3,832 views

Lịch Sử Giữ Ngày Sa-bát của Hội Thánh

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy
Nhấp vào đây để download bài viết này

Dẫn Nhập

Vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và có đức tin trong Đức Chúa Jesus Christ là đặc tính cơ bản ắt phải có của con dân Chúa trong thời Hội Thánh lẫn trong thời đại nạn. Thánh Kinh xác nhận rõ đặc tính đó:

"Chịu cắt bì chẳng hề gì, không chịu cắt bì cũng chẳng hề gì; sự quan hệ là giữ các điều răn của Đức Chúa Trời" (I Cô-rinh-tô 7:19).

"Vả, sự yêu thương là tại làm theo các điều răn của Đức Chúa Trời. Đó là điều răn mà các ngươi đã nghe từ lúc ban đầu, đặng làm theo" (II Giăng 1:6).

"Con rồng giận người đờn bà bèn đi tranh chiến cùng con cái khác của người, là những kẻ vẫn giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và lời chứng của Đức Chúa Jesus" (Khải Huyền 12:17).

"Đây tỏ ra sự nhịn nhục của các thánh đồ: chúng giữ điều răn của Đức Chúa Trời và giữ lòng tin Đức Chúa Jesus" (Khải Huyền 14:12).

Nói cách khác, nếu ai xưng nhận mình là thánh đồ của Đấng Christ, xưng nhận mình nhận biết và hết lòng yêu mến Đức Chúa Trời, mà không vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời như Đấng Christ đã vâng giữ thì người ấy tự dối mình và nói dối với Đức Chúa Trời. Thánh Kinh khẳng định:

"Nầy tại sao chúng ta biết mình đã biết Ngài, ấy là tại chúng ta giữ các điều răn của Ngài. Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ các điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người. Nhưng ai giữ lời phán Ngài, thì lòng kính mến Đức Chúa Trời thật là trọn vẹn trong người ấy. Bởi đó, chúng ta biết mình ở trong Ngài. Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm" (I Giăng 2:3-6).

Các điều răn của Đức Chúa Trời tức là Mười Điều Răn được ghi lại trong Xuất Ê-díp-tô Ký 20:1-17 và Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:6-21. Thánh đồ của Đấng Christ là những tội nhân "nhờ ân điển, bởi đức tin" mà được cứu ra khỏi quyền lực và hậu quả đời đời của tội lỗi, họ không còn ở dưới sự đoán phạt của luật pháp Đức Chúa Trời, nhưng họ được ban cho Thánh Linh của Ngài để yêu mến và sống thánh khiết không vi phạm điều răn của Ngài. Người còn ưa thích tội lỗi, vẫn sống trong tội lỗi, không thật lòng ăn năn, từ bỏ tội, mà nói rằng mình tin Chúa thì chỉ là người nói dối.

Ngày nay, nhiều con dân Chúa bị ảnh hưởng từ những sự dạy dỗ truyền thống của các giáo hội đã bỏ qua sự vâng giữ điều răn thứ tư trong Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời: "Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh…" Có hai quan điểm thần học liên quan đến việc KHÔNG vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời. Quan điểm thứ nhất cho rằng Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời không áp dụng cho Hội Thánh. Quan điểm thứ nhì cho rằng chỉ có chín trong Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời áp dụng cho Hội Thánh, ngoại trừ điều răn thứ tư. Cả hai quan điểm thần học này đều nghịch lại lẽ thật của Lời Chúa như đã trích dẫn trên đây. Quan điểm thứ nhất cho rằng Hội Thánh sống trong ân điển chứ không sống dưới luật pháp như dân Israel cho nên không cần vâng giữ các điều răn và luật pháp thời Cựu Ước. Tuy nhiên, Lời của Chúa trong Tân Ước khẳng định rằng khi Cơ-đốc nhân phạm vào các tiêu chuẩn yêu thương, thánh khiết, và công bình của Chúa thì liền bị luật pháp định tội:

"Nhưng nếu anh em tây vị người ta, thì phạm tội, luật pháp bèn định tội anh em như kẻ phạm phép" (Gia-cơ 2:9).

Chính Sứ Đồ Phao-lô tuyên bố Hội Thánh không được bỏ mà phải vâng theo, phải làm cho vững bền luật pháp của Đức Chúa Trời:

"Vậy, chúng ta nhơn đức tin mà bỏ luật pháp hay sao? Chẳng hề như vậy! Trái lại, chúng ta làm vững bền luật pháp" (Rô-ma 3:31).

Không riêng Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời mà kể cả luật pháp được ban hành trước khi có dân Israel như luật chồng cai trị vợ, đàn bà vâng phục đàn ông, Hội Thánh cũng phải vâng theo. So sánh hai câu Thánh Kinh sau đây:

"Đàn bà phải nín lặng trong đám hội của anh em: họ không có phép nói tại nơi đó, nhưng phải phục tùng cũng như luật pháp dạy" (I Cô-rinh-tô 14:34).

"Ngài phán cùng người nữ rằng: Ta sẽ thêm điều cực khổ bội phần trong cơn thai nghén; ngươi sẽ chịu đau đớn mỗi khi sanh con; sự dục vọng ngươi phải xu hướng về chồng, và chồng sẽ cai trị ngươi" (Sáng Thế Ký 3:16).

Riêng đối với quan điểm thứ nhì, cho rằng Hội Thánh không cần vâng giữ điều răn thứ tư, thì Lời Chúa đã dạy rõ:

"Vì người nào giữ trọn luật pháp, mà phạm một điều răn, thì cũng đáng tội như đã phạm hết thảy" (Gia-cơ 2:10).

Từ ngàn xưa, những người Pha-ri-si tự biệt riêng mình ra để sống cho Chúa và hầu việc Chúa nhưng thật ra họ đã vâng giữ theo lời truyền khẩu của loài người mà bỏ qua các điều răn của Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 15:3; Mác 7:8-9); khiến cho danh từ Pha-ri-si trở nên đồng nghĩa với danh từ giả hình. Nguyện rằng Đức Thánh Linh soi dẫn cho các anh chị em đọc bài viết này sẽ thấy được lẽ thật của Lời Chúa để sống đúng theo bản chất chân thật của một Cơ-đốc nhân: vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và có đức tin trong Đức Chúa Jesus Christ. A-men!

Lịch Sử Giữ Ngày Sa-bát Của Hội Thánh

Đức Chúa Trời Thiết Lập Ngày Sa-bát

"Ấy vậy, trời đất và muôn vật đã dựng nên xong rồi. Ngày thứ bảy, Đức Chúa Trời làm xong các công việc Ngài đã làm, và ngày thứ bảy, Ngài nghỉ các công việc Ngài đã làm. Rồi, Ngài ban phước cho ngày thứ bảy, đặt là ngày thánh; vì trong ngày đó, Ngài nghỉ các công việc đã dựng nên và đã làm xong rồi" (Sáng Thế Ký 2:1-3).

Điều Răn Giữ Ngày Sa-bát

"Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh. Ngươi hãy làm hết công việc mình trong sáu ngày; nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi: trong ngày đó, ngươi, con trai, con gái tôi trai tớ gái, súc vật của ngươi, hoặc khách ngoại bang ở trong nhà ngươi, đều chớ làm công việc chi hết; vì trong sáu ngày Đức Giê-hô-va đã dựng nên trời, đất, biển, và muôn vật ở trong đó, qua ngày thứ bảy thì Ngài nghỉ: vậy nên Đức Giê-hô-va đã ban phước cho ngày nghỉ và làm nên ngày thánh" (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8-11).

"Hãy giữ ngày nghỉ đặng làm nên thánh, y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã phán dặn ngươi. Ngươi hãy làm hết công việc mình trong sáu ngày; nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi: chớ làm một công việc nào hết, hoặc ngươi, con trai con gái, tôi trai tớ gái của ngươi, hoặc bò, lừa, hoặc một trong các súc vật của ngươi, hay là khách ở trong nhà ngươi, hầu cho tôi trai và tớ gái ngươi cũng được nghỉ như ngươi" (Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:12-14).

Hội Thánh Vâng Giữ Ngày Sa-bát từ Thế Kỷ Thứ Nhất đến Thế Kỷ Thứ Tư

"Hãy cầu nguyện cho các ngươi khỏi trốn tránh nhằm lúc mùa đông hay là ngày Sa-bát; vì lúc ấy sẽ có hoạn nạn lớn, đến nỗi từ khi mới có trời đất cho đến bây giờ chưa từng có như vậy, mà sau nầy cũng không hề có nữa." (Ma-thi-ơ 24:20-21).

Xin chú ý:Đây là lời tiên tri của Đức Chúa Jesus dành cho dân Israel sống trong thời đại nạn, là lúc mà "sẽ có hoạn nạn lớn, đến nỗi từ khi mới có trời đất cho đến bây giờ chưa từng có như vậy, mà sau nầy cũng không hề có nữa;" cho nên, chính Đức Chúa Jesus, qua câu phán của Ngài, đã khẳng định sự vâng giữ ngày Sa-bát vẫn còn cho đến thời đại nạn và ngày Sa-bát mà dân Do-thái vâng giữ cho đến ngày Đức Chúa Trời phán xét thế gian không hề sai trật với ngày Sa-bát Đức Chúa Trời đã thiết lập từ khi sáng thế (nhằm ngày thứ bảy dương lịch ngày nay).

·         Đức Chúa Jesus có thói quen nhóm họp tại nhà hội vào ngày Sa-bát: "Đức Chúa Jêsus đến thành Na-xa-rét, là nơi dưỡng dục Ngài. Theo thói quen, nhằm ngày Sa-bát, Ngài vào nhà hội, đứng dậy và đọc" (Lu-ca 4:16).

·         Những nữ môn đồ của Chúa giữ ngày Sa-bát: "Ngày Sa-bát, họ nghỉ ngơi theo luật lệ" (Lu-ca 24:56).

·         Phao-lô cùng Ba-na-ba giữ ngày Sa-bát và giảng đạo trong ngày Sa-bát tại thành An-ti-ốt: "Về phần hai người, thì lìa thành Bẹt-giê, cứ đi đường đến thành An-ti-ốt xứ Bi-si-đi; rồi nhằm ngày Sa-bát, vào trong nhà hội mà ngồi" (Công Vụ Các Sứ Đồ 13:14). "Khi hai người bước ra, chúng xin đến ngày Sa-bát sau cũng giảng luận các lời đó" (Công Vụ Các Sứ Đồ 13:42). "Ngày Sa-bát sau, gần hết cả thành đều nhóm lại để nghe đạo Chúa" (Công Vụ Các Sứ Đồ 13:44).

·         Phao-lô và Ti-mô-thê giữ ngày Sa-bát tại thành Phi-líp. Có lẽ, tại thành Phi-líp lúc bấy giờ không có nhà hội cho nên người ta đã nhóm họp nơi bờ sông, ngoài cửa thành, trong ngày Sa-bát: "Đến ngày Sa-bát, chúng ta ra ngoài cửa thành, đến gần bên sông, là nơi chúng ta tưởng rằng người ta nhóm lại đặng cầu nguyện; chúng ta ngồi xong, giảng cho những đàn bà đã nhóm lại" (Công Vụ Các Sứ Đồ 16:13).

·         Phao-lô theo thói quen nhóm họp tại nhà hội vào ngày Sa-bát tại thành Tê-sa-lô-ni-ca: "Phao-lô tới nhà hội theo thói quen mình, và trong ba ngày Sa-bát bàn luận với họ" (Công Vụ Các Sứ Đồ 17:2).

·         Thành Cô-rinh-tô là một thành dân ngoại mà Phao-lô được Đức Thánh Linh sai đến để truyền giáo cho dân ngoại. Nếu Hội Thánh ban đầu nhóm họp vào ngày thứ nhất (tức chủ nhật) chứ không nhóm họp vào ngày Sa-bát thì tại sao Phao-lô lại chờ đến ngày Sa-bát mới rao giảng? Phao-lô đã rao giảng và gây dựng Hội Thánh Chúa tại Cô-rinh-tô vào mỗi ngày Sa-bát trong suốt mười tám tháng. Ngày thường ông may trại chung với A-qui-la và Bê-rít-sin để kiếm sống, ngày Sa-bát ông nghỉ làm việc và rao giảng, dạy dỗ cả người Do-thái lẫn người Hy-lạp: "Rồi đó, Phao-lô đi khỏi thành A-thên, mà tới thành Cô-rinh-tô. Tại đó, người gặp một người Giu-đa, tên là A-qui-la, quê ở xứ Bông, mới từ nước Y-ta-li đến đây với vợ mình là Bê-rít-sin, bởi vì vua Cơ-lốt có chỉ truyền mọi người Giu-đa phải lánh khỏi thành Rô-ma; Phao-lô bèn hiệp với hai người. Vì đồng nghề, nên Phao-lô ở nhà hai người mà làm việc chung nhau; vả, nghề các người đó là may trại. Hễ đến ngày Sa-bát, thì Phao-lô giảng luận trong nhà hội, khuyên dỗ người Giu-đa và người Gờ-réc… Phao-lô ở lại đó một năm sáu tháng, dạy đạo Đức Chúa Trời trong đám họ" (Công Vụ Các Sứ Đồ 18:1-4, 11).

·         Dựa vào những câu Thánh Kinh sau đây, chúng ta biết từ ngữ "ngày của Chúa" được dùng trong Khải Huyền 1:10 "Nhằm ngày của Chúa, tôi được Đức Thánh Linh cảm hóa, nghe đằng sau có tiếng kêu vang, như tiếng loa;" chính là ngày Sa-bát. Đức Chúa Jesus Christ đã ban mạc khải về những ngày cuối cùng của thế gian và cảnh trời mới đất mới cho Sứ Đồ Giăng trong một ngày Sa-bát:"Nếu ngươi ngừa giữ chơn mình trong ngày Sa-bát, không làm vừa ý mình trong ngày thánh của Ta; nếu ngươi xưng ngày Sa-bát là ngày vui thích, coi người thánh của Đức Giê-hô-va là đáng kính; nếu ngươi tôn trọng ngày đó, không đi đường riêng mình, không theo ý riêng mình, và không nói lời riêng mình, bấy giờ ngươi sẽ lấy Đức Giê-hô-va làm vui thích, Ta sẽ làm cho ngươi cỡi lên các nơi cao trên đất, và lấy sản nghiệp của Gia-cốp, tổ phụ ngươi, mà nuôi ngươi; vì miệng Đức Giê-hô-va đã phán vậy" (Ê-sai 58:13-14). "Vì Con người là Chúa ngày Sa-bát" (Ma-thi-ơ 12:8; Mác 2:28; Lu-ca 6:5). Xem thêm những câu Thánh Kinh có từ ngữ "ngày Sa-bát Ta:" Xuất Ê-díp-tô Ký 31:13; Lê-vi Ký 19:3; Ê-sai 56:4; Ê-xê-chi-ên 20:13,16; 20:20-21,24; 22:8,26; 23:38; 44:24.

Dưới đây là lời các sử gia ghi chép về sự giữ ngày Sa-bát của con dân Chúa từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ tư:

·         "Những Cơ-đốc nhân thời ban đầu có sự tôn kính lớn dành cho ngày Sa-bát. Họ dành cả ngày cho sự thờ phượng và nghe giảng. Điều không thể nghi ngờ là họ học được sự thực hành này từ chính các sứ đồ như nhiều câu Thánh Kinh đã cho thấy."(Nguyên văn: "The primitive Christians had a great veneration for the Sabbath, and spent the day in devotion and sermons. And it is not to be doubted but they derived this practice from the Apostles themselves, as appears by several scriptures to the purpose."  Trích từ: Dr. T.H. Morer – A Church of England divine. "Dialogues on the Lord's Day." London, 1701, trang 189).

·         "Những Cơ-đốc nhân người ngoại cũng giữ ngày Sa-bát." (Nguyên văn: "The Gentile Christians observed also the Sabbath" Trích từ: Gieseler's "Church History," Vol.1, ch. 2, par. 30, 93).

·         "Những Cơ-đốc nhân thuở ban đầu đã vâng giữ ngày Sa-bát của người Do-thái… vì thế, các Cơ-đốc nhân, trong suốt một thời gian dài, đã cùng nhau giữ các buổi nhóm họp của họ trong ngày Sa-bát; trong đó, một phần của luật pháp được đọc: và sự kiện này cứ tiếp tục cho đến Công Đồng Lao-đi-xê [1]." (Nguyên văn: "The primitive Christians did keep the Sabbath of the Jews… therefore the Christians, for a long time together, did keep their conventions upon the Sabbath, in which some portions of the law were read: and this continued till the time of the Laodicean council." Trích từ: Jeremy Taylor, "The Whole Works of Jeremy Taylor." Vol. IX, trang 416).

·         "Từ thời các sứ đồ cho đến khi Công Đồng Lao-đi-xê được tổ chức vào khoảng năm 364, sự vâng giữ thánh ngày Sa-bát của người Do-thái vẫn được tiếp tục, như nhiều tác giả đã chứng minh, vâng, mặc cho quy định cấm đoán của công đồng." (Nguyên văn:"From the apostles' time until the council of Laodicea, which was about the year 364, the holy observance of the Jews' Sabbath continued, as may be proved out of many authors: yea, notwithstanding the decree of the council against it." Trích từ: John Ley. "Sunday a Sabbath." London, 1640, trang 163).

Công Đồng Lao-đi-xê do Giáo Hội Công Giáo tổ chức vào năm 364, trong đó có điều khoản thứ (29) quy định việc giữ ngày Sa-bát là bất hợp pháp, thay vào đó, giáo hội buộc con dân Chúa phải thờ phượng Chúa vào chủ nhật và chủ nhật được giáo hội gọi là "Ngày của Chúa" [1]. Như vậy, Hội Thánh Chúa đã tự do giữ ngày Sa-bát cho đến khi bị Giáo Hội Công Giáo ra luật cấm vào năm 364; và cũng từ đó giáo hội dùng danh xưng "Ngày của Chúa" cho chủ nhật. Dầu vậy, theo Sử Gia Socrates Scholasticus thì phần lớn Hội Thánh Chúa khắp nơi vẫn trung tín giữ ngày Sa-bát cho đến thế kỷ thứ năm, ngoại trừ các Cơ-đốc nhân tại Alexandria và tại Rome, là những người đã vâng theo quy luật của giáo hội [2].

·         "Ngươi hãy giữ ngày Sa-bát vì cớ Đấng đã nghỉ công việc sáng tạo của Ngài nhưng không ngưng công việc quan phòng của Ngài: Đó là một sự nghỉ ngơi để suy ngẫm về luật pháp, không phải cho sự biếng nhác của đôi tay."Nguyên văn: "Thou shalt observe the Sabbath, on account of Him who ceased from His work of creation, but ceased not from His work of providence: it is a rest for meditation of the law, not for idleness of the hands." (Trích từ: "The Anti-Nicene Fathers," Vol 7, trang 413 –  "Constitutions of the Holy Apostles," được viết vào thế kỷ thứ ba và thứ tư).

·         "Đó là sự thực hành chung của các Hội Thánh Đông Phương và một số Hội Thánh Tây Phương… Đối với Hội Thánh tại Milan… Ngày thứ bảy rất được tôn kính… Không phải vì các Hội Thánh Đông Phương hay bất cứ Hội Thánh nào giữ ngày ấy có khuynh hướng nghiêng về Do-thái Giáo; nhưng họ đến với nhau trong ngày Sa-bát để thờ phượng Đức Chúa Jesus Christ, Chúa của ngày Sa-bát."(Nguyên văn:  "It was the practice generally of the Easterne Churches; and some churches of the west…For in the Church of Millaine (Milan);…it seems the Saturday was held in a farre esteeme… Not that the Easterne Churches, or any of the rest which observed that day, were inclined to Iudaisme (Judaism); but that they came together on the Sabbath day, to worship Iesus (Jesus) Christ the Lord of the Sabbath." Trích từ: Dr. Heylyn. "History of the Sabbath." London, 1636, giữ nguyên văn lối đánh vần cổ, part 2, par. 5, trang 73, 74).

·         "Các Cơ-đốc nhân thời cổ đã rất cẩn thận trong việc giữ ngày Sa-bát hay ngày thứ bảy… Rõ ràng rằng các Hội Thánh Đông Phương và phần lớn của thế giới đã giữ ngày Sa-bát như một lễ hội… Athanasius cho chúng ta biết rằng họ giữ các sự nhóm họp tôn giáo vào ngày Sa-bát không phải vì họ bị tiêm nhiễm Do-thái Giáo mà là để thờ phượng Đức Chúa Jesus, Chúa của ngày Sa-bát; Epiphanius cũng nói như vậy."(Nguyên văn: "The ancient Christians were very careful in the observance of Saturday, or the seventh day…It is plain that all the Oriental churches, and the greatest part of the world, observed the Sabbath as a festival…Athanasius likewise tells us that they held religious assembles on the Sabbath, not because they were infected with Judaism, but to worship Jesus, the Lord of the Sabbath, Epiphanius says the same." Trích từ: "Antiquities of the Christian Church." Vol.II Book XX, chap. 3, sec.1, 66. 1137,1138) [3].

·         "Trong nửa sau của thế kỷ đó, Thánh Ambrose xứ Milan chính thức tuyên bố rằng Giám Mục Museus của Abyssinian (Ê-thi-ô-bi)đã du hành gần như khắp nơi trong quốc gia của Seres (Trung Quốc). Trong suốt hơn 17 thế kỷ, Hội Thánh Abyssinian vẫn tiếp tục biệt riêng ngày Sa-bát làm ngày thánh theo điều răn thứ tư." (Nguyên văn: "In the last half of that century St. Ambrose of Milan stated officially that the Abyssinian bishop, Museus, had traveled almost everywhere in the country of the Seres' (China). For more than seventeen centuries the Abyssinian Church continued to sanctify Saturday as the holy day of the fourth commandment." Trích từ: Ambrose, DeMoribus, Brachmanorium Opera Ominia, 1132, found in Migne, Patrologia Latima, Vol.17, trang 1131,1132).

Hội Thánh Vâng Giữ Ngày Sa-bát Trong Thế Kỷ Thứ Năm

Dưới đây là lời các sử gia ghi chép về sự giữ ngày Sa-bát của con dân Chúa trong thế kỷ thứ năm:

·         "Vì mặc dầu hầu hết các Hội Thánh khắp thế giới đều cử hành thánh tích huyền nhiệm (Tiệc Thánh)vào ngày Sa-bát hàng tuần, nhưng các Cơ-đốc nhân tại Alexandria và Rome, theo tục lệ cổ truyền, đã từ chối làm theo." (Nguyên văn: "For although almost all churches throughout the world celebrated the sacred mysteries (the Lord's Supper) on the Sabbath of every week, yet the Christians of Allexandria and at Rome, on account of some ancient tradition, refuse to do this."  Phần ghi chú của câu văn trích dẫn giải thích ý nghĩa của từ ngữ "Sabbath" được dùng; chú thích rằng: "Có nghĩa là ngày thứ bảy. Nên nhớ, chủ nhật (Sunday) không bao giờ được gọi là ngày Sa-bát bởi các giáo phụ và các sử gia." Trích từ: Socrates Scholasticus. "Ecclestical History." Book 5, chap. 22, trang 289).

Nhóm chữ "theo tục lệ cổ truyền" trong câu văn ám chỉ tục lệ thờ thần mặt trời của ngoại giáo vào chủ nhật và gọi đó là "Ngày Mặt Trời (Sunday). Các Cơ-đốc nhân tại Alexandria, Ai-cập, và Rome đã vâng theo giáo luật của Giáo Hội Công Giáo, hủy bỏ sự giữ ngày Sa-bát mà chỉ nhóm họp thờ phượng Chúa vào chủ nhật.

