Người làm thuê, làm mướn mà không hết lòng làm việc cũng là phạm tội trộm cắp tiền bạc. Chính vì thế mà Chúa truyền cho con dân Chúa: "Hỡi kẻ làm tôi tớ, trong mọi sự phải vâng phục kẻ làm chủ mình về phần xác, không những hầu việc trước mắt họ, như mình tìm cách cho đẹp lòng người ta, nhưng vì kính sợ Chúa, hãy lấy lòng thật thà mà hầu việc. Hễ làm việc gì, hãy hết lòng mà làm, như làm cho Chúa, chớ không phải làm cho người ta" (Cô-lô-se 3:22, 23).

Cũng có những hành động tự bản thân nó không phải là trộm cắp nhưng nếu chúng ta làm ra nó với ý thức là mình đang trộm cắp thì chúng ta đã biến nó thành hành động trộm cắp. Thí dụ: Anh A và anh B cùng thuê chung một mãnh đất để làm rẫy. Hai anh cùng trồng khoai mì. Một đêm kia, anh A lén ra rẫy để nhổ trộm khoai mì của anh B. Tuy nhiên, sáng hôm sau khi anh A ra rẫy thì mới khám phá ra rằng, đêm qua mình đã nhổ trộm chính khoai mì của mình. Mặc dù anh A nhổ khoai mì của mình nhưng đối với lương tâm thì anh A vẫn mang tội trộm cắp khoai mì của anh B; vì anh đã hành động như vậy trong ý muốn trộm cắp của người khác.

Lại có những hành động chiếm đoạt của cải người khác nhưng không bị xếp loại là trộm cắp hay trộm cướp khi hành động đó nhằm cứu người hay phục vụ cho lợi ích chung. Thí dụ: Trong trường hợp khẩn cấp cần phải đập vỡ cửa một căn nhà bỏ trống để lấy thực phẩm, thuốc men, phương tiện cứu người bị nạn.

Trộm Cướp của Thiên Chúa

Trong Ma-la-chi 3:8, Thiên Chúa hỏi con dân của Ngài một câu rất là mỉa mai: "Người ta có thể trộm cướp Thiên Chúa sao? mà các ngươi trộm cướp Ta. Các ngươi nói rằng: Chúng tôi trộm cướp Chúa ở đâu? Các ngươi đã trộm cướp trong các phần mười và trong các của dâng."

Bối cảnh của câu phán hỏi này là: Sau khi Vương Quốc Giu-đa bị Đế Quốc Ba-by-lôn chinh phục và bắt làm phu tù 70 năm thì Thiên Chúa đã cho họ được hồi hương để tái lập quốc, xây dựng lại đền thờ và thành Giê-ru-sa-lem. Bởi chiếu chỉ từ Vua Đa-ri-út của Đế Quốc Phe-rơ-sơ (Iran ngày nay) và dưới sự lãnh đạo của Xô-rô-ba-bên, sự tái thiết đền thờ được hoàn tất vào năm 516 TCN (E-xơ-ra 5). Đến năm 458 TCN, Vua Ạt-ta-xét-xe của Đế Quốc Phe-rơ-sơ ra chiếu chỉ cho E-xơ-ra trở về Giê-ru-sa-lem để tái lập các nghi thức thờ phượng trong đền thờ và dạy dân I-sơ-ra-ên vâng giữ các điều răn và luật pháp của Đức Giê-hô-va (E-xơ-ra 7). Mười ba năm sau, vào năm 445 TCN, Vua Ạt-ta-xét-xe lại một lần nữa ra chiếu chỉ cho Nê-hê-mi về lại Giê-ru-sa-lem để xây dựng lại các tường thành. Trong chức vụ thống đốc của Giê-ru-sa-lem, Nê-hê-mi đã bênh vực phúc lợi của người nghèo, khuyến khích dân sự ly dị vợ người ngoại, tôn kính ngày Sa-bát, trung tín dâng hiến của dâng phần mười và các của dâng khác (xem sách Nê-hê-mi).

Đến năm 433 TCN, Nê-hê-mi quay lại Phê-rơ-sơ để phục vụ Vua Ạt-ta-xét-xe. Trong thời gian Nê-hê-mi vắng mặt tại Giê-ru-sa-lem thì từ các thầy tế lễ cho đến dân chúng đều quay lại với nếp sống tội lỗi. Dân chúng thì bỏ qua sự dâng phần mười, gian dối trong việc dâng sinh tế, mua bán với dân ngoại trong ngày Sa-bát, và trở lại kết hôn với dân ngoại. Các thầy tế lễ thì tham nhũng, hối lộ, thất trách, dùng những sinh tế kém phẩm chất trong các cuộc tế lễ (Nê-hê-mi 13). Thiên Chúa đã dùng Tiên Tri Ma-la-chi để cáo trách, lên án và kêu gọi dân I-sơ-ra-ên ăn năn.

Từ ngữ "trộm cướp" được dùng trong Ma-la-chi vừa có nghĩa là lường gạt để chiếm đoạt của cải vừa có nghĩa là ngang nhiên cướp đoạt. Trong nghĩa lường gạt thì dân I-sơ-ra-ên đã dâng lên Chúa những con vật mù, què, tật bệnh thay vì dâng lên những con vật khỏe mạnh không tì vít, để khỏi phải tốn nhiều tiền; và như thế, họ đã lường gạt để trộm cướp Chúa. Các thầy tế lễ nhận của hối lộ từ dân chúng để tiếp nhận những con vật kém phẩm chất dâng làm làm của lễ, cho nên, họ cũng dự phần trong việc lường gạt, trộm cướp Chúa. Dân chúng không dâng phần mười và các của lễ vào đền thờ theo lệnh truyền của Chúa tức là đã ngang nhiên cướp đoạt tài sản thuộc về nhà Chúa. Các thầy tế lễ ăn hối lộ để bỏ qua việc sai phạm đó, cho nên, họ cũng dự phần trong việc ngang nhiên cướp đoạt tài sản trong nhà Chúa. Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng và biết hết mọi sự, thế mà con dân của Thiên Chúa dám lường gạt Ngài và ngang nhiên cướp đoạt các tài sản thuộc về đền thờ của Ngài để thủ lợi, thì quả là một điều mỉa mai!

Ngày nay, con dân Chúa cũng có thể phạm tội trộm cướp Chúa, thí dụ:

1. Chúng ta sẽ phạm tội trộm cướp thời gian của Chúa khi bỏ qua sự nhóm họp thờ phượng Chúa vào mỗi ngày Sa-bát, vì Chúa truyền cho con dân Chúa nhóm họp thờ phượng Chúa trong ngày Sa-bát. Chúng ta có thể tự ý nhóm họp thờ phượng Chúa bất kỳ lúc nào nhưng sự nhóm họp thờ phượng Chúa trong ngày Sa-bát là mệnh lệnh của Chúa mà chúng ta phải tuân theo: "Người ta làm việc trong sáu ngày, nhưng qua ngày thứ bảy là ngày Sa-bát, một ngày nghỉ, tức một sự nhóm hiệp thánh; đừng làm một công việc gì; ấy là Lễ Sa-bát của Đức Giê-hô-va trong những nơi các ngươi ở" (Lê-vi Ký 23:3).

2. Chúng ta sẽ phạm tội trộm cướp thời gian của Chúa khi dùng thời gian Chúa ban cho mình vào những việc Chúa không bảo chúng ta làm hoặc những sinh hoạt thường ngày trong cuộc sống nào không đem lại ích lợi, không làm gương tốt, và không làm vinh hiển danh Chúa.

3. Chúng ta sẽ phạm tội trộm cướp thời gian và tiền bạc của Chúa khi đóng góp thời gian và tiền bạc vào những tổ chức tôn giáo rao giảng và thực hành những điều không đúng với Thánh Kinh. Bất cứ tổ chức tôn giáo nào rao giảng và thực hành những điều không đúng với Thánh Kinh thì tổ chức đó là công cụ "cỏ lùng" của Sa-tan, được gieo vào trong thế gian, mạo danh Hội Thánh của Chúa để cạnh tranh với Hội Thánh, hòng làm suy yếu Hội Thánh, và lường gạt những người nhẹ dạ rồi khiến cho họ tin vào những giáo lý phản Thánh Kinh mà phạm tội nghịch cùng Chúa. Chúa đã phán về sự giả hình của những người đứng đầu các tổ chức tôn giáo mang danh Chúa, như sau: "Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đi khắp dưới nước trên bộ để khuyên một người vào đạo mình; và khi đã khuyên được rồi, thì các ngươi làm cho họ trở nên người địa ngục gấp hai các ngươi" (Ma-thi-ơ 23:15). Con dân Chúa có bổn phận mỗi ngày tra xem Thánh Kinh như tín đồ tại thành Bê-rê để xem mọi lời giảng dạy mình nghe có đúng với Thánh kinh hay không: "Những người nầy có ý hẳn hoi hơn người Tê-sa-lô-ni-ca, đều sẵn lòng chịu lấy Đạo, ngày nào cũng tra xem Thánh Kinh, để xét lời giảng có thật chăng" (Công Vụ Các Sứ Đồ 17:11). Chúa cũng truyền cho chúng ta phải nhìn trái để biết cây, nhìn vào nếp sống Đạo của một người để biết họ là con dân chân thật của Chúa, người giảng Đạo thật của Chúa hay họ chỉ là những kẻ giả hình (Ma-thi-ơ 7). Vì thế, mỗi người có trách nhiệm về chính mình trong sự nhận xét và phân biệt thật giả.

4. Chúng ta sẽ phạm tội trộm cướp tiền bạc của Chúa khi không "lấy trong hết thảy của cải mình mà chia cho người dạy Đạo" chomình(Ga-la-ti 6:6). Người dạy Đạo là người giảng dạy Lời Chúa cho mình khiến cho mình hiểu biết Lời Chúa và lớn lên trong đức tin. Người dạy Đạo do chính Chúa sai đến với mình hoặc đem mình đến với người đó, không phải là "mục sư" của các giáo hội. "Lấy trong hết thảy của cải mình" có nghĩa là không loại trừ một hình thức của cải nào, từ thức ăn, chỗ ở, phương tiện di chuyển, cho đến tiền bạc… "Chia cho người dạy đạo" có nghĩa là đáp ứng nhu cầu của người dạy Đạo. Nếu người dạy Đạo có nhu cầu ăn uống thì mình chia xẻ thức ăn, thức uống của mình cho người ấy. Nếu người dạy Đạo có nhu cầu di chuyển thì mình chia xẻ phương tiện di chuyển của mình hoặc chia xẻ tiền bạc dùng thuê mướn phương tiện cho người đó. Nếu người dạy Đạo cần chỗ trú ngụ thì mình chia xẻ nhà cửa mình cho người ấy. Nếu người dạy Đạo cần tiền bạc cho các chi phí trong cuộc sống thì mình chia xẻ tiền bạc của mình cho người ấy. "Lấy trong hết thảy của cải mình mà chia cho người dạy Đạo" không hề có nghĩa là phân chia tài sản của mình cho người dạy Đạo và cũng không cần thiết thi hành nếu người dạy Đạo đã đủ ăn, đủ mặc và có phương tiện hầu việc Chúa.

5. Chúng ta sẽ phạm tội trộm cướp tiền bạc của Chúa khi không cứu giúp anh chị em trong Chúa lúc họ ở trong hoạn nạn hoặc nghèo thiếu, không đủ ăn, không đủ mặc. Ma-thi-ơ 25:41-45 nói rõ hình phạt mà Chúa sẽ thi hành trên những người phạm tội này:

41 Kế đó, Ngài sẽ phán cùng những người ở bên tả rằng: Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi Ta; đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỷ và những quỷ sứ nó.

42 Vì Ta đã đói, các ngươi không cho ăn; Ta khát, các ngươi không cho uống;

43 Ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi không mặc cho Ta; Ta đau và bị tù, các ngươi không thăm viếng.

44 Đến phiên các ngươi nầy bèn thưa lại rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa, hoặc đói, hoặc khát, hoặc làm khách lạ, hoặc trần truồng, hoặc đau ốm, hoặc bị tù mà không hầu việc Ngài ư?

45 Ngài sẽ đáp lại rằng: Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy, ấy là các ngươi cũng không làm cho Ta nữa.

Chúng ta cần lưu ý nhóm chữ "trong những người rất hèn mọn nầy" được dùng để chỉ anh chị em cùng đức tin trong Chúa, tức là những người đã thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ, và hết lòng sống theo Lời Chúa. Họ là những người thuộc về Ngài, đang sống giữa thế gian, và được Ngài yêu cho đến cuối cùng (Giăng 13:1) chứ không phải tất cả mọi người trong thế gian.

6. Chúng ta sẽ phạm tội trộm cướp tiền bạc của Chúa khi sống xa hoa phung phí. Chúa ban cho chúng ta được giàu có về của cải tiền bạc là để chúng ta phân phát cho những người nghèo thiếu. Lời Chúa chép: "Hãy răn bảo kẻ giàu ở thế gian nầy đừng kiêu ngạo và đừng để lòng trông cậy nơi của cải không chắc chắn, nhưng hãy để lòng trông cậy nơi Đức Chúa Trời, là Đấng mỗi ngày ban mọi vật dư dật cho chúng ta được hưởng. Hãy răn bảo họ làm điều lành, làm nhiều việc phước đức, kíp ban phát và phân chia của mình có, vậy thì dồn chứa về ngày sau một cái nền tốt và bền vững cho mình, để được cầm lấy sự sống thật." (I Ti-mô-thê 6:17-19). Không riêng về tiền bạc của cải mà tất cả những gì Chúa ban cho chúng ta trong cuộc đời này, chỉ là Ngài giao quyền quản lý cho chúng ta để chúng ta phân phát lẫn nhau, nhờ đó, chúng ta mới thể hiện được tình yêu thương và mối thông công hiệp một trong Chúa của Hội Thánh: "Mỗi người trong anh em hãy lấy ơn mình đã được mà giúp lẫn nhau, khác nào người quản lý trung tín giữ các thứ ơn của Thiên Chúa." (I Phi-e-rơ 4:10).

7. Chúng ta sẽ phạm tội trộm cướp sự vinh quang của Chúa khi cho rằng nhờ mình hay, mình giỏi, mình hy sinh, mình siêng năng, mình khôn ngoan, mình đạo đức, mình nhân từ, vv… mà việc mình làm có thành quả tốt đẹp. Chúng ta phải nói rằng: "Chúng tôi là đầy tớ vô ích; điều chúng tôi đã làm là điều chắc phải làm" (Lu-ca 17:10).

Kết Luận

Hành động trộm cắp hay trộm cướp phát xuất từ lòng tham. Lòng tham là một đặc tính của tội lỗi, của bản ngã cũ mà Thánh Kinh ví sánh với tội thờ lạy thần tượng (Ê-phê-sô 5:5; Cô-lô-se 3:5). Con dân Chúa đã được dựng nên mới trong Đức Chúa Jesus Christ, đã trở nên giống như Chúa trong sự công bình và thánh sạch của lẽ thật (Ê-phê-sô 4:24) thì có đầy dẫy Thánh Linh, tức là năng lực của Thiên Chúa, để không tham lam. Không tham lam thì không thể cố ý vi phạm điều răn thứ tám. Tuy nhiên, nếu chúng ta không khôn ngoan, thông sáng trong Chúa thì có thể sẽ vô tình phạm tội trộm cướp Chúa khi đóng góp tiền bạc, thời gian vào các tổ chức tôn giáo, mạo làm Hội Thánh Chúa mà thật ra chúng là Hội của Sa-tan như Khải Huyền 2:9 đã gọi đích danh.

Nguyện mỗi người chúng ta biết lắng lòng nghe theo sự dạy dỗ của Đức Thánh Linh và làm theo sự dẫn dắt của Ngài mỗi ngày trong đời sống của chúng ta.

Huỳnh Christian Timothy
12.05.2012

Share This:

3,648 views

Sự Yêu Thương và Sự Đoán Xét

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Ghi Chú: Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này

Nghe MP3 Phần 1: http://www.timhieutinlanh.net/?p=686
Nghe MP3 Phần 2: http://www.timhieutinlanh.net/?p=687
Nghe MP3 Phần 3: http://www.timhieutinlanh.net/?p=688

Dẫn Nhập

Ngày nay, có lẽ hai từ ngữ bị lạm dụng nhiều nhất trong Hội Thánh là “sự yêu thương” và “sự đoán xét.” Lạm dụng một điều gì có nghĩa là dùng điều đó không đúng cách, đúng nghĩa, đúng lúc, miễn sao đạt được mục đích đã nhắm sẵn. Sự lạm dụng từ ngữ phát sinh bởi sự lạm dụng Lời Chúa.

Có hai thành phần lạm dụng Lời Chúa. Thành phần thứ nhất là những người còn non kém trong đức tin và trong sự hiểu biết Đạo Chúa, chưa hết lòng sống theo lẽ thật của Lời Chúa, chưa dứt khoác được với những sự ưa muốn của xác thịt, là những điều trái với sự ưa muốn của Đức Thánh Linh (Ga-la-ti 5:16, 17); nếu sự ưa thích hoặc quyền lợi cá nhân bị đụng chạm thì họ sẽ tìm cách bẻ cong Lời Chúa để bao che cho những điều sai trái của họ. Những thói xấu của xác thịt nổi bật nhất trong họ là: thói tà dâm, lòng tham lam, lòng tự ái và lòng kiêu ngạo. Thành phần thứ hai là những người giả tin Chúa để tìm kiếm tư lợi trong Hội Thánh mà Chúa gọi họ là cỏ lùng, dê và sói, tức là những kẻ giả hình, những tay Pha-ri-si thời đại. Họ lạm dụng Lời Chúa một cách xảo quyệt và có dự tính. Họ chính là những tôi tớ của Sa-tan giả mạo làm những người giúp việc công bình (II Cô-rinh-tô 11:13-15). Theo thời gian, nếu không sớm ăn năn thành phần thứ nhất có thể suy thoái, mất đức tin và biến thành thành phần thứ hai.

Những câu Thánh Kinh thường bị hai thành phần này lạm dụng là:

I Cô-rinh-tô 13:7 “Tình yêu che chở mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự.”

I Phi-e-rơ 4:8 “Nhứt là trong vòng anh em phải có tình yêu chân thật; vì tình yêu che đậy vô số tội lỗi.”

Ma-thi-ơ 7:1 “Các ngươi đừng đoán xét ai, để mình khỏi bị đoán xét.”

Lu-ca 6:37 “Đừng đoán xét ai, thì các ngươi khỏi bị đoán xét; đừng lên án ai, thì các ngươi khỏi bị lên án; hãy tha thứ, người sẽ tha thứ mình.”

I Cô-rinh-tô 4:5 “Vậy, chớ xét đoán sớm quá, hãy đợi Chúa đến; chính Chúa sẽ tỏ những sự giấu trong nơi tối ra nơi sáng, và bày ra những sự toan định trong lòng người; bấy giờ, ai nấy sẽ bởi Đức Chúa Trời mà lãnh sự tôn vinh mình đáng lãnh.”

Nạn nhân của sự lạm dụng Lời Chúa cũng có hai thành phần. Thành phần thứ nhất là chính những người thiếu hiểu biết Lời Chúa và chưa dứt khoác được với những sự ưa muốn của xác thịt. Họ vừa là người lạm dụng và vừa là nạn nhân của chính họ và của những kẻ giả hình. Thành phần thứ hai là những người hiểu biết Lời Chúa,nhận thức được có điều sai trái trong sự áp dụng Lời Chúa của những người lạm dụng. Tuy nhiên, không có bao nhiêu người có thể dùng Lời Chúa để phản bác sự sai trái đó, khiến cho sự sai trái đó theo thời gian trở thành một thứ “giáo lý” trong Hội Thánh. Phản ứng tiêu cực của thành phần thứ hai là lánh xa những kẻ lạm dụng. Phản ứng đó cần phải có đối với những kẻ giả hình nhưng đối với những người thật lòng tin Chúa mà đức tin còn yếu kém thì cần phải có một phản ứng tích cực. Phản ứng tích cực là giúp cho họ hiểu được họ đã áp dụng sai Lời Chúa như thế nào.

Hiểu Biết và Áp Dụng Lời Chúa

Sự hiểu biết Lời Chúa và áp dụng sự hiểu biết đó vào trong cuộc sống được gọi là nếp sống Đạo. Đạo tức là Lời Chúa. Nếp sống Đạo chân thật là mọi tư tưởng, lời nói, và hành động đều vâng theo Lời Chúa. Người ta có thể hiểu sai Lời Chúa cho nên áp dụng sai và người ta cũng có thể hiểu đúng Lời Chúa nhưng lại áp dụng sai.

Hiểu sai áp dụng sai: I Phi-e-rơ 4:8 “Nhứt là trong vòng anh em phải có tình yêu chân thật; vì tình yêu che đậy vô số tội lỗi.” Người hiểu sai cho rằng: vì yêu thương cho nên người ấy phải bảo bọc, che chở mọi hành động tội lỗi. Sự bảo bọc, che chở cho tội lỗi như vậy giống như một người suốt đời không tắm mà chỉ dùng dầu thơm xức lên người để che đậy mùi hôi.

Hiểu đúng áp dụng sai: I Cô-rinh-tô 13:7 “Tình yêu che chở mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự.” Một người có thể hiểu đúng ý nghĩa của câu Thánh Kinh này nhưng lại áp dụng sai vì không phối hợp với các nguyên tắc khác của Thánh Kinh, là nguyên tắc về quở trách, sửa trị người có lỗi và nguyên tắc dứt thông công với người có tội mà không cải hối. Sự hiểu đúng mà áp dụng sai khiến cho một người trở thành nạn nhân của những kẻ lạm dụng Lời Chúa và trở thành kẻ tiếp tay hoặc khuyến khích người khác tiếp tục sống trong tội.

Sự Yêu Thương Trong Chúa

Tình yêu trong Chúa là tình yêu vị tha, nghĩa là tình yêu vì người khác mà sống (vị = vì; tha = người khác). Là con dân Chúa, trước hết, chúng ta sống cho Chúa rồi qua sự dẫn dắt, ban ơn của Chúa mà chúng ta sống cho anh chị em trong Chúa, cuối cùng là chúng ta sống cho những người chưa biết Chúa.

Sống cho Chúa là vâng giữ mọi Lời Chúa, vui thỏa trong Lời Chúa, thể hiện Lời Chúa thành hành động mỗi ngày trong cuộc sống. Sống cho anh chị em trong Chúa là quan tâm, chăm sóc, dạy dỗ, quở trách, sửa trị, và mang lấy mọi gánh nặng cho nhau từ thuộc thể đến thuộc linh. Sống cho những người chưa biết Chúa là hy sinh mọi sự, tìm đủ mọi cách, tận dụng mọi cơ hội để rao giảng hoặc góp phần trong sự rao giảng Tin Lành cho họ và khi họ có nhu cầu thì hết lòng giúp đỡ họ theo ơn Chúa ban.

Tình yêu trong Chúa không phải chỉ thể hiện qua sự cảm thông, tha thứ, cứu giúp lẫn nhau mà còn thể hiện qua sự quở trách, sửa trị người có lỗi và dứt thông công với người có tội mà không cải hối. Tình yêu trong Chúa không có nghĩa là bỏ qua những sự sai trái và để cho kẻ xấu tha hồ lợi dụng.

Khi Phi-e-rơ theo ý riêng, ngăn cản Chúa về thành Giê-ru-sa-lem để chịu khổ và chịu chết thì Chúa đã phán: “Hỡi Sa-tan, hãy lui ra đàng sau Ta! Ngươi làm gương xấu cho Ta; vì ngươi chẳng nghĩ đến việc Đức Chúa Trời, song nghĩ đến việc người Ta” (Ma-thi-ơ 16:23). Ai dám nói Đức Chúa Jesus không có tình yêu dành cho Phi-e-rơ vì Ngài đã không “dung thứ mọi sự”“nín chịu mọi sự” đối với ông? Khi Phi-e-rơ chìu theo sự yếu đuối của xác thịt, làm ra hành động giả hình, xúc phạm con dân Chúa tại Hội Thánh An-ti-ốt và làm gương xấu cho Ba-na-ba thì Phao-lô đã quở trách Phi-e-rơ trước Hội Thánh: “Nhưng khi Sê-pha đến thành An-ti-ốt, tôi có ngăn can trước mặt người, vì là đáng trách lắm. Bởi trước lúc mấy kẻ của Gia-cơ sai đi chưa đến, thì người ăn chung với người ngoại; vừa khi họ đã đến thì người lui đứng riêng ra, bởi sợ những kẻ chịu phép cắt bì. Các người Giu-đa khác cũng dùng một cách giả dối như vậy, đến nỗi chính Ba-na-ba cũng bị sự giả hình của họ dẫn dụ. Nhưng khi tôi thấy họ không đi ngay thẳng theo lẽ thật của Tin Lành, thì nói với Sê-pha trước mặt mọi người rằng: nếu anh là người Giu-đa, mà ăn ở theo cách dân ngoại, không theo cách người Giu-đa, thì làm sao anh ép dân ngoại phải theo thói Giu-đa” (Ga-la-ti 2:11-14).

Đức Chúa Jesus Christ đã từng động lòng thương xót, chữa bệnh, giảng Đạo và hóa bánh ra cho trên năm ngàn người ăn (Ma-thi-ơ 14:14-21); nhưng Ngài cũng lìa bỏ họ khi nhận biết họ chỉ đến với Ngài để tìm lợi vật chất (Giăng 6:14-27). Đức Chúa Jesus Christ cũng từng quở trách sự cứng lòng, không chịu cải hối của dân các thành đã được nghe Ngài giảng Đạo và thấy Ngài làm nhiều phép lạ: “Vì dân các thành mà Đức Chúa Jesus đã làm rất nhiều phép lạ rồi, không ăn năn, nên Ngài quở trách rằng: Khốn nạn cho mầy, thành Cô-ra-xin! Khốn nạn cho mầy thành Bết-sai-đa! Vì nếu các phép lạ đã làm giữa các ngươi, đem làm trong thành Ty-rơ và Si-đôn, thì hai thành đó thật đã mặc áo gai, đội tro, ăn năn từ lâu rồi. Vậy nên Ta bảo các ngươi, đến ngày phán xét, thành Ty-rơ và thành Si-đôn sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn các ngươi. Còn ngươi, Ca-bê-na-um là thành đã được cao tới trời, sẽ hạ xuống tới âm phủ! Vì nếu các phép lạ đã làm giữa ngươi, đem làm trong thành Sô-đôm, thì thành ấy còn lại đến ngày nay. Vậy nên Ta rao bảo rằng, đến ngày phán xét, xứ Sô-đôm sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn ngươi” (Ma-thi-ơ 11:20-14). Khi các môn đồ của Chúa không tin lời của Ma-ri Ma-đơ-len và các phụ nữ khác làm chứng về sự Chúa đã sống lại thì Đức Chúa Jesus đã quở trách họ: “Sau nữa, Ngài hiện ra cho mười một sứ đồ đang khi ngồi ăn, mà quở trách về sự không tin và lòng cứng cỏi, vì chẳng tin những kẻ từng thấy Ngài đã sống lại” (Mác 16:14). Khi trong Hội Thánh tại Cô-rinh-tô có người phạm tội tà dâm, Hội Thánh đã theo lời dạy của Sứ Đồ Phao-lô mà quở trách kẻ phạm tội đó: “Kẻ đó đã bị phần nhiều người trong anh em quở trách, ấy là đủ rồi” (II Cô-rinh-tô 2:6).

Tình yêu trong Chúa không cho phép con dân Chúa “vui về điều không công bình” (I Cô-rinh-tô 13:6). Khi con dân Chúa đối diện với sự không công bình trong Hội Thánh thì phải lên tiếng quở trách, bởi vì mỗi con dân Chúa là một “thầy tế lễ của Đức Chúa Trời” (Khải Huyền 1:6). Hình ảnh thầy tế lễ thời Cựu Ước khán nghiệm bệnh phung và đuổi kẻ bị phung ra khỏi hội chúng cho đến khi kẻ phung được lành tiêu biểu cho việc thầy tế lễ thời Tân Ước chỉ ra tội lỗi và đuổi kẻ có tội mà không cải hối ra khỏi Hội Thánh cho đến khi kẻ đó ăn năn. Bất cứ sự gì nghịch lại Lời Chúa thì đều là những sự không công bình và “mọi sự không công bình đều là tội” (I Giăng 5:17). Theo nguyên ngữ của Thánh Kinh thì “sự không công bình” là “sự vi phạm luật pháp,” và luật pháp trong Thánh Kinh chính là Lời Chúa. Lời Chúa dạy rõ:

Châm Ngôn 27:5 “Một lời quở trách tỏ tường hơn là thương yêu giấu kín.”