·         "Sự thực đó là thói quen cũ của Phương Đông là giữ ngày Sa-bát làm Ngày của Chúa và tổ chức các sự nhóm họp thánh; trong khi đó, ngược lại, dân chúng Tây Phương trong khi tranh luận về Ngày của Chúa đã bỏ qua sự giữ ngày Sa-bát."(Nguyên Văn: "It is a fact that it was formerly the custom in the East to keep the Sabbath in the same manner as the Lord's day and to hold sacred assemblies: while on the other hand, the people of the West, contending for the Lord's day have neglected the celebration of the Sabbath." Trích từ: "Apollinaries Sidonli Epistolae," lib.1, 2; Migne, 57).

·         "Có nhiều thành phố và thôn xóm tại Ai-cập là những nơi, trái với thể thức đã được thiết lập nơi khác, dân chúng gặp nhau vào những buổi chiều Sa-bát, và, mặc dầu họ đã ăn tối trước đó, cùng dự phần trong Tiệc Thánh." (Nguyên văn: "There are several cities and villages in Egypt where, contrary to the usage established elsewhere, the people meet together on Sabbath evenings, and, although they have dined previously, partake of the mysteries." Trích từ: Salminius Hermias Sozomenus. "Ecclesiastical History." Book 7, ch. 119).

Hội Thánh Vâng Giữ Ngày Sa-bát Trong Thế Kỷ Thứ Sáu

Dưới đây là lời các sử gia ghi chép về sự giữ ngày Sa-bát của con dân Chúa trong thế kỷ thứ sáu tại Ái-nhĩ-lan và Scotland:

·         "Trong sự kiện sau này, họ dường như theo một phong tục mà chúng tôi tìm thấy có dấu tích từ các tu viện cổ thời của Hội Thánh tại Ái-nhĩ-lan, đó là, họ giữ ngày thứ bảy làm ngày Sa-bát, trong ngày đó họ nghỉ mọi sự lao động của họ."(Nguyên văn: "In this latter instance they seemed to have followed a custom of which we find traces in the early monastic church of Ireland by which they held Saturday to be the Sabbath on which they rested from all their labours." Trích từ: W.T. Skene. "Adamnan Llife of St. Columbs." 1874, trang 96).

·         "Chúng tôi thấy dường như nơi đây bóng dáng một phong tục được giữ từ các tu viện cổ thời của Hội Thánh tại Ái-nhĩ-lan, về việc giữ ngày nghỉ vào ngày thứ bảy hoặc ngày Sa-bát." (Nguyên văn: "We seem to see here an allusion to the custom, observed in the early monastic Church of Ireland, of keeping the day of rest on Saturday, or the Sabbath." Trích từ:Catholic Histsorian Bellesheim. "History of the Catholic Church in Scotland." Vol.1, trang 86).

Hội Thánh Vâng Giữ Ngày Sa-bát Trong Thế Kỷ Thứ Bảy

Dưới đây là lời các sử gia ghi chép về sự giữ ngày Sa-bát của con dân Chúa trong thế kỷ thứ bảy tại các quốc gia thuộc vùng tây bắc Âu Châu:

·         "Giáo Sư James C. Moffatt, giáo sư dạy môn Lịch Sử Hội Thánh tại Princeton, phát biểu: Dường như đó là phong tục trong các Hội Thánh Celtic từ thuở ban đầu, cũng như tại Ái-nhĩ-lan và Scotland, đó là giữ ngày thứ bảy, ngày Sa-bát của người Do-thái, làm ngày nghỉ lao động. Họ triệt để vâng theo điều răn thứ tư về ngày thứ bảy trong tuần." (Nguyên văn: "Professor James C. Moffatt, D.D., Professor of Church History at Princeton, says: It seems to have been customary in the Celtic churches of early times, in Ireland as well as Scotland, to keep Saturday, the Jewish Sabbath, as a day of rest from labour. They obeyed the fourth commandment literally upon the seventh day of week." Trích từ: "The Church in Scotland." Trang140).

·         "Những người Celts[4] dùng một bản dịch Thánh Kinh La-tin, khác với bản dịch La-tin Vulgate, và giữ ngày thứ bảy làm ngày nghỉ với các buổi nhóm tôn giáo vào chủ nhật." (Nguyên văn: "The Celts used a Latin Bible unlike the Vulgate (R.C.) and kept Saturday as a day of rest, with special religious services on Sunday." Trích từ: Flick. "The Rise of Mediaeval Church." Trang 237).

Hội Thánh Vâng Giữ Ngày Sa-bát  từ Thế Kỷ Thứ Tám đến Thế Kỷ Thứ Chín

Dưới đây là lời các sử gia ghi chép về sự giữ ngày Sa-bát của con dân Chúa từ thế kỷ thứ tám đến thế kỷ thứ chín tại Persia (Iran), Mesopotamia (Iraq), Bung-ga-ry, Ấn-độ, và Trung Hoa:

·         "Những ngọn đồi của Persia cùng những thung lũng của Tigris và Euphrates vang dội những bài ca tôn vinh của họ. Họ thu hoạch vụ mùa và dâng phần mười của mình. Họ kéo đến các nhà thờ của họ vào ngày Sa-bát  để thờ phượng Đức Chúa Trời."(Nguyên văn: "The hills of Persia and the valleys of the Tigris and Euphrates reechoed their songs of praise. They reaped their harvests and paid their tithes. They repaired to their churches on the Sabbath day for the worship of God." Trích từ: "Realencyclopaedie fur Protestatische and Krche." Art. "Nestorianer"; và Yule. "The Book of ser Marco Polo." Vol.2, trang409).

·         "Sự vâng giữ ngày thứ bảy Sa-bát được lan truyền và kiên trì giữa những tín đồ thuộc các Hội Thánh Phương Đông và các Cơ-đốc nhân thuộc Hội Thánh Thomas tại Ấn-độ, là những người không hề gắn bó với La-mã. Sự vâng giữ đó cũng được  bảo tồn giữa những nhóm đã tách khỏi La-mã sau Công Đồng Chalcedon, là các nhóm: Abyssinians, Jacobites, Maronites, và Armenians."Nguyên văn: "Widespread and enduring was the observance of the seventh-day Sabbath among the believers of the Church of the East and the St. Thomas Christians of India, who never were connected with Rome. It also was maintained among those bodies which broke off from Rome after the Council of Chalcedon namely, the Abyssinians, the Jacobites, the Maronites, and the Armenians." Trích từ: Schaff-Herzog. "The New Enclopadia of Religious Knowledge." Art. "Nestorians").

·         "Trong buổi đầu mùa của công cuộc truyền giảng Tin Lành tại Bung-ga-ry, Hội Thánh Bung-ga-ry đã được dạy rằng không nên làm việc trong ngày Sa-bát." (Nguyên văn:  "Bulgaria in the early season of its evangelization had been taught that no work should be performed on the Sabbath." Trích từ: Responsa Nicolai Papae I và Con-Consulta Bulllllgarorum. Responsum 10, found in Mansi, Sacrorum Concilorum Nova et Amplissima Colectio. Vol.15; trang 406; và Hefele. Conciliengeschicte. Vol.4, sec. 478).

Vào năm 781, một bia khắc bằng cẩm thạch, gồm 763 chữ, ghi lại sự phát triển của Hội Thánh Chúa tại Trung Hoa vào thời đó, được thực hiện. Năm 1625, tấm bia được khai quật gần thành phố Changan. Dưới đây là phần trích dẫn từ tấm bia đó, cho thấy ngày Sa-bát được Hội Thánh Chúa tại Trung Hoa thời bấy giờ vâng giữ:

·         "Vào ngày thứ bảy, chúng tôi dâng của lễ sau khi lòng của chúng tôi đã được thanh tẩy và chúng tôi đã nhận được sự tha thứ cho tội lỗi của mình.  Đạo này, vô cùng trọn vẹn và tuyệt hảo, thật khó để mà đặt tên cho nó, nhưng nó đã chiếu sáng sự tối tăm bằng những giáo luật chói lọi của nó."(Nguyên văn: "On the seventh day we offer sacrifices, after having purified our hearts, and received absolution for our sins. This religion, so perfect and so excellent, is difficult to name, but it enlightens darkness by its brilliant precepts." Trích từ: M. I'Abbe Huc. "Christianity in China." Vol. I, ch.2, trang 48, 49).

Hội Thánh Vâng Giữ Ngày Sa-bát  từ Thế Kỷ Thứ Mười đến Thế Kỷ Thứ Mười Một

Dưới đây là lời các sử gia ghi chép về sự giữ ngày Sa-bát của con dân Chúa từ thế kỷ thứ mười đến thế kỷ thứ mười một:

·         "Họ (Hội Thánh tại Scotland)làm việc vào chủ nhật nhưng giữ ngày Sa-bát theo luật Sa-bát." (Nguyên văn: "They worked on Sunday, but kept Saturday in a Sabbatical manner." Trích từ: Andrew Lang. "A history of Scotland from the Roman Occupation." Vol. I, trang 96).

·         "Giáo Hội Nestorians không ăn thịt heo và giữ ngày Sa-bát. Họ không tin vào việc xưng tội (với linh mục)cũng không tin vào Ngục Luyện Tội." (Nguyên văn: "The Nestorians eat no pork and keep the Sabbath. They believe in neither auricular confession nor purgatory." Trích từ:Schaff-Herzog. "The New Encyclopaedia of Religious Knowledge." Art. "Nestorians").

·         "Họ (Hội Thánh tại Scotland)cho rằng thứ bảy đúng là ngày Sa-bát mà họ nghỉ làm việc trong ngày đó." (Nguyên văn: "They held that Saturday was properly the Sabbath on which they abstained from work." Trích từ: "Celtic Scotland." Vol. 2, trang 350).

·         "Trong việc này dân Scots có lẽ đã giữ truyền thống quen thuộc của Hội Thánh Irish thời cổ, là truyền thống giữ ngày thứ bảy thay vì chủ nhật làm ngày nghỉ."(Nguyên văn: "In this matter the Scots had perhaps kept up the traditional usage of the ancient Irish Church which observed Saturday instead of Sunday as the day of rest." Trích từ: T. Ratcliffe Barnett, "Margaret of Scotland: Queen and Saint." Trang 97).

·         "Như mọi người đều biết, việc giữ ngày thứ bảy là đề tài của cuộc tranh cải gay gắt giữa những người Hy-lạp và những người La-tin."(Nguyên văn:  "The observance of Saturday is, as everyone knows, the subject of a bitter dispute between the Greeks and the Latins." Trích từ: Neale. "A History of the Holy Eastern Church." Vol 1, trang 731).

Hội Thánh Vâng Giữ Ngày Sa-bát  từ Thế Kỷ Thứ Mười Hai đến Thế Kỷ Thứ Mười Ba

Dưới đây là lời các sử gia ghi chép về sự giữ ngày Sa-bát của con dân Chúa từ thế kỷ thứ mười hai đến thế kỷ thứ mười ba:

·         "Dấu tích của những người giữ ngày Sa-bát được tìm thấy trong thời Gregory I, Gregory VII [5], và trong thế kỷ thứ mười hai tại Lombardy." (Nguyên văn: "Traces of Sabbath-keepers are found in the times of Gregory I, Gregory VII, and in the twelfth century in Lombardy." Trích từ: "Strong's Cyclopaedia," 1, 660).

Dân Waldenses của vùng Alps, được gọi là Sabbati hoặc Sabbatati, có nghĩa là: người giữ ngày Sa-bát:

·         "Người ta cho rằng họ được gọi như thế, bắt nguồn từ chữ sabbath trong tiếng Hê-bơ-rơ, vì họ giữ ngày thứ bảy làm ngày của Chúa."(Nguyên văn: "One says they were so named from the Hebrew word Sabbath, because they

·         "Trong số các văn kiện mà chúng tôi có được bởi cù

Đọc Tiếp →
2,751 views

Mười Hai Từ Ngữ Liên Quan Đến Điều Răn và Luật Pháp

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy
Nhấp vào đây để download bài viết này

Để có thể hiểu rõ ý nghĩa các câu Thánh Kinh liên quan đến điều răn và luật pháp thì chúng ta cần hiểu rõ các từ ngữ liên quan đến điều răn và luật pháp. Dưới đây là bảng liệt kê 12 từ ngữ có liên quan đến điều răn và luật pháp, được dùng trong Thánh Kinh. Quý bạn đọc có thể bấm vào các mã số Strong như: H8451 để vào website tham khảo ý nghĩa của từ ngữ trong tiếng Anh hoặc bấm vào ký hiệu phát âm như:(to-raw') để vào website nghe cách phát âm từ ngữ.

1. Luật pháp: Danh từ luật pháp trong Thánh Kinh bao gồm tất cả những gì là thánh ý của Đức Chúa Trời đối với loài người. Nói cách khác, ý muốn và lời phán của Đức Chúa Trời đều là điều răn và luật pháp. Chính Đức Chúa Jesus khi trích dẫn Thi Thiên 82:6  "Ta đã nói: Các ngươi là thần. Hết thảy đều là con trai của Đấng Chí Cao" thì Ngài đã gọi đó là luật pháp, là Kinh Thánh: "Nếu luật pháp gọi những kẻ được lời Đức Chúa Trời phán đến là các thần, và nếu Kinh Thánh không thể bỏ được, thì Ta đây, là Đấng Cha đã biệt ra thánh, và sai xuống thế gian, nói: Ta là Con Đức Chúa Trời, cớ sao các ngươi cáo Ta là nói lộng ngôn?" (Giăng 10:35, 36) [1].

Từ ngữ luật pháp trong tiếng Hê-bơ-rơ (Hebrew) có hai cách viết, là תּרהתּורה, H8451, cùng được phiên âm là /tôrâh/, phát âm là (to-raw'). Ý nghĩa chính của từ ngữ này là tất cả những quy định của Đức Chúa Trời về nguyên tắc sống dành cho loài người và hình phạt dành cho những ai vi phạm các quy định ấy. Ý nghĩa hẹp của từ ngữ này là tên gọi chung cho năm sách đầu tiên của Thánh Kinh, gồm: Sáng Thế Ký, Xuất Ê-díp-tô Ký, Lê-vi Ký, Dân Số Ký và Phục Truyền Luật Lệ Ký.

Lần đầu tiên, từ ngữ luật pháp xuất hiện trong Thánh Kinh là lúc Đức Chúa Trời phán truyền với Áp-ra-ham, được ghi lại trong Sáng Thế Ký 26:5 và được dùng dưới hình thức số nhiều:

"Bởi vì Áp-ra-ham đã vâng theo tiếng Ta, đã giữ gìn sự chỉ định của Ta, các điều răn của Ta, các luật lệ của Ta, các luật pháp của Ta."(Dịch sát nghĩa nguyên ngữ Hê-bơ-rơ).

"Bởi vì Áp-ra-ham đã vâng theo tiếng Ta, mà giữ gìn sự chỉ định của Ta, gồm các điều răn của Ta, các luật lệ của Ta, tức là các luật pháp của Ta."(Dịch diễn ý).

"Because that Abraham obeyed my voice, and kept my charge, my commandments, my statutes, and my laws."(Bản dịch King James).

Như vậy, Thánh Kinh cho chúng ta biết các điều răn và các luật lệ của Đức Chúa Trời, gọi chung là luật pháp, chỉ định đường lối sống cho loài người, do chính Ngài phán thành tiếng, đã ban cho loài người từ trước khi dân Israel được hình thành.

Phân tích một cách tổng quát thì luật pháp của Đức Chúa Trời được thể hiện dưới ba hình thức:

a) Luật Đạo Đức:Luật Đạo Đức bao gồm Mười Điều Răn do chính Đức Chúa Trời trực tiếp phán truyền từ trên núi Si-na-i, và sau đó, hai lần dùng chính ngón tay của Ngài ghi chép trên hai bảng đá:

"Bấy giờ Đức Chúa Trời phán mọi lời này rằng… Vả, cả dân sự nghe sấm vang, tiếng kèn thổi, thấy chớp nhoáng, núi ra khói, thì run rẩy và đứng cách tận xa. Dân sự bèn nói cùng Môi-se rằng: Chính mình người hãy nói cùng chúng tôi thì chúng tôi sẽ nghe; nhưng cầu xin Đức Chúa Trời chớ phán cùng, e chúng tôi phải chết chăng… Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Ngươi hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy: Các ngươi đã thấy Ta từ trên trời phán xuống cùng…"(Xuất Ê-díp-tô Ký 20:1-21).

"Khi Đức Giê-hô-va đã phán xong cùng Môi-se tại núi Si-na-i, bèn cho người hai bảng chứng bằng đá, với ngón tay Đức Chúa Trời viết ra"(Xuất Ê-díp-tô Ký 31:18). "Đoạn, Môi-se ở trên núi trở xuống, tay cầm hai bảng chứng; hai bảng chứng có viết hai bên, mặt nầy và mặt kia. Hai bảng đó là việc của Đức Chúa Trời làm ra; chữ cũng là chữ của Đức Chúa Trời khắc trên bảng" (Xuất Ê-díp-tô Ký 32:15-16).

"Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy đục hai bảng đá như hai bảng trước; rồi Ta sẽ viết trên hai bảng nầy các lời đã ở nơi hai bảng kia, mà ngươi đã làm bể… Môi-se ở đó cùng Đức Giê-hô-va trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, không ăn bánh, cũng không uống nước; Đức Giê-hô-va chép trên hai bảng đá các lời giao ước, tức là mười điều răn" (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:1, 28) [2].

"Từ trong lửa, Đức Giê-hô-va phán cùng các ngươi; các ngươi nghe một tiếng nói, nhưng không thấy một hình trạng nào; chỉ nghe một tiếng mà thôi. Ngài rao truyền cho các ngươi biết sự giao ước của Ngài, tức là mười điều răn, khiến các ngươi gìn giữ lấy, và Ngài chép mười điều răn ấy trên hai bảng đá"(Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:12-13) [2].

"Ngài viết trên hai bảng nầy lời Ngài đã viết lần trước, tức là mười điều răn mà Đức Giê-hô-va từ giữa lửa tại trên núi, có phán cùng các ngươi, trong ngày nhóm hiệp; rồi Đức Giê-hô-va trao cho ta"(Phục Truyền Luật Lệ Ký 10:4) [2].

"Đức Giê-hô-va tại trên núi từ giữa lửa, đã đối diện phán cùng các ngươi… Tại trên núi, giữa lửa, mây và sự tối tăm, Đức Giê-hô-va có dùng tiếng lớn phán những lời nầy cho cả hội các ngươi, Ngài không thêm chi hết; đoạn Ngài ghi các lời đó trên hai bảng đá, và trao cho ta"(Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:4-22).

"Và Đức Giê-hô-va trao cho ta hai bảng đá, bởi ngón tay Đức Chúa Trời viết ra, có đủ những lời mà Đức Giê-hô-va từ giữa lửa, tại trên núi, có phán ra cùng các ngươi, trong ngày nhóm hiệp"(Phục Truyền Luật Lệ Ký 9:10).

Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời vì thế không thể gọi là "Luật Pháp Môi-se" vì do chính Đức Chúa Trời phán trực tiếp với dân sự và do chính ngón tay Ngài hai lần viết ra trên bảng chứng. Ngài nay, cũng chính Đức Chúa Trời viết những điều đó vào tấm lòng của con dân Chúa "Đức Giê-hô-va phán: Nầy là giao ước mà Ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật pháp Ta trong bụng chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân Ta" (Giê-rê-mi 31:33). Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời cũng không phải là những điều hình bóng chỉ về những sự sẽ được Đấng Christ làm ra trong thời Tân Ước mà là tiêu chuẩn đạo đức, thánh khiết, công bình, và yêu thương đời đời của Đức Chúa Trời. Lời Chúa khẳng định: Điều răn của Đức Chúa Trời còn lại đời đời còn tất cả các luật pháp khác là ánh sáng của điều răn Ngài:

"Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài ở gần. Các điều răn Ngài là chân thật. Cứ theo chứng cớ Chúa, tôi đã biết từ lâu rằng Chúa lập các điều răn ấy đến đời đời"(Thi Thiên 119:151-152).

"Vì điều răn là một cái đèn, luật pháp là ánh sáng; Và sự quở trách khuyên dạy là con đường sự sống"(Châm Ngôn 6:23).

Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời được chính Ngài viết trên hai bảng đá, ra lệnh cho Môi-se cất vào Hòm Giao Ước. Một ngày trong tương lai, vào khoảng giữa của bảy năm đại nạn, Hòm Giao Ước sẽ hiện ra trong đền thờ ở trên trời, trước khi Đức Chúa Trời phán xét toàn thế gian. Người viết tin chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ căn cứ vào Mười Điều Răn do chính ngón tay của Ngài chép trên hai bảng đá để phán xét toàn thế gian về tội làm cho đất bị ô uế,"vì họ đã phạm luật pháp, trái điều răn" của Đức Chúa Trời(Ê-sai 24:5). Khải Huyền 11:19 chép: "Đền thờ Đức Chúa Trời bèn mở ra ở trên trời, Hòm Giao Ước bày ra trong đền thờ Ngài, rồi có chớp nhoáng, tiếng, sấm sét, động đất và mưa đá lớn." Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời, vì thế, khác biệt với các luật pháp khác về lễ nghi hầu việc, thờ phượng Đức Chúa Trời và các luật dân sự.

Hai hình thức kế tiếp được gọi chung là "Luật Môi-se" vì mặc dù cũng là luật pháp của Đức Chúa Trời, do Đức Chúa Trời truyền dạy cho dân sự của Chúa, nhưng Ngài không phán truyền trực tiếp cũng không tự tay Ngài ghi chép mà do Môi-se chép lại và truyền lại cho dân sự, nên Thánh Kinh Tân Ước ghi là "Luật Môi-se" với ý nghĩa: "Luật pháp của Đức Chúa Trời do Môi-se truyền đạt cho dân sự của Chúa" để phân biệt với luật pháp của Đức Chúa Trời phán truyền trực tiếp cho dân sự của Ngài là "Mười Lời Phán," còn gọi là "Mười Điều Răn."

b) Luật Lễ Nghi:Luật Lễ Nghi bao gồm tất cả những điều luật liên quan đến sự tẩy uế, chuộc tội, và hầu việc, thờ phượng Đức Chúa Trời. Những Luật Lễ Nghi liên quan đến sự tẩy uế thuộc linh và chuộc tội đều là hình bóng về những điều mà Đấng Christ sẽ làm trong chức vụ tiên tri, thầy tế lễ, và Cứu Chúa của thế gian khi Ngài nhập thế làm người để cứu chuộc nhân loại. Ngày nay, con dân Chúa không cần phải làm các nghi thức tẩy uế thuộc linh và chuộc tội vì đó là công việc của Đấng Christ đã hoàn thành một lần đủ cả cho những ai tin nhận Ngài:

"…Ngài làm việc đó một lần thì đủ cả, mà dâng chính mình Ngài làm tế lễ" (Hê-bơ-rơ 7:27).

 "Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời là Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men" (Khải Huyền 1:6).

"Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác"(I Giăng 1:9).

Còn những luật lễ nghi về tẩy uế thuộc thể, hầu việc và thờ phượng Đức Chúa Trời thời Cựu Ước là hình bóng cho sự tẩy uế thuộc thể, hầu việc và thờ phượng Đức Chúa Trời của con dân Chúa trong thời Tân Ước sau khi đã được dựng nên mới trong Đấng Christ. Những điều đó đã được Đức Thánh Linh giảng dạy trong toàn bộ các thư tín Tân Ước.

c) Luật Dân Sự:Luật Dân Sự bao gồm tất cả những luật lệ liên quan đến mọi sinh hoạt dân sự trong xã hội. Ngày nay, luật dân sự đã được Đức Chúa Trời trao vào trong tay các nhà cầm quyền địa phương. Vì thế, Lời Chúa trong Tân Ước buộc con dân Chúa phải tuân phục các nhà cầm quyền vì không có quyền nào không đến từ Đức Chúa trời. Rô-ma 13:1-7:

"1 Mọi người phải vâng phục các đấng cầm quyền trên mình; vì chẳng có quyền nào mà chẳng đến bởi Đức Chúa Trời, các quyền đều bởi Đức Chúa Trời chỉ định.