Châm Ngôn 28:23 “Ai quở trách người nào, về sau sẽ được ơn hơn là kẻ lấy lưỡi mà dua nịnh.”

Lu-ca 17:3 “Các ngươi hãy giữ lấy mình. Nếu anh em ngươi đã phạm tội, hãy quở trách họ; và nếu họ ăn năn, thì hãy tha thứ.”

Ê-phê-sô 5:11 “…chớ dự vào công việc vô ích của sự tối tăm, thà quở trách chúng nó thì hơn.”

I Ti-mô-thê 5:19 Kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ.

Tít 2:15 “Hãy dạy các điều đó, lấy quyền đầy đủ mà khuyên bảo quở trách. Chớ để ai khinh dể con.”

Kỷ Luật Trong Hội Thánh

Có hai hình thức kỷ luật trong Hội Thánh, được Thánh Kinh nêu lên: (1) kỷ luật đối với người phạm tội nghịch cùng một chi thể, tức là một cá nhân trong Hội Thánh, và (2) kỷ luật đối với người phạm tội nghịch cùng toàn thân thể, tức là tất cả mọi người trong Hội Thánh.

1. Kỷ luật đối với người phạm tội nghịch cùng cá nhân: Trong Ma-thi-ơ 18:15-17 Đức Chúa Jesus đã phán dạy chúng ta rất rõ ràng về cách đối xử người phạm tội nghịch cùng cá nhân chúng ta: “Nếu anh em ngươi phạm tội cùng ngươi, thì hãy trách người khi chỉ có ngươi với một mình người; như người nghe lời, thì ngươi được anh em lại. Ví bằng không nghe, hãy mời một hai người đi với ngươi, hầu cứ lời hai ba người làm chứng mà mọi việc được chắc chắn. Nếu người không chịu nghe các người đó, thì hãy cáo cùng Hội Thánh, lại nếu người không chịu nghe Hội Thánh, thì hãy coi người như kẻ ngoại và kẻ thâu thuế vậy.”

Trước hết, chúng ta cần ghi nhớ rằng: Đây là cách thức đối xử với người phạm tội nghịch cùng cá nhân chúng ta chứ không phải người phạm tội nghịch cùng Hội Thánh, bởi vì, những kẻ phạm tội nghịch cùng Hội Thánh phải bị quở trách trước Hội Thánh để làm gương cho mọi người. Mệnh lệnh của Chúa đưa ra bốn giai đoạn trong việc kỷ luật một người phạm tội nghịch cùng cá nhân chúng ta:

a) Giai đoạn thứ nhất: quở trách người phạm tội cách riêng tư, mong rằng người ấy sẽ cải hối.

b) Giai đoạn thứ nhì: nếu người ấy không cải hối thì mời thêm vài anh chị em khác trong Hội Thánh đến gặp người ấy để quở trách một lần nữa trước sự chứng kiến của họ.

c) Giai đoạn thứ ba: nếu người ấy vẫn không cải hối thì đưa sự việc ra trước Hội Thánh.

d) Giai đoạn thứ tư: nếu người ấy vẫn không cải hối sau khi bị Hội Thánh quở trách thì Hội Thánh phải cư xử với người ấy như cách cư xử với một người không tin Chúa và một người phạm nhiều tội trọng. Trong xã hội Do-thái, từ ngữ “kẻ thâu thuế” mang nghĩa bóng là “người phạm nhiều tội trọng với Thiên Chúa và dân tộc.” Những người thâu thuế cho Đế Quốc La-mã thời xưa thường dựa vào thế lực của La-mã và địa vị viên chức thâu thuế của mình để gian lận và bốc lột chính dân tộc của mình, làm ra nhiều việc ác để thủ lợi, làm giàu. Người Do-thái xem khinh những kẻ thâu thuế còn hơn là xem khinh một người dân ngoại không chịu cắt bì và thờ lạy hình tượng. Người Do-thái cho rằng những người dân ngoại là ô uế nên xem khinh dân ngoại như chó, là loài vật ô uế. Điều đó có nghĩa là người Do-thái xem khinh những kẻ thâu thuế còn hơn là xem khinh loài chó.

Một người không tin Chúa là một người không có sự thông công với con dân Chúa, không được phép tham dự thờ phượng Chúa với con dân Chúa. Một người phạm nhiều tội trọng là một người mà ai ai cũng cần cẩn thận khi giao tiếp với, thứ nhất là tránh tiêm nhiễm những thói xấu của người ấy và thứ nhì là tránh bị người ấy lừa gạt, hãm hại. Người không tin Chúa là kẻ thù tự nhiên của Hội Thánh. Giăng 15:19 ghi lại lời phán của Đức Chúa Jesus Christ về thái độ của thế gian đối với con dân Chúa như sau: “Nếu các ngươi thuộc về thế gian, thì người đời sẽ yêu kẻ thuộc về mình; nhưng vì các ngươi không thuộc về thế gian và Ta đã lựa chọn các ngươi giữa thế gian, bởi cớ đó người đời ghét các ngươi.” Dầu vậy, con dân Chúa vẫn có bổn phận cầu nguyện, chúc phước, và cứu giúp người không tin Chúa:

Ma-thi-ơ 5:43, 44 “Các ngươi có nghe lời phán rằng: Hãy yêu người lân cận, và hãy ghét kẻ thù nghịch mình. Song Ta nói cùng các ngươi rằng: Hãy yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi.”

Lu-ca 6:27, 28 “Nhưng Ta phán cùng các ngươi, là những người nghe Ta: Hãy yêu kẻ thù mình, làm ơn cho kẻ ghét mình, chúc phước cho kẻ rủa mình, và cầu nguyện cho kẻ sỉ nhục mình.”

Lu-ca 6:35 “Song các ngươi hãy yêu kẻ thù mình; hãy làm ơn, hãy cho mượn, mà đừng ngã lòng. Vậy, phần thưởng của các ngươi sẽ lớn, và các ngươi sẽ làm con của Đấng Rất Cao, vì Ngài lấy nhơn từ đối đãi kẻ bạc và kẻ dữ.”

Rô-ma 12:20 “Vậy nếu kẻ thù mình có đói, hãy cho ăn; có khát, hãy cho uống; vì làm như vậy, khác nào mình lấy những than lửa đỏ mà chất trên đầu người.”

Châm Ngôn 25:21, 22 “Nếu kẻ thù nghịch con có đói, hãy cho nó ăn; nếu có khát, hãy cho nó uống; vì như vậy con chất than cháy đỏ trên đầu nó, và Đức Giê-hô-va sẽ báo lại cho con.”

Thành ngữ “chất than cháy đỏ trên đầu nó” mượn hình ảnh quặng chì được chất vào lò và than lửa được đổ lên trên nó khiến cho chất chì tan chảy vào chỗ hứng bên dưới, bỏ lại các tạp chất bị thiêu cháy trong lò, để nói lên ý nghĩa: những hành động thương xót sẽ khiến cho tâm trí của kẻ thù bị tan chảy và những tư tưởng thù nghịch sẽ bị tan biến.

2. Kỷ luật đối với người phạm tội nghịch cùng Hội Thánh: Đối với người phạm tội nghịch cùng Hội Thánh thì sự quở trách phải công khai giữa Hội Thánh để làm gương như cách Sứ Đồ Phao-lô kỷ luật Sứ Đồ Phi-e-rơ tại Hội Thánh An-ti-ốt đã nêu trên đây. Phao-lô cũng chỉ thị cho Hội Thánh Cô-rinh-tô thi hành kỷ luật đối với người phạm tội tà dâm trong Hội Thánh. Đức Thánh Linh, qua ngòi bút của Sứ Đồ Phao-lô, đã ghi lại nguyên tắc đó trong I Ti-mô-thê 5:20, “kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ.”

Trong sự việc có người phạm tội tà dâm trong Hội Thánh Cô-rinh-tô, Phao-lô đã chỉ thị cho Hội Thánh trong I Cô-rinh-tô 5, như sau:

1 Có tin đồn ra khắp nơi rằng trong anh em có sự dâm loạn, dâm loạn đến thế, dẫu dân ngoại cũng chẳng có giống như vậy: là đến nỗi trong anh em có kẻ lấy vợ của cha mình.

2 Anh em còn lên mình kiêu ngạo! Anh em chẳng từng buồn rầu, hầu cho kẻ phạm tội đó bị trừ bỏ khỏi vòng anh em thì hơn!

3 Về phần tôi, thân dầu xa cách mà lòng ở tại đó, (vì anh em và lòng tôi được hội hiệp với quyền phép của Đức Chúa Jesus, là Chúa chúng ta),

4 nên tôi đã dường như có mặt ở đó, nhơn danh Đức Chúa Jesus là Chúa chúng ta, tuyên án kẻ phạm tội đó

5 rằng, một người như thế phải phó cho quỷ Sa tan, để hủy hoại phần xác thịt, hầu cho tâm thần được cứu trong ngày Đức Chúa Jesus.

6 Thật anh em chẳng có cớ mà khoe mình đâu! Anh em há chẳng biết rằng một chút men làm cho cả đống bột dậy lên sao?

7 Hãy làm cho mình sạch men cũ đi, hầu cho anh em trở nên bột nhồi mới không men, như anh em là bánh không men vậy. Vì Đấng Christ là con sinh lễ Vượt Qua của chúng ta, đã bị giết rồi.

8 Vậy thì, chúng ta hãy giữ lễ, chớ dùng men cũ, chớ dùng men gian ác, độc dữ, nhưng dùng bánh không men của sự thật thà và của lẽ thật.

9 Trong thơ tôi viết cho anh em, có dặn đừng làm bạn với kẻ gian dâm,

10 đó tôi chẳng có ý nói chung về kẻ gian dâm đời nầy, hay là kẻ tham lam, kẻ chắt bóp, kẻ thờ hình tượng, vì nếu vậy thì anh em phải lìa khỏi thế gian.

11 Nhưng tôi viết khuyên anh em đừng làm bạn với kẻ nào tự xưng là anh em, mà là gian dâm, hoặc tham lam, hoặc thờ hình tượng, hoặc chưởi rủa, hoặc say sưa, hoặc chắt bóp, cũng không nên ăn chung với người thể ấy.

12 Vì chưng có phải tôi nên đoán xét kẻ ở ngoài sao? Há chẳng phải anh em nên đoán xét những người ở trong sao?

13 Còn như kẻ ở ngoài, thì Đức Chúa Trời sẽ đoán xét họ. Hãy trừ bỏ kẻ gian ác khỏi anh em.

Sự kiện phạm tội tà dâm “lấy vợ của cha mình” của một người tín đồ trong Hội Thánh Cô-rinh-tô, vừa là hành động phạm tội nghịch cùng cha mình vừa là hành động phạm tội nghịch cùng Hội Thánh, vì nó xảy ra công khai khiến cho “có tin đồn ra khắp nơi,” gây tiếng xấu cho Hội Thánh và Đạo Chúa. Vì thế, sự thi hành kỷ luật cũng phải công khai. Chúng ta không biết rõ chi tiết phạm tội nhưng có lẽ người phạm tội đã công khai lấy người vợ bé hoặc vợ kế của cha mình làm vợ, sau khi cha ông ta qua đời.

Hình thức kỷ luật được Phao-lô nêu rõ:

a) Đừng làm bạn với kẻ không cải hối.

b) Không nên ăn chung với kẻ không cải hối.

c) Trừ bỏ “kẻ gian ác,” tức là kẻ không cải hối, khỏi Hội Thánh.

Đối với những kẻ theo tà giáo, tức là theo hoặc rao giảng những giáo lý nghịch lại Thánh Kinh thì hình thức kỷ luật được Thánh Kinh nêu ra như sau: “Nhưng hãy lánh những điều cãi lẽ dại dột, những gia phổ, những sự cạnh tranh nghị luận về luật pháp, vì mấy sự đó đều là vô ích và hư không. Sau khi mình đã khuyên bảo kẻ theo tà giáo lần thứ nhất và lần thứ nhì rồi, thì hãy tránh khỏi” (Tít 3:9, 10).

Tất cả những điều trên đây là những hình thức kỷ luật cần áp dụng chung trong Hội Thánh khi có người phạm tội.

Ngày nay, trong các tổ chức giáo hội mang danh Chúa, chẳng những kẻ phạm tội không bị quở trách, kỷ luật mà ngược lại, họ lạm dụng Lời Chúa, mong bịt miệng những ai nêu lên sự sai trái của họ, nhất là các chức sắc trong giáo hội. Nhiều người nghĩ rằng phải có chức sắc trong giáo hội mới có thể lên tiếng quở trách người phạm tội mà không hiểu rằng: mỗi cá nhân trong Hội Thánh đều là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời, cho nên, ai cũng có nhiệm vụ chỉ ra các “vết phung thuộc linh” và khai trừ “người phung thuộc linh” ra khỏi Hội Thánh. Đó cũng là một trong những lý do con dân chân thật của Chúa phải ra khỏi các tổ chức giáo hội mang danh Chúa do loài người lập ra với những điều lệ, nội quy, truyền thống, thói tục, giáo lý, tư tưởng thần học… hầu hết không có trong Thánh Kinh và nghịch lại Thánh Kinh.

Đặc Tính của Tình Yêu  – I Cô-rinh-tô 13:4-8

Trước hết, chúng ta cần phải nhớ rằng, I Cô-rinh-tô 13 nói về tình yêu của Chúa và tình yêu trong Chúa, tức là tình yêu agape. I Giăng 4:8 và 16 cho chúng ta biết: “Đức Chúa Trời là tình yêu” và câu 19 cho chúng ta biết “Chúng ta yêu vì Chúa đã yêu chúng ta trước.” Vì thế, để có thể hiểu và kinh nghiệm được I Cô-rinh-tô 13:4-8 thì một người phải tiếp nhận tình yêu của Đức Chúa Trời, tức là tiếp nhận chính Ngài. Có được Đức Chúa Trời tức là có được tình yêu, chỉ khi đó thì một người mới có thể yêu và hiểu được tình yêu.

I Cô-rinh-tô 13:4-8 nói về các đặc tính của tình yêu, tức là các đặc tính của Đức Chúa Trời và cũng là các đặc tính của những ai thuộc về Ngài. Như mặt trăng tiếp nhận ánh sáng của mặt trời rồi phản chiếu trên đất, con dân Chúa tiếp nhận tình yêu từ Đức Chúa Trời rồi chiếu sáng tình yêu của Đức Chúa Trời ra giữa thế gian (Ma-thi-ơ 5:14).

Tình yêu nhẫn nại; tình yêu nhân từ; tình yêu chẳng ghen tị, chẳng khoác lác, chẳng lên mình kiêu ngạo, chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghĩ đến sự dữ, chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật. Tình yêu che chở mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự. Tình yêu chẳng hề hư mất bao giờ.

1. Tình yêu nhẫn nại: Từ ngữ “nhẫn nại” vừa có nghĩa là sức kiên trì chịu đựng mọi sự nghịch lại với bản tính của mình để đạt được mục đích, vừa có nghĩa là sự kiên trì chịu đựng những vô lý, bất công người khác làm ra để có thể cảm hóa người ấy. Đức Chúa Trời thánh khiết và công chính đã và đang nhẫn nại đối với thế gian tội lỗi, dùng ơn cứu rỗi của Ngài trong Đức Chúa Jesus Christ để cảm hóa thế gian. Nhờ đó mà chúng ta mới có cơ hội để ăn năn tội và trở thành con dân của Chúa. Là con dân của Chúa, chúng ta cũng nhẫn nại với mọi người chung quanh chúng ta để có thể đưa họ đến với sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.

Nhẫn nại không có nghĩa là không quở trách người có lỗi. Nhẫn nại cũng không có nghĩa là không bao giờ ngưng chịu đựng một người nào đó. Chúng ta nhẫn nại suốt cuộc đời mình và nhẫn nại với mỗi một người mà chúng ta gặp. Tuy nhiên, thời gian chúng ta nhẫn nại đối với mỗi người sẽ khác nhau, tùy theo sự cho phép của Chúa. Trong Ma-thi-ơ 18:15-17, Chúa dạy chúng ta chỉ nhẫn nại với người phạm tội nghịch cùng chúng ta qua ba lần chúng ta cho người đó cơ hội nhận lỗi và ăn năn. Nếu sau ba lần bị quở trách mà người có tội không chịu ăn năn thì Chúa ra lệnh cho chúng ta phải xem người ấy như người không tin Chúa và là một người phạm tội trọng. Dầu chúng ta buộc phải thi hành kỷ luật với những người không chịu cải hối nhưng lòng chúng ta vẫn yêu thương họ và không truy cứu trách nhiệm về những việc bất công hay thiệt hại mà họ đã làm ra cho chúng ta. Đó là sự tha thứ!

Trong công tác rao giảng Tin Lành, Chúa cũng đã truyền cho chúng ta rằng, hễ ai từ chối không muốn nghe Tin Lành thì chúng ta hãy bỏ họ mà đi. Họ sẽ gánh lấy trách nhiệm về sự hư mất của chính họ: “Nếu ai không tiếp rước, không nghe lời các ngươi, khi ra khỏi nhà đó, hay là thành đó, hãy phủi bụi đã dính chơn các ngươi. Quả thật, ta nói cùng các người, đến ngày phán xét, thì xứ Sô-đôm và xứ Gô-mô-rơ sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn thành ấy” (Ma-thi-ơ 10:14). Mệnh lệnh đó của Chúa còn được ghi lại thêm hai lần trong Mác 6:11, Lu-ca 9:5 và Lu-ca 10:10-11. Đặc biệt, trong Lu-ca 10:10-11, Chúa dạy bảy mươi môn đồ được Ngài sai đi phải ra giữa chợ mà công bố sự khước từ nghe Tin Lành của một thành phố. Phao-lô và Ba-na-ba đã áp dụng lời Chúa dạy khi họ đối diện với sự cứng lòng của những người Do-thái tại thành An-ti-ốt: “Hai người đối cùng họ phủi bụi nơi chơn mình, rồi đi đến thành Y-cô-ni” (Công Vụ Các Sứ Đồ 13:51). Ai có thể nói là hai ông không nhẫn nại? Hội Thánh ngày nay cần phải bắt chước Phao-lô và Ba-na-ba trong sự vâng theo mệnh lệnh của Chúa về cách thức cư xử đối với những người chống đối Đạo Chúa.

Chúa dạy chúng ta rao giảng bất luận gặp thời hay không gặp thời nhưng Chúa không dạy chúng ta nài nỉ, kéo ép hay dùng tâm lý học khiến cho người ta tin Chúa. Làm ơn cho một người vì họ có nhu cầu và chúng ta có lòng thương là việc tốt nhưng làm ơn nhằm mục đích lấy lòng người ta để người ta vị nể mình mà tin Chúa là sai. Khi làm như vậy chúng ta đã vô tình cho rằng Tin Lành không có quyền phép để cứu người (Rô-ma 1:16) mà việc làm lấy lòng của chúng ta mới có quyền phép để cứu người! Và thật ra, sự tin Chúa như vậy không cứu ai hết! Câu Thánh Kinh II Ti-mô-thê 4:2 trong Bản Dịch Truyền Thống dịch là: “Hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi;” Chữ “nài khuyên” khiến cho người đọc hiểu lầm là khi giảng Đạo phải “năn nỉ” người ta tin Chúa. Tuy nhiên, dịch cho sát ý thì sẽ là: “Hãy giảng Đạo, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, sửa trị, kêu gọi, cứ dạy dỗ chẳng thôi.” Chúng ta cần kêu gọi người nghe Đạo tin nhận Đạo nhưng chúng ta không cần phải nài nỉ họ!

Tình Yêu nhẫn nại nghĩa là tình yêu có sức kiên trì chịu đựng mọi sự nghịch lại với bản tính của mình, chịu đựng những vô lý, bất công đến từ người khác hoặc hoàn cảnh để đạt được mục đích tốt đẹp đã đặt ra.

2. Tình yêu nhân từ: Từ ngữ “nhân từ” có nghĩa là cư xử tốt với mọi người; không phải là làm ra vẻ cư xử tốt mà là hành động tốt thật sự phát xuất từ đáy lòng. Nhân từ hay cư xử tốt có nghĩa là luôn luôn làm ơn cho người khác, đặt quyền lợi của người khác trước quyền lợi của mình một cách tự nguyện, vô điều kiện. Đức Chúa Trời luôn luôn nhân từ. Các Thi Thiên luôn nhắc đến điệp khúc: “Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời!” Đức Chúa Trời nhân từ vì Ngài: “khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác” (Ma-thi-ơ 5:45); Ngài “lấy nhân từ đối đãi kẻ bạc và kẻ dữ” (Lu-ca 6:35). Kẻ bạc là kẻ vô ơn, kẻ dữ là kẻ làm ra những điều nghịch lại điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời. Trong Ma-thi-ơ 5:45 Chúa cũng dạy chúng ta nhân từ một cách trọn vẹn như Cha của chúng ta ở trên trời. Nhân từ không có nghĩa là không thi hành kỷ luật mà là khi cần thiết thì thi hành kỷ luật với lòng đau thương để bảo vệ sự công chính. Sự Kiện Đức Chúa Trời hy sinh Con Một của Ngài để thế gian được thoát khỏi sức mạnh và hậu quả của tội lỗi là hành động nhân từ vô bờ bến của Ngài đối với thế gian nhưng cùng lúc Ngài thi hành hình phạt tội lỗi cách nặng nề trên Con Một của Ngài. Sự kiện Đức Chúa Jesus Christ từ bỏ địa vị Thiên Chúa của mình để gánh thay hình phạt của tội lỗi và chết thay cho loài người là hành động nhân từ vô bờ bến của Ngài nhưng một ngày kia Ngài sẽ phán xét những ai không tin nhận ơn cứu rỗi của Ngài. Sự kiện Đức Thánh Linh cáo trách thế gian về tội lỗi để đưa mọi người đến sự ăn năn tội là hành động nhân từ vô bờ bến của Ngài nhưng những ai chống nghịch Ngài thì sẽ bị hư mất đời đời.

Tình yêu nhân từ có nghĩa là luôn luôn làm ơn cho người khác, đặt quyền lợi của người khác trước quyền lợi của mình một cách tự nguyện, vô điều kiện. Lòng nhân từ bao gồm sự ân cần quở trách, sửa phạt những kẻ có lỗi để cải hóa họ.

Nhẫn nại và nhân từ có liên quan mật thiết với nhau. Lòng nhẫn nại và nhân từ còn đến mãi mãi nhưng sự thể hiện cho mỗi đối tượng thì có giới hạn, tùy theo thái độ đáp ứng của đối tượng. Khi sự nhẫn nại kết thúc thì sự nhân từ cũng kết thúc. Dù Đức Chúa Trời nhẫn nại và nhân từ nhưng Ngài cũng từng hủy diệt cả thế gian, ngoại trừ gia đình Nô-ê tám người, bằng cơn lụt lớn toàn cầu khi loài người đã phạm tội đến mức không còn có thể ăn năn. Dầu vậy, Ngài cũng đã dành cho họ 120 năm để ăn năn. Một ngày không còn bao lâu nữa, Đức Chúa Jesus Christ sẽ phán xét và tận diệt mọi kẻ ác trong thế gian. Khi đó, Ngài sẽ dành ra bảy năm để ban cơ hội cho những ai có lòng ăn năn được đến với sự cứu rỗi của Ngài. Trong ba năm rưỡi sau cùng của bảy năm đó, Tin Lành sẽ được thiên sứ bay giữa trời rao truyền cho muôn dân, muôn nước trên đất (Khải Huyền 14:6). Thánh Kinh tiên tri trước là sẽ có vô số người ăn năn tội và tin nhận Tin Lành trong giai đoạn đó, dù họ phải trá giá bằng chính mạng sống của họ trước sự bắt bớ của chính quyền toàn cầu do Anti-Christ (kẻ chống nghịch Đức Chúa Jesus Christ) thống lãnh. Nhẫn nại và nhân từ không bao giờ có nghĩa là bao che và bỏ qua tội lỗi mà chỉ có nghĩa là cư xử tốt với những kẻ có tội, tạo cơ hội và chờ đợi một thời gian nhất định cho họ cải hối.

3. Tình yêu chẳng ghen tỵ: Từ ngữ “ghen tỵ” trong nguyên ngữ Thánh Kinh có ba nghĩa: (1) Ghen tức: bị hun đốt bởi lòng cạnh tranh, mà sinh ra thù nghịch hoặc giận dữ. (2) Ghen ghét: bực tức, khó chịu rồi sinh ra thù ghét khi thấy kẻ khác được chú ý hơn mình, bất kể là về mặt nào. (3) Ghen tranh: ham muốn dành về cho mình điều gì đó, ai đó một cách mãnh liệt, bất chấp thủ đoạn.

Đức Chúa Trời là Đấng hay ghen (Bản Dịch Truyền Thống dịch thành “kỵ tà” là không đúng nghĩa) [1] nhưng Ngài không ghen tỵ. “Ghen” có nghĩa là bực tức, khó chịu làm cho mình đau khổ nhưng không sinh ra thù ghét hoặc ý muốn hãm hại ai cả. Dù đến một lúc phải thi hành kỷ luật, hình phạt kẻ có lỗi không chịu cải hối, như người chồng phải ly dị người vợ tà dâm, thì lòng ghen cũng không phát sinh ra sự thù ghét như lòng ghen tỵ. Từ ngữ “Thiên Chúa là Đấng hay ghen” nói lên tình yêu tha thiết Ngài dành cho con dân của Ngài và Ngài muốn con dân của Ngài yêu thương Ngài cũng tha thiết như vậy. Thiên Chúa ghen khi con dân của Ngài chạy theo tà thần. Hình ảnh người vợ phản bội chồng đi ngoại tình với phường vô loại thường được Chúa dùng để minh họa sự con dân Chúa từ bỏ thờ phượng Chúa để đi thờ phượng các tà thần. Đức Chúa Trời không ghen tỵ và con dân Chúa cũng không thể ghen tỵ; vì không ghen tỵ, tức là không ghen tức, không ghen ghét, không ghen tranh là đặc tính của tình yêu.

4. Tình yêu chẳng khoác lác: Từ ngữ “khoác lác” được dùng trong I Cô-rinh-tô 13:5 có nghĩa là dùng những lời nói, điệu bộ, hành động nhằm phô bày mình một cách không trung thực để người khác thán phục mình hoặc tin tưởng mình. Thí dụ, mình chưa tốt nghiệp trung học mà trong lời nói, điệu bộ, hành động đều có ý khiến cho người khác tưởng là mình đã tốt nghiệp đại học. Hoặc là mình tốt nghiệp từ một đại học không nổi tiếng nhưng lúc nào cũng tỏ ra cho người khác tưởng là mình tốt nghiệp từ một đại học danh tiếng. Nói cách khác, “sự khoác lác” là sự dối gạt về giá trị thật của mình để người khác thán phục hoặc tin tưởng mình. Ngược lại với sự khoác lác là sự trung thực bày tỏ về mình.

Từ ngữ “khoe mình” được dùng trong I Cô-rinh-tô 1:31, “Hầu cho, như có lời chép rằng: Ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa;” trong nguyên ngữ Thánh Kinh có nghĩa là: tỏ ra sự tôn trọng của mình một cách trung thực. Dầu là phô bày những điều tốt đẹp của mình một cách trung thực, con dân Chúa vẫn phải làm điều đó “trong Chúa” tức là phô bày theo các nguyên tắc của Thánh Kinh; đó là: việc phô bày đem lại ích lợi, làm gương tốt, làm tôn vinh danh Chúa, và được thực hiện với lòng biết ơn Chúa đã ban cho mình những điều tốt lành. Sự khoe mình trong Chúa của con dân Chúa là làm chứng về ơn phước Chúa, tức là thuật lại cho người khác nghe những điều lạ lùng Chúa làm ra trên đời sống mình và qua chính mình. Sự khoe mình trong Chúa không phải chỉ thể hiện qua lời nói mà còn hiện thực qua nếp sống mỗi ngày của chúng ta.