2 Cho nên ai chống cự quyền phép, tức là đối địch với mạng lịnh Đức Chúa Trời đã lập; và những kẻ đối địch thì chuốc lấy sự phán xét vào mình.

3 Vả, các quan quyền không phải để cho người làm lành sợ, mà để cho người làm dữ sợ. Ngươi muốn không sợ quyền phép chăng? Hãy làm điều lành, sẽ được khen thưởng;

4 vì quan quyền là chức việc của Đức Chúa Trời để làm ích cho ngươi. Song nếu ngươi làm ác, thì hãy sợ, vì người cầm gươm chẳng phải là vô cớ; người là chức việc của Đức Chúa Trời để làm ra sự công bình và phạt kẻ làm dữ.

5 Vậy nên cần phải vâng phục, chẳng những vì sợ hình phạt thôi, nhưng cũng vì cớ lương tâm.

6 Ấy cũng bởi lẽ đó mà anh em nộp thuế, vì các quan quyền là đầy tớ của Đức Chúa Trời, hằng giữ việc ấy.

7 Phải trả cho mọi người điều mình đã mắc: nộp thuế cho kẻ mình phải nộp thuế; đóng góp cho kẻ mình phải đóng góp; sợ kẻ mình đáng sợ; kính kẻ mình đáng kính."

"Vì cớ Chúa, hãy phục theo mọi phép tắc loài người lập lên, hoặc vua, như đấng rất cao, hoặc các quan, như người vua sai ra để phạt kẻ làm dữ và khen người làm lành" (I Phi-e-rơ 2:13-14).

Ngày nay, con dân Chúa sống ở địa phương nào thì tuân theo luật dân sự của chính quyền địa phương nơi ấy. Trừ khi, chính quyền ra những luật vi phạm các điều răn của Đức Chúa Trời thì khi ấy con dân Chúa phải chọn thái độ:"Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta" (Công Vụ Các Sứ Đồ 5:29).

Thánh Kinh Tân Ước được viết bằng tiếng Hy-lạp và từ ngữ luật pháp là νόμος, G3551, được phiên âm là /nomos/, phát âm là (nom'-os). Khi có mạo tự đi trước thì từ ngữ này dùng để chỉ chung các Luật Môi-se nhưng khi được dùng không có mạo tự thì chỉ đến sức mạnh thôi thúc trong lòng của một người để làm một điều gì đó, như sức mạnh của đức tin được gọi là luật pháp của đức tin:"Vậy thì sự khoe mình ở đâu? Đã bị trừ bỏ rồi. Bởi luật pháp nào? Luật pháp của việc làm chăng? Không phải, nhưng bởi luật pháp của đức tin" (Rô-ma 3:27).

Khi phân tích Sáng Thế Ký 26:5, chúng ta nhận thấy từ ngữ "luật pháp" là danh từ gọi chung các từ ngữ: Tiếng Ta – Sự chỉ định của Ta – Các điều răn của Ta – Các luật lệ của Ta. "Bởi vì Áp-ra-ham đã vâng theo tiếngTa, đã giữ gìn sự chỉ định của ta, các điều răn của ta, các luật lệ của Ta, các luật pháp của Ta." (Dịch sát nghĩa nguyên ngữ Hê-bơ-rơ). Về sau, trong Xuất Ê-díp-tô Ký bắt đầu dùng từ ngữ: Mạng lịnh; trong Phục Truyền Luật Lệ Ký bắt đầu dùng từ ngữ: Chứng cớ; và trong Thi Thiên bắt đầu dùng các từ ngữ: Giềng mối – Đoán ngữ.

2. Chỉ định: Nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là משׁמרת, H4931, được phiên âm là /mishmereth/, phát âm là (mish-meh'-reth), dịch sang tiếng Anh là guard, charge. Ý nghĩa của từ ngữ này là: thi hành một bổn phận; hoặc gìn giữ, canh gác, bảo tồn điều được giao phó. Loài người có bổn phận thi hành và gìn giữ, canh gác, bảo tồn tất cả luật pháp của Đức Chúa Trời đã ban truyền.

3. Điều răn:Nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là מצוה, H4687, phiên âm là /mitsvâh/, phát âm là (mits-vaw'), dịch sang tiếng Anh là commandments. Ý nghĩa của từ ngữ này là: lời sai khiến hoặc lời ngăn cấm, ra từ chữ gốc צוה, H6680 (mạng lịnh). Trong điều răn không đề cập đến hình phạt.

4. Luật lệ:Nguyên ngữ Hê-bơ-rơ với hình thức giống đực là חקּה, H2708, phiên âm là /chûqqâh/, phát âm là (khook-kaw'); với hình thức giống cái là חק, H2706, phiên âm là /chôq/, phát âm là (khoke). Cả hai hình thức được dịch sang tiếng Anh là statutes. Ý nghĩa của từ ngữ này là: những điều phải làm và những điều không được làm trong sinh hoạt của xã hội. Các luật lệ giải thích các điều răn và quy định hình phạt dành cho người vi phạm.

5. Mạng lịnh: Nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là צוה, H6680, được phiên âm là /tsâvâh/, phát âm là (tsaw-vaw'), dịch sang tiếng Anh là commandment. Ý nghĩa của từ ngữ này là: sai khiến, ra lệnh; lần đầu tiên xuất hiện trong Sáng Thế Ký 2:16 mà bản dịch Phan Khôi dịch là "phán dạy:"  "Rồi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn." Bản dịch Phan Khôi có nhiều chỗ dùng "mạng lịnh" để dịch hai từ ngữ חק, H2706, và חקּה, H2708 (luật lệ), như trong Xuất Ê-díp-tô Ký 28:43: "A-rôn cùng các con trai người sẽ mặc quần đó trong khi vào hội mạc hay là đến gần bàn thờ đặng làm việc tế lễ trong nơi thánh, thì chẳng mắc tội và chẳng chết đâu. Ấy là một mạng lịnh đời đời cho A-rôn và dòng dõi người."

6. Giềng mối:Nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là פּקּוּדפּקּד, H6490, cùng được phiên âm là /piqqûd/, phát âm là (pik-kood'), dịch sang tiếng Anh là precepts. Ý nghĩa của từ ngữ này là: những lời giảng dạy về luật pháp. Thi Thiên 19:8: "Giềng mối của Đức Giê-hô-va là ngay thẳng, làm cho lòng vui mừng; Điều răn của Đức Giê-hô-va trong sạch, làm cho mắt sáng sủa."

7. Đoán ngữ: Nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là משׁפּט, H4941, được phiên âm là /mishpâṭ/, phát âm là (mish-pawt'), dịch sang tiếng Anh là verdict. Ý nghĩa của từ ngữ này là: phán quyết, án lệnh; sự tuyên phán của quan tòa về hành vi phạm pháp của một người hoặc bản án dành cho phạm nhân. Thi Thiên 119:7: "Khi tôi học các đoán ngữ công bình của Chúa, Thì tôi sẽ lấy lòng ngay thẳng mà ngợi khen Chúa."

8. Chứng cớ: Nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là עדוּת, H5715, được phiên âm là /‛êdûth/, phát âm là (ay-dooth'), dịch sang tiếng Anh là testimony. Ý nghĩa của từ ngữ này là: chứng cớ, lời chứng. Thi Thiên 19:7:"Luật pháp của Đức Giê-hô-va là trọn vẹn, bổ linh hồn lại; Sự chứng cớ Đức Giê-hô-va là chắc chắn, làm cho kẻ ngu dại trở nên khôn ngoan." Tất cả những gì do Đức Chúa Trời nói và làm để bày tỏ chính Ngài, ý muốn của Ngài, và công việc của Ngài đều là chứng cớ về Đức Chúa Trời. Vì vậy, toàn bộ điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời cũng chính là chứng cớ về Ngài, do chính Ngài trưng bày.

9. Ở dưới luật pháp:Ở dưới luật pháp có nghĩa là khi vi phạm luật pháp thì bị chế tài theo như hình phạt đã định trong luật pháp. Một người ở dưới luật pháp là một người dù vô tình hay cố ý, hễ vi phạm luật pháp thì phải gánh lấy sự hình phạt do luật pháp quy định. Đức Chúa Jesus được sinh ra làm người ở dưới luật pháp: "Nhưng khi kỳ hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài bởi một người nữ sanh ra, sanh ra dưới luật pháp, để chuộc những kẻ ở dưới luật pháp, và cho chúng ta được làm con nuôi Ngài" (Ga-la-ti 4:4-5); có nghĩa là nếu Đức Chúa Jesus vi phạm luật pháp thì sẽ bị hình phạt bởi luật pháp và Con Người Vô Tội Jesus có thể nhận lãnh hình phạt của luật pháp thay cho loài người vi phạm luật pháp. Khi nói, một người không còn ở dưới luật pháp có nghĩa là người đó đã thi hành xong án phạt của luật pháp hoặc có người đã gánh thay án phạt của luật pháp dành cho sự phạm tội của người ấy chứ không có nghĩa là người ấy tha hồ phạm tội mà không bị hình phạt bởi luật pháp.

10. Ở dưới ân điển của Đấng Christ:Ở dưới ân điển của Đấng Christ có nghĩa là: ăn năn, từ bỏ tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đấng Christ. Từ bỏ tội là từ bỏ sự vi phạm điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời, vì tội lỗi là sự vi phạm điều răn và luật pháp của Đức Chúa trời, I Giăng 3:4 chép: "Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp." Một người chưa có tấm lòng từ bỏ tội thì không thể nào ở dưới ân điển cứu rỗi của Đấng Christ. Tin Lành của Đấng Christ được Ngài rao giảng bằng lời mở đầu: "Các ngươi hãy ăn năn, vì nước thiên đàng đã đến gần" (Ma-thi-ơ 4:17). Sau khi một người có tội đã ăn năn thì Chúa truyền rằng: "Ta cũng không định tội ngươi; hãy đi, đừng phạm tội nữa" (Giăng 8:11). Sứ Đồ Phi-e-rơ đã rao giảng như sau: "…Hãy hối cải, ai nấy phải nhân danh Đức Chúa Jesus chịu phép báp-tem, để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh" (Công Vụ Các Sứ Đồ 2:38). Như vậy, chỉ những ai vâng theo lời phán dạy của Chúa, tức là ăn năn tội và không phạm tội nữa thì mới ở dưới ân điển của Đấng Christ, ở trong Đấng Christ, thoát khỏi sự phán xét của luật pháp.

11. Luật pháp của Đấng Christ: "Với những người không luật pháp, (dầu đối với Đức Chúa Trời tôi không phải là không luật pháp, vì tôi ở dưới luật pháp của Đấng Christ), song tôi cũng ở như người không luật pháp" (I Cô-rinh-tô 9:21). "Hãy mang lấy gánh nặng cho nhau, như vậy anh em sẽ làm trọn luật pháp của Đấng Christ" (Ga-la-ti 6:2). Tất cả nhữnglời phán dạy của Đức Chúa Jesus đều là luật pháp của Đấng Christ. Từ các mạng lịnh "Hãy ăn năn" (Ma-thi-ơ 4:17); "Hãy yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi" (Ma-thi-ơ 5:44); "Hãy nên trọn vẹn như Cha các ngươi trên trời là trọn vẹn" (Ma-thi-ơ 5:48); cho đến mạng lịnh "Hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà Ta đã truyền cho các ngươi" (Ma-thi-ơ 28:19, 20); đều là luật pháp của Đấng Christ. Điều răn mới mà Chúa phán truyền trong Giăng 13:34: "Các ngươi phải yêu nhau; như Ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy" chỉ là một điều răn trong các luật pháp của Đấng Christ.

12. Luật pháp của Thánh Linh sự sống:"Vì luật pháp của Thánh Linh sự sống trong Đức Chúa Jesus Christ đã buông tha tôi khỏi luật pháp của sự tội và sự chết" (Rô-ma 8:2 – Dịch sát nghĩa). Thánh Linh sự sống trong Đức Chúa Jesus Christ chính là Đức Thánh Linh. Khi một người thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ thì người ấy lập tức được tái sinh, tức là được thoát khỏi quyền lực của tội lỗi và sự chết, và được nhận lãnh Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh ngự trong thân thể của người đã được tái sinh để ban Thánh Linh tức là sự sống và năng lực của Đức Chúa Trời cho người ấy; và giảng dạy thánh ý của Đức Chúa Trời cho người ấy qua những lời mà Ngài đã thần cảm cho các sứ đồ và môn đồ của Chúa chép lại trong Thánh Kinh Tân Ước. Tất cả những sự giảng dạy đó chính là luật pháp của Đức Thánh Linh.

 

Huỳnh Christian Timothy
12.04.2011

 

Ghi Chú

[1] Đối chiếu thêm các câu sau đây: Giăng 15:25 với Thi Thiên 35:19; I Cô-rinh-tô 14:21 với Ê-sai 28:11-12.

[2] Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ của Thánh Kinh không dùng từ ngữ "mười điều răn" mà dùng từ ngữ "mười lời." Sáng Thế Ký 1 ghi lại mười lời phán của Chúa trong công cuộc sáng thế, ban phước và giao việc cho loài người. Xuất Ê-díp-tô Ký 34:28, Phục Truyền Luật lệ Ký 4:13; 10:4, ba lần ghi lại "mười lời" phán của Chúa (mà bản dịch Phan Khôi dịch là "mười điều răn) làm nền tảng đạo đức cho con dân của Ngài.

Đọc Tiếp →
3,289 views

Mười Hai Lẽ Thật Về Điều Răn và Luật Pháp của Đức Chúa Trời

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào đây để download bài viết này

Bấm vào đây để nghe và download audio bài viết này

Ngày nay, có một giáo lý nghịch Thánh Kinh được rao giảng cách rộng khắp trong Hội Thánh của Chúa. Giáo lý đó dạy rằng: "Điều Răn và luật pháp của Đức Chúa Trời được ghi chép trong Thánh Kinh Cựu Ước chỉ áp dụng cho dân Israel sống trong thời Cựu Ước chứ không áp dụng cho Hội Thánh thời Tân Ước; và tín đồ của Đấng Christ không cần phải vâng giữ Mười Điều Răn, nhất là điều răn thứ tư." Chúng ta hãy cùng nhau tra xem lời của Chúa là Thánh Kinh để tìm biết giáo lý đó đã nghịch lại những lẽ thật của Lời Chúa như thế nào.

Có ít nhất là 12 lẽ thật trong Lời Chúa khẳng định giá trị, thẩm quyền của điều răn và luật pháp đối với con dân Chúa trong mọi thời đại, bao gồm cả Hội Thánh thời Tân Ước.

1. Các điều răn của Đức Chúa Trời còn lại cho đến đời đời: "Cứ theo chứng cớ Chúa, tôi đã biết từ lâu rằng Chúa lập các điều răn ấy đến đời đời" (Thi Thiên 119:152).

2. Luật pháp và điều răn của Đức Chúa Trời là thánh, công bình và tốt lành:"Ấy vậy, luật pháp là thánh, điều răn cũng là thánh, công bình và tốt lành" (Rô-ma 7:12).

3. Điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời áp dụng chung cho toàn thể nhân loại. Tội lỗi tức là sự vi phạm điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời. Thế gian bị bại hoại, ô uế vì sự phạm tội của dân cư trên đất: "Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp" (I Giăng 3:4). "Đất bị dân cư làm ô uế, vì họ đã phạm luật pháp, trái điều răn, dứt giao ước đời đời" (Ê-sai 24:5).

4. Tín đồ của Đấng Christ được cứu nhờ ân điển của Ngài thì không thể tiếp tục phạm điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời nữa:"Vậy thì làm sao! Vì chúng ta không thuộc dưới luật pháp, nhưng thuộc dưới ân điển, thì chúng ta sẽ phạm tội hay sao? Chẳng hề như vậy" (Rô-ma 6:15 )!

5. Đức tin của một người nơi Đấng Christ để được Đức Chúa Trời tha tội và làm cho sạch tội không hề hủy bỏ luật pháp của Đức Chúa Trời nhưng giúp cho người ấy có thể hoàn toàn vâng giữ điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời:"Vậy, chúng ta nhơn đức tin mà bỏ luật pháp hay sao? Chẳng hề như vậy! Trái lại, chúng ta làm vững bền luật pháp" (Rô-ma 3:31). "Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi" (Phi-líp 4:13) [1].

6. Không một người nào có thẩm quyền hủy bỏ bất kỳ một điều răn nào trong các điều răn của Đức Chúa Trời:"Vậy, ai hủy một điều cực nhỏ nào trong những điều răn nầy, và dạy người ta làm như vậy, thì sẽ bị xưng là cực nhỏ trong nước thiên đàng; còn như ai giữ những điều răn ấy, và dạy người ta nữa, thì sẽ được xưng là lớn trong nước thiên đàng" (Ma-thi-ơ 5:19).

7. Người hết lòng hết sức yêu mến Đức Chúa Trời là người vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời:"Vì nầy là sự yêu mến Đức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng giữ các điều răn Ngài. Các điều răn của Ngài chẳng phải là nặng nề" (I Giăng 5:3). "Vả, sự yêu thương là tại làm theo các điều răn của Đức Chúa Trời. Đó là các điều răn mà các ngươi đã nghe từ lúc ban đầu, đặng làm theo" (II Giăng 1:6) [2].

8. Người biết Đức Chúa Trời là người vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời theo như Đấng Christ đã vâng giữ.I Giăng 2:3-6:

"3 Nầy tại sao chúng ta biết mình đã biết Ngài, ấy là tại chúng ta giữ các điều răn của Ngài.
 4 Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ các điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người.
 5 Nhưng ai giữ lời phán Ngài, thì lòng kính mến Đức Chúa Trời thật là trọn vẹn trong người ấy. Bởi đó, chúng ta biết mình ở trong Ngài.
 6 Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm."

9. Chỉ có Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời được cất vào Hòm Giao Ước) chứ không phải tất cả luật pháp. Điều đó nói lên sự tách biệt giữa Mười Điều răn và các luật pháp khác:

"10 Vậy, chúng hãy đóng một cái hòm bằng cây si-tim; bề dài hai thước rưỡi, bề ngang một thước rưỡi, và bề cao cũng một thước rưỡi,
 11 lấy vàng ròng bọc trong, bọc ngoài, và chạy đường viền chung quanh hòm bằng vàng.
12 Ngươi cũng hãy đúc bốn khoen bằng vàng để tại bốn góc hòm: hai cái bên hông nầy, hai cái bên hông kia,
13 cùng làm hai cây đòn bằng cây si-tim, bọc vàng;
14 rồi lòn đòn vào khoen hai bên hông hòm, để dùng đòn khiêng hòm.
15 Đòn sẽ ở trong khoen luôn, không nên rút ra.
16 Ngươi hãy cất vào trong hòm bảng chứng mà Ta sẽ ban cho.
17 Ngươi cũng hãy làm một cái nắp thi ân bằng vàng ròng, bề dài hai thước rưỡi, bề ngang một thước rưỡi.
18 Lại làm hai tượng chê-ru-bin bằng vàng giát mỏng, để hai đầu nắp thi ân,
19 ló ra ngoài, một tượng ở đầu nầy và một tượng ở đầu kia.
20 Hai chê-ru-bin sẽ sè cánh ra, che trên nắp thi ân, đối diện nhau và xây mặt vào nắp thi ân.
21 Ngươi hãy để nắp thi ân trên hòm, rồi để vào trong hòm bảng chứng mà Ta sẽ ban cho."

(Xuất Ê-díp-tô Ký 25:10-21).

"Đoạn, người cũng lấy bảng chứng, để trong hòm, xỏ đòn khiêng vào, để nắp thi ân lên trên hòm"(Xuất Ê-díp-tô Ký 40:20).

"1 Trong lúc đó, Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hãy đục bai bảng đá như hai bảng trước, và hãy lên đến ta trên núi; ngươi cũng phải đóng một cái hòm bằng cây.
2 Ta sẽ viết trên hai bảng nầy những lời đã có trên hai bảng trước mà ngươi đã đập bể, rồi để hai bảng nầy trong hòm.
3 Vậy, ta đóng một cái hòm bằng cây si-tim, đục hai bảng đá, y như hai bảng trước, rồi đi lên trên núi, cầm hai bảng đó trong tay.
4 Ngài viết trên hai bảng nầy lời Ngài đã viết lần trước, tức là mười điều răn mà Đức Giê-hô-va từ giữa lửa tại trên núi, có phán cùng các ngươi, trong ngày nhóm hiệp; rồi Đức Giê-hô-va trao cho ta.
5 Ta trở đi xuống núi, để hai bảng vào hòm mà ta đã đóng, và hai bảng ấy còn ở tại đó, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn ta vậy"
(Phục Truyền Luật lệ Ký 10:1-5).

"2 Vả, một đền tạm đã dựng lên: phần thứ nhứt gọi là nơi thánh, có chơn đèn, bàn và bánh bày ra;
3 rồi đến phía trong màn thứ hai, tức là phần gọi là nơi rất thánh,
4 có lư hương bằng vàng và hòm giao ước, toàn bọc bằng vàng. Trong hòm có một cái bình bằng vàng đựng đầy ma-na, cây gậy trổ hoa của A-rôn, và hai bảng giao ước"
(Hê-bơ-rơ 9:2-4).

Và một ngày kia, Hòm Giao Ước giao ước sẽ hiện ra ở trên trời để mở đầu cho sự phán xét toàn thế gian: "Đền thờ Đức Chúa Trời bèn mở ra ở trên trời, Hòm Giao Ước bày ra trong đền thờ Ngài, rồi có chớp nhoáng, tiếng, sấm sét, động đất và mưa đá lớn" (Khải Huyền 11:19). Hòm Giao Ước được gọi là  là Hòm Giao Ước vì nó chứa hai bảng đá do chính ngón tay của Đức Chúa Trời ghi chép Mười Điều Răn của Ngài là giao ước của Đức Chúa Trời lập ra cho toàn thể nhân loại. Toàn thể nhân loại trong mọi thời đại đều có bổn phận vâng giữ Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời cho tới khi "mọi sự được trọn" nghĩa là cho tới khi trời cũ đất cũ qua đi và trời mới đất mới được tạo dựng. Chính vì "Đất bị dân cư làm ô uế, vì họ đã phạm luật pháp, trái điều răn, dứt giao ước đời đời" (Ê-sai 24:5) cho nên Hòm Giao Ước hiện ra trên trời để mở đầu cho sự phán xét toàn thế gian dựa theo sự thế gian "trái điều răn" của Đức Chúa Trời, là Mười Điều Răn được Đức Chúa Trời bảo tồn trong Hòm Giao Ước.