Đức Chúa Trời không khoác lác nhưng Ngài khoe mình, tức là Ngài tự bày tỏ rất trung thực về chính mình Ngài, nhờ đó mà thế gian có thể hoàn toàn tin cậy vào mọi lời phán của Ngài. Con dân Chúa cần từ bỏ sự khoác lác và luôn khoe mình trong Chúa. Tình yêu không bao giờ khoác lác.

5. Tình yêu chẳng kiêu ngạo: Từ ngữ “kiêu ngạo” trong nguyên ngữ Thánh Kinh có nghĩa là “thổi phồng lên.” Sự kiêu ngạo khác với sự khoác lác. Sự khoác lác hoàn toàn dối trá không dựa trên lẽ thật còn sự kiêu ngạo thì thổi phồng lẽ thật; và mục đích của cả hai đều là để người ta tôn trọng hoặc tin tưởng mình. Sự kiêu ngạo còn một ý nữa là tự cho rằng mình hơn người khác. Kiêu ngạo là xem thường người khác và thổi phồng lẽ thật để phục vụ cho lòng ham muốn hư vinh của xác thịt.

Đức Chúa Trời không kiêu ngạo vì Ngài vốn là cao siêu tuyệt đối, vượt trên cả muôn loài và khác với muôn loài. Con dân Chúa không nên kiêu ngạo để tìm kiếm sự tôn trọng từ người khác mà trái lại phải xem mọi người là tôn trọng hơn mình (Phi-líp 2:3). Con dân Chúa luôn học tập sự nhu mì và khiêm nhường của Chúa theo lời kêu gọi của Ngài: “Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của Ta, và học theo Ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ” (Ma-thi-ơ 11:29).

Tình yêu chẳng kiêu ngạo vì yêu là phục vụ và hạ mình xuống để nâng người mình yêu lên, như Đức Chúa Con đã tự hạ mình xuống để nâng những ai có lòng cải hối và tin cậy nơi Ngài lên địa vị thánh đồ và con cái của Thiên Chúa.

6. Tình yêu chẳng làm điều trái phép: Từ ngữ “làm điều trái phép” có nghĩa là làm những điều nghịch lại tiêu chuẩn đã định. Tiêu chẩn đã định tức là điều răn và luật pháp của Thiên Chúa được ghi chép trong Thánh Kinh.

Đức Chúa Trời không bao giờ làm nghịch lại tiêu chẩn của Ngài, vì thế, con dân Chúa cũng không thể làm nghịch lại tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời, cho dù là vì bất cứ lý do gì, trong bất kỳ cảnh ngộ nào. Từ ngàn xưa đến nay, biết bao nhiêu con dân Chúa đã thà mất đi mạng sống của mình hơn là làm ra một điều trái phép.

Tình yêu không làm điều trái phép, vì yêu là tin và làm theo mọi điều răn và luật pháp của Dức Chúa Trời.

7. Tình yêu chẳng kiếm tư lợi: Từ ngữ “kiếm tư lợi” trong  nguyên ngữ Thánh Kinh có nghĩa là chỉ tìm kiếm chính mình, chăm sóc chính mình, bỏ mặc nhu cầu của người khác. Kiếm tư lợi tức là ích kỷ và thường là làm hại đến quyền lợi của người khác, gạt gẫm người khác. Những sự mua bán gian lận điển hình cho sự kiếm tư lợi. Kiếm tư lợi còn có nghĩa là vì hạnh phúc của chính mình mà có thể làm bất cứ điều gì miễn sao mình được vui sướng.

Thiên Chúa không tìm kiếm tư lợi, trái lại, vì hạnh phúc của loài người mà Ngài đã hy sinh những điều cao quý nhất của mình. Đức Chúa Cha đã ban cho thế gian Con Một của Ngài. Đức Chúa Con đã hy sinh sự bình đẳng của mình với Đức Chúa Cha để nhập thế làm người chết thay cho nhân loại. Đức Thánh Linh không màng đến con người xác thịt vẫn còn có thể phạm tội, mà ngự vào trong thân thể của chúng ta để dạy dỗ và dẫn dắt chúng ta. Là con dân Chúa chúng ta không còn kiếm tư lợi, tức là không còn sống cho mình nữa mà là để Chúa sống trong chúng ta và chúng ta sống là sống cho Chúa, chết là chết cho Chúa: “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi” (Ga-la-ti 2:20). “Vả, chẳng có người nào trong chúng ta vì chính mình mà sống, cũng chẳng có người nào trong chúng ta vì chính mình mà chết; vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa, và nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Vậy nên chúng ta hoặc sống hoặc chết, đều thuộc về Chúa cả” (Rô-ma 14:7, 8).

Tình yêu chẳng kiếm tư lợi vì tình yêu ban cho hơn là nhận lãnh (Công Vụ Các Sứ Đồ 20:35).

8. Tình yêu chẳng nóng giận: Từ ngữ “nóng giận” trong nguyên ngữ Thánh Kinh có nghĩa là bị làm cho giận, chỉ được dùng đến hai lần, một lần trong I Cô-rinh-tô 13:5 mà chúng ta đang tìm hiểu và một lần trong Công Vụ Các Sứ Đồ 17:16, khi nói về việc khắp thành A-thên thờ lạy thần tượng làm cho tâm thần của Sứ Đồ Phao-lô nóng giận. Từ ngữ “nóng giận” này khác với từ ngữ “giận” trong Ê-phê-sô 4:26, “Ví bằng anh em đương cơn giận, thì chớ phạm tội; chớ căm giận cho đến khi mặt trời lặn.” Chúa không cấm chúng ta giận mà Chúa chỉ muốn chúng ta không phạm tội đang khi giận và không giận cho đến khi mặt trời lặn. Chính Chúa cũng giận khi thấy người ta biến đền thờ tại Giê-ru-sa-lem thành ra nơi buôn bán, gạt gẫm.

Ý nghĩa của mệnh đề“tình yêu chẳng nóng giận” là: tình yêu không nóng giận vì bị khiêu khích, bị chọc giận. Thành ngữ có câu: “giận mất khôn!” và một trong các chiến thuật Sa-tan dùng trong khi tấn công con dân Chúa là chiến thuật chọc giận. Người dễ nóng giận khi bị khiêu khích là người không có sự tiết độ, một trong những đặc tính của trái Thánh Linh (Ga-la-ti 6:22). Nóng giận có thể dẫn đến những quyết định sai lầm, dẫn đến sự phạm tội.

Chúa giận nhưng không ai có thể khiêu khích, chọc cho Ngài giận để hành động nghịch lại bản tính yêu thương, thánh khiết, và công chính của Ngài. Chúng ta có thể xem, hành vi hôn Chúa của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt trong khi dẫn lính đến bắt Chúa là một trong những cách Sa-tan dùng để chọc giận Chúa; nhưng Chúa đã không nóng giận trước cái hôn dùng làm dấu phản bội của ông. Là con dân Chúa chúng ta nhờ vào kết quả của Thánh Linh Chúa trong chúng ta mà tiết độ trong mọi sự. Mỗi hoàn cảnh “bị chọc giận” Chúa cho phép xảy đến với chúng ta là để chúng ta tự đo lường kết quả Trái Thánh Linh trong chúng ta.

Tình yêu không nóng giận vì bị khiêu khích để phạm tội nhưng tình yêu sẽ nóng giận trước những sự bất công, gian ác, nghịch lại điều răn và luật pháp của Thiên Chúa.

9. Tình yêu chẳng nghĩ đến sự dữ: Từ ngữ “nghi ngờ sự dữ” trong Bản Dịch Truyền Thống cần phải sửa lại là “nghĩ đến sự dữ” cho đúng với nguyên ngữ của Thánh Kinh. Nghi ngờ sự dữ chỉ là một phương diện của nghĩ đến sự dữ. Một người có thể không nghi ngờ sự dữ cho một người khác nhưng vẫn có thể nghĩ đến những sự dữ mà mình muốn làm hoặc nghĩ đến những sự dữ mà mình muốn chúng xảy ra cho kẻ thù của mình. Sự dữ là tất cả những gì trái nghịch lại với tiêu chuẩn yêu thương, thánh khiết, và công chính của Thiên Chúa. Một vài sự dữ điển hình cho những sự dữ mà người ta thường nghĩ đến, là: tư tưởng về các sự tà dâm, ngoại tình; tư tưởng về những sự dối gạt; tư tưởng về những sự độc ác muốn làm ra cho kẻ thù. Nghĩ đến sự dữ còn gọi là nghĩ ác. Nghĩ ác dẫn đến những lời nói ác là những lời rủa sả, và những hành động ác.

Dù Đức Chúa Trời hình phạt kẻ có tội mà không cải hối nhưng Đức Chúa Trời không hề nghĩ ác. Lời phán của Ngài được ghi lại trong Giê-rê-mi 29:11 như sau: “…Vì Ta biết ý tưởng Ta nghĩ đối cùng các ngươi, là ý tưởng bình an, không phải tai họa…” Là con dân Chúa chúng ta phải nhờ quyền năng của Đức Chúa Trời để “đánh đổ các lý luận, mọi sự tự cao nổi lên nghịch cùng sự hiểu biết Đức Chúa Trời, và bắt hết các ý tưởng làm tôi vâng phục Đấng Christ (II Cô-rinh-tô 10:5). Khi đó, “Sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ gìn giữ lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jesus Christ” (Phi-líp 4:7). Khi lòng và ý tưởng chúng ta được giữ gìn trong Đấng Christ thì chúng ta không còn nghĩ đến sự dữ, không còn nghĩ ác.

10. Tình yêu chẳng vui về điều không công bình nhưng vui trong lẽ thật: Từ ngữ “điều không công bình” có nghĩa là điều không đúng theo tiêu chuẩn của Thánh Kinh. “Mọi sự không công bình đều là tội… “ (I Giăng 5:17).

Đức Chúa Trời không vui về những sự tội lỗi và Ngài cũng không vui khi kẻ ác bị hình phạt. “Chúa Giê-hô-va phán rằng: Thật vậy, Ta không vui đâu về sự chết của kẻ phải chết, vậy các ngươi hãy xây lại, mà được sống” (Ê-xê-chi-ên 18:32). Con dân Chúa không thể vui khi thấy sự bất công xảy ra, nhất là khi thấy anh chị em trong Chúa sống nghịch lại Lời Chúa.

Tình yêu không thể nào vui về điều không công bình vì tình yêu chỉ vui trong lẽ thật. Lẽ thật là Lời Chúa (Giăng 17:17). Lẽ thật là luật pháp của Chúa (Thi Thiên 119:142). Lẽ thật cũng chính là Chúa (Giăng 14:6). Tình yêu vui trong Chúa, vui trong Lời Chúa và vui trong luật pháp của Chúa.

11. Tình yêu che chở mọi sự: Từ ngữ “che chở” trong nguyên ngữ của Thánh Kinh có nghĩa đen là che chở như một nóc nhà và nghĩa bóng là gìn giữ và  bảo vệ tất cả những gì trong trách nhiệm. Từ ngữ này không có nghĩa là bao che cho tội lỗi được tiếp tục phát triển. Tình yêu của một người trong Chúa gìn giữ và bảo vệ tất cả những gì thuộc về Lời Chúa và Hội Thánh của Ngài. Như mái nhà phải chống chỏi với sức tàn phá của nắng, mưa, giông, gió… để gìn giữ và bảo vệ mọi sự ở trong nhà, mỗi con dân Chúa cũng phải chống chỏi với sự tàn phá và bách hại từ tà giáo, giáo sư giả, tiên tri giả, người chăn giả, con chiên giả… để bảo vệ những gì thuộc về Lời Chúa và Hội Thánh Chúa. Mỗi một sự che chở đều có một cái giá phải trả và sự che chở phải bao gồm mọi sự Chúa đã trao vào trong trách nhiệm của chúng ta. Động cơ của sự che chở là Tình Yêu: Yêu Chúa và yêu người.

Hành động bao che, dung túng cho tội lỗi hoàn toàn nghịch lại Lời Chúa không thể so sánh với sự bao che của tình yêu. Sự bao che, dung túng tội lỗi là đồng lỏa với kẻ phạm tội và vi phạm sự công chính của Thiên Chúa; trong khi sự che chở của tình yêu là gìn giữ, bảo vệ những điều chân thiện mỹ của Lời Chúa và con dân Chúa khỏi mọi hành động tội lỗi.

12. Tình yêu tin mọi sự: Từ ngữ “tin” trong nguyên ngữ của Thánh Kinh là cùng một từ ngữ được dùng trong Giăng 3:16 “Vì Ðức Chúa Trời yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin nơi Con ấy không bị hư mất, mà được sự sống đời đời.” Ý nghĩa trọn vẹn của chữ “tin” là: “công nhận và làm theo.” Công nhận mà không làm theo thì không phải là tin mà chỉ là đồng ý. Thí dụ, có một nhà hảo tâm tuyên bố rằng trước 6 giờ chiều hôm nay, hễ ai bước qua cổng biệt thự của ông sẽ được ông tiếp đãi như khách quý và tặng cho một lượng vàng. Như vậy, chỉ những ai tin và bước qua cổng biệt thự của nhà hảo tâm trước 6 giờ chiều mới nhận được sự thực hiện lời hứa của ông. Những ai tin mà không làm theo lời tuyên bố hoặc làm theo mà không đúng, như bước qua cổng biệt thự sau 6 giờ chiều, thì không thể nhận được gì từ nơi nhà hảo tâm.

Đức Chúa Trời “tin mọi sự” có nghĩa là Ngài công nhận và làm theo tất cả những gì đúng theo tiêu chuẩn yêu thương, thánh khiết, và công bình của Ngài đã được thể hiện trong Thánh Kinh. Đức Chúa Trời “tin mọi sự” có nghĩa là Ngài công nhận và đáp ứng những gì chúng ta kêu cầu, trình dâng, và làm ra trong tiêu chuẩn của Ngài. Là con dân Chúa chúng ta cần “tin mọi sự” trong Lời Chúa, tức là công nhận và làm theo mọi điều Chúa phán dạy, được ghi chép trong Thánh Kinh; đồng thời chúng ta công nhận và đáp ứng tất cả những gì mà các anh chị em của chúng ta nói và làm trong tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời.

Tình yêu tin mọi sự có nghĩa là tình yêu công nhận và làm theo mọi lời phán của Đức Chúa Trời; đồng thời công nhận và đáp ứng tất cả những lời nói và hành động đúng theo lời Chúa của bất cứ ai.

13. Tình yêu trông cậy mọi sự: Từ ngữ “trông cậy” có nghĩa là mong muốn và chờ đợi điều chắc chắn sẽ xảy ra.

Đức Chúa Trời trông cậy toàn bộ ý muốn và chương trình của Ngài được hiện thực để con dân của Ngài được vui sống đời đời trong hạnh phúc với Ngài. Con dân Chúa và muôn vật cũng trông cậy điều đó: “Vì chúng ta thật than thở trong nhà tạm nầy, mà hết sức mong được mặc lấy nhà chúng ta từ trên trời” (II Cô-rinh-tô 5:2). “Vì chúng ta biết rằng muôn vật đều than thở và chịu khó nhọc cho đến ngày nay; không những muôn vật thôi, lại chúng ta, là kẻ có trái đầu mùa của Đức Thánh Linh, cũng than thở trong lòng đang khi trông đợi sự làm con nuôi, tức là sự cứu chuộc thân thể chúng ta vậy” (Rô-ma 8:22, 23). Đó là sự trông cậy phước hạnh (Tít 2:13) và là sự trông cậy trọn vẹn: “Vậy, anh em hãy bền chí như thể thắt lưng, hãy tiết độ, lấy sự trông cậy trọn vẹn đợi chờ ơn sẽ ban cho mình trong khi Đức Chúa Jesus Christ hiện ra” (I Phi-e-rơ 1:13).

Tình yêu trông cậy mọi sự có nghĩa là tình yêu mong muốn và chờ đợi tất cả những gì Chúa hứa trong Thánh Kinh được Ngài làm cho ứng nghiệm; đồng thời mong muốn và chờ đợi tất cả những việc làm đúng với Lời Chúa của con dân Chúa.

14. Tình yêu nín chịu mọi sự: Từ ngữ “nín chịu:” Từ ngữ này khác với từ ngữ “nhẫn nại.” Trong khi “nhẫn nại” có nghĩa là chậm lại việc hình phạt kẻ có lỗi thì “nín chịu” nói đến sức mạnh chịu đựng bất công và nghịch cảnh cho đến cuối cùng, cho đến khi đạt được mục đích.

Đức Chúa Trời là Đấng Toàn Năng, cho nên, không có điều gì Ngài không thể chịu đựng. Nhưng khi Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thế làm người, chịu giới hạn trong xác thịt thì Ngài đã nín chịu mọi nghịch cảnh cho đến khi hoàn thành sự cứu rỗi nhân loại. Con dân Chúa chỉ có thể nín chịu bằng ân điển của Chúa: “Nhưng Chúa phán rằng: Ân điển Ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của Ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối. Vậy, tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi” (II Cô-rinh-tô 12:9). Nhờ đó mà con dân Chúa có thể đồng thanh với Sứ Đồ Phao-lô: “Qua Đấng Christ là Đấng ban thêm sức cho tôi, tôi làm được mọi sự” (Phi-líp 4:13).

Kết Quả của Tình Yêu  – I Phi-e-rơ 4:8

“Nhứt là trong vòng anh em phải có tình yêu chân thật; vì tình yêu che đậy vô số tội lỗi.”

Tình yêu chân thật là tình yêu được mô tả trong I Cô-rinh-tô 13:4-8 trên đây. Mệnh đề: “vì tình yêu che đậy vô số tội lỗi” không có nghĩa là tình yêu bao che và dung túng cho vô số tội lỗi. Từ ngữ “che đậy” trong nguyên tác của Thánh Kinh có nghĩa là: (1) che đậy sự hiểu biết về một điều gì đó; (2) làm cho một điều gì đó không thể hiện thực. Như vậy, “tình yêu che đậy vô số tội lỗi” có nghĩa là: (1) tình yêu khiến cho người ta không hiểu biết cách thức phạm tội, vì thế người ta không thể phạm tội; (2) nhờ đó, tình yêu khiến cho biết bao nhiêu tội lỗi không thể xảy ra.

Một ngày kia, Thiên Chúa của tình yêu sẽ làm mới lại tất cả muôn vật. Kẻ ác, sự dữ, tội lỗi và hậu quả của tội lỗi sẽ bị nhốt đời đời trong hồ lửa (Khải Huyền 20:10-15); và đối với tất cả con dân Chúa, Ngài “sẽ lau hết mọi nước mắt khỏi mắt họ. Sẽ không còn sự chết, không còn buồn khổ, không còn khóc lóc, cũng không còn đau đớn nữa vì những sự cũ đã qua rồi” Khải Huyền 21:4). Đó là lúc kết quả của tình yêu đã kết thành trọn vẹn.

Từ Ngữ Đoán Xét Trong Thánh Kinh

Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ ý nghĩa của từ ngữ “đoán xét” hoặc “xét đoán.” Trong nguyên ngữ của Thánh Kinh, từ ngữ “krinō,” G2919, phiên âm là /kree’-no/, có nhiều nghĩa khác nhau: phân biệt, lựa, chọn; phán đoán; nhận định; thẩm định; xử án; tuyên án; phán quyết, vv… Vì thế, tùy theo văn cảnh mà từ ngữ này phải được dịch  sang tiếng Việt bằng những từ ngữ khác nhau với những nghĩa khác nhau. Thí dụ sau đây trong tiếng Việt cho chúng ta thấy, cùng là một từ ngữ nhưng nếu ở trong văn cảnh khác nhau thì ý nghĩa sẽ khác nhau, nhiều khi hai ý nghĩa của cùng một từ ngữ chẳng có liên quan gì với nhau: “giàu có thì ăn tiêu thoải mái” khác xa với “ăn tiêu để giải cảm.” Cùng là từ ngữ “ăn tiêu” nhưng có khi mang nghĩa “sử dụng tiền bạc, của cải” và có khi mang nghĩa “ăn hạt tiêu” là một thứ gia vị.

Theo “W. E. Vine’s Complete Expository Dictionary” thì Thánh Kinh Tân Ước dùng từ ngữ “krinō” với những ý sau đây:

1. Định tội như một quan tòa:

“Các ngươi đừng định tội ai, để mình khỏi bị định tội(Ma-thi-ơ 7:1)

“Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài đến thế gian, chẳng phải để định tội thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con ấy, mà được cứu”(Giăng 3:17)

2. Xét xử hoặc chịu sự xét xử:

“Ai tin nơi Con ấy, thì chẳng bị định tội. Ai không tin, thì đã bị định tội rồi; vì không tin nơi danh Con Một của Đức Chúa Trời”(Giăng 3:18).

“Phi-lát bèn nói với họ: Các ngươi hãy tự bắt lấy người và xử theo luật của các ngươi. Những người Giu-đa thưa với người rằng: Chúng tôi chẳng được phép giết ai cả”(Giăng 18:31).

“Hãy nói và làm dường như phải chịu luật pháp tự do đoán xét mình”(Gia-cơ 2:12).

3. Phán quyết:

“Vậy, theo phán quyết của tôi, thật chẳng nên khuấy rối những người ngoại trở về cùng Đức Chúa Trời” (Công Vụ Các Sứ Đồ 15:19).

“Hễ ghé qua thành nào, hai người cũng dặn biểu phải giữ mấy lề luật mà các sứ đồ và trưởng lão tại thành Giê-ru-sa-lem đã phán quyết(Công Vụ Các Sứ Đồ 16:4).

“Còn người ngoại đã tin, chúng tôi có viết thơ cho họ về điều chúng tôi đã phán quyết: là chỉ phải kiêng ăn của cùng thần tượng, máu và thú vật chết ngộp, cùng chớ gian dâm”(Công Vụ Các Sứ Đồ 21:25).

4. Kết tội, buộc tội:

“Người nào chối bỏ Ta và không nhận lãnh những lời của Ta, thì đã có kẻ kết tội người. Lời Ta đã phán, lời ấy sẽ kết tội người trong ngày sau cùng”(Giăng 12:48).

“Vì dân và các quan ở thành Giê-ru-sa-lem chẳng nhìn biết Đức Chúa Jesus nầy, nên lúc kết tội Ngài, chúng đã làm ứng nghiệm lời của các đấng tiên tri mà người ta thường đọc trong mỗi ngày Sa-bát”(Công Vụ Các Sứ Đồ 13:27).

“Kẻ vốn không chịu cắt bì, mà làm trọn luật pháp sẽ kết tội ngươi, là kẻ dẫu có chữ của luật pháp và phép cắt bì, lại phạm luật pháp”(Rô-ma 2:27).

5. Thi hành án phạt:

Đức Chúa Trời lại phán rằng: Nhưng Ta sẽ thi hành án phạt dân đã bắt chúng nó làm tôi, kế đó, chúng nó sẽ ra khỏi, và thờ phượng Ta trong nơi nầy” (Công Vụ Các Sứ Đồ 7:7).

“Hầu cho hết thảy những người không tin lẽ thật, song chuộng sự không công bình, đều bị phục dưới sự thi hành án phạt của Ngài”(II Tê-sa-lô-ni-ca 2:12).

6. Dính dáng đến một vụ thưa kiện:

a) với tư cách là nguyên cáo: Ma-thi-ơ 5:40; I Cô-rinh-tô 6:1;

b) hoặc với tư cách là bị cáo: Công Vụ Các Sứ Đồ 23:6.

7. Cai trị:

“Đức Chúa Jesus đáp rằng: Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, đến kỳ muôn vật đổi mới, là khi Con người sẽ ngự trên ngôi vinh quang của Ngài, thì các ngươi là kẻ đã theo Ta, cũng sẽ ngồi trên mười hai ngôi, mà xét đoán mười hai chi phái I-sơ-ra-ên”(Ma-thi-ơ 19:28).

8. Suy xét, phán đoán, cho rằng:

“Si-môn thưa rằng: Tôi tưởng là người mà chủ nợ đã tha nhiều nợ hơn. Đức Chúa Jesus phán rằng: Ngươi phán đoán phải lắm”(Lu-ca 7:43).

“Đừng phán xét theo bề ngoài, nhưng phải phán xét theo sự phán xét công chính”(Giăng 7:24).

“Nhưng Phi-e-rơ và Giăng trả lời rằng: Chính các ông hãy suy xét, trước mặt Đức Chúa Trời có nên vâng lời các ông hơn là vâng lời Đức Chúa Trời chăng”(Công Vụ Các Sứ Đồ 4:19)?

“Người nầy cho rằng ngày nầy hơn ngày khác, kẻ kia cho rằng mọi ngày đều bằng nhau; ai nấy hãy tin chắc ở trí mình”(Rô-ma 14:5).

9. Có ý định, quyết định:

“Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, I-sác, và Gia-cốp, Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta đã làm vinh quang đầy tớ Ngài là Đức Chúa Jesus, là Đấng mà các ngươi đã bắt nộp và chối bỏ trước mặt Phi-lát, trong khi người có ý tha Ngài ra”(Công Vụ Các Sứ Đồ 3:13).

“Vì Phao-lô đã quyết định đi qua trước thành Ê-phê-sô xong không dừng lại tại đó, e cho chậm trễ trong cõi A-si. Người vội đi đặng có thể đến thành Giê-ru-sa-lem kịp trong ngày Lễ Ngũ Tuần”(Công Vụ Các Sứ Đồ 20:16).

“Vì tôi đã định ý rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Đức Chúa Jesus Christ, và Đức Chúa Jesus Christ bị đóng đinh trên cây thập tự”(I Cô-rinh-tô 2:2).

Những Câu Thánh Kinh Có Từ Ngữ Đoán Xét Bị Lạm Dụng

Với những ý nghĩa được dùng trên đây của từ ngữ “đoán xét” (“krinō“), chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa của những câu Thánh Kinh mang từ ngữ này thường bị lạm dụng.

1. Ma-thi-ơ 7:1, 2 

“Các ngươi đừng định tội ai, để mình khỏi bị định tội. Vì các ngươi định tội người ta thể nào, thì họ cũng định tội lại thể ấy; các ngươi lường cho người ta mực nào, thì họ cũng lường lại cho mực ấy.”

Nếu Chúa chỉ phán như thế thì rõ ràng là Chúa không cho phép có sự lên án và kết tội người có tội. Tuy nhiên khi chúng ta đặt hai câu này vào trong văn cảnh của nó là Ma-thi-ơ 7:1-5 thì chúng ta thấy đây là lời quở trách của Đức Chúa Jesus dành cho những kẻ giả hình, tức là những kẻ phạm cùng một tội như người khác, thậm chí còn phạm tội trầm trọng hơn, mà lại đóng vai quan tòa buộc tội người khác. Chúa không hề có ý ngăn cấm không cho phép có sự xét đoán công chính. Vì nếu thế sẽ không ai được làm quan tòa và Hội Thánh cũng không thể lên án và kỷ luật kẻ có tội mà không chịu cải hối.

Ma-thi-ơ 7:1-5

1 Các ngươi đừng định tội ai, để mình khỏi bị định tội.

2 Vì các ngươi định tội người ta thể nào, thì họ cũng định tội lại thể ấy; các ngươi lường cho người ta mực nào, thì họ cũng lường lại cho mực ấy.

3 Sao ngươi dòm thấy cái rác trong mắt anh em ngươi, mà chẳng thấy cây đà trong mắt mình?

4 Sao ngươi dám nói với anh em rằng: Để tôi lấy cái rác ra khỏi mắt anh, mà chính ngươi có cây đà trong mắt mình?

5 Hỡi kẻ giả hình! trước hết phải lấy cây đà khỏi mắt mình đi, rồi mới thấy rõ mà lấy cái rác ra khỏi mắt anh em mình được.

Ý nghĩa của Ma-thi-ơ 7:1, 2 về sau được Đức Thánh Linh, qua ngòi bút của Phao-lô, nhắc lại trong Rô-ma 2:1, 3:

“Vậy hỡi người kia, ngươi là ai mặc lòng, hễ đoán xét kẻ khác thì không thể chữa mình được; vì trong khi đoán xét họ, ngươi cũng lên án cho chính mình ngươi nữa, bởi ngươi đoán xét họ, mà cũng làm các việc như họ… Hỡi người đoán xét kẻ phạm những việc dường ấy mà mình cũng phạm kia, vậy ngươi tưởng rằng chính mình ngươi sẽ tránh khỏi sự phán xét của Đức Chúa Trời sao?”

2. Lu-ca 6:37

“Đừng đoán xét ai, thì các ngươi khỏi bị đoán xét; đừng lên án ai, thì các ngươi khỏi bị lên án; hãy tha thứ, thì ngươi sẽ được tha thứ.”

Ý nghĩa của từ ngữ “đoán xét” trong câu này liên quan đến những điều Chúa dạy các môn đồ của Ngài trước đó, từ câu 27 đến câu 36, nói đến sự yêu thương kẻ thù, làm ơn cho kẻ ghét mình, chúc phước cho kẻ rủa mình, cầu nguyện cho kẻ sỉ nhục mình, làm cho người điều mình muốn người làm cho mình, và hãy thương xót như Đức Chúa Cha là Đấng hay thương xót. Trong văn cảnh đó, Chúa dạy chúng ta đừng đoán xét người ngoại là kẻ thù của chúng ta vì cớ họ ghét chúng ta, bách hại chúng ta, làm ra những điều bất công đối với chúng ta. Chúng ta cần cư xử với người ngoại như vậy vì chính chúng ta đã được hưởng ơn tha thứ của Chúa. Việc đoán xét người ngoại thuộc về Đức Chúa Trời và các nhà cầm quyền Chúa đã lập nên:

“Vì chưng có phải tôi nên đoán xét kẻ ở ngoài sao? Há chẳng phải anh em nên đoán xét những người ở trong sao? Còn như kẻ ở ngoài, thì Đức Chúa Trời sẽ đoán xét họ. Hãy trừ bỏ kẻ gian ác khỏi anh em” (I Cô-rinh-tô 5:12, 13).

“Vì quan quyền là chức việc của Thiên Chúa để làm ích cho ngươi. Song nếu ngươi làm ác, thì hãy sợ, vì người cầm gươm chẳng phải là vô cớ; người là chức việc của Thiên Chúa để làm ra sự công bình và phạt kẻ làm dữ”(Rô-ma 13:4).

3. Rô-ma 14:13

“Vậy chúng ta chớ xét đoán nhau; nhưng thà nhứt định đừng để hòn đá vấp chơn trước mặt anh em mình, và đừng làm dịp cho người sa ngã.”

Đây là câu kết luận cho những điều Sứ Đồ Phao-lô đã trình bày trước đó, từ câu 1-6, về việc trong Hội Thánh có sự phê bình, chỉ trích lẫn nhau giữa người ăn thịt và người ăn rau, giữa người chọn kiêng ăn vào ngày này với người chọn kiêng ăn vào ngày kia. Ai nấy cho rằng mình đúng và lên án người khác là sai. Sự đoán xét như vậy là không công bình, tức không dựa trên lẽ thật của Lời Chúa, cho nên Phao-lô khuyên Hội Thánh đừng làm ra những sự đoán xét như vậy. Phao-lô không hề có ý nói rằng con dân Chúa hoàn toàn không được đoán xét lẫn nhau, vì nếu thế, ông đã không bảo Hội Thánh phải đoán xét những người phạm tội trong Hội Thánh và trừ bỏ họ ra khỏi Hội Thánh, như chúng ta đã nói đến ở trên.

4. I Cô-rinh-tô 4:5

“Vậy, chớ xét đoán sớm quá, hãy đợi Chúa đến; chính Chúa sẽ tỏ những sự giấu trong nơi tối ra nơi sáng, và bày ra những sự toan định trong lòng người; bấy giờ, ai nấy sẽ bởi Đức Chúa Trời mà lãnh sự tôn vinh mình đáng lãnh.”

Sự xét đoán mà Phao-lô nói đến ở đây là sự đoán xét để luận công của những người hầu việc Chúa. Trong Hội Thánh Cô-rinh-tô lúc bấy giờ có sự chia bè, lập đảng; người thì tung hô Phao-lô, người thì tung hô A-bô-lô (I Cô-rinh-tô 3:4). Có lẽ mỗi phe thi nhau kể thành tích của người mà họ mến chuộng.  Vì thế, trong thư I Cô-rinh-tô từ 3:1-22 Phao-lô quở trách và nhắc cho họ biết chỉ Đấng Christ là nền Hội Thánh, những người hầu việc Chúa đồng công với nhau trong việc xây dựng Hội Thánh nhưng chính Đức Chúa Trời là Đấng làm cho Hội Thánh lớn lên. Phao-lô giải thích cho họ biết là mọi việc làm của con dân Chúa sẽ bị thử nghiệm bởi Đức Chúa Jesus Christ và Ngài sẽ ban thưởng cho mỗi người tùy theo giá trị của mỗi việc làm. Ngoài ra, hết thảy mọi sự thuộc về Hội Thánh, Hội Thánh thuộc về Đấng Christ, Đấng Christ thuộc về Đức Chúa Trời, cho nên, con dân Chúa không nên chia bè, lập đảng tự phân cách mình với nhau. Phao-lô khuyên họ hãy nhường sự đoán xét luận công khen thưởng cho Chúa, vì chỉ có chính Chúa sẽ tỏ những sự giấu trong nơi tối ra nơi sáng, và bày ra những sự toan định trong lòng người,mà ban thưởng cách xứng đáng. I Cô-rinh-tô 4:5 hoàn toàn không liên quan gì đến việc đoán xét những điều không công bình theo lời Chúa dạy trong Lu-ca 12:57 hoặc đoán xét những kẻ phạm tội trong Hội Thánh theo lời Chúa dạy trong Ma-thi-ơ 18:17 và I Cô-rinh-tô 5:13.

5. Cô-lô-se 2:16

“Vì vậy, chớ để ai đoán xét anh em về sự ăn hay sự uống, hoặc trong sự dự phần của một ngày lễ, hoặc của một ngày mặt trăng mới, hoặc của những ngày Sa-bát.”

Trước hết, trong Bản Dịch Truyền Thống dịch là “chớ có ai đoán xét anh em” không đúng với nguyên ngữ, là “chớ để ai đoán xét anh em.” Đây cũng là một câu thường bị lạm dụng để ủng hộ cho lý luận “con dân Chúa không cần giữ ngày Sa-bát.” Tuy nhiên, đây không phải là câu mà Phao-lô hủy bỏ sự giữ ngày Sa-bát và ra lệnh cho Hội Thánh không được đoán xét những người không giữ ngày Sa-bát. Chính Phao-lô là người có thói quen giữ ngày Sa-bát:

“Phao-lô tới nhà hội theo thói quen mình, và trong ba ngày Sa-bát bàn luận với họ”(Công Vụ Các Sứ Đồ 17:2).

“Hễ đến ngày Sa-bát, thì Phao-lô giảng luận trong nhà hội, khuyên dỗ người Giu-đa và người Gờ-réc”(Công Vụ Các Sứ Đồ 18:4).

Kế tiếp, từ ngữ Sa-bát được dùng trong câu này là số nhiều, dùng để chỉ các ngày lễ Sa-bát trong năm, không phải ngày Sa-bát cuối tuần. “Sa-bát” có nghĩa là “ngưng lao động,” cho nên ngày Sa-bát là ngày ngưng lao động. Ngoài ngày ngưng lao động cuối tuần là ngày thứ bảy thì mỗi năm có nhiều ngày ngưng lao động trong các dịp lễ hội, và những ngày đó được gọi là “những ngày Sa-bát.” Ý nghĩa rõ ràng của câu này là: “Tất cả những hình thức lễ nghi trong thời Cựu Ước tiêu biểu cho sự chuộc tội, sự thánh hóa, sự thờ phượng Thiên Chúa đã được hoàn tất trong Đấng Christ, cho nên, ngày nay sự vâng giữ các lễ nghi đó không còn phải theo hình thức cũ nữa mà theo hình thức mới trong tâm thần của con dân Chúa (thay vì tại đền thờ Giê-ru-sa-lem) và theo lẽ thật của Lời Chúa được giải bày trong Tân Ước. Vì vậy, đừng cho phép ai lên tiếng phê phán mình cách ăn uống, như sự không kiêng cử các thức ăn vốn bị coi là không tinh sạch, hoặc cách thức giữ các ngày lễ, ngày trăng mới, và những ngày lễ Sa-bát không theo hình thức cũ!”

Câu này hoàn toàn không liên quan gì đến việc đoán xét những điều không công bình theo lời Chúa dạy trong Lu-ca 12:57 hoặc đoán xét những kẻ phạm tội trong Hội Thánh theo lời Chúa dạy trong Ma-thi-ơ 18:17 và I Cô-rinh-tô 5:13.

6. Gia-cơ 4:11, 12

“Hỡi anh em, chớ vu khống nhau. Ai vu khống anh em mình và kết tội anh em mình, tức là vu khống luật pháp và kết tội luật pháp. Vả, nếu ngươi kết tội luật pháp, thì ngươi chẳng phải là kẻ vâng giữ luật pháp, bèn là người kết tội luật pháp vậy. Chỉ có một Đấng lập ra luật pháp và một Đấng kết tội, tức là Đấng cứu được và diệt được. Nhưng ngươi là ai, mà dám kết tội kẻ lân cận mình?”

Bản Dịch Truyền Thống dịch là “Ai nói hành anh em mình hoặc xét đoán anh em mình” là không đúng vì trong nguyên ngữ là: “Ai vu khống anh em mình kết tội anh em mình;” tức là hành động kết tội theo sau việc vu khống. Từ ngữ “nói hành” được dùng trong bản Dịch Truyền Thống, trong nguyên ngữ có nghĩa là “vu khống,” tức là nói oan cho người khác. Vì thế, ý nghĩa của Gia-cơ 14:11, 12 là: “Đừng vu khống nhau. Ai vu khống anh em mình rồi dựa vào lời vu khống đó để kết tội anh em mình thì người đó vu khống luật pháp và kết tội luật pháp. Bởi vì khi một người dùng luật pháp để kết tội người khác về một việc không có thật do mình vu khống thì người ấy đã làm cho luật pháp ra xấu, tức là đã vu khống cho luật pháp và kết tội luật pháp.”

Rõ ràng, câu này cũng hoàn toàn không liên quan gì đến việc đoán xét những điều không công bình theo lời Chúa dạy trong Lu-ca 12:57 hoặc đoán xét những kẻ phạm tội trong Hội Thánh theo lời Chúa dạy trong Ma-thi-ơ 18:17 và I Cô-rinh-tô 5:13.

Không Được Đụng Đến Người Được Chúa Xức Dầu

Cũng liên quan đếnsự đoán xét, có một câu thường được các bậc chức sắc trong các giáo hội mang danh Chúa sử dụng để chống lại những ai lên tiếng phê bình, chỉ trích nếp sống nghịch Lời Chúa của họ. Câu đó hoàn toàn không có trong Thánh Kinh nhưng được họ khẳng định là có. Đó là câu: “Không được đụng đến người Chúa đã xức dầu,” và câu này được họ dùng Rô-ma 14:4 để củng cố: “Ngươi là ai mà dám xét đoán tôi tớ của kẻ khác? Nó đứng hay ngã, ấy là việc chủ nó; song nó sẽ đứng, vì Chúa có quyền cho nó đứng vững vàng”.

Thật ra, tương tự như Sa-tan bẻ cong Lời Chúa khi biến: “Vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết” thành “Hai ngươi chẳng chết đâu” (Sáng Thế Ký 2:17; 3:4); họ đã bẻ cong những lời nói của Vua Đa-vít, được ghi lại trong các câu liệt kê dưới đây:

I Sa-mu-ên 24:7 “Người nói cùng kẻ theo mình rằng: Nguyện Đức Giê-hô-va chớ để ta phạm tội cùng chúa ta, là kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va, mà tra tay trên mình người, vì người là kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va.”

I Sa-mu-ên 24:11 “Kìa, hãy xem, chính mắt vua có thế thấy được rằng ngày nay, trong hang đá, Đức Giê-hô-va đã phó vua vào tay tôi. Có người biểu giết vua; nhưng tôi dong-thứ cho vua, mà rằng: ta không tra tay trên mình chúa ta, vì người là đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va.”

I Sa-mu-ên 26:9 “Nhưng Đa-vít bảo A-bi-sai rằng: Đừng giết người; ai có thế tra tay trên kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va mà không bị phạt?”

I Sa-mu-ên 26:11 “Nguyện Đức Giê-hô-va giữ, chớ cho tôi tra tay vào kẻ chịu xức dầu của Ngài! Ta xin ngươi chỉ hãy lấy cây giáo nơi đầu giường người cùng cái bình nước, rồi chúng ta hãy đi.”

I Sa-mu-ên 26:23 “Đức Giê-hô-va sẽ báo trả cho mọi người tùy theo sự công bình và trung tín của người; vì ngày nay Ngài đã phó vua vào tay tôi, mà tôi không khứng tra tay vào đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va.”

II Sa-mu-ên 1:14 “Đa-vít nói rằng: Cớ sao ngươi không sợ giơ tay lên giết kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va?”

Đọc xong những câu Thánh Kinh kể trên chúng ta nhận thấy ý nghĩa câu nói của Vua Đa-vít là “Đừng giết người chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va,” ông không nói đừng phê bình, đừng quở trách những việc làm sai trái của họ. Trong thực tế, Vua Đa-vít đã thẳng thắn quở trách hành động sai trái, bất công của Vua Sau-lơ trước mặt các tướng sĩ, khi Vua Sau-lơ vì ganh tỵ mà đuổi giết ông (I Sa-mu-ên 24:10-16).

Sứ Đồ Phao-lô truyền lệnh cho Ti-mô-thê về việc quở trách và sửa phạt các trưởng lão có lỗi trong Hội Thánh như sau:

“Đừng chấp một cái đơn nào kiện một trưởng lão mà không có hai hoặc ba người làm chứng. Kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ”(I Ti-mô-thê 5:19, 20).

Sự xức dầu trong Cựu Ước tiêu biểu cho sự một người được Đức Chúa Trời kêu gọi, giao cho chức vụ, ban cho thẩm quyền, năng lực và ân tứ để hầu việc Chúa. Ngày nay, mỗi một người tin và làm theo Lời Chúa đều được kêu gọi làm con cái của Đức Chúa Trời, làm sứ giả rao giảng Tin Lành (Ma-thi-ơ 28:19, 20), làm vua và thầy tế lễ (I Phi-e-rơ 2:9; Khải Huyền 1:6), được xức dầu qua sự kiện được báp-tem bằng Thánh Linh; và như thế, mỗi con dân chân thật của Chúa đều là “người chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va.” Hễ ai giết những người chịu xức dầu của Chúa thì sẽ bị Thiên Chúa hình phạt xứng đáng nhưng hễ người chịu xức dầu của Chúa phạm lỗi thì phải bị quở trách trước Hội Thánh để làm gương cho người khác.

Những giáo sư giả, tiên tri giả, kẻ chăn thuê, quân trộm cướp, sói đội lốt chiên, dê, cỏ lùng “mượn đạo tạo đời” không bao giờ là tôi tớ của Chúa, làm gì được Chúa xức dầu? Và vì thế, Rô-ma 14:4 không hề được áp dụng cho họ. Mặt khác, ý nghĩa của Rô-ma 14:4 là nói đến những người thật lòng tin Chúa nhưng còn non kém trong đức tin thì sẽ được Chúa làm cho họ vững mạnh; chứ không phải nói đến những người không chịu từ bỏ nếp sống tội, làm gương xấu cho Hội Thánh.

Rất có thể, ngày nay, những kẻ giả hình đó mang trên mình nhiều bằng cấp thần học, giữ những chức vụ quan trọng trong các tổ chức giáo hội, quản nhiệm những tổ chức tôn giáo có số đông đến hàng ngàn hay hàng chục ngàn người; họ ồn áo, náo động, nhân danh Chúa nói tiên tri, đuổi quỷ và làm ra nhiều dấu kỳ phép lạ; nhưng một ngày không xa nữa, chính Đức Chúa Jesus Christ sẽ phán với họ rằng: “Hỡi những kẻ làm gian ác, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi Ta” (Ma-thi-ơ 7:22, 23). “Ta chẳng biết các ngươi bao giờ” có nghĩa là họ chưa bao giờ thật lòng tin nhận Chúa, chưa bao giờ ở trong sự cứu rỗi của Ngài, cho nên, Chúa chưa bao giờ biết đến họ trong gia đình của Ngài.

Con Dân Chúa và Sự Đoán Xét

Lý luận cho rằng con dân Chúa không được đoán xét là lý luận hoàn toàn nghịch lại lời Chúa dạy trong Thánh Kinh. Trái lại, Chúa truyền lệnh cho con dân Chúa phải đoán xét mọi sự (Lu-ca 12:57) và đoán xét lẫn nhau trong Hội Thánh (I Cô-rinh-tô 5:12, 13) theo lẽ công bình, tức là dựa trên sự yêu thương, thánh khiết, và công chính của Lời Chúa mà đoán xét mọi sự và đoán xét lẫn nhau, khuyên dạy lẫn nhau, quở trách lẫn nhau. Nếu kẻ có tội không chịu cải hối thì phải sửa phạt.

Trong Lu-ca 12:57 Chúa quở trách dân chúng đến nghe Ngài giảng rằng, họ đã không tự mình suy xét xem điều gì là công bình để biết và làm theo, đồng thời tránh làm ra những điều không công bình:

“Lại sao các ngươi cũng không tự mình xét đoán điều gì là công bình?”

Trong Giăng 7:24 Chúa quở trách những người Do-thái đã theo hình thức bên ngoài mà xét đoán Chúa và Ngài khuyên họ phải xét đoán theo lẽ công bình. Xét đoán theo lẽ công bình là xét đoán theo tiêu chuẩn của Lời Chúa:

“Đừng cứ bề ngoài mà xét đoán, nhưng phải xét đoán theo lẽ công bình.”

Trong I Cô-rinh-tô 5:12, 13 Sứ Đồ Phao-lô nhắc và chỉ thị cho Hội Thánh không nên đoán xét người ngoại nhưng phải đoán xét những người trong Hội Thánh; và phải khai trừ kẻ gian ác ra khỏi Hội Thánh. Kẻ gian ác là kẻ phạm tội mà không chịu cải hối:

“Vì chưng có phải tôi nên đoán xét kẻ ở ngoài sao? Há chẳng phải anh em nên đoán xét những người ở trong sao? Còn như kẻ ở ngoài, thì Đức Chúa Trời sẽ đoán xét họ. Hãy trừ bỏ kẻ gian ác khỏi anh em.”

Trong I Cô-rinh-tô 6:1 Sứ Đồ Phao-lô nói đến việc anh chị em trong Hội Thánh có sự gì nghịch cùng nhau thì hãy để cho người trong Hội Thánh đoán xét, đừng đưa ra tòa án của người thế gian, khiến cho người thế gian đoán xét con dân Chúa.

Khi trong anh em ai có sự nghịch cùng người khác, sao dám để cho kẻ không công bình đoán xét hơn là cho các thánh đồ?

Kết Luận

Dấu hiệu tỏ ra bên ngoài để thế gian nhận biết con dân Chúa chính là sự kiện con dân Chúa yêu thương lẫn nhau: “Nếu các ngươi có yêu lẫn nhau, thì bởi đó, mọi người sẽ biết các ngươi là những môn đồ của Ta” (Giăng 13:35). Nhưng trong sự yêu thương có sự quở trách, khuyên dạy, vì “sự quở trách khuyên dạy là con đường sự sống” (Châm Ngôn 6:23). Để có thể quở trách, khuyên dạy thì trước hết phải có sự đoán xét công chính, là điều mà con dân Chúa phải luôn thực hiện (Lu-ca 12:57). Sự quở trách phải công khai trước mặt Hội Thánh, theo lời Chúa dạy, để làm gương: “Kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ” (I Ti-mô-thê 5:20). Đối với kẻ rời bỏ nếp sống Đạo trong Chúa, phạm tội không ăn năn thì Hội Thánh phải kỷ luật nặng nề, bằng cách dứt kẻ ấy ra khỏi Hội Thánh: “Hãy trừ bỏ kẻ gian ác khỏi anh em” (I Cô-rinh-tô 5:13). “Sự hình phạt nặng nề dành cho kẻ bỏ chánh lộ” (Châm Ngôn 15:10).

Nguyện Đức Thánh Linh dùng mọi lẽ thật của Lời Chúa để tẩy rửa tâm trí chúng ta sạch hết những ý tưởng sai lạc mà Sa-tan và các tôi tớ của nó đã gieo rắc trong quá khứ. Nguyện Đức Thánh Linh dùng mọi lẽ thật của Lời Chúa để giúp chúng ta nhận thức được những lý luận lạm dụng Lời Chúa trong tương lai và ban cho chúng ta ơn cùng thẩm quyền để đoán xét chúng. Nguyện Lời Chúa thánh hóa chúng ta mỗi ngày trong cuộc sống. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
05.05.2012

Ghi Chú

[1] Từ ngữ “kỵ tà” trong những câu Thánh Kinh sau đây đã được hiệu đính thành “hay ghen” trong “Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012”Xuất Ê-díp-tô Ký 20:5; 34:14; Dân Số Ký 25:11; Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:24; 5:9; 6:15; 29:20; 24:19.

Share This:

9,948 views

Ngươi Chớ Phạm Tội Ngoại Tình

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Ghi Chú: Bấm vào các từ ngữ Hê-bơ-rơ hoặc Hy-lạp để nghe phát âm. Bấm vào các mã số Strong để xem định nghĩa trong tiếng Anh.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này
Bấm vào đây để nghe mp3

"Ngươi chớ phạm tội ngoại tình."
(Xuất Ê-díp-tô Ký 20:14; Phục Truyền Luật lệ Ký 5:18)

Trước hết, chúng ta cần ghi nhớ: "bản tính dâm" hay "bản năng tính dục" không phải là điều xấu xa, tội lỗi. Thiên Chúa dựng nên loài người có nam, có nữ và ban cho loài người bản năng tính dục. Bản năng tính dục cần thiết cho việc lưu truyền nòi giống và đem lại những cảm giác vui thích trong mối quan hệ vợ chồng. Bản năng tính dục cũng như bao nhiêu bản năng khác của loài người, nếu được thể hiện đúng thì sẽ đem lại phước hạnh và ích lợi, nếu thể hiện sai thì sẽ đem lại đau khổ và thiệt hại. Sự thể hiện bản năng tính dục theo thánh ý của Thiên Chúa được gọi là "chính dâm." Tất cả những sự thể hiện bản năng tính dục nghịch lại thánh ý của Thiên Chúa được gọi chung là "tà dâm:"

1. Chính dâm: sự quan hệ tình dục giữa vợ chồng

2. Tà dâm: sự quan hệ tình dục giữa những người không phải là vợ chồng, bao gồm các hành động sau đây:

► ngoại tình: sự quan hệ tình dục giữa một người đã lập gia đình với người không phải là vợ hoặc chồng của mình

► gian dâm: sự quan hệ tình dục giữa những người chưa lập gia đình

► thủ dâm: sự tự thỏa mãn dâm dục bằng tay hoặc đồ vật

► bán dâm: sự quan hệ tình dục để đổi lấy tiền bạc, đồ vật, địa vị, ân huệ…

► mua dâm: sự dùng tiền bạc, đồ vật, địa vị, ân huệ… để đổi lấy quan hệ tình dục

► hiếp dâm hoặc cưỡng dâm: sự bắt ép người khác phải quan hệ tình dục với mình

► thú dâm: sự quan hệ tình dục với loài thú

► đồng tính luyến ái: sự quan hệ tình dục giữa những người cùng phái tính

► loạn luân: sự quan hệ tình dục giữa những người có quan hệ gia đình và bà con gần

► trao đổi vợ chồng: sự những cặp vợ chồng trao đổi người hôn phối để quan hệ tình dục với người hôn phối của người khác

► Chính Dâm

Từ buổi ban đầu, Thiên Chúa dựng nên người nam và người nữ, kết hợp họ với nhau để người nữ giúp đỡ và làm bạn với người nam; đồng thời để cả hai lưu truyền dòng dõi của loài người trên đất và quản trị đất (Sáng Thế Ký 1:26-28; 2:18-25). Việc lưu truyền dòng dõi đòi hỏi sự quan hệ tình dục giữa hai phái tính, vì thế, sự quan hệ tình dục giữa vợ chồng là việc thi hành mệnh lệnh của Thiên Chúa. Sự quan hệ tình dục giữa vợ chồng còn là ơn phước Chúa ban vì nó đem lại những cảm giác và cảm xúc vui sướng, thỏa lòng trong mối quan hệ vợ chồng.

Thánh Kinh dạy rõ, vợ chồng phải xem trọng việc quan hệ tình dục, và đó là mối quan hệ bình đẳng: thân thể của chồng thuộc về vợ, thân thể của vợ thuộc về chồng:

Ma-thi-ơ 19:4-6 " Ngài trả lời rằng: Các ngươi há chưa đọc lời chép về Đấng Tạo Hóa, hồi ban đầu, dựng nên một người nam, một người nữ, và có phán rằng: Vì cớ đó người nam sẽ lìa cha mẹ, mà dính díu với vợ mình; hai người sẽ cùng nên một thịt hay sao? Thế thì, vợ chồng không phải là hai nữa, nhưng một thịt mà thôi. Vậy, loài người không nên phân rẽ những kẻ mà Đức Chúa Trời đã phối hiệp!"

Mác 10:6-8"Nhưng từ lúc đầu sáng thế, Đức Chúa Trời làm ra một người nam và một người nữ. Vì cớ đó, người nam lìa cha mẹ mình mà dính díu với vợ;và hai người cùng nên một thịt mà thôi. Như thế, vợ chồng chẳng phải mà hai nữa, mà chỉ một thịt."

I Cô-rinh-tô 7:2-5 " Song, cho được tránh khỏi mọi sự dâm dục, thì mỗi người đàn ông phải có vợ, mỗi người đàn bà phải có chồng. Chồng phải làm hết bổn phận đối với vợ, và vợ đối với chồng cũng vậy. Vợ không có quyền tự chủ về thân mình, bèn là chồng; chồng cũng vậy, không có quyền tự chủ về thân mình bèn là vợ. Đừng từ chối nhau, trừ ra khi hai bên ưng thuận tạm thời, để chuyên việc cầu nguyện; rồi trở lại hiệp cùng nhau, kẻo quỷ Sa-tan thừa khi anh em không thìn mình mà cám dỗ chăng."

Ngoài ra, con dân Chúa phải giữ cho mối quan hệ tình dục giữa vợ chồng luôn được thánh sạch, bằng cách không bắt chước người đời sử dụng các đồ chơi tình dục (sex toys) và các tài liệu khiêu gợi tình dục qua phim ảnh, sách báo, internet. Con dân Chúa phải tuân theo các luật vệ sinh, thực hành mối quan hệ tình dục giữa vợ chồng trong danh Chúa và biết cầu nguyện cảm tạ Chúa:

Lê-vi Ký 15:18 "Khi nào người nam và người nữ giao cấu nhau, thì phải tắm trong nước, và bị ô uế cho đến chiều tối."

Lê-vi Ký 18:19 "Trong lúc người nữ có kinh nguyệt, chớ đến gần mà cấu hiệp."

Hê-bơ-rơ 13:4 "Mọi người phải kính trọng sự hôn nhân, chốn quê phòng chớ có ô uế, vì Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt kẻ dâm dục cùng kẻ phạm tội ngoại tình."

I Cô-rinh-tô 10:31 "Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hay là làm sự chi khác, hãy vì sự vinh quang của Thiên Chúa mà làm."

Ê-phê-sô 5:20 "Hãy thường thường nhân danh Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, vì mọi sự tạ ơn Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta."

► Tà Dâm: Ngoại Tình

Điều răn thứ bảy được chép trong Xuất Ê-díp-tô Ký 20:14 và Phục Truyền Luật lệ Ký 5:18 nghiêm cấm việc phạm tội ngoại tình. (Bản dịch Phan Khôi 1926 dịch là "Ngươi chớ phạm tội tà dâm.") Từ ngữ "ngoại tình" trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là "nâ'aph" (H5003), có nghĩa là: một người đã có gia đình nhưng quan hệ tình dục với một người không phải là vợ hay chồng của mình.

Tội ngoại tình không chỉ giới hạn trong hành động ngoại tình mà bao gồm:

1. Tư tưởng ham muốn tình dục với người không phải là vợ hay chồng mình, điều này bao gồm việc tư tưởng đến người khác trong khi có quan hệ tình dục với vợ hay chồng:

Ma-thi-ơ 5:27, 28 "Các ngươi có nghe lời phán rằng: Ngươi chớ phạm tội ngoại tình. Song Ta phán cho các ngươi biết: Hễ ai ngó đàn bà mà động tình tham muốn, thì trong lòng đã phạm tội ngoại tình cùng người rồi."