10. Dân ngoại như là nhánh ô-li-ve hoang được tháp vào dân Israel là gốc ô-li-ve thánh để cùng với dân Israel làm thành Hội Thánh của Đức Chúa Trời cho nên tất cả những mệnh lệnh và lời hứa của Đức Chúa Trời đối với dân Israel đều áp dụng cho Hội Thánh. Nói cách khác: Tuyển dân Israel thời Cựu Ước là hình ảnh của Hội Thánh Đức Chúa Trời thời Tân Ước.Rô-ma 11:16-24:

"16 Vả, nếu trái đầu mùa là thánh, thì cả đồng cũng thánh; và nếu rễ là thánh, thì các nhánh cũng thánh.
17 Ví bằng có một hai nhánh bị cắt đi, và ngươi vốn là cây ô-li-ve hoang được tháp vào chỗ các nhánh ấy để có phần về nhựa và rễ của cây ô-li-ve,
18 thì chớ khoe mình hơn các nhánh đó. Nhưng nếu ngươi khoe mình, thì hãy biết rằng ấy chẳng phải là ngươi chịu đựng cái rễ, bèn là cái rễ chịu đựng ngươi.
19 Ngươi sẽ nói rằng: Các nhánh đã bị cắt đi, để ta được tháp vào chỗ nó.
20 Phải lắm; các nhánh đó đã bị cắt bởi cớ chẳng tin, và ngươi nhờ đức tin mà còn; chớ kiêu ngạo, hãy sợ hãi.
21 Vì nếu Đức Chúa Trời chẳng tiếc các nhánh nguyên, thì Ngài cũng chẳng tiếc ngươi nữa.
22 Vậy hãy xem sự nhơn từ và sự nghiêm nhặt của Đức Chúa Trời: sự nghiêm nhặt đối với họ là kẻ đã ngã xuống, còn sự nhơn từ đối với ngươi, miễn là ngươi cầm giữ mình trong sự nhơn từ Ngài: bằng chẳng, ngươi cũng sẽ bị chặt.
23 Về phần họ, nếu không ghì mài trong sự chẳng tin, thì cũng sẽ được tháp; vì Đức Chúa Trời có quyền lại tháp họ vào.
24 Nếu chính ngươi đã bị cắt khỏi cây ô-li-ve hoang thuận tánh mình, mà được tháp vào cây ô-li-ve tốt nghịch tánh, thì huống chi những kẻ ấy là nhánh nguyên sẽ được tháp vào chính cây ô-li-ve mình!"

11. Ngoài Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời, Đức Thánh Linh đã thêm hai điều răn cho Hội Thánh. Thứ mười một: Không được ăn đồ cúng hình tượng, huyết, và thịt thú vật chết ngột. Thứ mười hai: Không được phạm tội tà dâm.Theo nguyên ngữ Hê-bơ-rơ của Thánh Kinh thì điều răn thứ bảy chỉ nói đến người đã lập gia đình không được ngoại tình. Theo nguyên ngữ Hy-lạp thì điều răn không được tà dâm bao gồm sự quan hệ tình dục ngoài hôn nhân của những người độc thân và tội đồng tính luyến ái: "Ấy là Đức Thánh Linh và chúng ta đã ưng rằng chẳng gán gánh nặng nào khác cho anh em ngoài những điều cần dùng, tức là anh em phải kiêng ăn của cúng thần tượng, huyết, thú vật chết ngột, và chớ tà dâm; ấy là mọi điều mà anh em khá kiêng giữ lấy vậy. Kính chúc bình an" (Công Vụ Các Sứ Đồ 15:28-29).

12. Mệnh lệnh của Đức Thánh Linh phán cho mọi tín đồ của Đấng Christ trong thời Tân Ước là: Phải vâng giữ điều răn của Đức Chúa Trời, giữ mình thánh sạch cho đến ngày Đấng Christ hiện ra: "Chịu cắt bì chẳng hề gì, không chịu cắt bì cũng chẳng hề gì; sự quan hệ là giữ các điều răn của Đức Chúa Trời"(I Cô-rinh-tô 7:19). "Phải giữ điều răn, ở cho không vết tích và không chỗ trách được, cho đến kỳ sự hiện ra của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta" (I Ti-mô-thê 6:14).

 

Huỳnh Christian Timothy
10.04.2011

 

Ghi Chú:

[1] Dịch sát ý theo nguyên tác Thánh Kinh: "Tôi có thể làm được mọi sự qua Đấng Christ là Đấng ban thêm sức cho tôi."

[2] Trong nguyên tác, Thánh Kinh dùng hình thức số nhiều: "Các điều răn" trong hai câu này.

[3] Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ của Thánh Kinh không dùng từ ngữ "mười điều răn" mà dùng từ ngữ "mười lời." Sáng Thế Ký 1 ghi lại mười lời phán của Chúa trong công cuộc sáng thế, ban phước và giao việc cho loài người. Xuất Ê-díp-tô Ký 34:28, Phục Truyền Luật lệ Ký 4:13; 10:4, ba lần ghi lại "mười lời" phán của Chúa (mà bản Thánh Kinh Việt Ngữ dịch là "mười điều răn) làm nền tảng đạo đức cho con dân của Ngài.

Đọc Tiếp →
5,591 views

Sách Khải Huyền: Mạc Khải Cuối Cùng

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.
 
Huỳnh Christian Timothy
 
"Phước cho người đọc cùng những ai nghe các lời tiên tri này
và giữ gìn những điều đã chép trong đó,
vì thì giờ đã gần."

(Khải Huyền 1:3)
 
Ý nghĩa tên sách

Tên cuốn sách cuối cùng của Thánh Kinh, trong các bản dịch Việt ngữ, được dịch là "Khải Huyền" hoặc "Khải Thị". Các bản dịch Anh ngữ cùng thống nhất dịch là "Revelation". Chữ revelation phát xuất từ chữ gốc apokalupsis trong tiếng Hy-lạp. Apokalupsis là một từ ngữ ghép, gồm "apo" có nghĩa là lấy khỏi, cất đi và "kalupsis" có nghĩa là tấm màn che. Như vậy, nghĩa gốc của apokalupsis là vén màn, cất màn che đi, nghĩa biến thể là sự bày tỏ, sự tiết lộ một điều gì vốn kín giấu trước đó.

Dưới đây là ý nghĩa một số từ ngữ liên quan đến tên sách được dùng trong các bản dịch Việt ngữ:

1. Khải Huyền = Mở ra, trình bày những sự kín giấu (khải = khai mở – huyền = kín giấu)
2. Khải Thị = Mở ra, trình bày cho xem xét (khải = khai mở – thị = xem xét, quan sát)
3. Khải Tượng = Mở ra, trình bày bằng hình ảnh (khải = khai mở – tượng = hình ảnh)
4. Mạc Khải = Mở màn, vén màn (mạc = tấm màn che = khải = khai mở)

Thánh Kinh Việt ngữ, bản dịch Phan Khôi, có dùng từ ngữ "mặc thị" để dịch chữ apokalupsis. Trong tiếng Hán Việt, mặc = im lặng, tĩnh mịch – thị = xem xét, quan sát; vậy, mặc thị = xem xét hay quan sát sự tĩnh mịch, im lặng. Thiển nghĩ, dùng "sự mặc thị" để dịch "the revelation" là không đúng nghĩa. Đôi khi, chữ "mặc khải" cũng bị dùng lầm, thay vì dùng đúng chữ "mạc khải". Mặc khải = khai mở sự im lặng.

Người ghi chép

Người ghi chép Khải Huyền tự xưng là một tôi tớ của Đấng Christ tên là Giăng (1:1), được Đức Chúa Trời kêu gọi làm tiên tri để "nói tiên tri về nhiều dân, nhiều nước, nhiều tiếng, và nhiều vua" (10:11). Theo truyền thống thì Hội Thánh ban đầu tin rằng tiên tri Giăng chép sách Khải Huyền cũng chính là sứ đồ Giăng, người chép Phúc Âm Giăng. Đến thế kỷ thứ 3, một giám mục Phi Châu tên là Dionyssius nêu ra vài bằng cớ cho thấy tiên tri Giăng, người ghi sách Khải Huyền không phải là sứ đồ Giăng:

1) Văn phong và kiến thức về Hy văn của người ghi chép sách Khải Huyền khác và kém xa với người ghi chép Phúc Âm Giăng (sứ đồ Giăng).
2) Sứ đồ Giăng tránh nhắc đến tên mình trong Phúc Âm Giăng trong khi người ghi chép Khải Huyền thường xuyên nhắc đến tên mình trong sách Khải Huyền.
Mặc khải cuối cùng Trang 2
3) Toàn bộ nội dung của sách Khải Huyền không cho thấy có chỗ nào người ghi chép tự nhận hoặc ngụ ý mình là một sứ đồ.

Phần lớn các nhà giải kinh ngày nay đều chấp nhận quan điểm cổ truyền: Sứ đồ Giăng chính là người chép sách Khải Huyền.

Ngôn ngữ được dùng để ghi chép

Sách Khải Huyền được ghi chép bằng tiếng Hy-lạp, là ngôn ngữ phổ thông thời ấy. Tuy nhiên, theo các nhà ngôn ngữ học thì lối hành văn của tác giả sách Khải Huyền đầy dẫy những lỗi lầm về văn phạm. Dường như người viết nhận thức khải tượng trong ngôn ngữ mẹ đẻ của ông là tiếng A-ram rồi viết lại bằng tiếng Hy-lạp, hoặc là Khải Huyền đã được ghi chép bằng tiếng A-ram rồi mới được dịch sang tiếng Hy-lạp, và được dịch bởi một người rất kém về văn phạm Hy-lạp.

Địa điểm ghi chép

Theo lời của Giăng (1:9-11) thì những khải tượng đến với ông đang khi ông ở trên đảo Bát-mô. Nhưng không ai biết chắc ông đã ghi lại thành sách Khải Huyền lúc ông vẫn còn trên đảo Bát-mô hay là về sau, trở lại Ê-phê-sô ông mới ghi chép. Các sử gia không thống nhất về địa điểm sách Khải Huyền được ghi chép.

Victirinus viết: "Giăng đang bị hoàng đế Domitian đày làm phu mỏ tại đảo Bát-mô, và tại đó, ông đã nhận được mạc khải…. Sau khi được trả tự do, ông đã viết lại những mạc khải đã nhận được từ Đức Chúa Trời."
Jerome viết: "Năm thứ mười bốn sau cơn bách hại của Nero, Giăng bị đày tới đảo Bát-mô, và tại đó, ông đã viết sách Khải Huyền… Sau khi Domitian qua đời, các chiếu chỉ tàn ác của hoàng đế bị nghị viện hủy bỏ, và Giăng được về lại Ê-phê-sô dưới thời Nerva."

Thời điểm ghi chép

Căn cứ vào các sự kiện lịch sử, nhiều nhà giải kinh cho rằng sách Khải Huyền được ghi chép vào khoảng năm 95 đến 96 trong bối cảnh đạo Chúa bị bách hại dữ dội dưới triều đại của hoàng đế La-mã Domitian.
VI. Bối cảnh lịch sử lúc sách được ghi chép

Domitian (81-96) là hoàng đế La-mã bạo ngược và bách hại Hội Thánh Đấng Christ dã man nhất trong lịch sử La-mã. Mặc dù trước đó, Nero (54-68), trong những năm cuối đời mình có bách hại các tín đồ Đấng Christ nhưng không phải vì cớ đức tin của họ. Truyền thuyết cho rằng Nero ra mật lệnh đốt bỏ những khu dân cư lụp xụp của thành La-mã để lấy chỗ xây dựng cung điện mới cho mình. Sau khi cơn hỏa hoạn khủng khiếp xảy ra, dân chúng nghi ngờ đó là dã tâm của Nero nên muốn nổi loạn. Nero bèn trút đổ hết trách nhiệm làm cháy thành La-mã lên những tín đồ Đấng Christ, vốn là một cộng đồng hiền hòa, yếu đuối và ra lệnh tàn sát họ. Khi Domitian lên ngôi, ông tuyên bố mình là Đức Chúa Trời, hạ lệnh cho mọi người phải thờ lạy và gọi mình là Đức Chúa Trời. Tất cả những ai không chịu thờ lạy Sê-sa Domitian, tôn xưng ông là Đức Chúa Trời, đều bị xử chết.

Dĩ nhiên, các tín đồ Đấng Christ thời ấy không thể vâng phục sắc lệnh của Domitian, sự kháng lệnh ấy dẫn đến những cuộc bắt bớ, tàn sát Hội Thánh Chúa cách dã man (93-96). Trong bối cảnh đau thương, kinh hoàng đó, sứ điệp Khải Huyền đã đến với các Hội Thánh Chúa. Sứ điệp Khải Huyền chính là bản hùng ca của Chân Lý và Đức Tin, vang lên giữa chiến trận khốc liệt của quyền lực bóng tối và sự chết đang cố chà đạp thân xác những con người đã "vượt khỏi sự chết mà vào sự sống đời đời" (1 Giăng 3:13-14).

Hoàng đế Nerva (96-98), người kế vị Domitian, ngay sau khi lên ngôi liền hủy bỏ những sắc lệnh dã man của Domitian, nhưng máu của các thánh đồ đã nhuộm thấm khắp đế quốc La-mã! Họ đã "trung tín cho đến chết" (2:10) với "Đấng yêu thương chúng ta, rửa chúng ta sạch mọi tội lỗi của chúng ta trong chính huyết Ngài, và khiến chúng ta trở nên những vua, những thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời, Cha Ngài" (1:5-6).
Khải Huyền 1:1-3 (dịch sát nghĩa):
 
Nguyên nhân, mục đích và nội dung của sách Khải Huyền
 
(1) Sự mạc khải về Đức Jesus Christ mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài đặng tỏ ra cho các tôi tớ Ngài về những điều sắp phải xảy đến thì Ngài đã sai thiên sứ Ngài biểu thị cho tôi tớ Ngài là Giăng: (2) người đã làm chứng về Lời của Đức Chúa Trời, về chứng cớ của Đức Jesus Christ, cùng những gì ông đã thấy. (3) Phước cho người đọc cùng những ai nghe các lời tiên tri này và giữ gìn những điều đã chép trong đó, vì thì giờ đã gần!

Ba câu đầu tiên của sách Khải Huyền giới thiệu nguyên nhân và mục đích của sách. Kèm theo đó là lời hứa phước hạnh cho những ai quan tâm đến sự mạc khải này bằng cách đọc, nghe theo, và giữ gìn tính trung thực của sự mạc khải. Có thể nói, sách Khải Huyền là một nguồn phước hạnh cho mọi tín đồ của Đấng Christ, thế nhưng, Khải Huyền lại là một trong những sách ít được tín đồ đọc thường xuyên và ít được giảng dạy trong Hội Thánh. Thế hệ hiện nay của chúng ta càng gần với "những ngày cuối cùng" hơn bao giờ hết, cho nên, có thể nói một cách bóng bẩy rằng: Khải Huyền là sứ điệp đặc biệt dành riêng cho thế hệ của chúng ta! Mệnh đề chót trong câu 3: "vì thì giờ đã gần!" gợi ý tính cấp bách và chung cuộc của sứ điệp được thông truyền.
 
 
1. Mạc khải đến từ Đức Chúa Trời: "Sự mạc khải của Đức Jesus Christ mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài…" (c. 1). Sự mạc khải được ghi lại trong sách Khải Huyền đến từ Đức Chúa Trời Ngôi Cha, và được bày tỏ bởi Đức Chúa Jesus Christ, là Đức Chúa Trời Ngôi Con. Sự mạc khải đó sẽ được thành toàn bởi Đức Chúa Trời Ngôi Thánh Linh, và kết quả của nó sẽ được bảo tồn bởi Ngài.

2. Mạc khải được ban cho các tôi tớ của Đấng Christ: "đặng tỏ ra cho các tôi tớ Ngài." (c. 1) Đối tượng đón nhận sự mạc khải này là những tôi tớ của Đức Chúa Jesus Christ. Tất cả những ai tin nhận Đức Chúa Jesus Christ đều được "quyền phép trở nên con cái của Đức Chúa Trời" (Giăng 1:1:12) nhưng trong số các "con cái của Đức Chúa Trời" chỉ có một số người được Ngài kêu gọi làm "tôi tớ;" (xin xem Rô-ma 1:1; Phi-líp 1:1; Tít 1:1; Gia-cơ 1:1; II Phi-e-rơ 1:1; và Giu-đe 1:1). Theo các dẫn chứng của Thánh Kinh, chúng ta có thể hiểu danh từ "tôi tớ của Đức Chúa Trời" hoặc "tôi tớ của Đức Chúa Jesus Christ" trong thời đại Ân Điển dùng để chỉ những ai được biệt riêng làm công tác loan truyền Tin Lành, giảng dạy Lời Chúa, hoặc chăn bầy của Ngài.

Xét theo nghĩa rộng thực dụng, mỗi một con dân Chúa là một thầy tế lễ của Đức Chúa Trời, (Khải Huyền 1:6), được kêu gọi đi khắp thế gian để giảng Tin Lành, (Ma-thi-ơ 20:19, 20; Mác 16:15), cho nên, bất kỳ ai đáp lại lời kêu gọi đó đều là tôi tớ của Đức Chúa Trời và của Đấng Christ. Trách nhiệm của các tôi tớ Chúa là loan truyền Lời Chúa cho muôn dân và giảng dạy Lời Chúa cho bầy của Ngài nên mạc khải được tỏ ra cho họ. Ngày nay, hơn bao giờ hết, các tôi tớ Chúa sẽ thiếu sót và phạm tội nếu không tích cực giảng và dạy những lời tiên tri trong sách Khải Huyền, "vì thì giờ đã gần!"

3. Nội dung của sự mạc khải: "về những điều sắp phải xảy đến" (c. 1). Sự mạc khải được tỏ ra cho các tôi tớ của Chúa để họ biết trước những điều sắp phải xảy đến. Xin để ý đến chữ "sắp" và chữ "phải". Khải Huyền 1:19 sẽ giải thích cho chữ "sắp" còn chữ "phải" nói lên sự chắc chắn ứng nghiệm của những lời tiên tri này. Khi đọc tiếp phần còn lại của sách Khải Huyền, chúng ta sẽ thấy những điều sắp phải xảy đến đó, sẽ xảy ra trong thế giới vật chất thuộc về thế gian, trên thiên đàng, và dưới hỏa ngục! Những điều sắp phải xảy đến đó, sẽ là câu trả lời tối hậu cho những ai thắc mắc "tại sao tội lỗi, bạo quyền, đau khổ, chiến tranh, dịch lệ, đói kém, thiên tai, chết chóc… xảy ra trong thế giới?" và "nếu có một Đức Chúa Trời thì Ngài đang ở đâu trước những nan đề của nhân loại?" Sự mạc khải trong sách Khải Huyền còn là mở đầu cho bản "khải hoàn ca" đời đời của mọi thánh đồ (Khải Huyền 21; 22:1-5).

4. Sự mạc khải mang phước hạnh đến cho những ai đọc, những ai nghe, và giữ những điều được mạc khải: "Phước cho người đọc cùng những ai nghe các lời tiên tri này, và giữ gìn những điều đã chép trong đó, vì thì giờ đã gần!" (c. 3)

Có hai thành phần được phước:

a) Người đọc: Có hai cách để giải thích về từ ngữ "người đọc." Thuở xưa, những lời tiên tri này được ghi lại và sao chép bằng tay. Có thể lắm, Giăng đã gửi cho mỗi Hội Thánh của vùng Tiểu Á một bản sao. Khi Hội Thánh nhận được các lời tiên tri thì người giữ việc đọc Lời Chúa (một chức vụ trong các Hội Thánh thuở ban đầu) sẽ tuyên đọc trước Hội Thánh. Như vậy, "người đọc" được phước ở đây là người đọc các lời tiên tri trong Khải Huyền cho Hội Thánh nghe. Hiểu theo nghĩa rộng hơn, những ai phổ biến, rao giảng những lời tiên tri trong Khải Huyền sẽ được phước!

Cách giải thích thứ hai, dựa trên ý nghĩa và cách dùng của động từ "đọc" trong nguyên tác, cho rằng bất cứ ai đọc các lời tiên tri này, cách cá nhân, đều được phước. Kinh nghiệm thực tế trong nếp sống đạo cho chúng ta thấy rằng, hễ ai có thành ý đọc Lời Chúa đều nhận được phước hạnh từ nơi Ngài, qua Lời của Ngài. Và, chỉ khi một người có lòng tìm đọc Lời Chúa, thì Đức Thánh Linh mới có cơ hội để ban phước cho người ấy qua sự tuôn đổ khôn ngoan thiên thượng để người ấy hiểu điều mình đọc.

b) Người nghe và giữ gìn những điều đã chép: Thành phần được phước thứ hai là những ai nghe và giữ gìn những lời tiên tri được ghi lại trong Khải Huyền. Lời Chúa nói rõ: chỉ những ai nghe và giữ gìn những lời tiên tri này mới được phước. Cũng có hai cách để giải thích về từ ngữ "nghe" và "giữ gìn". Cách thứ nhất cho rằng chữ "nghe" ở đây chỉ về sự các tín đồ nghe đọc các lời tiên tri bởi người giữ việc đọc Lời Chúa trong Hội Thánh. Chữ "giữ gìn" có nghĩa là ghi nhớ trong trí những điều đã nghe đọc. Cách giải thích thứ hai cho rằng chữ "nghe" được dùng với nghĩa bóng là "tin theo, vâng theo, làm theo" (so sánh chữ nghe trong Giăng 10:3) chứ không phải nghe âm thanh mà thôi. Như vậy, "nghe các lời tiên tri này" nghĩa là nhận thức những gì được bày tỏ, tin những điều đó sẽ xảy đến, và làm theo mọi khuyến cáo trong đó. Từ ngữ "giữ gìn" trong nguyên tác là tēreō có nghĩa là "canh giữ" được dùng để chỉ sự canh gác, trông chừng đừng để cho bị biến đổi mất phẩm chất hoặc bị thiệt hại, mất mát. Như vậy, những ai hiểu, tin, làm theo và giữ gìn sự trung thực của những lời tiên tri trong sách Khải Huyền trong khi loan truyền lại cho người khác sẽ được phước (Xem Khải Huyền 22:18-19).

Chúng tôi tin rằng, sách Khải Huyền là mạc khải cuối cùng của Đức Chúa Trời dành cho toàn thể nhân loại, và sách Khải Huyền hoàn tất Thánh Kinh. Sau sách Khải Huyền không còn một sự mạc khải nào của Đức Chúa Trời ban chung cho loài người. Chúng tôi không bác bỏ những mạc khải Đức Chúa Trời dành riêng cho từng cá nhân để chỉ thị, dạy dỗ hoặc làm vững đức tin của cá nhân ấy.

Ngày nay, có nhiều sách do những người tự xưng là hầu việc Chúa viết và được in ra để tuyên truyền các mạc khải về hoả ngục và thiên đàng, như là một hình thức bổ sung cho sách Khải Huyền. Tất cả những sách đó có nhiều điểm không phù hợp với sự dạy dỗ của Thánh Kinh. Những mạc khải được ghi lại trong các sách đó, nếu có thực, thì chắc chắn không phải đến từ Đức Chúa Trời. Chính Chúa Jesus đã cảnh cáo trước rằng, trong những ngày cuối cùng sẽ có nhiều kẻ giả mạo Đấng Christ và nhiều tiên tri giả sẽ dấy lên, làm nhiều phép lạ để lường gạt thiên hạ và thậm chí lường gạt ngay cả các tín đồ thật của Chúa (Ma-thi-ơ 7:15; 24:23). Chúng ta không cần bất cứ một mạc khải nào khác về thiên đàng và địa ngục ngoài những mạc khải đã được ghi lại trong Thánh Kinh.

Chúng ta, những thánh đồ của Chúa, cần ghi nhớ ý nghĩa của điều Chúa dạy trong Khải Huyền 1:3 – "đọc, nghe, và giữ gìn những điều đã chép trong sách Khải Huyền." Riêng những thánh đồ đáp ơn kêu gọi, đứng vào chức vụ rao giảng và dạy dỗ Lời Chúa, cần phải rao giảng và dạy dỗ những lời tiên tri trong Khải Huyền một cách cấp bách và quyết chắc như tính cấp bách và chung cuộc của sự mạc khải!

"Phước cho người đọc cùng những ai nghe các lời tiên tri này và giữ gìn những điều đã chép trong đó, vì thì giờ đã gần" (Khải Huyền 1:3)!