Có người đặt ra vấn đề là: Ma-thi-ơ 5:27, 28 chỉ đề cập đến việc đàn ông nhìn đàn bà mà động tình ham muốn, cho nên, câu này không áp dụng cho đàn bà. Người lý luận như thế tức là đã cho rằng Đức Chúa Jesus tây vị: cùng một hành động xảy ra nhưng Chúa chỉ kết tội phái nam mà không kết tội phái nữ. Thánh Kinh cho chúng ta biết "Thiên Chúa không tây vị ai hết" (Ga-la-ti 2:6; Ê-phê-sô 6:9; I Phi-e-rơ 1:17). Câu phán của Chúa thuộc loại nêu thí dụ làm điển hình, tức là nêu lên một sự kiện để chỉ ra bất cứ sự kiện nào tương tự như vậy đều mang chung một tính chất. Sự kiện được Chúa nêu lên là: nhìn một người không phải là phối ngẫu của mình mà động lòng ham muốn. Tính chất của sự kiện ấy là: phạm tội ngoại tình. Vì thế, bất kể đàn ông hay đàn bà, nếu nhìn một người khác, không phải là vợ hay chồng của mình mà động tình ham muốn thì trong lòng đã phạm tội ngoại tình (hoặc tội gian dâm nếu cả hai, người nhìn và người bị nhìn đều là độc thân). Còn nếu người bị nhìn là người cùng phái tính với người nhìn thì người nhìn vừa phạm tội ngoại tình hoặc gian dâm vừa phạm tội đồng tính luyến ái.

2. Sự ly-dị vợ vì bất cứ lý do gì nếu không phải là vì vợ phạm tội tà dâm.

Ma-thi-ơ 5:32 "Song Ta phán cùng các ngươi: Nếu người nào ly dị  vợ mà không phải vì cớ tà dâm, thì người ấy làm cho vợ mình ra người ngoại tình; lại nếu người nào cưới đàn bà bị ly dị đó, thì cũng phạm tội ngoại tình."

Lý do chính đáng duy nhất để một người ly dị vợ là vì cớ người vợ phạm bất cứ hình thức nào của tội tà dâm. Vì thế, dù người vợ không phạm tội tà dâm nhưng nếu bị chồng ly dị thì người vợ vẫn bị xem là người ngoại tình. Mặc khác, nếu một người vợ bị chồng ly dị vì lý do nào khác hơn là vì phạm tội tà dâm thì sự ly dị đó không hợp pháp trước mặt Chúa, cho nên, quan hệ vợ chồng vẫn còn. Nếu người vợ tái giá thì đối với luật pháp của Chúa cả người vợ lẫn người chồng mới của bà ta đều phạm tội ngoại tình.

Nếu một người ly dị vợ hay chồng vì bất cứ lý do gì khác hơn là vì người phối ngẫu phạm tội tà dâm thì chính người đó đã phạm tội ngoại tình:

Mác 10:11, 12 "Ngài phán rằng: Ai ly dị vợ mình mà cưới vợ khác, thì phạm tội tà dâm nghịch lại nàng; còn nếu người đàn bà bỏ chồng mình mà lấy chồng khác, thì cũng phạm tội tà dâm."

Như đã trình bày, ngoại tình là một trong các hình thức của sự tà dâm. Mặc dù điều răn thứ bảy chỉ đề cập đến tội ngoại tình nhưng trong các nơi khác của Thánh Kinh có nghiêm cấm mọi hình thức tà dâm. Trong thời Tân Ước, Đức Thánh Linh đã thêm hai điều răn cho Hội Thánh (Công Vụ Các Sứ Đồ 15:28):

1. Kiêng ăn của cúng thần tượng, huyết, thú vật chết ngột

2. Chớ tà dâm

Đây là hai điều răn thêm vào Mười Điều Răn đã có trong thời Cựu Ước chứ không phải để thay thế Mười Điều Răn. Thật là vô lý nếu cho rằng thời Tân Ước con dân Chúa chỉ cần vâng giữ hai điều răn này mà không cần vâng giữ Mười Điều Răn. Thế nhưng, có nhiều "tiến sĩ thần học" thời nay công bố rằng tín đồ chỉ cần vâng giữ hai điều răn nói trên mà không cần vâng giữ Mười Điều Răn!

Đức Thánh Linh thêm hai điều răn này là để tóm gọn các sự nghiêm cấm khác trong Thánh Kinh không được đề cập trong Mười Điều Răn cho những người không thuộc dân I-sơ-ra-ên mới gia nhập Hội Thánh, là những người vốn không biết gì về Thánh Kinh Cựu Ước như những người I-sơ-ra-ên.

► Anh Chị Em Ruột Kết Hôn Lẫn Nhau

Trong buổi đầu sáng thế, Thiên Chúa cho phép anh chị em ruột kết hợp làm vợ chồng, nhờ đó, loài người mới có thể tiếp tục thi hành mệnh lệnh sanh sản làm cho đầy dẫy đất. Sau khi dân I-sơ-ra-ên được mang ra khỏi Ai-cập thì Thiên Chúa nghiêm cấm việc anh chị em ruột kết hôn lẫn nhau. Giải thích hợp lý nhất để giúp cho chúng ta hiểu vì sao trước đó việc anh chị em ruột kết hôn với nhau không bị kể vào tội loạn luân, là: Trong khoảng 2000 năm đầu tiên của lịch sử loài người, các tế bào của loài người chưa bị suy thoái trầm trọng, cho nên, việc kết hôn giữa anh chị em ruột với nhau không tạo ra các hiệu quả tật bệnh cho con cái. Theo thời gian, các tế bào bị suy thoái ngày càng trầm trọng vì tội lỗi ngày càng gia tăng và môi sinh ngày càng bị ô nhiễm nặng, khiến cho việc kết hợp giữa hai bộ DNA cùng loại sẽ giảm thiểu khả năng thích nghi phát triển và khả năng kháng thể của thai nhi.

► Hậu Quả của Sự Tà Dâm

Tà dâm dưới bất cứ hình thức nào cũng đều là vi phạm luật pháp của Thiên Chúa, là tội lỗi. Tuy nhiên sự phạm tội tà dâm có hậu quả nghiêm trọng hơn những tội khác; vì những tội khác mà người ta phạm thì ở bên ngoài thân thể còn tội tà dâm "phạm đến chính thân thể" của người phạm tội, và người phạm tội trở nên cùng một xác thịt với người mình có quan hệ tà dâm:

I Cô-rinh-tô 6:15-18 "Anh em há chẳng biết thân thể mình là chi thể của Đấng Christ sao? Vậy thì mình có nên lấy chi thể của Đấng Christ mà làm thành chi thể của điếm đĩ chăng? Đức Chúa Trời không cho phép! Anh em há chẳng biết người nào kết hiệp với điếm đĩ, thì trở nên một xác với nó sao? Vì có chép rằng: Hai người sẽ đồng nên một thịt. Còn ai kết hiệp với Chúa thì trở nên một tánh thiêng liêng cùng Ngài. Hãy tránh sự tà dâm. Mặc dầu người ta phạm tội gì, tội ấy còn là ngoài thân thể; nhưng kẻ buông mình vào sự tà dâm, thì phạm đến chính thân thể mình."

Chính vì thế mà những người phạm tội tà dâm đem các thứ tật bệnh từ thân thể của người khác vào trong thân thể của mình, làm hại thân thể của mình. Trong trường hợp một người bị tà linh nhập thì người có quan hệ tình dục với người ấy cũng sẽ bị tà linh xâm nhập.

► Ngoại Tình Thuộc Linh

Thánh Kinh gọi việc con dân Chúa thờ lạy hình tượng, tà thần là phạm tội ngoại tình, là làm điếm:

Giê-rê-mi 3:8 "Dầu Ta đã bỏ I-sơ-ra-ên bội nghịch và đã cho nó tờ ly-dị, vì cớ nó ngoại tình, Ta cũng còn thấy em gái quỷ quyệt nó, là Giu-đa, chẳng sợ sệt chi; nhưng nó cũng cứ đi hành dâm."

Thời Tân Ước, tội ngoại tình thuộc linh hay là thờ lạy hình tượng, tà thần không giới hạn trong hành động thờ lạy hình tượng và tà thần mà còn bao gồm lòng ưa thích các hình tượng tà thần, tức là phạm tội ngoại tình thuộc linh trong tư tưởng, và lòng tham lam, bất kể là tham lam điều gì:

Ê-phê-sô 5:5 "Vì anh em phải biết rõ rằng kẻ gian dâm, ô uế, tham lam, tức là kẻ thờ hình tượng, không một kẻ nào được dự phần kế nghiệp vương quốc của Đấng Christ là Thiên Chúa."

Cô-lô-se 3:5 "Vậy hãy làm chết các chi thể của anh em ở nơi hạ giới, tức là tà dâm, ô uế, tình dục, ham muốn xấu xa , tham lam, tham lam chẳng khác gì thờ hình tượng."

Tham lam là muốn có nhiều hơn sự nhu cầu của mình hoặc ưa thích và muốn chiếm đoạt điều không thuộc về mình. Con dân Chúa, nếu không vâng theo Lời Chúa trong I Ti-mô-thê 6:8 tức là phạm tội ngoại tình thuộc linh vì đã tôn thờ tiền bạc:

"Như vậy, miễn là đủ ăn đủ mặc thì phải thỏa lòng."

Hậu quả của sự tham tiền bạc rất là kinh khiếp:

I Ti-mô-thê 6:9, 10 "Còn như kẻ muốn nên giàu có, ắt sa vào sự cám dỗ, mắc bẫy dò, ngã trong nhiều sự tham muốn vô lý thiệt hại kia, là sự làm đắm người ta vào sự hủy diệt hư mất. Bởi chưng sự tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác, có kẻ vì đeo đuổi nó mà bội đạo, chuốc lấy nhiều điều đau đớn."

Từ ngữ ô uế trong Ê-phê-sô 5:5 cũng như những nơi khác trong Thánh Kinh, như: Khải Huyền 3:4; 21:27; 22:11, có nhiều nghĩa và một trong những nghĩa quan trọng được định nghĩa trong Ê-sai 56:2 là sự không vâng giữ ngày Sa-bát, làm theo những điều nghịch lại Lời Chúa mà thế gian vẫn làm:

"Phước thay cho người làm điều đó, và con người cầm vững sự đó, giữ ngày Sa-bát đặng đừng làm ô uế, cấm tay mình không làm một điều ác nào!"

Gia-cơ 1:27 "Sự tin đạo thanh sạch không vết, trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, là : thăm viếng kẻ mồ côi, người góa bụa trong cơn khốn khó của họ, và giữ lấy mình cho khỏi sự ô uế của thế gian."

► Kết Luận

Bản năng tính dục là sự ban cho của Thiên Chúa để loài người được vui thỏa trong quan hệ vợ chồng và làm tròn thiên chức sanh sản thêm nhiều, làm cho loài người đầy dẫy đất (Sáng Thế Ký 1:28). Nhưng nếu bản năng tính dục được thể hiện một cách tùy tiện vượt ngoài nguyên tắc của Thánh Kinh thì sẽ khiến cho loài người phạm tội. Điều răn thứ sáu: "Ngươi chớ phạm tội ngoại tình" được bổ sung thêm bởi điều răn "Chớ tà dâm" trong Tân Ước là nguyên tắc sống đạo cho con dân Chúa trong phương diện tính dục.

Tội ngoại tình nói lên sự không chung thủy của một người đối với vợ hay chồng của mình. Thánh Kinh dùng tội ngoại tình làm hình bóng cho sự không trung tín của con dân Chúa đối với Thiên Chúa khi họ say mê, tôn thờ, và trông cậy nơi các thần tượng.

Huỳnh Christian Timothy
13.04.2012

www.timhieutinlanh.net
tim@timhieutinlanh.net

 

 

Share This:

3,764 views

Ngươi Chớ Phạm Tội Giết Người

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Ghi Chú: Bấm vào các từ ngữ Hê-bơ-rơ hoặc Hy-lạp để nghe phát âm. Bấm vào các mã số Strong để xem định nghĩa trong tiếng Anh.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này
Bấm vào đây để nghe mp3

"Ngươi chớ giết người."
(Xuất Ê-díp-tô Ký 20:13; Phục Truyền Luật lệ Ký 5:17)

Từ ngữ "giết người" trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là "râtsach" (H7523) có nghĩa chính là "bẻ, đập, đâm, đánh, chà nát một cách hung bạo," và bao gồm các nghĩa sau đây: "phạm tội giết người, bạo sát (người hoặc thú), giết một sinh vật." Chúng ta cần phân tích các ý nghĩa của từ ngữ này để có thể hiểu rõ điều răn thứ sáu.

►Phạm Tội Giết Người

"Phạm tội giết người" (trong tiếng Anh là "murder"), còn gọi là "cố sát," là giết người có ý thức và không hợp pháp cho dù là bởi động cơ hay mục đích nào. "Có ý thức" tức là đã suy nghĩ và quyết định về hành động giết người. "Không hợp pháp" có nghĩa là không được luật pháp cho phép; và luật pháp nói đến ở đây tức là luật pháp của Thiên Chúa được ghi chép rõ ràng trong Thánh Kinh, thường khi thể hiện qua luật pháp của các nhà cầm quyền. Như vậy, Thiên Chúa không cho phép chúng ta "giết người có ý thức và không hợp pháp" và điều răn thứ sáu cần được dịch một cách chính xác hơn là: "Ngươi chớ phạm tội giết người!"

►Án Tử Hình Trong Thánh Kinh

Theo luật pháp của Thiên Chúa, có những tội, tức là những hành động vi phạm luật pháp của Ngài, bị lên án tử hình. Như vậy, sự thi hành án tử hình theo luật pháp của Thiên Chúa, không phải là điều Thiên Chúa ngăn cấm trong điều răn thứ sáu. Dưới đây là những câu Thánh Kinh nói đến các tội bị Thiên Chúa lên án chết:

Xuất Ê-díp-tô Ký 19:12 "Vả, ngươi hãy phân định giới hạn cho dân sự ở chung quanh núi, và dặn rằng: Khá giữ mình đừng leo lên núi, hoặc đụng đến chân; hễ kẻ nào đụng đến thì sẽ bị xử tử."

Xuất Ê-díp-tô Ký 21:12 "Kẻ nào đánh chết một người, sẽ bị xử tử."

Xuất Ê-díp-tô Ký 21:15 "Kẻ nào đánh cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử."

Xuất Ê-díp-tô Ký 21:16 "Kẻ nào bắt người và bán, hoặc giữ lại trong tay mình, sẽ bị xử tử."

Xuất Ê-díp-tô Ký 21:17 "Kẻ nào mắng cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử."

Xuất Ê-díp-tô Ký 21:28 "Ví có một con bò báng nhằm một người đàn ông hay đàn bà phải chết đi, con bò sẽ bị ném đá chết, người ta không nên ăn thịt nó; còn người chủ bò sẽ được vô tội."

Xuất Ê-díp-tô Ký 21:29 "Nhưng ngộ từ trước con bò có tật hay báng và chủ đã bị mắng vốn mà không cầm giữ, nếu bò nầy còn giết một người đàn ông hay đàn bà, thì nó sẽ bị ném đá, và chủ sẽ bị xử tử nữa."

Xuất Ê-díp-tô Ký 21:32 "Con bò báng nhằm một đứa đầy tớ trai hay gái, chủ bò phải trả ba chục siếc lơ bạc cho chủ nó; rồi bò sẽ bị ném đá chết."

Xuất Ê-díp-tô Ký 22:19 "Kẻ nào nằm cùng một con vật sẽ bị xử tử."

Xuất Ê-díp-tô Ký 31:14, 15 "Vậy, hãy giữ ngày Sa-bát, vì là một ngày thánh cho các ngươi. Kẻ nào phạm đến ngày đó, phải bị xử tử; kẻ nào làm một việc chi trong ngày đó, cũng sẽ bị truất khỏi vòng dân sự. Người ta sẽ làm công việc trong sáu ngày, nhưng qua ngày thứ bảy là ngày Sa-bát, tức là ngày nghỉ, biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va. Trong ngày Sa-bát hễ ai làm một việc chi sẽ bị xử tử."

Xuất Ê-díp-tô Ký 35:2 "Người ta sẽ làm công việc trong sáu ngày, nhưng đến ngày thứ bảy sẽ là một lễ thánh, tức là ngày Sa-bát biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va. Ai làm công việc trong ngày đó sẽ bị xử tử."

Lê-vi Ký 20:2 "Ngươi hãy nói cùng dân I-sơ-ra-ên rằng: Phàm ai trong dân I-sơ-ra-ên hay là kẻ khách kiều ngụ giữa vòng họ, dùng một trong các con mình dâng cho thần Mo-lóc, thì chắc sẽ bị xử tử: dân bổn xứ phải ném đá người ấy."

Lê-vi Ký 20:9 "Khi một người nào chửi cha mắng mẹ mình, thì phải bị xử tử: nó đã chửi rủa cha mẹ; huyết nó sẽ đổ lại trên mình nó."

Lê-vi Ký 20:10 "Nếu người nào phạm tội tà dâm cùng vợ của người khác, hay là phạm tội tà dâm cùng vợ người lân cận mình, người nam cùng người nữ đó đều phải bị xử tử."

Lê-vi Ký 20:11 "Nếu người nào nằm cùng vợ cha mình, ấy là gây nhục cho cha mình, thì hai người đều hẳn phải bị xử tử; huyết họ sẽ đổ lại trên mình họ."

Lê-vi Ký 20:12 "Nếu người nào nằm cùng dâu mình, hai người đều hẳn phải bị phạt xử tử; vì họ phạm một sự gớm ghiếc; huyết họ sẽ đổ lại trên mình họ."

Lê-vi Ký 20:13 "Nếu một người nam nằm cùng một người nam khác, như nằm cùng người nữ, thì hai người đó đều hẳn phải bị xử tử, vì họ đã làm một sự gớm ghiếc; huyết họ sẽ đổ lại trên mình họ."

Lê-vi Ký 20:15 "Nếu một người nam cấu hiệp cùng thú vật, thì hẳn phải bị xử tử, và các ngươi hãy giết thú đó đi."

Lê-vi Ký 20:27 "Khi nào một người nam hay nữ làm đồng cốt, hay là bói khoa, thì hẳn sẽ bị xử tử; người ta sẽ ném đá chúng nó: huyết chúng nó sẽ đổ lại trên mình chúng nó."

Lê-vi Ký 24:16 "Ai nói phạm đến danh Đức Giê-hô-va hẳn sẽ bị xử tử; cả hội chúng sẽ ném đá nó: mặc dầu nó là kẻ khách ngoại bang hay là sanh trong xứ, hễ khi nào nói phạm đến danh Đức Giê-hô-va, thì sẽ bị xử tử."

Lê-vi Ký 24:17 "Kẻ nào đánh chết một người nào, mặc dầu kẻ đó là ai, sẽ bị xử tử."

Lê-vi Ký 24:21 "Kẻ nào làm chết một súc vật, thì sẽ thường lại; còn kẻ nào giết chết một người, thì phải bị xử tử."

Dân Số Ký 1:51 "Khi nào đền tạm dời chỗ, thì người Lê-vi sẽ tháo dỡ nó; khi nào đền tạm dừng lại, thì họ sẽ dựng nó lên; còn người ngoại đến gần sẽ bị xử tử."

Dân Số Ký 3:10 "Vậy, ngươi sẽ lập A-rôn và các con trai người, để làm chức tế lễ; người ngoại đến gần sẽ bị xử tử."

Dân Số Ký 3:38 "Những người đóng trại trước đền tạm về phía đông, tức trước hội mạc về phía mặt trời mọc, là Môi-se, A-rôn và các con trai người, có chức phận săn sóc nơi thánh thế cho dân I-sơ-ra-ên. Người ngoại đến gần sẽ bị xử tử."

Dân Số Ký 15:32-36 "Vả, dân I-sơ-ra-ên đương ở tại đồng vắng, gặp một người lượm củi trong ngày Sa-bát; những kẻ gặp người đương lượm củi dẫn người đến Môi-se, A-rôn, và cả hội chúng. Họ bắt người giam tù, vì điều phải làm cho người chưa nhất định.Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Người nầy phải phạt xử tử, cả hội chúng hãy ném đá người ngoài trại quân. Vậy, cả hội chúng đem người ra ngoài trại quân mà ném đá, và người chết, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se."

Dân Số Ký 18:7 "Nhưng ngươi và các con trai ngươi phải kỹ lưỡng lo cho xong chức tế lễ, quản trị các điều chi thuộc về bàn thờ, và vật chi ở phía trong màn; các ngươi phải làm việc mình tại đó. Chức tế lễ của các ngươi là một việc ta phong cho như một của ban: người ngoại nào đến gần sẽ bị xử tử."

Phục Truyền Luật Lệ Ký 13:1-5 "Nếu giữa ngươi có nổi lên một tiên tri hay là một kẻ hay chiêm bao làm cho ngươi một dấu kỳ hoặc phép lạ, nếu dấu kỳ hoặc phép lạ nầy mà người đã nói với ngươi được ứng nghiệm, và người có nói rằng: Ta hãy đi theo hầu việc các thần khác mà ngươi chẳng hề biết, thì chớ nghe lời của tiên tri hay là kẻ chiêm bao ấy, vì Giê-hô-va Thiên Chúa các ngươi thử các ngươi, đặng biết các ngươi có hết lòng hết ý kính mến Giê-hô-va Thiên Chúa của các ngươi chăng. Các ngươi phải theo Giê-hô-va Thiên Chúa của các ngươi, kính sợ Ngài, gìn giữ các điều răn Ngài, vâng nghe tiếng phán Ngài, phục sự Ngài và tríu mến Ngài. Nhưng người ta phải giết tiên tri hay là kẻ chiêm bao ấy, vì hắn có giục dấy loạn cùng Giê-hô-va Thiên Chúa các ngươi, (là Đấng đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, chuộc các ngươi khỏi nhà nô lệ), đặng xô ngươi ra ngoài con đường của Giê-hô-va Thiên Chúa ngươi đã chỉ cho ngươi đi. Ấy, ngươi sẽ diệt kẻ hung ác khỏi giữa mình là như vậy."

Phục Truyền Luật Lệ Ký 13:6-10 "Khi anh em một mẹ với ngươi, hay là con trai, con gái ngươi, vợ yêu mến, hoặc bạn hữu thiết ngươi, giục ngươi cách mật nhiệm, mà rằng: Ta hãy đi hầu việc các thần khác, mà ngươi hay tổ phụ ngươi không biết, tức là các thần của những dân tộc ở chung quanh, hoặc gần hay xa ngươi, từ đầu nầy của đất cho đến đầu kia, thì chớ chịu theo nó, chớ khứng nghe nó. Mắt ngươi đừng thương tiếc nó; chớ động lòng xót xa mà che chở cho nó. Ngươi hẳn phải giết nó, tay mình phải tra vào mình nó trước hết đặng giết đi; rồi kế sau tay của cả dân sự. Phải ném đá cho nó chết, vì nó tìm thế giục ngươi xa cách Giê-hô-va Thiên Chúa ngươi, là Đấng đã đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, tức khỏi nhà nô lệ."

Phục Truyền Luật Lệ Ký 13:12-15 "Khi ngươi nghe nói về một trong các thành mà Giê-hô-va Thiên Chúa ngươi ban cho ngươi ở, rằng có những kẻ gian tà từ giữa mình ra dụ dỗ dân thành đó, mà rằng: Ta hãy đi hầu việc các thần khác mà các ngươi không hề biết, thì phải tìm kiếm, hỏi thăm, và tra xét cho kỹ càng. Bằng điều người ta nói là chân thật và quả quyết, và nếu một điều gớm ghiếc như vậy đã phạm giữa ngươi, thì ngươi phải giết dân sự thành ấy bằng lưỡi gươm; phải dùng gươm tận diệt nó và mọi vật ở trong, luôn với súc vật của nó."

Phục Truyền Luật Lệ Ký 17:2-5 "Khi ở giữa ngươi, trong một thành nào mà Giê-hô-va Thiên Chúa ngươi ban cho ngươi, có một người nam hay nữ làm điều ác trước mặt Giê-hô-va Thiên Chúa ngươi, vi phạm giao ước Ngài, đi hầu việc và quì lạy các thần khác, hoặc mặt trời, mặt trăng, hay là cả thiên binh, tức là điều ta không có dạy biểu; khi điều đó đem học cho ngươi hay, thì phải tra hỏi kỹ càng, và nếu điều người ta nói là thật, và quả quyết có một sự gớm ghê dường ấy đã phạm trong I-sơ-ra-ên,thì ngươi phải dẫn người nam hay nữ đã làm việc ác đó đến cửa thành, ném đá cho chúng nó chết."

Phục Truyền Luật Lệ Ký 21:18-21 "Khi ai có một đứa con khó dạy và bội nghịch, không nghe theo lời cha mẹ, và mặc dầu bị trừng trị, nó vẫn không khứng vâng lời, thì cha mẹ phải bắt nó dẫn đến trước mặt các trưởng lão của thành mình, tại nơi cửa thành. Đoạn, cha mẹ sẽ nói cùng các trưởng lão của thành mình rằng: Nầy con chúng tôi khó dạy và bội nghịch, không vâng lời chúng tôi, làm kẻ hoang đàng say sưa. Bấy giờ, chúng dân thành ấy sẽ ném đá cho nó chết; như vậy ngươi sẽ cất sự ác khỏi giữa mình, và cả I-sơ-ra-ên sẽ hay điều đó mà bắt sợ."

Phục Truyền Luật Lệ Ký 24:7 "Khi người ta gặp ai có ăn cướp một người anh em mình trong dân I-sơ-ra-ên, và đã bắt làm mọi hay là đã bán người, thì tên bợm ấy phải bị xử tử; ngươi sẽ trừ sự ác khỏi giữa mình vậy."

Ngày nay, hầu hết luật pháp của các quốc gia không xử tử những kẻ gian dâm, ngoại tình, đồng tính luyến ái, chửi mắng cha mẹ, thờ hình tượng hoặc không giữ ngày Sa-bát, vv… nhưng không có nghĩa là luật pháp của Thiên Chúa không còn hiệu lực. Tất cả những ai vi phạm điều răn và luật pháp của Thiên Chúa đều phải gánh lấy án phạt. Tuy nhiên, trong thời kỳ ân điển, là thời kỳ từ khi Đức Chúa Jesus Christ chịu chết trên thập tự giá cho đến cuối cùng của Vương Quốc Ngàn Năm Bình An, Thiên Chúa ban cho mọi tội nhân cơ hội ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ. Sự cứu rỗi đó bao gồm việc Đức Chúa Jesus Christ gánh thay mọi án phạt của tất cả tội lỗi cho toàn thể nhân loại. Người ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ sẽ được Thiên Chúa tha tội và xưng là công chính, nghĩa là người ấy không còn chịu án phạt về mọi tội lỗi đã gây ra. Người không ăn năn và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ sẽ bị chính Đức Chúa Jesus Christ phán xét và định tội, rồi người ấy sẽ chịu hình phạt đời đời trong hỏa ngục (Khải Huyền 20:11-15).

►Ngộ Sát và Cố Ý Đả Thương Gây Chết Người

Ngoài hành động cố ý giết người còn có những hành động vô ý giết người gọi là ngộ sát như việc không cẩn thận hoặc lầm lẫn khiến xảy ra ra tai nạn làm chết người. Những hành động ngộ sát không thuộc về sự phạm tội giết người mà Thiên Chúa nghiêm cấm trong điều răn thứ sáu. Lại có những hành động cố ý đánh người nhưng lỡ tay làm chết người gọi là "cố ý đả thương, nhân thương trí mạng," tức là: cố ý đánh cho người ta bị thương nhưng người bị thương lại bị chết. Tất cả những hành động cố ý đả thương gây chết người đều bị kể là phạm tội giết người. Hai trường hợp ngộ sát và cố ý đả thương gây chết người đều được đề cập cách rõ ràng trong Dân Số Ký 35:13-25 như sau:

 "Vậy, trong những thành các ngươi nhường cho, sẽ có sáu thành ẩn náu cho các ngươi. Các ngươi phải chỉ ba thành phía bên kia sông Giô-đanh, và lập ba thành khác trong xứ Ca-na-an; ấy sẽ là những thành ẩn náu. Sáu thành nầy sẽ dùng làm chỗ ẩn náu cho dân I-sơ-ra-ên, luôn cho khách ngoại bang và kẻ nào kiều ngụ ở trong dân đó, để ai vì vô ý đánh chết một người có thế chạy ẩn mình tại đó. Nhưng nếu người ấy đánh bằng đồ sắt, và người bị đánh chết đi, ấy là một kẻ sát nhơn; kẻ sát nhơn hẳn phải bị xử tử. Nếu người đánh bằng một cục đá cầm nơi tay có thế làm chết, và người bị đánh chết đi, ấy là một kẻ sát nhơn; kẻ sát nhân hẳn phải bị xử tử. Cũng vậy, nếu người đánh bằng đồ cây cầm nơi tay có thế làm chết, và người bị đánh chết đi, ấy là một kẻ sát nhơn; kẻ sát nhơn hẳn phải bị xử tử. Ấy là kẻ báo thù huyết sẽ làm cho kẻ sát nhơn phải chết; khi nào kẻ báo thù huyết gặp kẻ sát nhơn thì phải làm cho nó chết đi. Nếu một người nào vì lòng ganh ghét xô lấn một người khác, hay là cố ý liệng vật chi trên mình nó, và vì cớ đó nó bị chết; hoặc vì sự thù đánh bằng bàn tay, và vì cớ đó nó bị chết, thì người nào đánh đó hẳn phải bị xử tử. Ấy là một kẻ sát nhơn; người báo thù huyết khi nào gặp kẻ sát nhơn phải làm cho nó chết đi.

Nếu vì tình cờ, vẫn hòa thuận nhau, mà người có lấn xô, hoặc liệng vật chi trên mình người kia, hoặc nếu không phải thù nghịch chẳng có ý làm hại, lại không thấy mà làm rớt một cục đá trên mình người kia, có thế làm chết được, và nếu người chết đi, thì cứ theo luật lệ nầy, hội chúng phải xử đoán cho kẻ đã đánh và kẻ báo thù huyết: hội chúng sẽ giải cứu kẻ sát nhơn khỏi tay người báo thù huyết, và biểu người trở về thành ẩn náu, là nơi người đã chạy ẩn mình; và người phải ở đó cho đến chừng nào thầy tế lễ thượng phẩm đã được xức dầu thánh qua đời."

►Giết Người Trong Chiến Tranh

Trong lịch sử loài người, có những lúc Thiên Chúa dùng dân tộc này để trừng phạt hoặc tiêu diệt một dân tộc khác qua hình thức chiến tranh, vì cớ tội lỗi của dân tộc bị diệt đó đã vượt quá sự cho phép của Thiên Chúa. Những sự tàn sát có tính cách diệt chủng đó không phải là điều Thiên Chúa ngăn cấm trong điều răn thứ sáu. Điển hình là việc Chúa ra lệnh cho dân I-sơ-ra-ên tiêu diệt các dân tộc của xứ Ca-na-an:

Phục Truyền Luật lệ Ký 20:16, 17 "Nhưng trong các thành của những dân tộc nầy, mà Giê-hô-va Thiên Chúa ngươi ban cho ngươi làm sản nghiệp, thì chớ để sống một vật nào biết thở; khá tận diệt dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, dân Giê-bu-sít, y như Giê-hô-va Thiên Chúa ngươi đã phán dặn."

Giô-suê 6:20, 21"Vậy, dân sự la lên, và những thầy tế lễ thổi kèn. Vừa khi dân sự nghe tiếng kèn, bèn la lớn lên, và vách thành liền ngã sập, dân sự leo lên thành, mỗi người ngay trước mặt mình. Chúng lấy thành, đưa gươm qua diệt mọi vật ở trong thành, nào nam phụ lão ấy, cho đến bò, chiên, và lừa."

Ngày nay, loài người lên án một cách gắt gao những cuộc chiến tranh diệt chủng đó. Tuy nhiên, đối với Thiên Chúa, đó là cách thức công chính của Ngài để chấm dứt sự phạm tội của những dân tộc bị diệt, đồng thời bảo vệ con dân của Ngài không bị tiêm nhiễm nếp sống tội của các dân tộc bị diệt. Mục đích của sự tiêu diệt các dân tộc của xứ Ca-na-an được Thiên Chúa công bố rất rõ ràng cho dân I-sơ-ra-ên:

Phục Truyền Luật lệ Ký 20:18 "để chúng nó không dạy các ngươi bắt chước làm theo những sự gớm ghiếc chúng nó đã làm, đặng cúng thờ các thần chúng nó, e các ngươi phạm tội cùng Giê-hô-va Thiên Chúa các ngươi chăng."

Tuy nhiên, dân I-sơ-ra-ên đã không hoàn toàn vâng phục mệnh lệnh của Chúa. Dân I-sơ-ra-ên đã để cho dân Hê-vít của thành Ga-ba-ôn lừa gạt, kết ước với họ nên không thể tiêu diệt họ (Giô-suê 9); chi phái Giu-đa và chi phái Bên-gia-min đã không tiêu diệt dân Giê-bu-sít (Giô-suê 15:63; Các Quan Xét 1:21); chi phái Ép-ra-im, chi phái Ma-na-se, chi phái Sa-bu-lôn, chi phái A-se và chi phái Nép-ta-li đã không tiêu diệt dân Ca-na-an (Giô-suê 16:10; 17:12; Các Quan Xét 1:27-33); chi phái Đan và nhà Giô-sép đã không tiêu diệt dân A-mô-rít (Các Quan Xét 1:34-36). Vì thế, theo dòng thời gian, nền văn hóa sống luông tuồng theo ham muốn của sắc dục và thờ lạy tà thần của các dân tộc xứ Ca-na-an đã tiêm nhiễm vào nếp sống của dân I-sơ-ra-ên, khiến cho dân I-sơ-ra-ên phạm tội và bị Thiên Chúa dùng các dân tộc A-si-ri và Ba-by-lôn chinh phạt họ.

Chưa đầy 700 năm sau khi dân I-sơ-ra-ên đặt chân vào đất hứa, Vương Quốc I-sơ-ra-ên ở phía bắc, bao gồm mười chi phái, bị dân A-si-ri tiêu diệt vào năm 722 TCN; và thêm 136 năm nữa thì Vương Quốc Giu-đa ở phía nam, bao gồm hai chi phái còn sót lại, bị dân Ba-by-lôn tiêu diệt vào năm 586 TCN.

►Án Tử Hình của Thế Quyền

Ngày nay, nhiều quốc gia trên thế giới có án tử hình dành cho tội giết người, và như vậy, luật pháp của Thiên Chúa đã được thể hiện qua luật pháp của loài người. Tuy nhiên, có nhiều tổ chức giáo hội mang danh Chúa đã biểu tình chống đối việc thi hành án tử hình, dù là can phạm đã phạm tội giết người hàng loạt. Lý do được họ đưa ra là "Thiên Chúa cấm giết người!" Đây rõ ràng là sự hiểu sai Lời Chúa. Như đã trưng dẫn trên đây, chính Lời Chúa đã lên án tử hình rất nhiều tội khác nhau.

Người ta lý luận rằng, trong thời Tân Ước Đức Chúa Jesus Christ đã chết thế cho mọi người kể cả những người phạm tội giết người hàng loạt, vì thế, không ai có quyền kết án tử hình những kẻ sát nhân. Lý luận như thế có khác nào nói rằng vì Đức Chúa Jesus Christ đã chết chuộc tội cho nhân loại, cho nên, kẻ phạm tội không còn bị hình phạt. Lý luận như thế là không hiểu được ý nghĩa sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ.

♦ Sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ chỉ có hiệu lực cứu một người ra khỏi sự đoán phạt của Thiên Chúa về tất cả những tội lỗi của người ấy, nếu người ấy thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đức Chúa Jesus Christ.

♦ Sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ không giải trừ người có tội ra khỏi trách nhiệm hình sự trong xã hội; nghĩa là, người có tội vẫn phải bồi thường những thiệt hại mình đã gây ra cho người bị hại và phải gánh lấy hình phạt theo luật định của thế gian.

♦ Dầu chúng ta ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Chúa nhưng thân thể vật chất của chúng ta vẫn phải tiếp tục gánh lấy hậu quả của tội lỗi: bệnh tật, đau đớn, già yếu rồi chết đi cho đến ngày Chúa biến hóa nó hoặc phục sinh nó từ cõi chết. Vì thế, đối với tất cả tội lỗi chúng ta gây ra, dù chúng ta có ăn năn hay không, thì thân thể thịt và huyết này vẫn phải gánh lấy hậu quả, kể cả sự bị tù đày và tử hình theo luật định.

Thánh Kinh Tân Ước khẳng định, những kẻ làm dữ phải bị nhà cầm quyền hình phạt:

Rô-ma 13:4 "…vì quan quyền là chức việc của Thiên Chúa để làm ích cho ngươi. Song nếu ngươi làm ác, thì hãy sợ, vì người cầm gươm chẳng phải là vô cớ; người là chức việc của Thiên Chúa để làm ra sự công bình và phạt kẻ làm dữ."

Mặt khác, ngoài việc bày tỏ sự công chính của Thiên Chúa, sự hình phạt kẻ phạm tội còn có hai mục đích thực tế: (1) cất sự gian ác khỏi xã hội, và (2) làm gương cho những người khác, khiến cho họ sợ mà không phạm tội:

Phục Truyền Luật Lệ Ký 21:18-21 "Khi ai có một đứa con khó dạy và bội nghịch, không nghe theo lời cha mẹ, và mặc dầu bị trừng trị, nó vẫn không khứng vâng lời, thì cha mẹ phải bắt nó dẫn đến trước mặt các trưởng lão của thành mình, tại nơi cửa thành. Đoạn, cha mẹ sẽ nói cùng các trưởng lão của thành mình rằng: Nầy con chúng tôi khó dạy và bội nghịch, không vâng lời chúng tôi, làm kẻ hoang đàng say sưa. Bấy giờ, chúng dân thành ấy sẽ ném đá cho nó chết; như vậy ngươi sẽ cất sự ác khỏi giữa mình, và cả I-sơ-ra-ên sẽ hay điều đó mà bắt sợ."

Một người sau khi phạm tội chết, nếu ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ thì người ấy hoàn toàn được sự tha thứ của Đức Chúa Trời, nhưng về mặt xã hội người ấy vẫn phải gánh lấy hậu quả và trách nhiệm việc làm của mình theo luật định. Dĩ nhiên, nếu nạn nhân, gia đình của nạn nhân, và nhà cầm quyền đều đồng ý tha thứ kẻ có tội thì kẻ ấy hoàn toàn được giải trừ mọi trách nhiệm.

Là con dân của Chúa chúng ta có bổn phận và trách nhiệm bênh vực, bảo vệ người bị hại, tố cáo kẻ phạm pháp trước pháp luật theo luật định để giúp nhà cầm quyền làm tròn thiên chức. Nếu chúng ta là người bị hại thì sau khi phạm nhân bị kết án theo luật định để công lý được sáng tỏ, chúng ta nên tha thứ cho phạm nhân và xin nhà cầm quyền miễn thi hành án phạt.

►Phá Thai

Phá thai là hành động tiêu diệt bào thai để hài nhi không được sinh ra. Lịch sử phá thai lâu đời nhất được ghi lại là từ năm 1550 TCN tại Ai-cập. Trung Quốc có văn kiện ghi chép sự phá thai của các quý phi từ năm 515 đến 550 TCN. Theo thần thoại của Trung Quốc thì gần 5000 năm trước Vua Thần Nông đã dạy cho dân cách dùng thủy ngân để phá thai [1].

Hầu như dân tộc nào cũng cảm biết rằng phá thai là một hành động vô đạo đức, là giết người. Nếu vì một lý do nào khiến cho một người chọn sự phá thai thì người ấy sẽ cố gắng làm trong sự kín dấu. Trải qua các thời đại cho đến đầu thế kỷ 18, việc phá thai vẫn xảy ra khắp nơi mà không có một quốc gia nào ra luật ngăn cấm. Năm 1803 Anh Quốc là quốc gia đầu tiên ra luật cấm phá thai, kế tiếp là các tiểu bang của Hoa Kỳ lần lượt đặt sự phá thai ra ngoài vòng pháp luật. Đến năm 1880 thì hầu như mọi sự phá thai đều bị ngăn cấm tại Hoa Kỳ, ngoại trừ trường hợp cần phải cứu lấy tính mạng của người mẹ. Dầu vậy, vào thập niên 1890 thì các bác sĩ ước tính mỗi năm có khoảng hai triệu trường hợp phá thai xảy ra tại Hoa Kỳ. Đến ngày 22 tháng Giêng năm 1973, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ban hành luật cho phép phá thai, theo đó, một người mẹ có toàn quyền phá thai vì bất kỳ lý do nào nếu bào thai không quá ba tháng tuổi; nếu bào thai trên ba tháng tuổi thì mỗi tiểu bang có những luật riêng quy định về quyền phá thai [2]. Riêng tại Việt Nam, phụ nữ có toàn quyền phá thai vì bất cứ lý do nào trong bất kỳ thời điểm nào. Theo thống kê, trong năm 2011 có khoảng 42 triệu cuộc phá thai xảy ra trên thế giới, trong đó, có khoảng 47 ngàn phụ nữ đã chết vì phá thai [3].

Ngày nay, có những giáo hội mang danh Chúa ủng hộ cho sự phá thai, dưới đây là danh sách [4]:

♦ Liên Hiệp Hội Thánh Đấng Christ (The United Church of Christ): ủng hộ mạnh mẽ quyền được phá thai của phụ nữ.

♦ Giáo Hội Giám Nhiệm (The Episcopal Church): ủng hộ quyền được phá thai của phụ nữ.

♦ Giáo Hội Tin Lành Lutheran tại Mỹ (Evangelical Lutheran Church of America): ủng hộ việc phá thai để cứu sống người mẹ, phá thai vì bị hiếp dâm, phá thai vì kết quả của loạn luân, phá thai vì thai nhi không bình thường.

♦ Giáo Hội Liên Hiệp Giám Lý (The United Methodist Church): ủng hộ việc phá thai để cứu sống người mẹ.

♦ Giáo Hội Trưởng Lão Hoa Kỳ (The Presbyterian Church – USA): ủng hộ việc phá thai để cứu sống người mẹ.

♦ Giáo Hội Liên Hiệp Trưởng Lão (The United Presbyterian Church): ủng hộ việc phá thai để cứu sống người mẹ.

♦ Giáo Hội Báp-tít Mỹ (The American Baptist Churches USA): ủng hộ việc phá thai để cứu sống người mẹ.

♦ Hội Báp-tít Nam Phương (Southern Baptist Convention): ủng hộ việc phá thai để cứu sống người mẹ.

Thi Thiên 139:13  chép: "Vì chính Chúa nắn nên tâm thần tôi, dệt thành tôi trong lòng mẹ tôi." Thi Thiên 139:16 chép: "Mắt Chúa đã thấy thể chất vô hình của tôi; Số các ngày định cho tôi, đã biên vào sổ Chúa trước khi chưa có một ngày trong các ngày ấy." Hai câu Thánh Kinh này cho chúng ta thấy việc thai dựng hài nhi trong lòng mẹ là việc làm của Thiên Chúa; tuổi thọ của mỗi người do Thiên Chúa định trước. Như vậy, ai có thẩm quyền phá hủy việc làm của Thiên Chúa và tiêu diệt sự sống đến từ nơi Ngài? Ai có thẩm quyền cất đi mạng sống của thai nhi để cứu lấy mạng sống của người mẹ? Đối với chúng ta là con dân Thiên Chúa, trong hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm, chúng ta chỉ hoàn toàn phó thác sự sống và sự chết của mình trong bàn tay của Thiên Chúa. Thiên Chúa toàn năng có thể bảo vệ mạng sống của bất cứ ai nếu đó là thánh ý của Ngài. Nhưng nếu thánh ý của Thiên Chúa muốn cất đi mạng sống của chúng ta qua nghịch cảnh thì chúng ta không thể nào chọn bảo vệ sự sống của mình bằng cách tiêu diệt sự sống của người khác.

Đối với các trường hợp bị hiếp dâm, loạn luân hay thai nhi bị khuyết tật, chúng ta cũng phó thác cảnh ngộ ấy trong bàn tay của Thiên Chúa. Đành rằng trong các trường hợp như vậy bào thai là kết quả của tội lỗi, nhưng nếu Chúa đã cho phép tội lỗi và hậu quả của tội lỗi xảy ra thì sự hình thành của một thai nhi trong lòng mẹ vẫn là điều đến từ Thiên Chúa: Ngài dệt nên thai nhi trong lòng mẹ, nắn nên tâm thần của nó để nó có thể tương giao với Ngài, Ngài định tuổi thọ của nó và ghi vào trong sổ của Ngài. Nếu Chúa muốn thì Ngài sẽ cất đi mạng sống của đứa bé như Ngài đã từng làm đối với đứa con ngoại tình của Vua Đa-vít và Bát-sê-ba (II Sa-mu-ên 12:15-18). Nếu Ngài cho phép thai nhi được sống và sinh ra thì chúng ta có bổn phận nuôi dưỡng và dạy dỗ con trong ân điển của Ngài.

Lời Chúa dạy chúng ta "Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hay là làm sự chi khác, hãy vì sự vinh quang của Thiên Chúa mà làm" (I Cô-rinhtô 10:31). Phá thai không thể nào là một việc làm vì sự vinh quang của Thiên Chúa. Phá thai vì bất cứ lý do nào cũng là hành động phạm tội giết người, vi phạm điều răn của Thiên Chúa. Những ai từng phá thai hoặc giúp đỡ, xúi dục người khác phá thai cần phải ăn năn và xưng tội với Chúa để được Chúa tha thứ.

►Tự Sát

Tự tử hay tự sát tức là tự mình giết mình. Phần lớn những trường hợp tự sát xảy ra là vì: đau khổ, thất vọng, tủi nhục, trốn tránh trách nhiệm hoặc bị tra tấn, áp bức quá sức chịu đựng. Bên cạnh đó, có những trường hợp tự sát là vì bị mất trí, bị ảnh hưởng của rượu, các chất ma túy hoặc tà linh. Lại có những trường hợp giết người rồi tự sát vì ghen tương hay thù hận, tự sát để giết người khác như những phi công cảm tử Nhật thời Đệ Nhị Thế Chiến hay các tay khủng bố Hồi Giáo thời nay.

Tự sát như thế nào là phạm tội giết người? Chúng ta đã có định nghĩa: "Phạm tội giết người" là giết người có ý thức và không hợp pháp cho dù là bởi động cơ hay mục đích nào.

Trong trường hợp tự sát của Sứ Đồ Giu-đa ích-ca-ri-ốt, chúng ta nhận thấy: (1) Giu-đa tự sát vì ăn năn. (2) Giu-đa có ý thức trong việc tự sát. (3) Việc tự sát của Giu-đa được xem là hành động lên án và thi hành án về tội giết người của ông. Vì thế, chúng ta có thể kết luận Giu-đa không phạm tội giết người khi ông tự sát. Tuy nhiên, Giu-đa trở thành đứa con của sự hư mất vì ông đã không tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ.

►Ghét Anh Em Mình Là Phạm Tội Giết Người

Thánh Kinh, trong I Giăng 3:15 chép: "Ai ghét anh em mình, là kẻ giết người; anh em biết rằng chẳng một kẻ nào giết người có sự sống đời đời ở trong mình." Trước hết, chúng ta cần chú ý là câu Thánh Kinh này nói đến sự "ghét anh em mình." Thánh Kinh dùng từ ngữ "anh em" để nói đến tình anh em trong Chúa, khác với từ ngữ "người lân cận" để chỉ tất cả những người mà chúng ta gặp gỡ trong thế gian. Nói như thế không có nghĩa Chúa cho phép chúng ta "ghét" người ngoài Chúa, bởi vì chính Chúa dạy chúng ta phải yêu kẻ thù của mình bằng tình yêu agape, tình yêu thiên thượng (Ma-thi-ơ 5:44).

Lòng ghét dẫn đến tư tưởng giết người như trường hợp Ca-in ghét rồi giết A-bên. Đối với Chúa, có tư tưởng giết người tức là phạm tội giết người. Lời Chúa phán được ghi lại trong Ma-thi-ơ 15:19 như sau: "Vì từ nơi lòng mà ra những ác tưởng, những tội giết người, tà dâm, dâm dục, trộm cướp, làm chứng dối, và lộng ngôn."

Câu "anh em biết rằng chẳng một kẻ nào giết người có sự sống đời đời ở trong mình" không có nghĩa vì giết người mà kẻ sát nhân không có sự sống đời đời, nhưng có nghĩa là: vì không có sự sống đời đời ở trong mình cho nên một người mới có thể phạm tội giết người. Sự sống đời đời chính là Đức Chúa Jesus Christ, từ đó, chúng ta suy ra, bất cứ ai ghét anh em mình thì người đó chưa hề có Chúa, chưa hề có sự sống đời đời ở trong người đó, cho dù họ mang danh là Cơ-đốc nhân.

Thế nào là ghét anh em mình? Nếu chúng ta không yêu anh em mình bằng tình yêu thiên thượng, tức là không nhịn nhục, không nhân từ, không tha thứ, không tin tưởng, không nín chịu anh em mình thì chúng ta là kẻ ghét anh em mình (I Cô-rinh-tô 13:4-7).

►Bạo Sát

Bạo sát là hành động giết chết một cách hung bạo, độc ác. Những sự tra tấn, hành hạ một người hay một con thú cho đến chết cũng là bạo sát. Sự bạo sát có thể tránh được như khi thi hành án tử hình một phạm nhân hoặc khi giết chết súc vật để ăn thịt thì chúng ta cần phải tránh. Sự bạo sát xảy ra trong chiến tranh là điều khó thể tránh được vì tự bản chất của chiến tranh đã là hung bạo, độc ác. Là con dân Chúa nếu ở trong vai trò của một lính chiến, dù chúng ta buộc phải tiêu diệt kẻ thù để bảo vệ chính mình, bảo vệ đồng đội và an ninh quốc gia, chúng ta cần giảm thiểu sự hung bạo và độc ác trong khả năng và thẩm quyền của mình.

Thánh Kinh không hề khuyên một người tin Chúa phải rời khỏi quân đội. Khi những người lính La-mã nghe Giăng Báp-tít rao giảng, họ hỏi ông họ phải làm gì thì Giăng Báp-tít đã trả lời: "Đừng hà hiếp, đừng phỉnh gạt ai hết, nhưng hãy bằng lòng về lương hướng mình" (Lu-ca 3:14). Ông không hề bảo họ phải ra khỏi quân đội hay đừng tham dự tác chiến.

►Giết Một Sinh Vật

Trong thế giới của chúng ta, sinh vật là những vật có sự sống, bao gồm: người, thú, chim, cá, côn trùng, và các loài thực vật. Chúng ta đã biết Thiên Chúa nghiêm cấm việc phạm tội giết người cho nên chúng ta không thể tùy ý giết người. Thiên Chúa cho phép chúng ta được ăn thịt các loài thú, các loài chim, các loài cá, và các loài thực vật, vì thế, việc giết thịt và thu hoạch rau quả làm thực phẩm là điều đương nhiên không nghịch lại luật pháp:

Sáng Thế Ký 1:29 "Thiên Chúa lại phán rằng: Nầy, Ta sẽ ban cho các ngươi mọi thứ cỏ kết hột mọc khắp mặt đất, và các loài cây sanh quả có hột giống; ấy sẽ là đồ ăn cho các ngươi."

Sáng Thế Ký 9:2, 3 "Các loài vật ở trên đất, các loài chim trời, và các vật hành động trên đất, cùng các cá biển, đều sẽ kinh khủng ngươi và bị phú vào tay ngươi. Phàm vật chi hành động và có sự sống thì dùng làm đồ ăn cho các ngươi. Ta cho mọi vật đó như ta đã cho thứ cỏ xanh."

I Ti-mô-thê 4:4, 5 "Vả, mọi vật Thiên Chúa đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được; vì nhờ Lời Thiên Chúa và lời cầu nguyện mà vật đó được nên thánh."

Tuy nhiên, chúng ta cần phải tránh những việc gây thương tích và giết chóc các sinh vật chỉ có tính cách mua vui, giải trí hoặc chỉ nhằm phục vụ cho bất cứ điều gì không phải là nhu cầu trong cuộc sống. Thí dụ: việc săn bắn hổ, báo chỉ nhằm mục đích lấy da làm thảm trang trí nội thất, việc săn bắn voi để lấy ngà dùng cho các việc mỹ nghệ, vv… là những việc con dân Chúa không nên dự phần, kể cả việc mua bán các sản phẩm đó.

Lời Chúa phán: "Hai con chim sẻ há chẳng từng bị bán một đồng tiền sao? Và ví không theo ý muốn Cha các ngươi, thì không hề một con nào rơi xuống đất" (Ma-thi-ơ 10:29); hàm ý: sự sống của mọi loài sinh vật nằm trong bàn tay của Thiên Chúa, chúng ta không được phép giết một sinh vật nào trừ khi trong hoàn cảnh cần thực phẩm, y dược, và tự vệ. Trái lại, chúng ta cần chăm sóc, bảo vệ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của muôn loài vạn vật mà Thiên Chúa đã giao cho chúng ta quyền quản trị.

►Kết Luận

Ý nghĩa chính của điều răn"Ngươi chớ phạm tội giết người!" là Thiên Chúa nghiêm cấm chúng ta giết người một cách có ý thức và nghịch lại Thánh Kinh cho dù là bởi động cơ hay mục đích nào, bao gồm các hành động phá thai và một số trường hợp tự sát. Án tử hình do các nhà cầm quyền đặt ra nếu không nghịch lại luật pháp của Thiên Chúa thì không bị chi phối bởi điều răn thứ sáu.

Tội giết người không giới hạn trong hành động lấy đi mạng sống của một người mà còn bao gồm sự ghét một người. Sự ghét dẫn đến tư tưởng và hành động phạm tội giết người, như trường hợp tức giận ra tay đánh người rồi lỡ tay gây chết người, dù trước đó không có ý giết người. Đối với Thiên Chúa, phạm tội trong tư tưởng, trong lời nói hoặc trong hành động đều là có tội và sẽ bị hình phạt. Ngoài ra, con dân chân thật của Chúa không bạo sát và lạm sát.

Điều răn thứ sáu truyền cho mọi người phải tôn trọng mạng sống đến từ Thiên Chúa, nhất là mạng sống của một người, bởi vì loài người được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa.

Huỳnh Christian Timothy
04.04.2012

Ghi Chú và Tham Khảo

[1] http://en.wikipedia.org/wiki/History_of_abortion#Prehistory_to_5th_century

[2] http://www.feminist.com/resources/ourbodies/abortion.html

[3] http://www.prb.org/pdf11/abortion-facts-and-figures-2011.pdf

[4] http://en.wikipedia.org/wiki/Christianity_and_abortion

 

Share This:

3,336 views

Sự Cứu Rỗi và Sự Sống Đời Đời

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này

Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài viết này là từ “Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Phan Khôi Hiệu Đính Năm 2011,” ngoại trừ những câu trích dẫn từ sách Giăng và sách Khải Huyền là từ “Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời.” Quý con dân Chúa có thể tra cứu tại đây:  http://pk2011.thanhkinhvietngu.net/biblehttp://ngoiloi.thanhkinhvietngu.net/.

Dẫn Nhập

Trong lịch sử của Hội Thánh, nhiều giáo lý sai nghịch Thánh Kinh đã được Sa-tan đưa vào Hội Thánh nhằm mục đích phá hoại sự phát triển của Hội Thánh. Một trong những phương cách cổ điển của Sa-tan là sửa đổi hoặc bẻ cong ý nghĩa chân thật của Lời Chúa để khiến người nghe áp dụng những hiểu biết sai lầm vào trong nếp sống đạo. Sa-tan đã từng thêm bớt Lời Chúa để khiến cho Ê-va phạm tội. Sa-tan cũng từng bẻ cong Lời Chúa mong rằng có thể cám dỗ Đức Chúa Jesus Christ phạm tội.

Trong những ngày cuối cùng này, chiến thuật sửa đổi (thêm hoặc bớt) Lời Chúa được Sa-tan ứng dụng trong các bản Thánh Kinh Diễn Ý hoặc các Bản Dịch Mới Thánh Kinh trong mọi ngôn ngữ. Chiến thuật bẻ cong Lời Chúa được Sa-tan ứng dụng trong các phong trào thần học và các tài liệu giải kinh. Từ đó, vô số giáo lý lạ được phát sinh và giảng dạy trong các giáo hội xưng danh là Hội Thánh.