Huỳnh Christian Timothy
Ngày 07.09.2008
 
Đọc Tiếp →
2,541 views

Quan Hệ Giữa Hội Thánh và Chính Quyền

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2006 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy

Dù là dân tộc nào, đất nước nào, chính quyền nào, thể chế nào thì mối quan hệ giữa công dân và chính quyền luôn luôn là một mối quan hệ hai chiều: bổn phận của công dân đối với chính quyền và trách nhiệm của chính quyền đối với công dân. Thánh Kinh có dạy rõ về bổn phận công dân của tín đồ đối với chính quyền và trách nhiệm của chính quyển đối với công dân. Hội Thánh là tập thể những tín đồ Đấng Christ, cho nên khi thảo luận về mối quan hệ giữa Hội Thánh và chính quyền, những dạy dỗ của Thánh Kinh phải được dùng làm nền tảng cho sự thảo luận và áp dụng vào thực tế trong cuộc sống.

Trong bài này, chúng ta sẽ lần lượt thảo luận về các điểm chính sau đây:

(1) Thiên Chức của chính quyền
(2) Trách nhiệm của chính quyền đối với công dân
(3) Bổn phận của công dân đối với chính quyền
(4) Khi chính quyền trở thành bạo quyền
(5) Thái độ của tín đồ đối với bạo quyền
(6) Trách nhiệm của tín đồ đối với nạn nhân của bạo quyền
(7) Áp dụng vào thực tế trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam.

(1) Thiên chức của chính quyền

Thánh Kinh cho biết chính quyền là một thiên chức. Thực vậy, Rô ma 13:1-2 chép rằng: "Mọi người phải vâng phục các đấng cầm quyền trên mình; vì chẳng có quyền nào mà không đến bởi Đức Chúa Trời, các quyền đều bởi Đức Chúa Trời chỉ định. Cho nên ai chống cự quyền phép, tức là đối địch với mạng lịnh Đức Chúa Trời đã lập; và những kẻ đối địch thì chuốc lấy sự phán xét vào mình."

Câu hỏi được đặt ra là: "Không lẽ những chính quyền ngoại đạo, tà giáo, độc tài, hoặc vô thần, gian ác như các chính quyền Hồi Giáo và Cộng Sản cũng là do Chúa chỉ định hay sao? Không lẽ chống cự lại những chính quyền như vậy tức là đối địch với mạng lịnh Đức Chúa Trời đã lập?" Câu trả lời là: "Đúng vậy! Thánh Kinh khẳng định chẳng có quyền nào mà không đến bởi Đức Chúa Trời, các quyền đều bởi Đức Chúa Trời chỉ định." Khi Chúa Jesus bị bắt và giải đến trước Thống Đốc Phi-lát của chính quyền La-mã, Phi-lát ngạo nghễ hỏi Chúa: "Ngươi há chẳng biết rằng ta có quyền buông tha ngươi và quyền đóng đinh ngươi sao?" Đức Chúa Jesus đã đáp lại: "Nếu chẳng phải từ trên cao đã ban cho ngươi, thì ngươi không có quyền gì trên Ta" (Giăng 19:10-11)

Trong lịch sử dân Do-thái, dưới thời Vua Sê-đê-kia làm vua nước Giu-đa, vì dân Chúa phạm tội thờ lạy tà thần nên Đức Chúa Trời dùng Vua Nê-bu-cát-nết-xa của đế quốc Ba-by-lôn để cai trị họ. Tiên Tri Giê-rê-mi được lệnh Chúa rao truyền cho Vua Sê-đê-kia và dân Giu-đa phải đầu phục Vua Nê-bu-cát-nết-xa của Ba-by-lôn. Lúc đó, có một tiên tri giả tên là Ha-na-nia, nói ngược lại lời nói của Tiên Tri Giê-rê-mi và xúi Vua Sê đê kia cùng dân Giu-đa chống lại Vua Nê-bu-cát-nết-xa. Kết quả, Ha-na-nia chuốc lấy cái chết còn dân Giu-đa bị giết từ trai trẻ, gái đồng trinh cho đến người tóc bạc, kẻ còn sót lại thì bị giải qua Ba-by-lôn làm tôi mọi (II Sử ký: 36 & Giê rê mi: 27-28).

Sau bảy mươi năm là hạn kỳ Chúa trách phạt dân Giu-đa, chính Chúa lại trừng phạt Nê-bu-cát-nết-xa và dân Ba-by-lôn vì sự tàn ác của họ. Bài học lịch sử cho chúng ta thấy: Chúa chỉ định các chính quyền. Chúa dùng chính quyền này để sửa phạt chính quyền kia nhưng khi chính quyền được Chúa dùng để sửa phạt trở thành mất phẩm chất của một chính quyền thì đến phiên chính quyền ấy lại bị sửa phạt bởi Chúa.

(2) Trách nhiệm của chính quyền đối với công dân

Thánh Kinh ghi rõ trách nhiệm của chính quyền đối với công dân như sau:

1) Chính trực:
"Vả, các quan quyền không phải để cho người làm lành sợ, mà để cho người làm dữ sợ." (Rô ma 13:3a)

2) Khen thưởng người làm điều lành: "Ngươi muốn không sợ quyền phép chăng? Hãy làm điều lành, sẽ được khen thưởng" (Rô ma 13:3b), (1 Phi e rơ 2:14).

3) Làm ích cho công dân: "Vì quan quyền là chức việc của Đức Chúa Trời để làm ích cho ngươi" (Rô ma 13:4a).

4) Phạt kẻ làm dữ: "Song nếu ngươi làm ác, thì hãy sợ, vì người cầm gươm chẳng phải là vô cớ; người là chức việc của Đức Chúa Trời để làm ra sự công bình và phạt kẻ làm dữ" (Rô ma 13:4b), (1 Phi e rơ 2:14).

Vậy, theo Thánh Kinh, chính quyền là chức việc của Chúa chỉ định để cai trị một dân tộc, một đất nước bằng sự chính trực, thưởng lành, phạt ác, và làm ích cho công dân.

(3) Bổn phận của công dân đối với chính quyền

Thánh Kinh cũng dạy tín đồ phải làm tròn những bổn phận của công dân đối với chính quyền. Những bổn phận ấy được nêu rõ như sau:

1) Vâng phục vì cớ lương tâm:
"Mọi người phải vâng phục các đấng cầm quyền trên mình" (Rô ma 13:1a). "Vì cớ Chúa, hãy phục theo mọi phép tắc loài người lập nên, hoặc vua như đấng rất cao, hoặc các quan như người vua sai ra để phạt kẻ làm dữ và khen người làm lành" (I Phi e rơ 2:13-14). "Vậy nên cần phải vâng phục, chẳng những vì sợ hình phạt thôi, nhưng cũng vì cớ lương tâm" (Rô ma 13:5). "Hãy nhắc lại cho các tín đồ phải vâng phục những bậc cầm quyền chấp chánh, phải vâng lời các bậc ấy, sẵn sàng làm mọi việc lành" (Tít 3:1).

2) Tôn trọng và kính sợ:
"Ngươi chớ nên nói lộng ngôn cùng Đức Chúa Trời, và cũng đừng rủa sả vua chúa của dân sự ngươi" (Xuất 22:28). "Hãy kính mọi người; yêu anh em; kính sợ Đức Chúa Trời; tôn trọng vua" (I Phi e rơ 2:17). "Sợ kẻ mình đáng sợ, kính kẻ mình đáng kính" (Rô ma 13:7b).

3) Nộp thuế và đóng góp:
"Ấy cũng bởi lẽ đó mà anh em nộp thuế, vì các quan quyền là đày tớ của Đức Chúa Trời, hằng giữ việc ấy. Phải trả cho mọi người điều mình đã mắc: nộp thuế cho kẻ mình phải nộp thuế; đóng góp cho kẻ mình phải đóng góp" (Rô ma 13:6,7a).

4) Cầu thay:
"Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhơn đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn. Ấy là một sự lành và đẹp mắt Đức Chúa Trời là Cứu Chúa chúng ta" (I Ti mô thê 2:1-3).

Chính quyền có bốn trách nhiệm với công dân thì công dân cũng có bốn bổn phận với chính quyền: Vâng phục, tôn trọng, nộp thuế và cầu thay.

(4) Khi chính quyền biến thành bạo quyền

Cho đến ngày hôm nay, những sự dạy dỗ của Thánh Kinh từ mấy ngàn năm trước về mối quan hệ hai chiều giữa công dân và chính quyền vẫn không thay đổi. Tuy nhiên, khi chính quyền không công chính mà trở thành phe đảng, bè phái, hư hại, thối nát; khi chính quyền không thưởng lành phạt ác mà trở thành băng đảng của kẻ làm dữ, bức hiếp những công dân lương thiện; khi chính quyền không làm ích cho dân mà trở thành nhũng lạm, bốc lột, phá tan tài nguyên, sinh lực của đất nước thì chính quyền đó đã không làm tròn thiên chức mà Đức Chúa Trời đã chỉ định và giao phó. Chính quyền đó đã biến thành bạo quyền. Bạo quyền sẽ bị Đức Chúa Trời sửa trị. Chính Đức Chúa Trời sẽ dấy lên hoặc dùng một chính quyền khác để sửa trị hoặc tiêu diệt bạo quyền.

(5) Thái độ của tín đồ đối với bạo quyền

Khi chính quyền biến thành bạo quyền thì chắc chắn tín đồ là công dân dưới quyền sẽ hứng chịu nhiều bất công và thiệt hại. Bạo quyền có thể ra lệnh bắt tín đồ phải làm những điều ngược lại với đức tin Cơ-đốc. Bạo quyền cũng có thể vô cớ bách hại các tín đồ. Trong tình huống đó, tín đồ phải cư xử ra sao đối với bạo quyền?

1) Tín đồ không được trả thù bạo quyền:
"Hỡi kẻ rất yêu dấu của tôi ơi, chính mình chớ trả thù ai, nhưng hãy nhường cho cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời; vì có Lời Chúa phán rằng: Sự trả thù thuộc về Ta, Ta sẽ báo ứng" (Rô ma 12:19). "Sự trả thù thuộc về Ta, Ta sẽ báo ứng. Ấy là Lời Chúa phán" (Hê bơ rơ 10:30). "Chớ lấy ác trả ác cho ai, phải chăm tìm điều thiện trước mặt mọi người. Nếu có thể được, thì hãy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người" (Rô ma 12:17-18). "Hãy giữ, đừng có ai lấy ác báo ác cho kẻ khác; nhưng hãy tìm điều thiện luôn luôn, hoặc trong vòng anh em, hoặc đối với thiên hạ" (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:15).

2) Tín đồ không được chống cự bạo quyền:
"Song Ta bảo các ngươi, đừng chống cự kẻ dữ" (Ma-thi-ơ 5:39).

3) Tín đồ không thỏa hiệp, không van xin với bạo quyền để được thờ phượng, hầu việc Chúa:
"Phước cho người nào chẳng theo mưu kế của kẻ dữ, chẳng đứng trong đường tội nhân, không ngồi chỗ của kẻ nhạo báng" (Thi Thiên 1:1). "Chớ mang ách chung vớ kẻ chẳng tin. Bởi vì công bình với gian ác có hội hiệp nhau được chăng? Sự sáng với sự tối có thông đồng nhau được chăng?" (II Cô-rinh-tô 6:14).
Khi Tiên tri Đa ni ên nghe chiếu chỉ của vua cấm thờ lạy hoặc cầu nguyện với bất cứ thần nào khác ngoài vua trong vòng ba mươi ngày, ông vẫn thản nhiên thờ lạy cầu nguyện với Đức Chúa Trời mỗi ngày ba lần mà không cần tìm cách thỏa hiệp hay van xin vua, mặc dù vua là người rất thương mến và quý trọng ông (Đa ni ên 6). Con dân Chúa không cần phải "thỏa hiệp" hoặc "van xin" bất kỳ ai để được thờ phượng Chúa. Đặc quyền và cũng là đặc ân thờ phượng Chúa đã được Chúa trả bằng chính huyết báu của Ngài trên thập tự giá cho những ai tin nhận Ngài.

4) Tín đồ không cần tuân theo những mạng lịnh và luật lệ đi ngược lại mạng lịnh và luật lệ của Chúa:
Thánh Kinh ghi rõ, khi phải chọn lựa giữa sự tuân phục bạo quyền hoặc tuân phục Lời của Đức Chúa Trời thì người tín đồ chỉ có tuân phục Chúa. Khi Phi-e-rơ và Giăng bị Tòa Công Luận Do-thái cấm tiệt chẳng cho nhân danh Chúa Jesus mà nói hay giảng dạy thì hai ông trả lời rằng: "Chính các ông hãy suy xét, trước mặt Đức Chúa Trời có nên vâng lời các ông hơn là vâng lời Đức Chúa Trời chăng?" (Công vụ 4:19). Sau đó, một lần nữa, Phi-e-rơ và các sứ đồ lại bị Tòa Công Luận Do-thái cấm nhặt không cho giảng Tin Lành, thì ông và các sứ đồ đã khẳng khái đáp lời thầy cả thượng phẩm: "Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta" (Công Vụ 5:29). Trong thời Cựu Ước, khi Pha-ra-ôn ra lệnh cho các bà mụ dân Hê-bơ-rơ phải giết các trẻ sơ sinh trai của người Hê-bơ-rơ "Nhưng các bà mụ kính sợ Đức Chúa Trời, chẳng làm theo lời vua Ê díp tô phán dặn, đều để cho các con trai sống hết" (Xuất 1:17). Và Thánh Kinh chép rằng: "Đức Chúa Trời ban ơn cho các bà mụ … Ấy vậy, vì bà mụ có lòng kính sợ Đức Chúa Trời, nên Ngài làm cho nhà họ được thạnh vượng" (Xuất Ê-díp-tô Ký 1:20-21).

(6) Trách nhiệm của tín đồ đối với những nạn nhân của bạo quyền

Trong Thánh Kinh, chúng ta thấy có nhiều chỗ ghi lại những gương sáng của con dân Chúa về việc bênh vực, giải cứu những nạn nhân của bạo quyền:

– Các bà mụ Hê-bơ-rơ bênh vực và giải cứu các hài nhi sơ sinh thoát chết (Xuất Ê-díp-tô Ký 1:15-21).
– Tín đồ tại thành Đa-mách giải cứu Sau-lơ, tức Phao-lô, khi ông bị người Giu-đa tại thành này truy sát vì rao giảng Tin Lành (Công Vụ 9:19-25).
– Con trai của chị Phao-lô báo tin cho ông biết mưu kế người Giu-đa tại thành Giê-ru-sa-lem muốn phục kích, bắt cóc và giết ông (Công Vụ 23:12-22).

Tuy nhiên có hai câu chuyện nỗi bật nhất mà chúng ta cần đọc kỷ và áp dụng vào thực tế trong cuộc sống:

1) Áp-ram giải cứu gia đình của Lót và dân chúng Sô-đôm:
Sáng Thế Ký chương 14 ghi lại câu chuyện vua Kết-rô Lao-me cùng đồng minh đánh với vua Sô-đôm và vua Gô-mô-rơ, thắng trận, bèn cướp hết của cải và lương thực của Sô-đôm, Gô-mô-rơ đồng thời bắt theo dân chúng trong đó có gia đình của Lót, là cháu của Áp-ram. "Khi Áp-ram hay được cháu mình bị quân giặc bắt, bèn chiêu tập ba trăm mười tám gia nhân đã tập luyện, sanh đẻ nơi nhà mình, mà đuổi theo các vua đó cho đến đất Đan" (Sáng Thế Ký 14:14). Sau đó, Áp-ram đánh bại vua Kết-rô Lao-me và các vua đồng minh, giải cứu toàn bộ người và vật, đem trở về… được vua Sa-lem là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời ra đón, chúc phước và ngợi khen rằng "Đức Chúa Trời Chí cao đã phó kẻ thù nghịch vào tay Áp ram."

Trong câu chuyện này, chúng ta thấy:

a) Chính quyền của Kết-rô Lao-me bức hiếp chính quyền Sô-đôm và Gô-mô-rơ [tỉ như chính quyền Iraq bức hiếp chính quyền Kuwait].
 
b) Áp-ram không phải là công dân của chính quyền Kết-rô Lao-me, cũng không phải là công dân của chính quyền Sô-đôm hay Gô-mô-rơ [tỉ như Hoa Kỳ không thuộc về chính quyền Iraq hoặc Kuwait].

c) Hành động của Áp-ram không phải là chống lại chính quyền trên ông. Hành động của Áp-ram là hành động cứu khốn phò nguy.

d) Chúa chấp nhận hành động của Áp-ram, qua lời chúc phước và ngợi khen của vua và thầy tế lễ Mên-chi-xê-đéc.

2) Hoàng hậu Ê xơ tê giải cứu dân Giu đa thoát nạn diệt chủng:
Trong hết 66 sách của Thánh Kinh, có một sách duy nhất không nhắc đến Đức Chúa Trời nhưng được kể là "Lời của Đức Chúa Trời", đó là sách Ê-xơ-tê. Cuốn sách ghi lại câu chuyện bạo quyền Ha-man vì kiêu ngạo và tư thù cá nhân nên lập mưu mượn tay vua A-suê-ru để diệt chủng dân Giu-đa. Tuy nhiên, Mạc-đô-chê, anh họ của Hoàng Hậu Ê-xơ-tê đã khiến bà phải liều chết đứng ra vạch trần âm mưu của Ha-man. Kết cuộc, bạo quyền bị tiêu diệt, dân Giu-đa được sinh tồn mà còn có cơ hội báo thù.

Trong câu chuyện này, chúng ta thấy:

a) Ê-xơ-tê, Mạc-đô-chê là công dân mà cũng là "viên chức" của chính quyền A-suê-ru.

b) Ha-man, một "viên chức" khác của A-suê-ru vì kiêu ngạo và tư thù đã biến thành bạo quyền, có dã tâm diệt chủng toàn dân Giu-đa, là đồng hương của Mạc-đô-chê và Ê-xơ-tê.

c) Bằng vào đức tin, lòng can đảm và sự khôn ngoan, anh em Mạc-đô-chê, Ê-xơ-tê đã giải thoát dân tộc của mình khỏi bàn tay độc ác của kẻ lạm quyền.

(7) Áp dụng vào thực tế trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam

Để áp dụng thực tế những sự dạy dỗ và mệnh lệnh của Chúa về mối quan hệ giữa Hội Thánh và chính quyền trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, chúng ta cần phải nhận rõ những điểm quan trọng sau đây:

1) Chính quyền Cộng Sản hiện tại ở Việt Nam là một bạo quyền vì đã làm ngược lại thiên chức Đức Chúa Trời giao phó.

2) Hội Thánh và dân tộc Việt Nam trong nước đang là nạn nhân của bạo quyền.
 
3) Hội Thánh Việt Nam tại hải ngoại có trách nhiệm đối với Hội Thánh và đồng hương trong nước.

a) Trách nhiệm thực tế của Hội Thánh Việt Nam tại hải ngoại đối với Hội Thánh và đồng hương trong nước:
Hội Thánh Việt Nam tại hải ngoại tức là chúng ta, những tín đồ Đấng Christ không sống dưới quyền cai trị của bạo quyền Cộng Sản Việt Nam. Trách nhiệm của chúng ta đối với Hội Thánh và đồng hương ở trong nước, đang là nạn nhân bị bạo quyền bách hại nặng nề, là trách nhiệm có tên gọi Trách nhiệm Áp-ram, do từ ý nghĩa dạy dỗ của câu chuyện Áp-ram giải cứu Lót và dân chúng Sô-đôm. Trách nhiệm này cũng dựa trên nền tảng của Lời Chúa trong Châm ngôn 31:8 "Hãy mở miệng mình binh kẻ câm, và duyên cớ của các người bị để bỏ." Trong Rô ma 12:15 "Hãy vui với kẻ vui, khóc với kẻ khóc;" và trong Hê bơ rơ 13:1,3 "Hãy hằng có tình yêu thương anh em. Hãy nhớ những kẻ mắc vòng xiềng xích, như mình cùng phải xiềng xích với họ, lại cũng nhớ những kẻ bị ngược đãi, vì mình cũng có thân thể giống như họ."
– Chúng ta có trách nhiệm chia sẻ sự đau đớn, thiếu thốn, bị bách hại về thuộc linh của anh em cùng đức tin và dân tộc chúng ta tại Việt Nam bằng lòng tha thiết kiêng ăn cầu thay (Ê xơ tê 4:16).
– Chúng ta có trách nhiệm chia sẻ sự đau đớn, thiếu thốn, bị bách hại về vật chất của anh em cùng đức tin và dân tộc chúng ta tại Việt Nam qua sự tiếp trợ tài chánh, vật lực. "hãy mang lấy gánh nặng cho nhau, như vậy anh em sẽ làm trọn luật pháp của Đấng Christ" (Ga la ti 6:2), (Hê bơ rơ 13:1,3 & 16).
– Chúng ta có trách nhiệm bênh vực duyên cớ công bình cho anh em cùng đức tin và dân tộc chúng ta tại Việt Nam bằng mọi phương cách hợp với sự dạy dỗ của Thánh Kinh, và trong khả năng của chúng ta. Những phương cách đó có thể là phản đối, kêu nài, khiếu nại, kiến nghị, công bố những sự thật về hoàn cảnh bị bách hại của anh em cùng đức tin và dân tộc của chúng ta trong nước.

Khi bạo quyền Hê rốt muốn giết Chúa Jesus, Ngài gọi bạo quyền bằng bản chất thật của nó. Ngài gọi Vua Hê rốt là "chồn cáo" (Lu ca 13:32). Khi Chúa Jesus bị bắt, bị đánh trước mặt thầy cả thượng phẩm Do Thái, chính Ngài đã phản đối sự bất công của bạo quyền: "Ví thử Ta nói quấy, hãy chỉ chỗ quấy cho Ta xem, nhược bằng Ta nói phải, làm sao ngươi đánh Ta" (Giăng 18:23)? Khi Phao-lô bị bạo quyền A-na-nia đánh trước tòa công luận Do-Thái, ông đã phản đối: "Hỡi bức tường tô trắng kia, Đức Chúa Trời sẽ đánh ông; ông ngồi để xử đoán tôi theo luật pháp, mà lại không kể luật pháp, biểu người đánh tôi" (Công vụ 23:3). Khi Phao lô đứng trước mặt tổng đốc Phê-tu của La-mã, ông mạnh dạn khiếu nại cho duyên cớ vô tội của mình: "Ví bằng tôi có tội hay là phạm điều gì đáng chết, thì tôi chẳng từ chối chết đâu; trái lại, nếu trong đơn từ họ kiện tôi không có cớ gì hết, thì chẳng ai được nộp tôi cho họ. Tôi kêu nài sự đó đến Sê-sa (tức hoàng đế La-mã lúc đương thời)" (Công vụ 25:11).

Thậm chí, nếu Chúa cho phép và chúng ta có khả năng, chúng ta phải sẵn sàng "chiêu tập ba trăm mười tám gia nhân đã tập luyện, sanh đẻ nơi nhà mình" để dẹp tan bạo quyền, giải phóng anh em cùng đức tin và dân tộc chúng ta như Áp-ram đã hành động xưa kia. Đức Chúa Trời Chí Cao sẽ "phó kẻ thù nghịch vào tay" chúng ta (Sáng Thế Ký 14:20).

b) Hậu quả nghiêm trọng sẽ đến nếu chúng ta lơ là trách nhiệm:
Trách nhiệm nào cũng kèm theo hậu quả của sự tắc trách. Nếu chúng ta tắc trách trong trách nhiệm rao giảng Tin Lành của Chúa cho người chưa được cứu, thì chúng ta chuốc lấy sự khốn khó cho chính mình, máu của những người hư mất vì sự tắc trách của chúng ta sẽ đổ lại trên đầu chúng ta (Công Vụ 20:26,27 & I Cô rinh tô 9:16). Còn nếu chúng ta tắc trách trong sự mang lấy gánh nặng cho nhau, trong sự bênh vực, giải cứu anh em cùng đức tin và dân tộc của chúng ta dưới sự bách hại của bạo quyền thì chúng ta cũng sẽ gánh chịu hậu quả nặng nề. Lời cảnh cáo được chép rõ trong Ê xơ tê 4:14 "Vì nếu ngươi làm thinh trong lúc này đây, dân Giu đa hẳn sẽ được tiếp trợ và giải cứu bởi cách khác, còn ngươi và nhà cha ngươi đều sẽ bị hư mất."

Kết luận

Khuôn mẫu của Thánh Kinh về mối quan hệ hai chiều giữa Hội Thánh và chính quyền không hề thay đổi. Bổn phận của mỗi con dân Chúa là phải hết lòng tuân thủ mạng lịnh của Ngài, được ghi chép rõ ràng trong Thánh Kinh. Nhưng một khi chính quyền biến thành bạo quyền, không còn làm tròn thiên chức mà Thiên Chúa đã chỉ định và giao phó: "Cai trị dân tộc, đất nước bằng sự chính trực, thưởng lành, phạt ác, và làm ích cho công dân" thì tín đồ, Hội Thánh phải vâng phục Chúa hơn là vâng phục bạo quyền. Trong sự cai trị của bạo quyền, tín đồ, Hội Thánh còn có trách nhiệm bênh vực và giải cứu nạn nhân của bạo quyền trong khả năng, phương tiện và sự khôn ngoan Chúa ban. Đẹp ý Chúa, tín đồ cũng có thể trở thành những "quyền" được Chúa dấy lên để bênh vực con dân Chúa bị bạo quyền bách hại, và để sửa phạt hoặc tiêu diệt bạo quyền.
 
Huỳnh Christian Timothy
4/22/2003

 
Đọc Tiếp →
2,462 views

Lịch Sử Tiền Cải Chánh của Các Ấn Bản Thánh Kinh

Phần lớn của câu chuyện làm thế nào chúng ta có được bản Thánh Kinh Anh Ngữ, tự nó chính là câu chuyện về Cuộc Cải Chánh Tin Lành vào cuối thế kỷ 14 với John Wycliffe. Thật ra, nếu chúng ta đi ngược thời gian khoảng một ngàn năm hơn, thì lúc ấy chưa hề có thứ ngôn ngữ gọi là "tiếng Anh" (English) xuất hiện ở nơi nào cả. Tuy nhiên, câu chuyện của Thánh Kinh còn xa xưa hơn nữa.

Lời Chúa lần đầu tiên được ghi lại là khi chính tay Ngài viết xuống dưới hình thức mười điều răn trên một bảng đá và trao cho Môi-se trên đỉnh Núi Si-nai. Theo các học giả Thánh Kinh, sự kiện này đã xảy ra vào khoảng từ năm 1,400 trC đến 1,500 trC… cách đây gần 3,500 năm. Ngôn ngữ được sử dụng hầu như là tiếng tiếng Hê-bơ-rơ cổ, ngôn ngữ của các tín đồ thời Cựu Ước.

Văn bản Thánh Kinh xuất hiện sớm nhất thường được cho là "Ngũ Kinh", tức là năm sách đầu tiên của Môi-se: Sáng Thế, Xuất hành, Lê-vi, Dân số và Phục truyền… Mặc dầu có một số chứng cứ khoa học chứng tỏ sách của Gióp, thời Cựu Ước, mới thực sự là sách đầu tiên của Thánh Kinh. Thánh Kinh Cựu Ước được viết bằng tiếng Hê-bơ-rơ cổ, về cơ bản, nó khác với tiếng Hê-bơ-rơ ngày nay. Các ký thuật này được chuyển tiếp qua nhiều thế hệ trong suốt nhiều ngàn năm, chúng được viết trên các cuộn da thú, thường là da chiên, nhưng đôi khi là da nai hoặc da bò. Giống vật nào mà người Do Thái cho là không tinh sạch, như heo chẳng hạn, thì không bao giờ được sử dụng để làm các cuộn da.

Hình dưới đây là bộ "SeferTorah" được trưng bày tại "Sephardic Temple Tifereth Israel", Los Angeles, California, USA vào Chúa Nhật 21/09/2003. Bộ Torah này đã được ghi chép và sử dụng trong suốt 300 năm trước thời kỳ Pháp Đình Tôn Giáo Tây Ban Nha 1492. Khi toàn bộ Ngũ Kinh được chép trên một cuộn da, thì nó được gọi là "Torah". Toàn bộ Torah, nếu không cuộn lại, có thể dài đến 150 bộ (feet). Vì mỗi con chiên chỉ dài khoảng từ hai đến ba bộ, nên toàn bộ Torah được thực hiện phải cần đến cả một bầy chiên. Những viên ký lục người Do Tháikhó nhọc chép ra từng bộ Kinh là những người cầu toàn. Trong khi sao chép, nếu họ mắc lỗi, thì dầu là lỗi nhỏ nhất, chẳng hạn như khi lỡ chép hai ký tự của một chữ dính vào nhau, thì họ sẽ tiêu hủy toàn bộ mảnh da đó (từ ba đến bốn cột chữ trước chỗ có lỗi) và tiêu hủy luôn miếng da trước đó, vì đã chạm vào miếng da có chứa lỗi. Trong khi các Cơ-đốc nhân ngày nay có thể sẽ nghĩ rằng cách xử lý này là cuồng tín và thậm chí là tội thờ thần tượng (hầu việc Thánh Kinh, hơn là hầu việc Đấng đã ban Thánh Kinh cho chúng ta), nhưng việc làm này lại chứng minh rằng: Trong hai ngàn năm đầu tiên được lưu truyền, Lời Chúa đã được bảo quản một cách rất chính xác và đáng tin cậy.

Tiếng Hê-bơ-rơ và tiếng Anh có một điểm tương đồng: chúng đều là "những ngôn ngữ tượng hình". Các từ liệu của chúng hình thành một hình ảnh rõ ràng trong trí của bạn. Như William Tyndale, người đầu tiên in Thánh Kinh Anh ngữ, một lần nhận định rằng, việc phiên dịch từ tiếng Hê-bơ-rơ, so với các ngôn ngữ khác, sang tiếng Anh thì dễ hơn đến mười lần. Tyndale dĩ nhiên là người có đủ tư cách để đưa ra lời nhận định trên bởi vì ông là người thông thạo đến tám ngôn ngữ, thông thạo một ngôn ngữ ở đây có nghĩa là bạn có thể công nhận ông sử dụng ngôn ngữ nào cũng như là tiếng mẹ đẻ của ông.
 
Vào khoảng năm 500 trC, tất cả 39 sách của Thánh Kinh Cựu Ước đã được hoàn thành bằng tiếng Hê-bơ-rơ và được tiếp tục bảo tồn trên các cuộn da. Khi tiến đến những thế kỷ cuối cùng trước thời Đấng Christ, các sách chép về lịch sử của dân Do Thái, gọi là Ngụy Kinh (Apocrypha) được hoàn thành, nhưng chúng được ghi chép bằng tiếng Hy-lạp thay vì tiếng Hê-bơ-rơ. Cuối thế kỷ thứ nhất Công Nguyên, Thánh Kinh Tân Ước đã được hoàn thành. Nó được ghi lại bằng tiếng Hy-lạp, trên chỉ thảo (papyrus), một chất liệu mỏng giống như giấy, được làm từ những thân bị đập dập và cán mõng của một loại sậy. Từ "Kinh" (Bible) trong từ Thánh Kinh được bắt nguồn bởi từ "papyrus" trong tiếng Hy-lạp. Những tập chỉ thảo được đóng lại, hoặc buộc lại tương tự cách trình bày của những quyển sách hiện đại hơn so với những cuộn da kéo dài.

Tập hợp những ghi chép trên chỉ thảo này được gọi là "codex" (sách chép tay). Các bản sao chép sớm nhất của Thánh Kinh Tân Ước còn lại đến ngày nay mà chúng ta biết được là: bản Codex Alexandrius và bản Codex Sinaiticus tại "Bảo Tàng Thư Viện Anh quốc" ở Luân-đôn, và bản Codex Vaticannus ở Vatican. Chúng được chép vào khoảng năm 300. Vào năm 315, Athenasius, một giám mục xứ Alexandria, đã xác định 27 sách mà ngày nay, chúng ta gọi là kinh điển của Thánh Kinh Tân Ước.

Năm 382, giáo phụ của Hội Thánh thuở đầu là Jerome, đã phiên dịch Thánh Kinh Tân Ước từ nguyên bản tiếng Hi-lạp sang tiếng Latin. Bản Thánh Kinh được phiên dịch có tên là "Latin Vulgate". ("Vulgate" nghĩa là "thông tục" hoặc "bình dân"). Ông ghi chú ý bên cạnh các Ngụy Kinh (Apocrypha Books) rằng, ông không biết chúng có được Chúa soi dẫn hay không, hay chỉ là những ghi chép lịch sử của người Do Thái được viết thêm vào phần Thánh Kinh Cựu Ước.

Ngụy Kinh được giữ lại hầu như trong tất cả các bản Thánh Kinh chép tay hoặc bản in từ thuở ban đầu cho tới khoảng 120 năm trước, vào giữa thập niên 1880, là lúc chúng bị lấy ra khỏi những bản Thánh Kinh của Tin Lành. Trước thập niên 1880, mặc dầu có nhiều tranh cãi về việc Ngụy Kinh có được Chúa soi dẫn hay không, thì những tín đồ, dầu có phải Tin lành hay không, đều giữ lại Ngụy Kinh như là một phần của Thánh Kinh. Huyền thoại phổ thông cho rằng Ngụy Kinh thuộc về giáo hội "Công giáo La-mã" là không đúng. Huyền thoại này có lẽ phát sinh từ sự kiện giáo hội Công Giáo đã giữ lại 12 trong số 14 Ngụy Kinh trong các bản Thánh Kinh của họ trong khi các tín đồ Tin lành đã loại bỏ tất cả. Chẳng có một lý do chính xác nào từng được đưa ra để bảo vệ cho việc loại bỏ những ghi chép cổ đại của người Do Thái, là những ghi chép từ trước thời Đấng Christ, từng được giữ nguyên và là một phần của mỗi bản Thánh Kinh trong gần hai ngàn năm.

Vào năm 500, Thánh Kinh đã được phiên dịch sang hơn 500 ngôn ngữ. Chỉ một thế kỷ sau đó, năm 600, nó bị giới hạn trong chỉ một ngôn ngữ: bản dịch Latin Vulgate. Tổ chức giáo hội duy nhất, được công nhận vào thời điểm đó là Công Giáo của La-mã, và họ đã từ chối việc cho phép Thánh Kinh được dịch ra bất cứ ngôn ngữ nào ngoài tiếng Latin. Người nào sở hữu bản dịch Thánh Kinh khác Latin sẽ bị hành quyết! Lý do là, chỉ có các thầy lễ (priests) được dạy cho biết tiếng Latin, và điều này đem lại cho giáo hội quyền lực tối cao… là quyền thống trị mà không bị chất vấn… là quyền lừa dối… là quyền tống tiền quần chúng. Không ai có thể thắc mắc về những lời giảng "Thánh Kinh" được, bởi vì chỉ có một số ít người, ngoài những thầy lễ, có thể đọc tiếng Latin. Giáo hội đã làm giàu trên sự ngu dốt áp đặt này trong suốt 1000 năm. Thời kỳ từ năm 400 đến 1400 được biết đến với cái tên "Thời Trung Cổ Đen Tối".

Giáo hoàng Leo X đã thiết lập một thông lệ có tên là "bán bùa xá tội" như một cách để tống tiền mọi người. Ông hứa ban sự tha tội với một giá tiền tương đối nhỏ. Nếu bỏ ra thêm một ít tiền nữa, bạn sẽ được phép tiếp tục sống đời sống tội lỗi theo ý mình muốn, thí dụ như việc có tình nhân. Hơn nữa, nhờ sự phát minh ra "Ngục Luyện Tội", bạn có thể mua sự cứu rỗi linh hồn cho những người thân của bạn. Giáo hội giảng dạy với quần chúng dốt nát rằng: "Khi tiền trong hộp kêu lên, thì linh hồn tội lỗi nơi ngục luyện tội sẽ chỗi dậy!" (As soon as the coin in the coffer rings, the troubled soul from Purgatory springs!) Giáo hoàng Leo X đã phát biểu cảm nhận thật sự của ông khi thú nhận: "Truyền thuyết về Đấng Christ đem lại cho chúng ta khá nhiều lợi nhuận!"

Hội Thánh thật của Chúa ở đâu trong suốt những ngày đen tối này?

Tại đảo Scottish của Iona, vào năm 563, một người có tên Columba đã mở một Trường Thánh Kinh. Trong 700 năm sau đó, đây là nguồn của nhiều hoạt động giảng dạy Thánh Kinh Tin Lành không thuộc giáo hội Công Giáo trong suốt những thế kỷ của giai đoạn Trung Cổ Đen Tối. Những sinh viên của trường học này được gọi là "Culdees", có nghĩa là "người khách lạ". Culdees là một hội bí mật, và đức tin của những Cơ-đốc nhân chân thật còn xót lại được nuôi dưỡng nhờ vào những con người này trong suốt nhiều thế kỷ, dẫn đến Cuộc Cải Chánh Tin Lành.

Thật ra, người đầu tiên được gọi là "Culdee" chính là Giô-sép ở thành A-ri-ma-thê. Thánh Kinh cho chúng ta biết rằng Giô-sép ở thành A-ri-ma-thê đã dâng một phần mộ của mình cho Đức Chúa Jesus. Truyền thống cho chúng ta biết ông là Cậu của nữ đồng trinh Mary, và vì thế ông là ông cậu (hoặc ít nhất là ông cậu bà con xa) của Đức Chúa Jesus. Người ta cũng tin rằng Giô-sép ở thành A-ri-ma-thê đã đến British Isles trong một khoảng thời gian ngắn sau sự phục sinh của Đấng Christ, và tại đó, ông đã xây dựng Nhà Thờ Cơ-đốc đầu tiên trên đất. Cũng theo truyền thuyết, chúng ta được biết, rất có thể Đức Chúa Jesus đã dùng phần lớn khoảng đời trai trẻ (giữa tuổi 13 đến 30) du hành đây đó với ông cậu Giô-sép của Ngài… mặc dầu Thánh Kinh im lặng về những năm tháng này trong cuộc đời của Đức Chúa Jesus.

Vào cuối thập niên 1300, hội bí mật Culdees đã chọn ra John Wycliffe để lãnh đạo thế giới ra khỏi Thời Kỳ Đen Tối. Wycliffe được gọi là "Sao Mai của Cuộc Cải Chánh". Cuộc Cải Cách Tin Lành đó chỉ nhắm đến một điều: đem Lời của Đức Chúa Trời vào tay của quần chúng trở lại, trong chính tiếng mẹ đẻ của họ, nhờ đó sự thối nát của giáo hội sẽ bị phơi bày và sứ điệp về sự cứu rỗi chỉ có ở trong Đấng Christ, qua Thánh Kinh, và chỉ bởi đức tin, sẽ được rao giảng trở lại.

Chuyển ngữ: PaulTiep
Nguyên tác: The Pre-Reformation History of the Bible from 1,400 BC to 1,400 AD http://www.greatsite.com/timeline-english-bible-history/pre-reformation.html
 
Đọc Tiếp →
2,547 views

Giới Thiệu Tác Phẩm: Người Thiên Quốc

"Người Của Thiên Quốc" (Nguyên tác Anh ngữ: "The Heavenly Man") là một chi tiết lịch sử sống động trong vòng ba thập niên qua của Hội Thánh Chúa tại Trung Quốc, qua cuộc đời của một tôi tớ Chúa, anh Yun!

Chúng tôi đọc cuốn sách này qua bản Anh Ngữ và đã không cầm được nước mắt trước những thương khó mà Hội Thánh Chúa nói chung và các tôi tớ Chúa nói riêng, tại Trung Quốc, đã dự phần với Đấng Christ. Cuốn sách này, cùng với cuốn "Hoa Huệ Giữa Chông Gai" là những bài học thuộc linh quý giá, là những bản anh hùng ca đức tin, là chứng tích về tình yêu và quyền năng, phép lạ của Tin Lành cứu rỗi… dành cho con dân Chúa của thời đại hôm nay.

Cảm tạ Chúa đã cho Hội Thánh Việt Nam được hưởng ơn phước nếm trải phước hạnh được học hỏi những bài học thuộc linh quý giá khi Ngài sắm sẵn người dịch thuật hai tác phẩm nói trên. Trong thời gian sắp tới, www.tinlanhvietnam.net sẽ đăng tải tác phẩm "Hoa Huệ Giữa Chông Gai". Riêng về tác phẩm "Người Của Thiên Quốc" xin bạn đọc liên lạc với dịch giả ở cuối bài này để mua sách.

Trong phần giới thiệu này, chúng tôi xin đăng lời giới thiệu của dịch giả và ba chương trong tác phẩm.

Đôi lời của dịch giả Hoàng-Đức-Thành
về cuốn sách "Người Của Thiên Quốc"

Được dịch từ sách "The Heavenly Man" của tác giả Paul Hattaway
(Có giấy phép của Tác giả)

Sau khi đọc vài trang đầu của cuốn sách The Heavenly Man ‘Người của Thiên quốc’ tôi cảm thấy rất xúc động khi thấy một cậu bé người Trung Hoa tên Yun mong ước chỉ được nhìn thấy cuốn Kinh Thánh thôi, em nài nỉ mẹ đến mức độ mẹ em phải dẫn em đến một Mục sư đã ở tù ra vì phong trào Cách mạng văn hóa bên Trung quốc bắt bớ tất cả những nguời theo Chúa. Bà hy vọng là ông hãy còn cuốn Kinh thánh để em được nhìn thấy. Nhưng em không được toại nguyện, lần thứ hai em lần mò đến một minh mà còn được vị Muc sư căn dặn phải nhịn ăn cầu nguyện và khóc với Chúa ngày đêm mới được. Em kiêng ăn, em cầu nguyện, em khóc và em nằm mơ, em kể cho cha mẹ em nghe, cha mẹ tưởng em nhịn đói hóa điên. Nhưng em vẫn kiên trì kiêng ăn cầu nguyện. Cuối cùng em đã được Chúa sai người mang đến ban cho em cuốn Kinh Thánh như trong giấc mơ của em.

Nguyên mấy trang đầu đã khiến tôi muốn dịch cuốn sách này để chia xẻ với các anh chị em trong Chúa. Khi dịch, càng đi sâu vào cuốn sách nước mắt tôi không sao ngưng chẩy vì có nhiều đoạn lúc Yun lớn lên, em đã chịu nhiều cay đắng khổ cực khi em trở thành một nhà truyền giáo rất đắc lực cho Chúa.

Yun đã bị tù ba lần hầu hết là thời gian anh hầu việc Chúa. Anh bị hành hạ đau đớn khổ sở, anh nhịn ăn, nhịn uống 74 ngày trong tù, anh lại càng bị đánh đập nhiều hơn. Anh chịu đựng được là nhờ những Lời Chúa anh thuc lòng trong Kinh thánh. Họ đánh anh thậm chí què luôn cả hai chân không đi được. Nhưng Chúa vẫn yêu thương anh và dùng anh, Chúa đã cứu anh trốn tù bằng những phép lạ. Chúa cũng cho anh xuất khỏi Trung quốc cũng qua phép lạ để anh tiếp tục sứ mạng rao truyền Danh Chúa, cứu vớt linh hồn lạc lõng trở về. Ra khỏi Trung quốc mà anh vẫn phải vô tù, theo anh đó là ý Chúa muốn vì anh chưa làm xong nhiệm vụ. Không những vậy anh còn gánh nặng gia đình gồm vợ và hai con sống trốn tránh rất cực khổ khi vắng anh và sau này tìm cách vượt biên để xum họp gia đình với anh tại Đức quốc.

Theo tác giả Paul Hattaway, đây là một câu chuyện có thật, càng đọc tôi càng thấy Lời Chúa do tác giả dẫn chứng thật là sâu-sắc và là ngọn đèn soi sáng cho những con cái Chúa hầu việc Ngài trong lúc gặp hoạn nạn khổ đau. Chúa luôn luôn lúc nào cũng ở cùng chúng ta.

Xin kính mời quí vị hãy đọc cuốn sách này để biết thêm về vị trí của mình trong bước đường theo Chúa.

Chương Một

Những Buổi Ban Đầu Khiêm Tốn

Tên tôi là Liu Zhenying, những bạn Cơ đốc của tôi thường gọi tôi là anh Yun.

Vào một buổi sáng mùa thu năm 1999, tôi thức dậy trong thành phố Bergen thuộc miền tây nước Thụy điển. Lòng tôi thấy rộn ràng và hồi hộp sôi sục trong tôi. Tôi đã nói chuyện tại những Hội Thánh suốt xứ Scandinavia, làm chứng về những Hội Thánh Tư gia bên Trung quốc và mời những Cơ đốc nhân đến với chúng tôi vì chúng tôi truyền rao Phúc âm cho khắp nước Trung Hoa và cả những quốc gia ngoài nữa. Những người tôi mời, họ hỏi tôi là nếu tôi muốn đến thăm mộ cô Marie Monsen, mt nữ Giáo sĩ Lutheran nổi tiếng tại Trung quốc, cô là người đã được Chúa sử dụng một cách mãnh liệt để phấn hưng các Hội Thánh ở nhiều nơi trong xứ sở tôi từ năm 1901 đến 1932. Mục vụ truyền giáo của cô đặc biệt nhằm vào phía nam tỉnh Henan, nơi mà tôi từ đó đến.

Cô Monsen là một mẫu người nhỏ nhắn, nhưng là rất to lớn, một vĩ nhân trong vương quốc của Chúa. Hi Thánh Trung quốc chẳng những đã bị chấn động bởi lời giảng của cô mà lại còn bị thách thức mãnh liệt bởi nếp sống của cô. Cô hoàn toàn dâng hiến đời mình và đầu phục Chúa Jê-sus mt cách cương quyết. Cô để lại cho chúng tôi một tấm gương sáng về sự chịu đựng và thương khó khi hầu việc Chúa.

Chúa sử dụng Marie Monsen bằng một cách đầy quyền năng, do đó nhiều phép lạ, dấu kỳ và những việc lạ lùng đã xẩy đến trong mục vụ của cô. Cô trở về Thụy điển năm 1932 để phụng dưỡng cha mẹ già và kể từ đó công việc hầu việc Chúa của cô tại Trung quốc coi như hoàn tất. Cô không bao giờ còn trở lại Trung Hoa nữa, nhưng để lại một đức tin bất khuất, lòng sốt sắng không thể dập tắt được và sự cần thiết trong việc thay đổi lòng người để được hoàn toàn giao phó những gì Đấng Christ mong muốn vẫn còn sống mãi trong các Hi Thánh Trung Hoa cho tới ngày nay.

Bây giờ thì tôi có một đặc quyền lớn là viếng thăm mộ của cô ngay tại xứ sở của cô. Tôi tự hỏi không biết có người Cơ đốc Trung Hoa nào đã bao giờ được hưởng thụ đặc quyền mà tôi sắp thụ hưởng không? Khi cô đến phần đất Trung Hoa của chúng tôi, lúc đó chỉ có vài người tin Chúa và Hi Thánh rất yếu ớt. Ngày nay có hàng triệu tín đồ. Thay mặt cho họ tôi tỏ lời cảm tạ Chúa cho cuc đời của cô.

Xe của chúng tôi leo lên nghĩa địa, bên cạnh ngọn đồi trong thung lũng chật hẹp với con sông chảy qua. Chúng tôi đi b xung quanh vài phút hy vọng thấy tên của cô trên một trong hàng trăm tấm mộ bia. Không tài nào kiếm thấy mộ cô Monsen, chúng tôi bèn đến văn phòng để hỏi. Người quản nhiệm tại đó cũng không quen với tên của cô nên phải lật sách coi trong danh sách những người chết đã chôn ở đây. Sau khi lật những trang giấy ông ta nói với chúng tôi rằng thật là khó khăn mới kiếm thấy rằng ‘Marie Monsen thực sự đã chôn cất tại đây vào năm 1962. Nhưng mộ của cô không được ai chăm sóc nhiều năm qua, do đó ngày nay chỉ là mt khu đất trống mà không có mộ bia.