Cảm tạ Chúa! Lời phán của Ngài là chân lý, cho nên, dù Sa-tan có gắng sức đánh phá cũng không thể nào thắng được Hội Thánh (Ma-thi-ơ 16:18). Những sự lường gạt của Sa-tan đầy dẫy trong các giáo hội chỉ có thể gạt được những ai không thuộc về Chúa, là những người vì không có lòng tìm kiếm Chúa và lẽ thật của Ngài nên đã bị Sa-tan làm cho mù thuộc linh (II Cô-rinh-tô 4:3, 4). Những người thật sự thuộc về Chúa sẽ được chính Đức Thánh Linh là Thần Lẽ Thật dẫn họ vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa và dùng chính Lời Chúa để thánh hóa họ (Giăng 16:13; 17:17), chuẩn bị họ cho ngày gặp Chúa giữa chốn không trung. Chúa cũng sẽ dùng những tôi tớ chân thật của Ngài để rao giảng và dạy dỗ các lẽ thật của Lời Ngài trong Hội Thánh.

Hai trong những lẽ đạo căn bản nhất của Thánh Kinh là “Sự Cứu Rỗi” và “Sự Sống Đời Đời” đã bị Sa-tan cố gắng che dấu, bẻ cong với nhiều ý tưởng thần học và giáo lý không có trong Thánh Kinh. Trong bài này, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa chân thật của sự cứu rỗi ở trong Đức Chúa Jesus Christ và sự sống đời đời được ban cho bởi Ngài.

Sự Thực Hữu, Sự Sống và Sự Chết

Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ định nghĩa của Thánh Kinh về sự sống và sự chết. Để có thể kinh nghiệm sự sống và sự chết thì phải có sự thực hữu (có thật). Chúng ta và muôn loài vạn vật, kể cả các thiên sứ, thực hữu là do Thiên Chúa sáng tạo. Thiên Chúa là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, nghĩa là, Thiên Chúa Tự Có và Có Đến Đời Đời; còn muôn loài vạn vật do ý muốn và quyền phép của Thiên Chúa mà có. Sự thực hữu của muôn loài vạn vật bắt đầu với sự sống cho đến khi sự chết xuất hiện. Sự chết làm biến đổi quan hệ của loài thọ tạo với Thiên Chúa và với nhau, chứ không chấm dứt sự thực hữu của chúng. Vì thế, một khi đã thực hữu thì chúng ta sẽ thực hữu trong sự sống hoặc thực hữu trong sự chết.

Chính Thánh Kinh dạy cho chúng ta biết, chết không có nghĩa là không còn thực hữu: “Còn anh em đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình, đều là những sự anh em xưa đã học đòi, theo thói quen đời nầy, vâng phục vua cầm quyền chốn không trung tức là thần hiện đương hành động trong các con bạn nghịch. Chúng ta hết thảy cũng đều ở trong số ấy, trước kia sống theo tư dục xác thịt mình, làm trọn các sự ham mê của xác thịt và ý tưởng chúng ta, tự nhiên làm con của sự thạnh nộ, cũng như mọi người khác. Nhưng Đức Chúa Trời, là Đấng giàu lòng thương xót, vì cớ lòng yêu thương lớn Ngài đem mà yêu chúng ta, nên đang khi chúng ta chết vì tội mình, thì Ngài làm cho chúng ta sống với Đấng Christ, ấy là nhờ ân điển mà anh em được cứu, và Ngài làm cho chúng ta đồng sống lại và đồng ngồi trong các nơi trên trời trong Đức Chúa Jesus Christ, hầu cho về đời sau tỏ ra sự giàu có vô hạn của ân điển Ngài, mà Ngài bởi lòng nhơn từ đã dùng ra cho chúng ta trong Đức Chúa Jesus Christ” (Ê-phê-sô 2:1-7). Các mệnh đề anh em đã chết vì lầm lỗi và tội ác mìnhđang khi chúng ta chết vì tội mình cho chúng ta thấy rõ, “đã chết” hoặc “đang chết” không có nghĩa là trở thành hư không, không còn thực hữu.

Trong câu chuyện người ăn mày tên La-xa-rơ và người nhà giàu được ghi chép trong Lu-ca 16:19-31, Đức Chúa Jesus dạy rằng, cả người trong Chúa lẫn người ngoài Chúa, sau khi chết thuộc thể thì vẫn thực hữu với đầy đủ ý thức, tình cảm, lý trí, và ý chí.

Trong sự kiện Chúa hóa hình trên núi được ghi lại trong Ma-thi-ơ 17, Mác 9, và Lu-ca 9, thì Lu-ca 9:30, 31có nói rõ, Môi-se vốn là người đã chết phần thể xác hơn 1400 năm trước đó, (thân thể ông được thiên sứ trưởng Mi-chen chống với ma quỷ để dành lấy, không cho ma quỷ lạm dụng  – Giu-đe 9), đã hiện ra trò chuyện với Chúa về sự Ngài sẽ qua đời. Đối với tên trộm bị đóng đinh bên phải Chúa, Ngài phán: “hôm nay ngươi sẽ được ở với Ta trong nơi Ba-ra-đi” (Lu-ca 23:43). Trong Hê-bơ-rơ 12:23 nói đến sự kiện Hội Thánh của Chúa được ở gần “thần linh của những người nghĩa đã được làm cho vẹn lành,” tức là các thánh đồ đã qua đời. Khải Huyền 6:9-11 nói đến linh hồn của những người tử đạo được ở dưới bàn thờ trên thiên đàng, kêu xin Chúa báo thù cho họ, và họ được ban cho những áo trắng. Tất cả các phân đoạn Thánh Kinh trên đây đã dạy rõ: cái chết thể xác không khiến cho sự thực hữu của một người bị chấm dứt và thuyết “linh hồn ngủ” cho rằng một người đã chết thì không còn biết gì nữa, là hoàn toàn sai lầm, nghịch lại lẽ thật của Thánh Kinh.

Vì không hiểu rõ những điều trên đây nên vài giáo phái Cơ-đốc, như Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật (Seventh Day Adventist), Hội Thánh của Đức Chúa Trời (Church of God), và Chứng Nhân của Đức Giê-hô-va (Jehovah’s Witnesses) đã tạo ra các giáo lý sai nghịch Thánh Kinh. Họ dạy rằng, sống là thực hữu còn chết là trở về hư không, vì thế, họ bài bác sự kiện ma quỷ và những người hư mất sẽ bị khổ đời đời trong hỏa ngục.

Theo Thánh Kinh, sống là sự kết hợp năng động, đem lại kết quả, còn chết là sự phân rẽ, chấm dứt mọi năng động. Có sự sống thuộc thể và sự sống thuộc linh, sự chết thuộc thể và sự chết thuộc linh. Trong sự sống thuộc thể, linh hồn và tâm thần kết hợp với thể xác, khiến cho thể xác được năng động. Sự chết thuộc thể xảy ra khi linh hồn và tâm thần phân rẽ với thể xác. Trong sự sống thuộc linh, loài người được kết hợp với Thiên Chúa, nghĩa là được tương giao với Ngài, được thực hữu trong sự vinh quang và quyền phép của Ngài. Đó là địa vị ban đầu của loài người khi được Thiên Chúa dựng nên. Trong sự chết thuộc linh loài người bị phân rẽ với Thiên Chúa, bị thực hữu trong sự thịnh nộ của Ngài. Sự chết thuộc linh hay sự phân rẽ với Thiên Chúa xảy ra khi loài người chống nghịch lại luật pháp của Thiên Chúa. Luật pháp của Thiên Chúa  tức là mọi ý muốn của Ngài đối với loài người. Thánh Kinh gọi sự chống nghịch đó là “sự phạm tội” và định nghĩa: “Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp” (I Giăng 3:4); đồng thời giải thích: “Nhưng ấy là sự gian ác các ngươi làm xa cách mình với Thiên Chúa; và tội lỗi các ngươi đã che khuất mặt Ngài khỏi các ngươi, đến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa” (Ê-sai 59:2).

Sự sống còn có nghĩa là nhận thức và sự chết còn có nghĩa là không nhận thức, vì thế, sự sống còn được gọi là sự sáng và sự chết còn bị gọi là sự tối tăm. Trong sự sống thuộc thể, thể xác nhận biết linh hồn và tâm thần; nhưng khi sự chết thuộc thể xảy ra thì thể xác không còn nhận biết linh hồn và tâm thần nữa. Trong sự sống thuộc linh, loài người nhìn biết Thiên Chúa; nhưng khi sự chết thuộc linh xảy ra thì loài người không còn nhìn biết Thiên Chúa nữa.

“Trong Ngài có sự sống; sự sống là sự sáng của loài người. Sự sáng hiện ra trong sự tối tăm; và sự tối tăm chẳng thể kiềm chế sự sáng”(Giăng 1:4, 5). Trong Ngôi Lời, tức là trong Đức Chúa Jesus Christ, có sự sống và sự sống là sự loài người nhận thức Thiên Chúa. Sự sống hiện ra trong sự chết; và sự chết chẳng thể bắt phục sự sống.

Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Ngài, tức là Chúa Trời có một và thật, cùng Jesus Christ, là Đấng Ngài đã sai đến” (Giăng 17:3). Sự sống đời đời là nhận thức Đức Chúa Cha và Đức Chúa Jesus Christ. Nhận thức Đức Chúa Cha qua sự giải bày của Đức Chúa Jesus Christ và nhận thức Đức Chúa Jesus là Đấng Christ, là Đấng Đức Chúa Cha đã sai đến thế gian để cứu chuộc nhân loại.

“Rồi những kẻ nầy sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự sống đời đời” (Ma-thi-ơ 25:46). Hình phạt đời đời là sự chết thứ hai, tức là đời đời thực hữu trong hỏa ngục: “Còn những kẻ hèn nhát, không tin, đáng gớm ghiếc; những kẻ giết người; những đĩ đực; những kẻ phù phép; những kẻ thờ thần tượng; và tất cả những kẻ nói dối sẽ có phần của chúng trong hồ đốt với lửa và lưu hoàng. Đó là sự chết thứ hai” (Khải Huyền 21:8). Sự sống đời đời là được làm con dân của Đức Chúa Trời và được Ngài ở cùng cho đến đời, không bao giờ bị phân rẽ nữa: “Tôi nghe một tiếng lớn từ trời phán rằng: ‘Này, lều của Đức Chúa Trời ở với loài người và Ngài sẽ ở với họ. Họ sẽ làm dân của Ngài và chính mình Đức Chúa Trời sẽ ở với họ, làm Đức Chúa Trời của họ. Đức Chúa Trời sẽ lau hết mọi nước mắt khỏi mắt họ. Sẽ không còn sự chết, không còn buồn khổ, không còn khóc lóc, cũng không còn đau đớn nữa vì những sự cũ đã qua rồi.’ Đấng ngự trên ngai phán rằng: ‘Này, Ta làm mới mọi sự!’ Ngài lại phán với tôi: ‘Hãy chép, vì những lời này là chân thật và thành tín.’ Ngài phán với tôi: ‘Xong rồi! Ta là An-pha và Ô-mê-ga: Đấng Đầu Tiên và Đấng Cuối Cùng. Ta sẽ ban cho kẻ nào khát được tự do uống từ Nguồn Nước Sống. Kẻ nào thắng sẽ được hưởng mọi sự làm cơ nghiệp. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời người và người sẽ làm con trai Ta'” (Khải Huyền 21:3-7). Từ ngữ “con trai” trong nguyên tác Thánh Kinh để chỉ về sự được hưởng quyền thừa kế. “Con trai của Đức Chúa Trời” có nghĩa là kẻ được hưởng cơ nghiệp của Ngài. Trong ý nghĩa đó, khi Thánh Kinh gọi các thiên sứ là “các con trai của Đức Chúa Trời” thì hàm ý các thiên sứ cũng được dự phần trong cơ nghiệp của Đức Chúa Trời. Một trong các cơ nghiệp của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời.

“Nhiều kẻ ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, kẻ thì để được sự sống đời đời, kẻ thì chịu sự xấu hổ nhơ nhuốc đời đời”(Đa-ni-ên 12:2). Trong tương lai, thân thể vật chất của người tin Chúa và người không tin Chúa đều sẽ sống lại, nghĩa là được kết hợp trở lại với linh hồn. Thân thể phục sinh của người tin Chúa sẽ thực hữu trong hạnh phúc với Thiên Chúa cho đến đời đời, vì được đầy dẫy ân điển của Ngài; còn thân thể phục sinh của người không tin Chúa sẽ thực hữu trong đau khổ cho đến đời đời, vì thiếu mất ân điển của Ngài.

“Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của quyền phép Ngài”(II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9). Những kẻ không vâng phục Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ sẽ bị hư mất đời đời, nghĩa là, đời đời xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của quyền phép Ngài, là thực hữu cách đau khổ cả ngày lẫn đêm trong hỏa ngục: “Ma Quỷ là kẻ lừa dối chúng bị ném vào hồ lửa và lưu hoàng, nơi có con thú và tiên tri giả. Chúng sẽ bị đau khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời. Rồi, tôi thấy một ngai trắng, lớn và Đấngngự trên ngai. Đất và trời trốn khỏi mặt Ngài, chẳng còn thấy chỗ của chúng nữa. Tôi thấy những kẻ chết, nhỏ lẫn lớn, đứng trước Đức Chúa Trời. Có những sách mở ra. Lại có một sách khác là Sách Sự Sống được mở ra. Những kẻ chết bị phán xét tùy theo những việc họ đã làm và đã được ghi lại trong những sách ấy. Biển đã giao lại những kẻ chết trong nó. Sự chết và âm phủ cũng đã giao lại những kẻ chết trong chúng. Mỗi người bị phán xét tùy theo những việc họ đã làm. Sự chết và âm phủ bị ném vào hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai. Bất kỳ kẻ nào không tìm thấy được chép trong Sách Sự Sống thì bị ném vào hồ lửa” (Khải Huyền 20:10-15).

Ý Nghĩa của Sự Cứu Rỗi

Sự cứu rỗi và sự sống đời đời là hai điều khác nhau nhưng có liên quan mật thiết với nhau. Một người không thể nào có được sự sống đời đời nếu chưa được cứu rỗi. Được cứu rỗi là được cứu ra khỏi:

•         địa vị làm con cái của ma quỷ, con cái của ma quỷ có nghĩa là giống như ma quỷ và thuộc về ma quỷ (Giăng 8:44);

•         quyền lực của tội lỗi, nghĩa là không còn bị buộc phải làm những điều nghịch lại luật pháp của Đức Chúa Trời (Rô-ma 7:23);

•         hậu quả của tội lỗi là sự chết đời đời, tức là sự bị phân cách đời đời với Đức Chúa Trời (II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9).

Tiến trình của sự cứu rỗi bao gồm các bước sau đây:

•          được xưng nghĩa, tức là tội nhân được Đức Chúa Trời tuyên bố không còn trách nhiệm đối với mọi tội lỗi (Rô-ma 3:23, 24);

•           được tái sinh, tức là được sinh ra mới bởi Đức Chúa Trời (II Cô-rinh-tô 5:17; I Phi-e-rơ 1:3);

•          được thánh hóa, tức là được trở nên giống như Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 4:24; I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23).

Sự xưng nghĩa bao gồm các phương diện sau đây, tội nhân được:

•           tha tội và làm cho sạch tội (I Giăng 1:9);

•           ban cho địa vị con cái của Đức Chúa Trời (Giăng 1:12);

•           ban cho địa vị thánh đồ trong Đức Chúa Jesus Christ (I Cô 1:2).

Sự tái sinh bao gồm các phương diện sau đây, thánh đồ được:

•          trở nên đền thờ của Đức Chúa Trời và được Đức Thánh Linh ngự trong thân thể (I Cô-rinh-tô 3:16; 6:19);

•         Đức Thánh Linh ban cho các ân tứ để hầu việc Đức Chúa Trời (I Cô-rinh-tô 12:1-11);

•         ban cho các chức vụ: tiên tri, thầy tế lễ, nhà vua (Ma-thi-ơ 28:19, 20; I Phi-e-rơ 2:9, 10; Khải Huyền 1:6) để làm những việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho (Ê-phê-sô 2:10).

Sự thánh hóa bao gồm các phương diện sau đây, thánh đồ được:

•         trở nên giống Chúa (Rô-ma 8:29; Ê-phê-sô 4:24);

•         thông công với Chúa và với các chi thể trong Hội Thánh của Chúa (I Cô-rinh-tô 1:9; 12:12-26);

•         đạt đến mức không tì, không vít, không chỗ trách được (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23), nghĩa là trở nên trọn vẹn như Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 5:48).

Điều Kiện để Được Sự Cứu Rỗi

Một người muốn được cứu rỗi phải hội đủ các điều kiện sau đây:

•         nhận mình là người có tội (I Giăng 1:8-10);

•         thật lòng ăn năn tội, tức là chịu từ bỏ tội (Ma-thi-ơ 4:17; Công Vụ Các Sứ Đồ 3:19; Giăng 5:14; 8:11);

•         tin nhận chỉ một mình sự cứu rỗi trong Đức Chúa Jesus Christ, nghĩa là không dựa vào các việc làm công đức hay là ai khác (Giăng 14:6; Công Vụ Các Sứ Đồ 4:12; Ê-phê-sô 2:8, 9).

Sự Cứu Rỗi Dẫn Đến Sự Sống Đời Đời

Người đã được cứu rỗi là người được Đức Chúa Trời dựng nên mới và ban cho năng lực để có thể sống theo luật pháp của Thiên Chúa. Luật pháp của Thiên Chúa tức là mọi ý muốn của Thiên Chúa đối với loài người được ghi chép trong Thánh Kinh.

Chúng ta không làm theo luật pháp để được cứu nhưng chúng ta được cứu để làm theo luật pháp.

Trước khi chúng ta được cứu thì chúng ta đang chết (nghĩa là đang bị phân rẽ với Chúa), bị nô lệ cho tội lỗi (nghĩa là phải làm theo sự sai khiến của tội lỗi), và ở dưới luật pháp (nghĩa là bị phán xét bởi luật pháp). Sau khi chúng ta được cứu thì chúng ta được tái sinh (nghĩa là được dựng nên mới trong Đức Chúa Jesus Christ), thoát khỏi sự cai trị của tội lỗi (nghĩa là có thể vừa muốn vừa làm theo thánh ý của Đức Chúa Trời), và được tự do đối với luật pháp (nghĩa là luật pháp vẫn có đó nhưng không còn phán xét chúng ta về mọi tội lỗi của chúng ta mà sự phán xét đó được thi hành trên Đức Chúa Jesus Christ). Vì thế, nếu chúng ta tiếp tục ở lại trong sự cứu rỗi, nghĩa là không quay về với nếp sống chống nghịch luật pháp của Thiên Chúa, thì chúng ta sẽ nhận được sự sống đời đời.

Hiện nay, chúng ta đang ở trong sự cứu rỗi, đã được tái sinh, đang ở trong địa vị làm con của Đức Chúa Trời, và đang ở trong sự sống, tức là đang được tương giao với Thiên Chúa, nếm biết sự sống đời đời nhưng chưa hoàn toàn sở hữu sự sống đời đời. Nếu chúng ta trung tín làm theo Lời Chúa cho đến chết hoặc cho đến khi Chúa trở lại thì chúng ta sẽ hoàn toàn sở hữu sự sống đời đời trong một thân thể vinh quang. Khi đó, chúng ta trở nên trọn vẹn như Cha của chúng ta ở trên trời và chúng ta không còn thể nào phạm tội.

Ý Nghĩa của Sự Sống Đời Đời

Sự sống đời đời là được thực hữu trong hạnh phúc với Đức Chúa Trời cho đến đời đời, bao gồm sự:

•         nhận biết Đức Chúa Cha và Đức Chúa Jesus Christ (Giăng 17:3);

•         được làm con của Đức Chúa Trời (Giăng 1:12; Khải Huyền 21:7);

•      được hưởng cơ nghiệp của Đức Chúa Trời (Ê-phê 1:18; Cô-lô-se 1:12, 3:24; Hê-bơ-rơ 9:15; I Phi-e-rơ 1:4).

Điều Kiện để Được Sự Sống Đời Đời

Một người muốn được sự sống đời đời phải hội đủ các điều kiện sau đây:

•         được cứu rỗi, tức là: được xưng nghĩa, được tái sinh, và được thánh hóa, xin đọc bài “Ba Phương Diện của Sự Cứu Rỗi” tại đây: http://thanhoc.timhieutinlanh.net/?p=11;

•         nên thánh, tức là từ bỏ mọi sự ô uế, tội lỗi (II Cô-rinh-tô 7:1; I Tê-sa-lô-ni-ca 4:3, 7; I Giăng 3:3), là vâng giữ các điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời (I Cô-rinh-tô 7:19; I Ti-mô-thê 6:14; I Giăng 2:3-5; 5:3; II Giăng 4; Khải Huyền 4:12), là sống như Đấng Christ (Ê-phê-sô 5:1; I Tê-sa-lô-ni-ca 1:6; I Giăng 2:6), là bắt chước Phao-lô như Phao-lô đã bắt chước Đấng Christ (I Cô-rinh-tô 1:11);

•         trung tín với Chúa cho đến chết, tức là sẵn sàng chịu khổ, thậm chí chịu chết, để làm theo Lời Chúa (Lu-ca 9:23; Rô-ma 14:7, 8; Phi-líp 1:29; II Ti-mô-thê 3:3; Khải Huyền 2:10).

Người Đã Được Cứu Rỗi Vẫn Có Thể Bị Hư Mất Đời Đời

Trái với thứ giáo lý sai nghịch Thánh Kinh, dạy rằng: “một khi đã được cứu rỗi thì vĩnh viễn không bao giờ bị hư mất” hoặc “được cứu một lần là được cứu vĩnh viễn” hoặc “người đã được cứu rỗi không bao giờ bị mất sự cứu rỗi,” Thánh Kinh khẳng định như sau:

“Ta là gốc nho thật; và Cha Ta là người trồng nho. Mỗi nhánh trong Ta mà không kết quả, thì chính Ngài chặt bỏ nó; và Ngài tỉa sửa từng nhánh nào kết quả, để nó được sai trái hơn. Các ngươi đã được tinh sạch, bởi lời Ta đã phán với các ngươi. Hãy cứ ở trong Ta, và Ta ở trong các ngươi. Như nhánh không tự mình kết quả được nếu không cứ ở trong gốc nho, thì các ngươi cũng vậy, nếu các ngươi không cứ ở trong Ta. Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh. Ai cứ ở trong Ta và Ta trong người ấy, thì người ấy kết quả nhiều; vì ngoài Ta, các ngươi chẳng làm chi được. Nếu ai chẳng cứ ở trong Ta, thì bị ném ra ngoài, như một nhánh và bị khô đi; và người ta gom chúng lại, ném vào trong lửa, thì nó cháy” (Giăng 15:1-6). Nhánh bị chặt bỏ là bị phân rẽ với gốc, là chết. Người đã được cứu rỗi mà không tiếp tục ở trong Chúa, tức là không kết quả xứng đáng với sự ăn năn, thì sẽ bị dứt bỏ khỏi Đấng Christ là nguồn của sự sống đời đời và bị ném vào hồ lửa của sự chết đời đời: “Thế thì, hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn…” (Lu-ca 3:8). Kết quả xứng đáng với sự ăn năn là sốt sắng làm theo Lời Chúa như đã được ghi chép trong Thánh Kinh, là vâng giữ các điều răn và luật pháp của Thiên Chúa: “Nhưng bây giờ đã được buông tha khỏi tội lỗi và trở nên tôi mọi của Đức Chúa Trời rồi, thì anh em được lấy sự nên thánh làm kết quả, và sự sống đời đời làm cuối cùng” (Rô-ma 6:22); là không còn phạm tội nữa: “Này, ngươi đã lành rồi, đừng phạm tội nữa, để không có sự xấu gì xảy đến cho ngươi” (Giăng 5:14);“…hãy đi, đừng phạm tội nữa (Giăng 8:11).

“Vậy hãy xem sự nhơn từ và sự nghiêm nhặt của Thiên Chúa: sự nghiêm nhặt đối với họ là kẻ đã ngã xuống, còn sự nhơn từ đối với ngươi, miễn là ngươi cầm giữ mình trong sự nhơn từ Ngài: bằng chẳng, ngươi cũng sẽ bị chặt(Rô-ma 11:22). Thiên Chúa là nhân từ nên Ngài ban cho mọi người có cơ hội để được cứu rỗi; nhưng Thiên Chúa cũng rất là nghiêm nhặt nên Ngài sẽ loại bỏ những ai lợi dụng sự nhân từ của Ngài để tiếp tục sống trong tội. Mệnh lệnh của Chúa đối với người tin nhận Chúa rất là rõ ràng: “Đừng phạm tội nữa!”

“Vì chưng những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Thánh Linh, Lời lành của Thiên Chúa, và năng lực của đời sau, nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường. Vả, một đám đất nhờ mưa đượm nhuần mà sanh cây cỏ có ích cho người cày cấy, thì đất đó hưởng phần phước lành của Đức Chúa Trời. Nhưng đất nào chỉ sanh ra những cỏ rạ, gai gốc, thì bị bỏ, và hầu bị rủa, cuối cùng phải bị đốt(Hê-bơ-rơ 6:4-8). Lời Chúa khẳng định rõ ràng: Một người đã được soi sáng một lần (từng nhận biết Chúa và lẽ thật của Lời Chúa), nếm biết sự ban cho từ trên trời (ơn cứu rỗi), dự phần về Thánh Linh (được tái sinh và nhận lãnh Thánh Linh), Lời Lành của Thiên Chúa (được thánh hóa bởi Lời Chúa), và năng lực của đời sau (vượt khỏi sự chết vào trong sự sống, chiến thắng ma quỷ) mà lại vấp ngã (trở lại sống trong tội) thì không thể khiến cho họ lại ăn năn nữa. Số phận của kẻ không ăn năn sẽ đi về đâu?

“Vả, chúng nó bởi sự nhận biết Chúa và Đấng Giải Cứu chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ, mà đã thoát khỏi sự ô uế của thế gian, rồi lại mắc phải và suy phục những sự đó, thì số phận sau cùng của chúng nó trở xấu hơn lúc đầu. Chúng nó đã biết đường công bình, rồi lại lui đi về lời răn thánh đã truyền cho mình, thế thì thà rằng không biết là hơn. Đã xảy đến cho chúng nó như lời tục ngữ rằng: Chó liếm lại đồ nó đã mửa, heo đã rửa sạch rồi, lại lăn lóc trong vũng bùn”(II Phi-e-rơ 2:20-22). Số phận sau cùng là số phận lúc chung cuộc, lúc bị phán xét trước tòa án của Đấng Christ. Số phận của kẻ nhận biết Chúa rồi mà trở lại sống trong tội thì xấu hơn số phận của chính họ lúc chưa tin nhận Chúa, bởi vì, dù người không tin nhận Chúa cũng sẽ bị hình phạt nhưng sự hình phạt của họ sẽ nhẹ hơn hình phạt của người đã tin nhận Chúa rồi mà quay lại với nếp sống tội lỗi.

“Vì ngươi hâm hẫm, không lạnh cũng không nóng, Ta sẽ mửa ngươi ra khỏi miệng Ta”(Khải Huyền 3:16). Số phận của người không hết lòng theo Chúa, bị Chúa mửa ra sẽ đi về đâu?

Những lời giảng dạy sau đây của Đức Chúa Jesus Christ cho chúng ta thấy rằng, một người đã tin nhận ơn cứu rỗi của Ngài vẫn có thể bị hư mất đời đời trong hỏa ngục, là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng (Ma-thi-ơ 13:42):

►         Ngụ ngôn về đầy tớ không thương xót(Ma-thi-ơ 18:23-35) dạy rằng, người nào không tha thứ cho anh em mình thì sẽ không được Đức Chúa Cha tha thứ: “Nếu mỗi người trong các ngươi không hết lòng tha lỗi cho anh em mình, thì Cha Ta ở trên trời cũng sẽ xử với các ngươi như vậy” (câu 35).