Theo phong tục người Trung Hoa việc tưởng nhớ những người quá cố rất được thịnh hành trong nhiều thế hệ nay, do đó tôi không bao giờ ngờ được rằng sự việc đó lại xẩy ra. Những tín hữu địa phương cắt nghĩa rằng họ đã tưởng nhớ tới cô bằng nhiều cách, tỉ như in sách nói về tiểu sử của cô sau khi cô chết. Nhưng đối với tôi việc không làm dấu tích gì mộ của cô là một sỉ nhục mà cần phải sửa đổi lại cho đúng.

Tôi thật đau lòng. Với tấm lòng nặng trĩu tôi nghiêm nghị nói với những Cơ đốc nhân Thụy điển đi cùng với tôi: ‘Các anh chị phải vinh danh người phụ nữ trong Chúa này! Tôi để cho qúy vị hai năm nữa để xây cất một ngôi m và mộ bia tưởng nhớ đến Marie Monsen, nếu qúy vị không làm, tôi sẽ dàn xếp với những anh chị em Cơ đốc khác đi bộ suốt từ bên Trung Hoa đến Thụy điển để xây! Có rất nhiều anh em tại Trung Hoa rất khéo léo về việc đẽo đá vì họ ở trong tù nhiều năm, lao động trong tù vì Tin Lành của Chúa. Nếu qúy vị hờ hững họ sẽ rất sẵn lòng để làm việc đó.’

* * *

Tôi sanh năm 1958, trong năm nhuận của Trung quốc – là ngưòi con thứ tư trong số năm người con trong gia đình. Tôi ra đời trong một làng cổ xưa sống theo cổ truyền chuyên về nghề nông có tên là Liu LaoZhuang trong Phường Nanyang, ở về phía nam tỉnh Henan Trung quốc.

Henan gồm có khoảng 100 triệu linh hồn – là một tỉnh Trung quốc rất đông dân cư. Mặc dù vậy dường như cũng có nhiều nơi bỏ hoang nơi tôi lớn lên – có nhiều đồi để trèo, nhiều cây để leo. Mặc dù đời sống khó khăn, nhưng tôi cũng vẫn còn nhớ thời gian vui đùa khi tôi còn là đứa trẻ.

Tất cả 600 người trong làng tôi đều là tá điền, và họ còn làm cho tới ngày giờ này. Không thay đổi gì nhiều lắm. Chúng tôi phần lớn trồng khoai, bắp và lúa mạch. Chúng tôi cũng trồng bắp cải và nhiều loại củ.

Nhà của chúng tôi theo kiến trúc rất đơn giản gồm đất sét khô. Mái thì lợp bằng rơm dạ. Nước mưa thường chảy qua những lỗ hổng trên mái, về mùa đông thì gió lạnh không bao giờ quên thổi qua những kẽ hở của tường. Khi nhiệt độ hạ xuống dưới độ đông lạnh thì chúng tôi đốt những vỏ khô của bắp còn lại để cho ấm. Chúng tôi không thể cung cấp than được.

Thường thì vào mùa hè, trời nóng và ẩm thấp chúng tôi không thể nào chịu nổi khi ngủ bên trong nhà với lối thoáng khí nghèo nàn. Chúng tôi kéo giường ra ngoài và cả gia đình chúng tôi cùng với một số gia đình trong làng ngủ với gió mát ngoài trời.

‘Henan’ có nghĩa là ‘phía Nam con sông’ Con sông tên Mầu vàng đã phân xé phần đất phía Bắc của tỉnh. Nó thường lụt ti và đã mang bệnh hoạn đến từ nhiều thế kỷ nay cho những người sống dọc theo bờ sông. Chúng tôi biết như vậy vì chúng tôi lớn lên tại đó, nhưng đối với chúng tôi miền Bắc Henan rng có cả triệu dặm xa.

Làng của chúng tôi được qui tụ trong những trái đồi ở phần phía Nam của tỉnh, an toàn khi bị ngập lụt và ngoài vòng ảnh hưởng. Chúng tôi chỉ quan tâm đến mùa gặt tới. Đời sống của chúng tôi hoàn toàn xoay quanh chu kỳ của việc cầy sới, trồng trọt, tưới nước và gặt hái. Cha tôi thường nói chịu khổ để có đủ thực phẩm mà ăn. Cho nên các bàn tay đều phải sử dụng ngoài đồng, dù tôi còn nhỏ tôi cũng bị gọi ra ngoài đó để giúp anh và chị tôi. Bởi vậy cho nên, tôi không có cơ hi đến trường học nhiều.

So với vùng khác của Trung Hoa ai sanh tại Henan thì có tiếng là bướng bỉnh như lừa. Có lẽ vậy mà tính bướng bỉnh này đã ngăn cản những người tại Henan tin nhận Chúa khi những Giáo sĩ Tin lành đến tỉnh này lần đầu tiên vào năm 1884. Có nhiều nhà Truyền giáo hầu việc tại Henan mà không thấy kết quả gì. Vào năm 1922 sau gần bốn mươi năm cố gắng truyền giảng mà chỉ có 12,400 tín hữu Tin lành cho toàn tỉnh bộ. Những kẻ chấp nhận tin vào tôn giáo ‘con quỉ ngoại bang’ thì trông rất nực cười và bị dân chúng tẩy chay. Thường thường sự chống đối tràn ra đến độ họ dùng cả đến những từ ngữ hung bạo. Những Cơ đốc nhân bị đánh đập. Có cả vài người bị giết vì đức tin. Ngay cả những Giáo sĩ cũng vậy, phải đối diện với hình phạt đó. Nhiều người gán cho những Giáo sĩ là công cụ của đế quốc thực dân, được gởi từ những nước của họ đến để thu hút lòng dân chúng Trung Hoa ngõ hầu chính quyền họ sẽ xâm chiếm đất đai, cướp nguyên liệu thiên nhiên. Sự lăng nhục những người ngoại quốc đã lên đến cực điểm vào năm 1990 khi có một hi bí mật được gọi là ‘Những người đô vật’ xúi dục toàn dân tẩy chay những người ngoại quốc.

Đa số trốn thoát khỏi ngoại trừ có nhiều Giáo sĩ sống ở những nơi xa xôi hẻo lánh tại ni địa Trung quốc, xa hẳn với nơi an toàn như những thành phố lớn ven biển. Những tên đô vật tàn nhẫn tàn sát hơn 150 Giáo sĩ và cả ngàn người Trung Hoa mới tin nhận Chúa.
Những linh hồn can đảm này đã đến để cứu vớt quốc gia chúng tôi, mang tình yêu của Chúa Jê-sus Christ đến cho chúng tôi họ đã hy sinh và bị thảm sát. Họ đã đến để đồng công với Đấng Christ nâng cao mức sống của chúng tôi bằng việc xây cất nhà thương, viện mồ côi và trường học. Vậy mà chúng tôi đã trả ơn họ bằng sự tàn sát.

Hậu qủa có người tưởng là với biến cố năm 1900 đủ để làm cho những nhà Truyền giáo sợ hãi mà sẽ chẳng bao giờ đến nữa.

Nhưng họ đã lầm.

Vào ngày 1 tháng chín năm 1901, mt chiếc tầu lớn đậu ở bến cảng Shanghai. Một người đàn bà trẻ độc thân từ Thụy điển đã đặt chân lên đất Trung Hoa lần đầu tiên tên là Marie Monsen cô là một trong những làn sóng mới các Giáo sĩ đã thông biết sự tàn sát năm trước đây đã hiến dâng mình hầu việc Chúa truyền giáo toàn thời gian cho nước Trung Hoa.

Monsen ở tại Trung quốc hơn ba chục năm. Thời gian mà cô sống ở khu vực chúng tôi, Nanyang, cô đã khuyến khích và huấn luyện cho mt nhóm tín hữu Trung Hoa bừng dậy lên.
Marie Monsen khác với những Giáo sĩ khác. Cô dường như không quan tâm đến việc đề cao những người lãnh đạo các Hi Thánh. Cô thường nói với họ rằng ‘Quí vị là những người ích kỷ! quí vị chỉ nhận ti với Chúa Jê-sus Christ bằng đầu môi chót lưỡi trong khi đó lòng quí vị chưa thực sự hứa hẹn với Ngài! Hối cải việc đó thì quá mun để thoát khỏi sự phán xét của Chúa!’ Cô đã mang lửa từ bàn thờ Chúa đến.

Cô Monsen nói với những Cơ đốc nhân là học biết về sự tái sanh như vậy chưa đủ, họ phải tái sanh tận gốc rễ để được vào vương quốc của Chúa. Với lời dạy dỗ như vậy cô đã nhấn mạnh gt bỏ sự hiểu biết qua lý trí đối với Chúa mà họ phải có trong ni tâm mt cuc sống đầy dãy Thánh linh. Những tấm lòng đã hối cải vì ti lỗi và lửa phục hưng đã thổi qua các làng trung tâm Trung quốc bất cứ nơi nào cô đặt chân tới.

Vào năm 1940 một Giáo sĩ phương Tây khác đến giảng về Lời Chúa cho mẹ tôi, lúc đó bà mới hai mươi tuổi. Mặc dù bà không hoàn toàn hiểu nhưng bà rất có thiện cảm với những gì bà nghe. Đặc biệt là bà thích hát thánh ca và nghe những chuyện trong Kinh thánh mà những nhà truyền giáo chia xẻ trong nhóm nhỏ khi họ đi thăm viếng miền quê. Chẳng bao lâu mẹ tôi đến nhóm với Hội Thánh và trao trọn cuc đời cho Chúa Jê-sus Christ.

Trung quốc trở thành mt nước Cng sản vào năm 1949, trong vòng vài năm sau tất cả các Giáo sĩ đều bị trục xuất, các nhà thờ đóng cửa, và hàng ngàn vị Mục sư Trung Hoa bị nhốt tù. Nhiều người mất mạng. Mẹ tôi trông thấy những Giáo sĩ rời khỏi Nanyang trước năm 1950. Bà không bao giờ quên những giọt nước mắt trên má họ khi họ phải ra bến cảng dưới sự dẫn độ của những người lính có võ trang. Mục vụ của họ đã chấm dứt một cách tức tưởi.

Chỉ có một thành phố tại Trung quốc là Wenzhou ở tỉnh Zheuiang có 49 Mục sư bị nhốt tù khổ sai gần biên giới Liên sô vào năm 1950. Nhiều người bị kết án trên mười hai năm về ti đã rao giảng Tin Lành. Trong số 49 Mục sư chỉ có mt người sống sót và trở về nhà còn 48 người kia đều chết trong tù.

Khu vực nhà tôi ở Nanyang, những tín đồ bị đóng đinh lên tường của nhà thờ vì đã không từ chối Đấng Christ. Những người khác thì bị xích vào xe và ngựa kéo lết đi cho tới chết.
Có mt vị Mục sư bị trói và ct vào một sợi dây thừng dài. Chức quyền giận điên lên vì người của Chúa này không chịu từ chối đức tin nên họ đã dùng chiếc cần của xe cần trục kéo ông lên cao. Trước hàng trăm nhân chứng đến buộc tội gian là ‘chống đối cách mạng’, vị Mục sư được hỏi lần cuối cùng rằng ông có chịu từ chối không. Ông la lớn lên trả lời: ‘Không! tôi sẽ không bao giờ từ chối Chúa của tôi là Đấng đã cứu tôi!’ Chiếc dây thừng được thả xuống và vị Mục sư bị dập nát dưới mặt đất.

Sau khi khám xét, những tên hành hạ đó đã khám phá thấy vị Mục sư chưa chết hẳn nên chúng dựng ông dậy kéo ông lên cao lần thứ hai thả dây xuống để kết liễu đời ông. Trong cuộc đời này vị Mục sư đã chết nhưng ông sống trên Thiên đàng với phần thưởng của một người đã trung kiên cho tới chết.

Cuộc đời không có gì là khó khăn đối với những Cơ đốc nhân. Chủ tịch Mao đã đề xướng ra một kinh nghiệm mà ông ta gọi là ‘Một bước nhẩy vọt’ cái đó đã kéo theo một đống người chết đói tại Trung Hoa. Thực sự bước nhảy vọt đó đã kéo tổ quốc họ thụt lùi. Ở trong tỉnh tôi tại Henan có vào khoảng tám triệu người chết đói.

Trong thời kỳ khó khăn đó có Hội Thánh bé nhỏ còn non nớt được mọc rải rác ở phố tôi ở là Nanyang. Họ như những con chiên không có người chăn. Mẹ tôi cũng phải rời khỏi Hội Thánh. Qua những thế hệ sau, vì hoàn toàn đói khát về sự thông công với các tín hữu và không có Lời Chúa. Mẹ tôi quên hầu hết những gì bà đã học khi bà còn trẻ. Sự tương giao với Chúa đã trở nên ngụi lạnh.

* * *

Vào ngày 1 tháng Chín năm 2001 – đúng một trăm năm kể từ ngày mà cô Marie Monsen lần đầu tiên đến Trung quốc để truyền giáo – có trên ba trăm Cơ đốc nhân người Thụy điển đến tụ tập tại nghĩa địa Bergen để cầu nguyện và làm mt buổi lễ hiến dâng. Một mộ bia mới được đặt lên để tưởng nhớ cô Monsen đã trả giá cho việc đóng góp của bà vào các Hi Thánh và những cá nhân người Cơ đốc.

Hình cô Monsen và tên cô bằng tiếng Trung Hoa được xuất hiện trên mộ bia như sau:

Marie Monsen 1878 -1962
Giáo sĩ tại Trung Quốc 1901-1932

Chương Hai

Người Đói Khát Được No Bụng

‘Hỡi các cù lao, hãy nghe ta! Hỡi các dân xa lạ hãy ghé tai! Đức Giê-hô-va đã gọi ta từ trong bụng mẹ đã nói đến danh ta từ lòng dạ mẹ ta.’ (Ê-sai 49:1)

Chúa đã gọi tôi theo Ngài lúc tôi mới 16 tuổi. Năm đó là năm 1974, và cuộc Cách mạng văn hóa vẫn còn dữ di khắp Trung Hoa.

Lúc đó cha tôi bị đau. Ông bị xuyễn rất nặng, nó làm cho ông bị ung thư phổi. Ung thư đó đã lây ra bao tử của ông. Bác sĩ cho hay ông không thể cứu được nữa và sẽ chết, và nói với mẹ tôi: ‘Không còn hy vọng gì cho chồng bà nữa, hãy về lo sửa soạn chôn cất.’

Mỗi đêm cha tôi nằm trên giường rất khó thở. Vì là người mê tín dị đoan nên cha tôi đã nhờ những người hàng xóm kiếm cho mt thầy phù thủy đến để tống khứ ma quỉ khỏi ông, vì ông tin rằng bệnh hoạn của ông là do kết quả của sự tức giận của ma quỉ.

Bệnh hoạn của cha tôi đã làm cho chúng tôi hết cả tiền của và sức lực. Bởi vì sự nghèo đói của chúng tôi mà tôi không được đến trường học cho tới khi tôi lên chín, rồi thì tôi phải nghỉ học lúc mười sáu tuổi vì bệnh ung thư của cha tôi. Anh chị tôi và tôi buc phải đi xin thức ăn tại hàng xóm và bạn bè để sống.

Cha tôi trước kia là Đại úy trong Quân đi Quốc gia, ông đã chiến đấu chống Cộng sản, những người ở làng khác và những ngươi bị hành hạ rât ghét ông trong cuc cách mạng văn hóa. Cha tôi đã giết rất nhiều người trong chiến trận và chính ông cũng súyt chết. Ông bị tất cả mười hai vết sẹo đạn bắn vào chân ông.

Khi tôi mới sanh, cha tôi đặt tên tôi là ‘Zhenying’ tên này có nghĩa là ‘Anh hùng của đơn vị đồn trú’
Cha tôi có tiếng là hay sợ sệt. Hàng xóm tránh né ông vì tính nết hung dữ của ông. Khi Đi Phòng vệ Đỏ đến để buc ti ông trong thời cách mạng văn hóa, ông phải chịu đựng nhiều cuc tra tấn đánh đập. Ông đã can đảm từ chối nhận ti và không trả lời khi hỏi đến việc ông đã giết bao nhiêu người. Ông cứng đầu thà là bị đánh hay là bị giết chứ không muốn nói cho chúng biết những gì chúng muốn nghe.

Có hai phương diện của cha tôi. Hầu hết mọi người đều biết cha tôi cực kỳ cứng rắn và nóng tính. Điều đó là đúng. Ông đã răn dạy các con hai điều chính yếu: thứ nhất là phải tàn bạo và cứng rắn với kẻ khác, thứ hai là luôn luôn phải làm việc tích cực.

Nhưng tôi cũng còn nhớ về mặt hòa nhã của ông. Ông luôn luôn che chở vợ con từ những hãm hại bên ngoài. Nói chung là tôi rất gần với cha tôi. Tôi hy vọng cha tôi sức khỏe khá hơn, nhưng trường hợp còn tồi tệ hơn. Mẹ tôi ở trong thế nặng nề, đối diện với những viễn tượng nản chí phải mt mình nuôi nấng năm đứa con. Bà không biết những gì sẽ xảy đến cho chúng tôi nếu cha tôi chết. Mọi sự đều vô vọng đến nỗi bà dự định tự vận.

Có một đêm khi mẹ tôi nằm trên giường, hoàn toàn thức giấc. Bất chợt bà nghe thấy rõ ràng tiếng nói dịu dàng đầy thương xót nói rằng: ‘Chúa Jê-sus yêu con.’ Bà quì gối xuống sàn và nước mắt trào ra hối lỗi và trao trọn vẹn cuc đời bà cho Chúa Jê-sus Christ. Giống như người con hoang đàng, mẹ tôi đã trở về nhà với Chúa. Ngay lập tức bà gọi hết mọi người trong gia đình đến và cầu nguyện với Chúa Jê-sus. Bà nói với chúng tôi ‘Chúa Jê-sus là nguồn hy vọng duy nhất của cha con.’ Tất cả mọi chúng tôi dâng cả đời sống cho Chúa khi chúng tôi biết sự việc đó xảy ra. Chúng tôi, mọi người đặt tay lên cha tôi trong đêm và lớn tiếng cầu nguyện: ‘Lạy Chúa Jê-sus, xin Ngài chữa lành cho cha con! Chúa Jê-sus ơi xin Ngài chữa cho cha con!’

Ngay sáng sớm hôm sau cha tôi thấy khỏe hẳn lại! Đây là lần đầu tiên trong những tháng dài ông ăn đã thấy ngon miệng. Trong vòng một tuần lễ cha tôi bình phục hoàn toàn và không còn dấu vết gì là bị ung thư! Thật là một phép lạ vĩ đại từ nơi Chúa.

Chúng tôi đã kinh nghiệm được sự phấn hưng từ nơi Chúa trong gia đình và đời sống của chúng tôi đã thay đổi mt cách mạnh mẽ. Thật đó là mt thời gian tác đng mạnh trong ngày hôm đó vì gần 30 năm sau khi Chúa Jê-sus chữa lành bệnh cho cha tôi, tất cả năm người con của ông vẫn còn theo Chúa.

Cha mẹ tôi rất đi ơn Chúa về những điều Ngài đã làm và cha mẹ tôi đã tức thì làm chứng tin vui này cho mọi người trong làng. Vào những ngày đó tụ họp là bất hợp pháp, nhưng cha mẹ tôi nghĩ ra mt chương trình là sai chúng tôi đi mời họ hàng bè bạn đến nhà chúng tôi.

Mọi người đến nhà chúng tôi cũng không biết lý do gì được mời đến. Nhiều người đoán chắc là cha tôi chết, do đó họ đã mặc quần áo chỉnh tề để dự đám tang! Họ rất ngạc nhiên là thấy cha tôi ra chào đón họ ở ngoài cửa, trông b thật khỏe mạnh! Khi tất cả họ hàng và bạn bè đã đến đông đủ, cha mẹ tôi mới mời họ vô trong nhà. Khóa cửa và che cửa sổ lại rồi cha mẹ tôi mới giải thích rằng cha tôi hoàn toàn được chữa lành bởi sự cầu nguyện với Chúa Jê-sus. Tất cả họ hàng bạn bè đều quì gối xuống sàn nhà và vui mừng tiếp nhận Chúa Jê-sus là Chúa là Chủ của họ.

Những giây phút đó thật là lý thú. Không những tôi tiếp nhận Chúa Jê-sus là Cứu Chúa của đời sống tôi nhưng tôi cũng còn trở nên một người thực sự muốn hầu việc Ngài với tất cả tấm lòng.

Mẹ tôi chưa bao giờ học đọc và viết chữ, nhưng bà đã trở nên mt người giảng lời Chúa trong làng. Bà đã hướng dẫn một Hi Thánh nhỏ trong nhà chúng tôi. Mặc dù còn nhỏ tôi không thể nhớ nhiều lời Chúa nhưng mẹ tôi luôn luôn cổ vũ chúng tôi hướng về Chúa Jê-sus. Khi mà chúng tôi lớn tiếng kêu cầu Chúa thì Chúa Jê-sus giúp đỡ chúng tôi với lòng thương xót của Ngài. Nhìn trở lại những ngày đó mới đây, tôi rất đỗi ngạc nhiên sao Chúa đã sử dụng mẹ tôi mặc dù bà vô học và chẳng biết gì cả. Chí hướng trong lòng bà hoàn toàn trao cho Chúa Jê-sus. Có mt vài giới lãnh đạo các Hội Thánh Tư gia tại Trung quốc gặp Chúa lần đầu tiên cũng do lời giảng của mẹ tôi.

Lúc đầu tôi thực sự không biết Chúa Jê-sus là ai, nhưng khi nhìn thấy Chúa chữa lành bệnh cho cha tôi và giải phóng gia đình tôi. Tôi hiến dâng cuc đời tôi một cách tin tưởng cho Chúa, Đấng đã chũa lành cho cha tôi và cứu tôi. Trong thời gian ấy, tôi thường hỏi mẹ tôi Chúa Jê-sus thực sự là ai. Bà trả lời :’Chúa Jê-sus là Con của Đức Chúa Trời, Ngài đã chết trên thập tự giá vì chúng ta, gánh lấy hết ti-lỗi và bệnh tật của chúng ta. Ngài đã ghi tất cả những điều dạy dỗ của Ngài trong Kinh thánh.’

Tôi hỏi rằng có những lời nào của Chúa Jê-sus còn lại để tôi có thể đọc được không. Bà trả lời: ‘Không, tất cả những lời ấy đã bị mất rồi. Không có gì còn lại qua lời của Ngài. Đó là vì trong thời kỳ cách mạng văn hóa Kinh thánh không còn thấy nữa.’

Kể từ ngày đó tôi thiết tha mong muốn có mt cuốn Kinh thánh của riêng tôi. Tôi hỏi mẹ tôi và các bạn Cơ đốc rằng cuốn Kinh thánh hình thù nó giống ra sao, nhưng chẳng ai biết cả. Có một người đã trông thấy một khúc Thánh kinh viết tay và các tờ bài hát nhưng chưa bao giờ được thấy nguyên cuốn Kinh thánh. Chỉ có một vài Cơ đốc nhân già cả có thể nhớ lại đã nhìn thấy Kinh thánh nhiều năm trước đây. Lời của Chúa thật là hiếm hoi trong ni địa.Tôi thật thèm khát có được một cuốn Kinh thánh. Nhìn thấy sự thất vọng của tôi, mẹ tôi nhớ lại có mt ông cụ già sống ở làng bên.

Ông đã là một Mục sư trước ngày cách mạng văn hóa.
Hai mẹ con tôi bắt đầu đi b thật xa đến được nhà ông. Khi thấy ông, mẹ tôi nói với ông lòng khao khát của chúng tôi:

‘Chúng tôi mong chờ hoài để được nhìn thấy cuốn Kinh thánh, cụ có cuốn nào không?’

Tức thì ông nhìn chúng tôi một cách sợ hãi. Ông già này đã bị gần 20 năm trong tù vì đức tin của ông. Ông nhìn tôi và nhìn thấy tôi còn trẻ và nghèo nàn, với b quần áo rách tả tơi đi chân không. Ông già cảm thấy thương hại nhưng cũng vẫn không muốn cho tôi thấy cuốn Kinh thánh của ông.

Tôi không trách cứ gì ông bởi vì trong những ngày ấy tại Trung quốc Kinh thánh rất hiếm. Không ai được phép đọc bất cứ sách nào ngoại trừ cuốn sách nhỏ màu đỏ của Mao. Nếu thấy ai đọc Kinh thánh thì Kinh thánh sẽ bị đốt và người có cuốn Kinh thánh với cả gia đình sẽ bị đánh đập tàn nhẫn ngay trước mặt làng xóm.

Vị Mục sư cao niên chỉ vẻn vẹn nói với tôi: ‘Cuốn Kinh thánh là mt cuốn sách Thánh, nếu cháu muốn có một cuốn thì cháu cần phải cầu nguyện với Chúa ở trên Thiên đàng. Thì Ngài sẽ cung cấp cho cháu cuốn sách Thánh ấy. Chúa là thành tín. Ngài luôn luôn nhậm lời khi ai tìm kiếm Ngài với tất cả tấm lòng.

Tôi hoàn toàn tin tưởng ở lời của vị Mục sư này.

Khi tôi trở về nhà, tôi vác một hòn đá vào trong phòng tôi và quì lên đó cầu nguyện vào mỗi chiều tối. Tôi chỉ cầu nguyện có mt điều đơn giản: ‘Chúa ơi, Chúa làm ơn cho con cuốn Kinh thánh, A-men.’ Lúc đó tôi không biết cách cầu nguyện ra làm sao, nhưng tôi cứ tiếp tục hơn một tháng.

Không có gì xảy ra cả. Kinh thánh cũng không thấy xuất hiện.

Tôi trở lại nhà của vị Mục sư đó nữa. Lần này tôi đi một mình. Tôi nói với cụ: ‘Cháu đã cầu nguyện Chúa theo như lời cụ dạy, nhưng cháu vẫn chưa nhận được cuốn Kinh thánh mà cháu rất cần. Cụ ơi, cụ làm ơn cho cháu thấy cuốn Kinh thánh ra sao đi, chỉ liếc mắt nhìn thôi cháu cũng mãn nguyện rồi! Cháu cũng không cần sờ vào cuốn đó nữa. Cụ cứ giữ lấy nó. Cháu cũng hả lòng khi được nhìn thấy cuốn sách đó. Nếu cháu có thể chép được một vài câu thì cháu sẽ sung sướng khi về nhà.’

Vị Mục sư này nhìn thấy lòng áy náy của tôi. Cụ lại nói với tôi thêm nữa: ‘Nếu cháu thực lòng, thì từ nay cháu khỏi cần quì gối cầu nguyện với Chúa nữa, nhưng cháu phải kiêng ăn và khóc với Chúa. Cháu càng khóc nhiều chừng nào thì cháu sẽ có cuốn Kinh thánh sớm chừng đó.’

Tôi trở về nhà, mổi sáng và mỗi chiều tôi chẳng ăn uống gì. Mỗi buổi chiều tôi chỉ húp có chút ít cháo hoặc ăn chút cơm. Tôi kêu gào khóc lóc như đứa trẻ đối với Cha nó trên Thiên đàng là muốn được đầy lời dạy dỗ của Cha. Một trăm ngày sau, tôi cầu nguyện xin mt cuốn Kinh thánh cho tới chừng tôi không thể chịu đựng nổi được nữa. Cha mẹ tôi tin chắc là tôi đã mất trí.

Nhìn lại những năm trước gần đây, tôi có thể nói rằng đây là những kinh nghiệm khó khăn nhất mà tôi đã từng chịu đựng.

Rồi thì bỗng nhiên mt buổi sáng lúc 4 giờ, sau nhiều tháng xin Chúa trả lời những lời cầu nguyện của tôi, tôi đã được nhìn thấy một khải tượng từ nơi Chúa trong lúc tôi quì gối bên cạnh giường. Trong khải tượng ấy tôi thấy tôi đang leo lên mt ngọn đồi, cố đẩy mt chiếc xe phía trước tôi. Tôi hướng về một làng nơi này tôi dự định xin thức ăn cho gia đình tôi. Tôi cố sức vật ln vì đói và yếu và đã chịu đựng khi kiêng ăn. Chiếc xe gần như tụt xuống đè lên tôi.

Lúc đó tôi thấy có ba người đang đi tới xuống đồi hướng nghịch về phía tôi. Có một người lớn tuổi thật tốt, ông để b râu quai nón dài đang đẩy mt xe đầy bánh bao nóng hổi. Hai người kia đi cặp hai bên xe. Khi ông già đó nhìn thấy tôi, ông rất thương hại tôi và để tỏ lòng thương xót, ông hỏi tôi: ‘Cháu có đói không?’ Tôi trả lời: ‘Thưa có, cháu chẳng có gì để ăn cả. Cháu đang đi xin thức ăn cho gia đình cháu.’Tôi khóc vì gia đình quá nghèo. Vì cha tôi bị bệnh, chúng tôi đã bán hết mọi thứ đáng giá để mua thuốc cho cha tôi. Chúng tôi còn chút ít tiền để sống, và cũng đã nhiều năm nay chúng tôi đã buc phải đi xin thức ăn từ các bạn bè và hàng xóm. Khi mà ông già đó hỏi tôi, tôi có đói không, tôi không thể đừng được mà bật lên tiếng khóc. Tôi chưa bao giờ thấy mt tình yêu chân thật và lòng trắc ẩn của bất kỳ người nào trước đây như vậy.

Trong khải thị đó, ông già cầm một bao đỏ có bánh từ trong chiếc xe ra và bảo hai người hầu cận trao cho tôi. Ông nói: ‘Cháu phải ăn ngay đi.’

Tôi liền mở bao ra và nhìn thấy một chiếc bánh bao còn nóng hổi bên trong. Khi tôi bỏ chiếc bánh vô miệng, bất chợt nó trở thành cuốn Kinh thánh! tôi thấy tôi bất thình lình qùy xuống với cuốn Kinh thánh và lớn tiếng cảm tạ ơn Chúa. ‘Chúa ơi, Danh Chúa đáng tôn thờ! Chúa không coi thường lời cầu nguyện của con. Chúa đã cho phép con có được cuốn Kinh thánh này. Con muốn hầu việc Chúa suốt cuc đời còn lại của con.’

Tôi thức dậy bắt đầu đi kiếm cuốn Kinh thánh trong nhà. Mọi người trong nhà đều ngủ cả. Khải thị tôi thấy thật là rõ rệt khi tôi thể hiện thì nó chỉ là mt giấc mộng, tôi thật là đau khổ, tôi khóc thật là lớn. Cha mẹ tôi vi chạy ùa vô phòng tôi để xem việc gì đã xẩy ra. Cha mẹ tôi cho rằng tôi phát khùng vì tôi đã nhịn ăn để cầu nguyện . Tôi kể lại cho cha mẹ tôi về khải thị đó của tôi, nhưng khi tôi càng chia xẻ thì cha mẹ tôi lại càng cho tôi là điên khùng! Mẹ tôi nói: ‘Trời chưa sáng, chưa có ai đến nhà mình. Cửa còn khóa kỹ.’

Cha tôi ôm chặt lấy tôi. Với nước mắt trào ra, ông khóc với Chúa. ‘Chúa kính yêu ơi, xin Chúa thương xót con của con. Xin Chúa đừng để cho con của con mất trí. Con sẵn lòng bị bệnh trở lại nếu việc đó làm cho con của con khỏi mất trí. Xin Chúa háy cho con của con mt cuốn Kinh thánh!’

Cha tôi, mẹ tôi và tôi quì xuống tay trong tay và cùng khóc.

Bất thình lình tôi nghe thấy tiếng gõ cửa yếu ớt. Một tiếng nói êm dịu gọi tên tôi. Tôi vi chạy đến và hỏi qua cửa khóa: ‘Ông mang bánh đến cho tôi hả?’ Tiếng nói êm dịu trả lời: ‘Vâng, tôi mang đến mt bữa tiệc bánh cho cậu.’ Tức thì tôi nhận ra ngay tiếng nói đó y như tiếng nói tôi đã nghe trong khải tượng.

Tôi vi mở cửa ra thì đứng xững trư

Đọc Tiếp →
2,643 views

Người Thiên Quốc: Cuộc Vượt Ngục Lạ Lùng

Chương Hai Mươi Hai

Cuộc Vượt Ngục Lạ Lùng

Hãy chờ dậy và đứng lên’ (Công vụ các Sứ đồ 26:16)

Đây là một điểm thấp nhất trong đời tôi là tôi đã cay đắng than phiền Chúa.

Tôi đã 39 tuổi rồi mà không thấy tương lai hy vọng gì cho tôi cả. Tôi nói với Chúa: ‘Khi con còn trẻ, Chúa gọi con để đi rao truyền Tin Lành cho Chúa ở phương Tây và phương Nam. Bây giờ con làm sao có thể làm được? Con ngồi ở đây trong tù với đôi chân gẫy và cam chịu mục nát ở chỗ này cho đến ngày con chết. Con cũng không bao giờ được gặp gia đình con nữa. Chúa đã đánh lừa con!’

Có rất nhiều tin đồn những gì sẽ xảy đến cho tôi nữa. Ngay cả bên ngoài, những tín hữu biết rằng việc bắt bớ tôi rất là nghiêm trọng vì đó là lệnh từ chính quyền trung ương. Và bây giờ, anh Xu lại đề nghị với tôi là tôi phải tìm cách trốn! Tôi biết anh Xu là người của Chúa, anh thường nghe tiếng phán của Chúa rất gần, do đó tôi trịnh trọng trả lời với anh rằng: Chân tôi bị nát rồi và tôi bị khóa cứng trong sà-lim tôi với cửa sắt. Tôi cũng không thể đi được nữa! làm sao tôi trốn? Chân anh không sao cả. Tại sao anh không trốn đi?’

Vào một buổi chiều ngày 4 tháng Năm năm 1997, cũng giống như buổi chiều của sáu tuần trước, tôi cúi xuống cầm lấy chân lê lết của tôi. Cơn đau ê ẩm suốt cả thân người tôi khi tôi chống đôi chân lên tường. Tôi cảm thấy như vậy dễ chịu giảm cơn đau. Bằng cách sảng khoái làm cho máu dồn đi nơi khác khỏi chân tôi, nó sẽ trở nên tê bại và tôi có thể ngủ ngon suốt đêm.

Sáng sớm ngày hôm sau, đang lúc trong tình trạng nản chí mất hy vọng thì Chúa khuyến khích tôi với lời hứa trong sách Hê-bơ-rơ 10:35: ‘Vậy chớ bỏ lòng dạn dĩ mình, vốn có một phần thưởng lớn đã để dành cho.’ Tôi tỉnh dậy với lời đó trong trí tôi.

Vi nhà tù từ từ khơi động đời sống tôi, tôi bắt đầu đọc sách Giê-rê-mi. Chúa cho thấy sự liên hệ đến vết thương của tôi và hoàn cảnh của tôi trong lối sống cá nhân cực kỳ mạnh mẽ. Dường như là điều mà Chúa Thánh Linh nói trực tiếp với tôi qua những lời: ‘Mắt ta rơi lụy đêm ngày chẳng thôi: vì gái đồng trinh của dân ta bị tồi tàn, bị thương rất là đau đớn… Vậy thì Ngài bỏ hết Giu-đa sao? Lòng Ngài đã gớm ghét Si-ôn sao? Làm sao Ngài đã đánh chúng tôi, không phương chữa lành?Đương đợi sự bình an mà chẳng có sự lành, đương trông kỳ lành bịnh, mà gặp sự kinh hãi.’ (Giê-rê-mi 14:17, 19, 21).

Tôi cảm thấy giống hệt Giê-rê-mi. Tôi bị áp đảo mà dường như Chúa đã bỏ mặc tôi để cho tôi mục nát trong tù mãi mãi. Tôi khóc với Chúa bằng những lời của Giê-rê-mi: ‘Chúa ơi, tại sao Ngài làm con đau đớn mà không chữa lành được cho con? Con mong muốn sự bình an mà chẳng thấy gì tốt đến với con cả. Chúa ơi, xin Ngài đừng khinh miệt con.’

Tôi đọc tiếp: ‘Hỡi mẹ tôi ơi, khốn nạn cho tôi! Mẹ đã sanh ra tôi làm người mắc phải sự tranh đua cãi lẩy trong cả đất! Tôi vốn không cho ai vay mượn, cũng chẳng vay mượn ai; dầu vậy, mọi người nguyền rủa tôi.’ (Giê-rê-mi 15:10)

Lại lần nữa những lời dường như lật qua trang giấy đi vào trí óc tôi. Đó là giờ phút thiêng liêng như chính Chúa đầy quyền năng đã ngự xuống xà-lim tôi và nói chuyện với tôi mặt đối mặt.

Trong người tôi quá đau đớn và tất cả như bắt đầu tuôn ra truớc mặt Chúa. Tôi khóc nức nở: ‘Chúa Jê-sus ơi, giống như Giê-rê-mi nói, mọi người muốn chống con và rủa sả con. Con không thể’chịu đựng nổi nữa. Con đã tới cuối cùng của con rồi.’

Tôi khóc thảm thiết đến nỗi mắt tôi sưng húp đầy nước mắt. Chúa an ủi tôi giống như người cha yêu quí đang ôm đứa con vô lòng. Chúa yên lòng tôi theo câu sau: ‘Đức Giê-hô-va phán: Thật ta sẽ bổ sức cho ngươi được phuớc. Trong khi gặp tai vạ hoạn nạn, thật ta sẽ khiến kẻ thù nghịch đến cầu xin ngươi.’ (Giê-rê-mi 15:11)

Từ tận đáy lòng tôi, tôi khóc với Chúa qua sách Giê-rê-mi 15:16-18: ‘Tôi vừa nghe những lời Ngài, thì đã ăn lấy rồi; lời Ngài là sự vui mừng hớn hở của lòng tôi vậy. Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân, vì tôi được xưng bằng danh Ngài! Tôi chẳng ngồi trong đám hội kẻ vui chơi mừng rỡ, nhưng tôi ngồi một mình vì tay Ngài ; vì Ngài đã làm cho tôi đầy sự giận. Cớ sao sự đau đớn của tôi cứ còn hoài? Cớ sao vết thương của tôi không chữa được và nó không chịu khỏi? Ngài đối với tôi hẳn như cái khe giả dối, cái suối tắt mạch hay sao?’

Nhiều lúc tôi hỏi Chúa tại sao con cứ bị đau như vậy. Con không thể chịu đựng được nữa. Lòng con thấy chán nản rồi và con sẵn sàng bỏ cuộc.

Lời Chúa lại đến với tôi với những lời cảnh cáo nghiêm trọng và lời hứa: ‘Vậy nên, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nếu ngươi trở lại thì ta sẽ lại đem ngươi đứng trước mặt ta; nếu ngươi làm cho sự quí lìa khỏi sự hèn, thì ngươi sẽ như những người chẳng trở về cùng chúng nó.Ta sẽ khiến ngươi làm tượng đồng vững bền cho dân này, họ sẽ đánh với ngươi, nhưng không thắng ngươi được, vì ta ở cùng ngươi đặng cứu ngươi và giải thoát ngươi. Đức Giê-hô-va phán vậy. Ta sẽ rút ngươi ra khỏi tay kẻ ác, sẽ chuộc ngươi khỏi tay kẻ bạo tàn.’ (Giê-rê-mi 15:19-21)

Ngay khi tôi đọc được những câu này, khải tượng mạnh mẽ bất chợt đến với tôi mặc dù tôi đang thức.

Tôi thấy vợ tôi Deling ngồi bên cạnh tôi. Nàng vừa mới được thả ra khỏi tù và lấy ra một ít thuốc. Vợ tôi yêu mến chăm sóc vết thương cho tôi. Tôi cảm thấy được khích lệ và hỏi nàng: ‘Em được thả rồi hả?’

Vợ tôi trả lời: ‘Tại sao anh không mở cái cửa sắt kia ra?’

Trước khi tôi có thể trả lời thì nàng đi ra khỏi phòng và khải thị của tôi chấm dứt.

Chúa nói với tôi: ‘Đây là thì giờ của sự cứu rỗi của con.’

Ngay tức thì tôi biết liền đây là một khải thị từ Chúa và rằng tôi phải vượt ngục.

Xà-lim đơn độc của tôi cùng chung tường với sà-lim của anh Xu và một vài tín đồ khác. Chúng tôi đã có những hiệu báo với nhau trước rằng nếu một trong chúng tôi bị nguy kịch cần cầu nguyện gấp thì chúng tôi sẽ gõ hai tiếng vào tường.

Anh Xu nghe thấy tiếng gõ của tôi.

Tôi gọi tên gác. Hắn đến cửa tôi và hỏi tôi muốn gì. Tôi nói với hắn tôi cần đi vệ sinh ngay bây giờ.’

Vì đây là công việc của anh Xu là cỗng tôi, nên tên gác mở cửa của anh và ra lệnh cho anh cõng tôi đến nhà tắm.

Mỗi khi tù nhân được phép ra khỏi xà-lim thì chiếc cổng sắt ở hành lang phải khóa lại, như vậy tù nhân không có cơ hội trốn. Phòng chứa cầu thang dẫn xuống tới sàn cuối cùng ở phía bên kia của chiếc cổng. Chúng tôi cũng vẫn bị hoàn toàn nhốt bên trong. Chiếc cổng mở cho người từ bên ngoài vào cũng không mở được từ phía bên trong.

Mỗi từng trong nhà tù đều được bảo vệ bởi một chiếc cổng bằng sắt. Thường thì có hai người gác cổng đứng canh hai bên cổng, do đó để ra ngoài sân nhà tù tôi phải đi qua ba chiếc cổng sắt qua ba từng lầu, và qua sáu người gác.

Anh Xu đến cửa tôi. Ngay khi anh vừa nhìn thấy tôi là anh ra lệnh cho tôi: ‘Anh phải vượt ngục!’, rồi anh trở lại sà-lim của anh, và thâu lượm bàn chải đánh răng và khăn tắm để người gác tưởng rằng anh sửa soạn dùng nhà tắm.

Khi anh Xu trở lại, anh lại nghiêm nghị ra lệnh: ‘Yun, anh phải vượt ngục!’

Tôi chỉ mặc bộ quần áo lót thôi, càng lẹ càng tốt, tôi cởi quần dài ra. Tôi viết câu Kinh Thánh gốc của Giăng và I Phi-e-rơ vô giấy đi cầu dài để chứng tỏ nó là dây nịt của lẽ thật, quấn theo lời Chúa chung quanh hông tôi. Tôi cầu nguyện: ‘Chúa ơi, Chúa đã chỉ cho con thấy rằng con phải rời khỏi nhà tù này. Bây giờ con vâng lời Chúa và con sẽ cố gắng vượt ngục. Nhưng nếu những người gác bắn con xin Chúa nhận linh hồn con vào nơi ở trên thiên đàng của Ngài.’

Bây giờ là đã hơn sáu tuần lễ kể từ khi chân tôi bị dập nát. Dù chỉ đè nặng một chút lên chân cũng đau nhức vô cùng. Nhưng tôi tin tưởng rằng Chúa đã nói với tôi trong ba cách khác nhau mà tôi có thể vượt ngục được là: qua lời Ngài, qua khải thị mà tôi nhận được sáng nay và qua lời anh Xu.

Tôi được biết rằng khi Chúa phán với chúng ta làm điều gì thì không có thì giờ để bàn cãi hoặc lý lẽ, mặc dù hoàn cảnh nào ngay trước mặt. Khi chúng ta chắc rằng Chúa đã bảo chúng ta hành động như tôi trong hoàn cảnh này, hãy nhắm mắt vâng lời theo tiếng gọi. Không vâng lời Chúa với ngụ ý rằng mình khôn hơn Chúa và mình biết cách sống tốt hơn Ngài.

Lúc đó là đúng trước tám giờ sáng ngày 5 tháng Năm năm 1997. Theo ý nghĩ tự nhiên thì thời gian này là lúc xấu nhất để trốn tù! Thường thì vào lúc đó có rất nhiều hoạt động trong tù, với những người gác vào vị trí.

Tôi bước ra khỏi sà-lim của tôi và hướng thẳng tới cửa sắt khóa ở hành lang. Trí óc tôì chỉ nhằm vào việc vâng lời Chúa. Tôi nhìn thẳng phía trước và cầu nguyện qua hơi thở mỗi bước tôi đi.

Người gác bấm vào nút khi hắn muốn mở hoặc đóng cổng, hắn ngồi ở đỉnh tầng thứ ba phòng cầu thang. Không thể nào nhìn thấy phía bên kia cổng, bởi vì cổng làm bằng sắt và chỉ có một cái cửa sổ nhỏ được che bằng miếng vải mầu đen. Vào đúng lúc tôi bước tới cổng, một tôi tớ Chúa anh Musheng đang đi trở về sà-lim của anh và cái cổng mở ra cho anh. Sáng hôm đó anh được lệnh quét sân nhà tù. Khi Musheng đi ngang qua tôi, tôi nói với anh: ‘Khoan đã, đừng đóng cổng vội.’ Tôi bước qua một cách dễ dàng! Thời điểm Chúa sắp xếp thật là hoàn hảo!

Khi chúng tôi qua ngang nhau, Musheng thầm thì hỏi tôi: ‘Anh Yun, anh rời khỏi đây à? Anh không sợ chết à? Rồi với bộ mặt kinh ngạc của anh, anh trở về xà-lim anh.

Cũng có một người gác đi cùng Musbeng dẫn anh trở về xà-lim, nhưng đúng lúc hắn mở cửa cho Musheng thì tiếng điện thoại reo trong văn phòng tại hành lang, người gác vội quay trở lại chạy đến trả lời điện thoại.

Tôi thấy có cái chổi để dựa vào tường ở phòng cầu thang. Tôi lượm lấy và tiếp tục bước đi với nó xuống cầu thang lầu hai. Một tên gác có súng đang ngồi tại bàn giấy hướng mặt về cổng thứ hai. Cổng đó đôi khi để ngỏ. Bởi vì người gác trong phiên mình được chỉ định canh cổng ngày và đêm, không sợ có chuyện gì xảy ra khi để cổng ngỏ. Vào lúc đó Chúa Thánh Linh nói với tôi: ‘Đi ngay! Chúa của Phi-e-rơ là Chúa của con!’.

Không biết làm sao dường như Chúa làm mù tên gác. Hắn nhìn thẳng vào tôi, vậy mà mắt hắn không biết một chút gì sự có mặt của tôi. Tôi đợi hắn nói điều gì, nhưng hắn nhìn qua tôi như tôi là người vô hình!

Hắn chẳng nói lấy một lời.

Tôi tiếp tục qua hắn và không quay nhìn trở lại. Tôi biết tôi có thể bị bắn phía sau bất kỳ lúc nào. Tôi tiếp tục lẳng lặng xin Chúa là tôi đã sẵn sàng để Chúa tiếp nhận linh hồn tôi, tôi luôn nghĩ đến phút cuối cùng của đời tôi trên thế gian này.

Tôi tiếp tục đi