►         Ngụ ngôn về tiệc cưới(Ma-thi-ơ 22:1-14) dạy rằng, người nào tin nhận Chúa mà không chịu thánh hóa thì sẽ bị hư mất: “Vua vào xem khách dự tiệc, chợt thấy một người không mặc áo lễ, thì phán cùng người rằng: Hỡi bạn, sao ngươi vào đây mà không mặc áo lễ? Người đó làm thinh. Vua bèn truyền cho đầy tớ rằng: Hãy trói tay chơn nó lại, và quăng ra ngoài nơi tối tăm, là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng. Bởi vì có nhiều kẻ được gọi, mà ít người được chọn” (câu 11-14).

►         Ngụ ngôn về mười nữ đồng trinh(Ma-thi-ơ 25:1-13) dạy rằng, người nào không khôn ngoan ghi nhớ Lời Chúa để thực hành trong cuộc sống, trở thành muối của đất và ánh sáng của thế gian, khi Chúa đến, sẽ bị bỏ lại, dù đã được chọn để đi với Ngài. Năm người dại tiêu biểu cho những người không biết còn năm người khôn tiêu biểu cho những người biết làm việc cho kết quả xứng đáng với sự ăn năn. Dầu là sự dạy dỗ của Lời Chúa, đèn là nếp sống đạo, chiếu sáng lẽ thật của Chúa. Người bán dầu là Đức Thánh Linh giảng dạy Lời Chúa. Mua dầu là dùng thời gian, công sức, và tiền bạc để đổi lấy cơ hội đọc và suy ngẫm Lời Chúa. Thắp đèn là ứng dụng sự dạy dỗ của Lời Chúa vào trong nếp sống mỗi ngày. Ánh sáng của đèn là lẽ thật của Lời Chúa được chiếu ra qua nếp sống đạo của người tin Chúa: “Chặp lâu, những người nữ đồng trinh khác cũng đến và xin rằng: Hỡi Chúa, hỡi Chúa, xin mở cho chúng tôi! Nhưng người đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta không biết các ngươi đâu” (câu 11-12).

►         Ngụ ngôn về đầy tớ xấu(Ma-thi-ơ 24:43-51) và ngụ ngôn về quản gia bất trung (Lu-ca 12:41-48) dạy rằng, người nào được Chúa ban cho các chức vụ cai trị trong nhà Chúa mà không trung tín làm tròn nhiệm vụ thì sẽ bị hư mất: “Chủ sẽ đánh xé xương và định phần nó đồng với kẻ giả hình. Đó là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng” (câu 51).“Nhưng nếu đầy tớ ấy tự nghĩ rằng: Chủ ta chậm đến; rồi cứ đánh đập đầy tớ trai và gái, ăn uống say sưa, thì chủ nó sẽ đến trong ngày nó không dè, và giờ nó không biết; lấy roi đánh xé da nó, và để cho nó đồng số phận với kẻ bất trung” (câu 45, 46).

►         Ngụ ngôn về các ta-lâng(Ma-thi-ơ 25:14-30) và ngụ ngôn về các nén bạc (Lu-ca 19:11-27) dạy rằng, người nào được Chúa ban ơn, giao việc mà không trung tín hầu việc Chúa thì sẽ bị hư mất: “Còn tên đầy tớ vô ích đó, hãy quăng nó ra ngoài là chỗ tối tăm, ở đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng” (câu 30). “Ta nói cùng các ngươi, ai có, thì sẽ cho thêm; song ai không có, thì sẽ cất luôn của họ đã có nữa. Còn như những kẻ nghịch cùng ta, không muốn ta cai trị họ, hãy kéo họ đến đây, và chém đi trước mặt ta” (câu 26, 27).

►         Ngụ ngôn về lòng thương xót(Ma-thi-ơ 25:31-46) dạy rằng, người nào không có lòng thương xót, cứu giúp anh chị em trong Chúa thì sẽ bị hư mất: “Đến phiên các ngươi nầy bèn thưa lại rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa, hoặc đói, hoặc khát, hoặc làm khách lạ, hoặc trần truồng, hoặc đau ốm, hoặc bị tù mà không hầu việc Ngài ư? Ngài sẽ đáp lại rằng: Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy, ấy là các ngươi cũng không làm cho Ta nữa. Rồi những kẻ nầy sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự sống đời đời” (câu 44, 46).

Lời Kêu Gọi

Ngày Đức Chúa Jesus Christ trở lại để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian đã rất gần (I Tê-sa-lô-ni-ca 4:13-18). Chúng ta hãy dùng Lời Chúa để khuyên bảo và nhắc nhở lẫn nhau, rằng: hãy tỉnh thức, dọn mình, đón chờ Chúa. Hãy tránh xa tất cả những thứ men thần học, ngụy giáo lý trái nghịch với lẽ thật của Thánh Kinh (Ma-thi-ơ 16:6; Mác 8:15; I Cô-rinh-tô 5:7, 8). Hãy đọc, suy ngẫm ngày đêm và cẩn thận làm theo mọi điều đã được chép trong Thánh Kinh (Giô-suê 1:8) thay vì làm theo các luật lệ và truyền thống do loài người lập ra và giảng dạy trong các giáo hội. Lời Chúa có năng lực để giúp cho chúng ta làm mọi việc lành mà Ngài đã sắm sẵn cho chúng ta (II Ti-mô-thê 3:16, 17; Ê-phê-sô 2:10) chứ không phải những lý luận và sự khôn ngoan của loài người.

Nguyện Đức Chúa Jesus Christ mau đến. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
01.03.2012

 

Share This:

2,467 views

Jesus Christ và Christ Jesus

Huỳnh Christian Timothy
Chúng ta vẫn biết Thánh Kinh là Lời của Thiên Chúa do các tiên tri và các môn đồ của Chúa ghi chép lại. Khi ghi chép, mỗi người dùng văn phong riêng của chính mình. Tuy nhiên, chính Đức Thánh Linh đã thần cảm họ trong khi họ viết, vì thế, từng lời, từng chữ của Thánh Kinh nguyên bản khi được các tiên tri và các môn đồ của Chúa đặt bút chép ra, hoàn toàn có sự soi dẫn của Đức Thánh Linh. II Ti-mô-thê 3:16, 17 khẳng định rằng: “Cả Thánh Kinh đều là bởi Thiên Chúa hà hơi, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành.” Có người cho rằng, đây là nói về Cựu Ước, vì khi Phao-lô viết những dòng chữ này cho Ti-mô-thê thì chưa có Thánh Kinh Tân Ước. Thực tế, ngay lúc ấy, chính thư II Ti-mô-thê cũng mới được viết đến chương ba, câu 17! Vậy, họ kết luận, sự thần cảm của Đức Thánh Linh không bao gồm phần Tân Ước. Những người nói như vậy là những người chưa có sự cứu rỗi, nên chưa được tái sinh, chưa có Đức Thánh Linh ngự trong thân thể họ để dạy cho họ biết Thánh Kinh Tân Ước cũng chính là Lời của Đức Chúa Trời. Vì thế, họ mới phủ nhận thần tính và thần quyền của Tân Ước.


Bấm vào nút “play” ► để nghe

Bấm vào nút “play” ► để nghe
.
Chính vì cả Thánh Kinh đều được Thiên Chúa hà hơi mà Thánh Kinh trở thành lời sống và linh nghiệm, như Hê-bơ-rơ 4:12, 13 chép: “Vì Lời Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi phân chia linh hồn, tâm thần, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng. Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng hết thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại.” Thế nên, tôi tin rằng từng chữ trong Thánh Kinh và mỗi cách dùng chữ trong Thánh Kinh đều có những ý nghĩa rõ ràng và nhất định, không phải để cho ai có thể tùy ý thêm hay bớt, hoặc tùy ý diễn giải.
Bây giờ, chúng ta hãy cùng nhau xét đến một vài cách dùng tên gọi và các danh xưng của Đức Chúa Jesus Christ:
·         Jesus: tên gọi của Chúa, có nghĩa là “Đấng Tự Hữu Hằng Hữu Là Đấng Cứu Rỗi” hoặc “Sự Cứu Rỗi Thuộc Về Đấng Tự Hữu Hằng Hữu!” Khi Thánh Kinh chỉ đề cập đến tên gọi Jesus mà không kèm theo các danh xưng “Chúa” và “Christ” thì Thánh Kinh muốn nhấn mạnh về bản thể của Ngài. Ngài là Thiên Chúa Ngôi Con nhập thế làm người để mang sự cứu rỗi của Thiên Chúa đến cho toàn thể nhân loại. Ngài hoàn toàn là Thiên Chúa vì Ngài là con của Thiên Chúa mà Ngài cũng hoàn toàn là Người vì Ngài cũng là con của loài người.
·         Chúa: trong nghĩa đen không có nghĩa “Thiên Chúa” hay “Đức Chúa Trời,” mà là “người có toàn quyền trên người khác” như vua trong một vương quốc, chủ nhân của những nô lệ. Trong bốn sách Tin Lành không dùng danh xưng “Chúa” kèm theo tên gọi Jesus hoặc Jesus Christ. (Thánh Kinh Việt ngữ dịch “Jesus” thành “Đức Chúa Jesus” hoặc “Jesus Christ” và “Christ Jesus” thành “Đức Chúa Jesus Christ”). Sau khi Chúa phục sinh, Thánh Kinh dùng danh xưng “Chúa” kèm theo tên gọi Jesus hoặc Jesus Christ với hàm ý, sau khi hoàn thành công cuộc cứu rỗi nhân loại, Ngài cai trị những ai tiếp nhận sự cứu rỗi của Ngài. Ngày nay, nếu chúng ta gọi Ngôi Hai Thiên Chúa là “Đức Chúa Jesus” thì chúng ta cần ghi nhớ, chúng ta phải hoàn toàn vâng phục Ngài, như nô lệ vâng phục chủ, người dân trong một vương quốc vâng phục vua. Ngài chính là chủ của chúng ta vì Ngài đã dùng chính sự vinh quang và máu của Ngài để chuộc chúng ta về. Ngài chính là vua của chúng ta vì Ngài là Đấng Tạo Hóa, và là Vua trên muôn vua, Chúa trên muôn chúa. Nếu chúng ta gọi Ngài là “Chúa” mà chúng ta không vâng phục Ngài, thì chúng ta là những kẻ dối trá, giả hình, và Ngài biết rõ điều đó. Gần hai ngàn năm trước Ngài đã phán: “Sao các ngươi gọi Ta: Chúa, Chúa, mà không làm theo lời Ta phán” (Lu-ca 6:46)?
·         Christ: trong nghĩa đen là “người được xức dầu;” nghĩa bóng là “người được Thiên Chúa giao cho một chức vụ, kèm theo thẩm quyền, năng lực, và ân tứ để thi hành chức vụ ấy.” Đức Chúa Jesus được gọi là “Christ” (Mat-thi-ơ 1:16) vì Ngài được Đức Chúa Cha giao cho các chức vụ như sau: (1) Tiên tri: để giải bày về Đức Chúa Cha cùng thánh ý của Cha cho toàn thể nhân loại. (2) Thầy tế lễ: để dâng của lễ chuộc tội cho toàn thể nhân loại và cầu thay cho con dân Thiên Chúa. (3) Vua: để cai trị con dân Thiên Chúa trong mọi thời đại. Hiện nay, Đức Chúa Jesus Christ đang cai trị trong tấm lòng, trong đời sống của con dân Chúa; sắp tới, Ngài sẽ cai trị Vương Quốc Ngàn Năm trên đất; và cuối cùng, Ngài sẽ cai trị Vương Quốc Đời Đời trong trời mới đất mới.
·         Jesus Christ:Khi danh xưng Christ được đặt đàng sau tên gọi Jesus, thì Thánh Kinh muốn nhấn mạnh đến chính mình Ngài trong chức vụ Đức Chúa Cha đã ban cho Ngài.
·         Christ Jesus: Khi danh xưng Christ được đặt đàng trước tên gọi Jesus, thì Thánh Kinh muốn nhấn mạnh đến thành quả trong các chức vụ của Ngài. Những câu Thánh Kinh dùng cách gọi “Christ Jesus” là: Công 18:4; Rô-ma 3:24; 8:1, 2, 39; 15:5; 16:3; I Cô. 1:2, 30; 4:15; 15:31; 16:24; II cô. 4:5; Ga. 2:4; 3:26; 28; 4:14; 6:15; Ê-phê 1:1; 2:6, 13; 3:11, 21; Phi. 1:1; 2:5; 3:3, 8, 12, 14; 4:7, 19, 21; Cô. 1:4, 28; 2:6; I Tê. 2:14; 5:18; I Ti. 1:12, 14, 15; 2:5; 3:13; 6:13; II Ti. 1:1, 2, 9, 13; 2:1, 10; 3:12; 15; Phi-lê-môn 1:23; Hê. 3:1; I Phi 5:10, 14.
Câu Thánh Kinh điển hình cho cách dùng các danh xưng: “Jesus Christ,” “Christ Jesus,” và “Chúa”  là I Cô-rinh-tô 1:2.
“Gởi cho Hội Thánh Đức Chúa Trời tại thành Cô-rinh-tô, tức là cho những người đã được nên thánh trong Đấng Christ Jesus, được gọi làm thánh đồ, lại cho mọi người bất luận nơi nào, cầu khẩn danh Đức Jesus Christ của chúng ta, là Chúa của những người ấy và của chúng ta.”
Trong câu này chúng ta nhận thấy: (1) Hội Thánh của Chúa được nên thánh bởi việc làm của Ngài nên Thánh Kinh chép là: “được nên thánh trong Đấng Christ Jesus.(2) Danh “Jesus Christ” chỉ về Đấng Con Trời nhập thế làm người mang các chức vụ liên quan đến sự cứu rỗi nhân loại, là danh mà mọi người ở bất luận nơi nào cũng nên cầu khẩn. (3) Danh xưng “Chúa” nói đến quyền cai trị của Đức Jesus Christ trên những ai tin nhận Ngài.
Trong thời Cựu Ước, những tiên tri, những thầy tế lễ, và những vua của dân I-sơ-ra-ên thường trải qua nghi thức xức dầu trước khi thi hành chức vụ. Dầu tức là dầu được ép từ trái ô-li-ve, đựng trong một cái bình làm bằng sừng. Từ trong sừng đó, dầu được một tiên tri của Chúa đổ ra trên đầu và chảy tràn xuống thân thể của người được xức dầu. Sừng tiêu biểu cho Đức Thánh Linh, là sức mạnh và thẩm quyền của Thiên Chúa. Dầu tiêu biểu cho Thánh Linh của Thiên Chúa, bao gồm mọi năng lực và ân tứ được ban cho bởi Đức Thánh Linh. Sự tuôn tràn tiêu biểu cho sự dư dật.
Trong thời Tân Ước, chính Đức Chúa Cha xức dầu cho Đức Chúa Jesus để Ngài trở thành Đấng Christ (Giăng 3:34). Chính Đức Chúa Jesus Christ xức dầu cho chúng ta, còn gọi là báp-tem bằng Thánh Linh để chúng ta trở thành những Cơ-đốc nhân (Christians), tức là những người được chính ngài ban cho các chức vụ: (1) Tiên Tri: để rao giảng Tin lành cho muôn dân (Ma-thi-ơ 28:19, 20).(2) Thầy tế lễ: để dâng của tế lễ thiêng liêng lên Đức Chúa Trời (I Phi 2:5) và cầu thay cho mọi người (I Ti. 2:1-4). (3) Vua: để cùng cai trị với Đức Chúa Jesus Christ (II Ti. 2:12).
“Và anh em cũng như đá sống, được xây nên nhà thiêng liêng, làm chức tế lễ thánh, đặng dâng của tế lễ thiêng liêng, nhờ Đức Chúa Jesus Christ mà đẹp ý Đức Chúa Trời.” (I Phi-e-rơ 2:5)
“Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em.”(Rô-ma 12:1)
“Vậy, hãy cậy Đức Chúa Jesus mà hằng dâng tế lễ bằng lời tôn vinh cho Đức Chúa Trời, nghĩa là bông trái của môi miếng xưng danh Ngài ra. Chớ quên việc lành và lòng bố thí, và sự tế lễ dường ấy đẹp lòng Đức Chúa Trời.”(Hê-bơ-rơ 13:15, 16)
“Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhơn đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn. Ấy là một sự lành và đẹp mắt Thiên Chúa là Đấng Giải Cứu chúng ta, Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật.”(I Ti-mô-thê 2:1-4)
“Lại nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì sẽ cùng Ngài đồng trị; nếu chúng ta chối Ngài, thì Ngài cũng sẽ chối chúng ta.” (II Ti-mô-thê 2:12)
Nói tóm lại: Bốn sách Tin Lành giới thiệu và trình bày Con Người Jesus, gọi là Christ, chính là Con Thiên Chúa nhập thế làm người để đem sự cứu rỗi của Thiên Chúa đến cho toàn thể nhân loại. Các thư tín diễn giải ý nghĩa và thành quả các việc làm của Đấng Christ; và mỗi khi muốn nhấn mạnh đến phương diện thành quả hoặc tác động của việc làm của Ngài thì Thánh Kinh đặt chức vụ Christ trước tên gọi Jesus.
Huỳnh Christian Timothy
11.02.2012

Share This:

4,600 views

Hình Tượng và Thần Tượng

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào đây để download bài viết này

Bấm vào đây để nghe và download audio bài giảng này

Ghi Chú: Bấm vào các từ ngữ Hê-bơ-rơ hoặc Hy-lạp để nghe phát âm. Bấm vào các mã số Strong để xem định nghĩa trong tiếng Anh.

Định Nghĩa Hình Tượng và Thần Tượng

Hình tượng khác với thần tượng, dù chúng có liên quan với nhau.

Hình tượng là hình ảnh của một người, một vật, một thần linh được chạm trổ, điêu khắc hoặc đúc, nắn nên.

Thần tượng bao gồm: (1) những hình tượng được tôn thờ như những đấng thần linh có quyền ban phước, giáng họa; (2) tất cả những gì không phải là Thiên Chúa nhưng được tôn kính như Thiên Chúa, từ thiên sứ, ma quỷ, người, vật, cho đến sự ham muốn, chủ nghĩa, lý tưởng, ý thức hệ…

Thánh Kinh Cấm Loài Người Chạm Tượng Hoặc Đúc Tượng

Thánh Kinh cấm loài người làm tượng để sánh với Thiên Chúa:

“Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Ngươi hãy nói cho dân I-sơ-ra-ên như vầy: Các ngươi đã thấy Ta từ trên trời phán xuống cùng; vậy, chớ đúc tượng thần bằng bạc hay bằng vàng mà sánh với Ta.”(Xuất Ê-díp-tô Ký 20:22-23)

Thánh Kinh cũng cấm loài người làm tượng chạm (pesel H6459) và tượng đúc (massêkâh H4541) “những vật ở trên trời cao kia hoặc nơi đất thấp này hoặc trong nước dưới đất,” bao gồm các loài sau đây:

  • tà thần (ngoại trừ Thiên Chúa, là tất cả những thần linh có thật hoặc tưởng tượng, các anh hùng dân tộc được phong thần, các tổ phụ lập quốc, tổ tiên trong gia đình hoặc bất cứ người chết nào được tôn thờ để cầu phước)
  • người nam hoặc người nữ
  • thú vật đi trên đất hoặc có cánh bay trên trời
  • côn trùng bò trên đất hoặc cá ở trong nước dưới đất

“Ngươi chớ làm tượng chạmcho mình, cũng chớ làm tượng nào giống những vật trên trời cao kia, hoặc nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:4; Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:8)

“Vậy, các ngươi hãy cẩn thận giữ lấy linh hồn mình cho lắm, vì các ngươi không có thấy một hình trạng nào trong ngày Giê-hô-va Thiên Chúa các ngươi, từ nơi giữa lửa phán cùng các ngươi, tại Hô-rếp; e các ngươi phải làm hư hoại cho mình chăng, và làm một tượng chạm nào, tạo hình trạng của tà thần nào, hoặc hình của người nam hay người nữ, hoặc hình của con thú nào đi trên đất, hoặc hình của vật nào có cánh bay trên trời, hoặc hình của loài côn trùng nào bò trên đất, hay là hình của con cá nào ở trong nước dưới đất.”(Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:15-18)

Thánh Kinh rủa sả những kẻ chạm hoặc đúc tượng:

“Đáng rủa sả thay người nào làm tượng chạm hay là tượng đúc, là vật gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va, công việc bởi tay người thợ, dựng nó lên trong nơi kín nhiệm!…”(Phục Truyền Luật Lệ Ký 27:15)

Từ ngữ “nơi kín nhiệm” trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ có các nghĩa sau đây: (a) nơi kín đáo, (b) nơi được che chở, bảo vệ, (c) nơi riêng tư.

Trong lời Thánh Kinh trên đây, chúng ta nhận thấy Thiên Chúa không nói Ngài cấm chúng ta chạm tượng hay đúc tượng để thờ phượng, mà nói Ngài cấm chúng ta chạm tượng hay đúc tượng vì chúng là vật gớm ghiếc đối với Ngài. Tại sao những tượng chạm và tượng đúc của “tà thần, người nam, người nữ, con thú đi trên đất, con vật có cánh bay trên trời, côn trùng bò trên đất, và con cá ở trong nước dưới đất” là gớm ghiếc cho Thiên Chúa? Có lẽ, vì Ngài biết chắc rằng, một khi những tượng đó được tạo ra thì chúng sẽ trở thành thần tượng, tức là những vật được loài người tôn kính, thờ phượng, và cầu xin.

Thánh Kinh Cấm Loài Người Thờ Phượng Hình Tượng

“Ngươi chớ quỳ lạy trước các hình tượng đó…” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:5; Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:9)

Trong số những hình tượng do loài người làm ra, có nhiều hình tượng được người ta tôn kính, thờ phượng. Khi một hình tượng được tôn kính, thờ phượng thì chúng biến thành thần tượng, tức là hình tượng được tôn làm thần linh. Ma quỷ có thể lợi dụng sự thờ phượng hình tượng và sự mê tín, dị đoan để làm ra một số dấu kỳ, phép lạ, dẫn dụ loài người càng đi sâu vào trong chỗ tối tăm, hư mất.

Thánh Kinh khẳng định thần tượng và ma quỷ có liên quan đến nhau. Của cúng thần tượng là cúng tế các quỷ:

“Nói vậy có ý chi? Của cúng thần tượng có giá trị gì và thần tượng có ra gì chăng? Chắc là không; nhưng đồ người ngoại đạo cúng tế là cúng tế các quỷ, chớ không phải cúng tế Thiên Chúa. Vậy, tôi không muốn anh em thông đồng với các quỷ.”(I Cô-rinh-tô 10:19-20)

Vì thế, thờ phượng hình tượng là biến hình tượng thành thần tượng, và thờ phượng thần tượng tức là thờ phượng ma quỷ, bất kể hình tượng đó được gọi bằng danh hiệu nào. Hành động thờ phượng hình tượng bao gồm việc tôn kính, quỳ lạy, cầu xin, đốt hương, dâng hoa quả và các thứ lễ vật cúng tế khác.

Từ thế kỷ thứ tư cho đến nay, biết bao nhiêu người mang danh là con dân Chúa nhưng sinh hoạt trong các giáo hội: Công Giáo, Chính Thống, Anh Giáo, và một số giáo phái Lutheran, đã thờ phượng những hình tượng mang danh “Đức Mẹ Maria,” “Đức Chúa Jesus” hoặc tên của các vì “thánh” khi họ sấp mình cầu nguyện với các hình tượng đó.

Thánh Kinh Cấm Loài Người Hầu Việc Hình Tượng

“…và cũng đừng hầu việc chúng nó…” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:5; Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:9)

Có những người không làm ra và không thờ phượng hình tượng nhưng dự phần trong sự hầu việc hình tượng. Tất cả những hoạt động nào nhằm chăm sóc, bảo vệ, tu bổ, vận chuyển, an vị (đặt hình tượng vào một chỗ nào đó), trang sức, quảng bá, mua bán hình tượng đều là hầu việc hình tượng.

Ghi Nhớ

Chúng ta cần ghi nhớ:

(1) Lý do duy nhất được Thánh Kinh nêu ra trong lệnh cấm chạm tượng và đúc tượng không phải vì chúng ta dựng tượng để thờ, mà vì chúng là vật gớm ghiếc đối với Thiên Chúa. “Đáng rủa sả thay người nào làm tượng chạm hay là tượng đúc, là vật gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va…” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 27:15)

(2) Điều răn thứ hai trong Mười Điều Răn bao gồm:

  • Không được làm hình tượng
  • Không được thờ phượng hình tượng
  • Không được hầu việc hình tượng

Nhiều người cho rằng Thiên Chúa chỉ cấm làm tượng để thờ, chứ Ngài không cấm làm tượng để chơi hoặc để trang trí. Tuy nhiên, Lời Chúa khẳng định Ngài cấm ba điều: cấm làm hình tượng, cấm thờ hình tượng, và cấm hầu việc hình tượng. Nếu như có một đạo luật được ban hành với nội dung như sau: “Mọi công dân chớ trồng thuốc phiện, chớ hút thuốc phiện, và cũng đừng mua bán thuốc phiện, vì thuốc phiện có hại cho sức khỏe;” thì có thể nào các công dân lý luận rằng: “Chính phủ chỉ cấm trồng thuốc phiện để hút hoặc mua bán chứ không cấm trồng thuốc phiện để làm kiểng?

(3) Thiên Chúa cấm loài người làm hình tượng để sánh với Ngài, vì thế chúng ta không được làm bất cứ một hình tượng nào gọi là hình tượng của Chúa. “…chớ đúc tượng thần bằng bạc hay bằng vàng mà sánh với Ta” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:23).

(4) Thiên Chúa cấm loài người chạm và đúc hình tượng của: ”     tà thần, người nam hoặc người nữ, thú vật đi trên đất hoặc có cánh bay trên trời, côn trùng bò trên đất hoặc cá ở trong nước dưới đất” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:15-18).

(5) Hầu việc hình tượng dưới bất cứ hình thức nào cũng đều là vi phạm điều răn của Thiên Chúa, là có tội.

(6) Nhiều gia đình tín đồ và trong những nơi gọi là “nhà thờ” treo các loại tranh ảnh gọi là “hình Chúa.” Đó cũng là một hình thức thờ hình tượng, vì đã đem những tranh ảnh được tạo ra bởi sự tưởng tượng của người vẽ, sánh với Chúa, gọi nó là “Chúa” và tôn kính nó, đặt nó vào những nơi trang trọng, thậm chí có người còn cầu nguyện với các tranh ảnh đó.

Áp Dụng Lời Chúa Dạy về Hình Tượng và Thần Tượng Trong Nếp Sống Đạo

(1) Nhân danh Đức Chúa Jesus Christ, đem tất cả các tượng chạm và tượng đúc mang hình dáng của “tà thần, người nam hoặc người nữ, thú vật đi trên đất hoặc có cánh bay trên trời, côn trùng bò trên đất hoặc cá ở trong nước dưới đất”kể cả các hình tượng được gọi là “tượng Chúa” ra khỏi nhà cửa, cơ sở làm ăn, và mọi sản nghiệp của chúng ta. Nhân danh Đức Chúa Jesus Christ, đập vỡ chúng nó và ném vào thùng rác.

(2) Nhân danh Đức Chúa Jesus Christ, đem tất cả những tranh ảnh gọi là “hình Chúa” ra khỏi nhà cửa, cơ sở làm ăn, và mọi sản nghiệp của chúng ta. Nhân danh Đức Chúa Jesus Christ, xé, đập vỡ chúng nó, và ném vào thùng rác.

(3) Không mua bán, lưu trử, trao tặng các loại hình tượng và tranh ảnh nói trên.

(4) Không chụp hình, quay phim trước các loại hình tượng và tranh ảnh nói trên dù là nơi công viên, khu giải trí hay đài kỷ niệm.

(5) Không thăm viếng những danh lam thắng cảnh có các đền, đình, chùa, miếu, am, điện… dùng làm nơi thờ phượng các tà thần.

(6) Không tham dự các lễ cúng giổ người chết. Không ăn uống các thức ăn đã dâng cúng cho người chết hoặc tà thần.

(7) Không mua sắm, ăn uống, vui chơi trong những nơi có bàn thờ tà thần, tiêu biểu là các am, bệ, khám hay trang thờ thần tài, ông địa, Phật Di-lạc, Phật Quan Âm, Bà Maria…

Nguyện Đức Thánh Linh là Thần Lẽ Thật dắt chúng ta là con dân Chúa vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa và thánh hóa chúng ta bằng chính Lời Chúa.

Huỳnh Christian Timothy
15.12.2011

 

Share This: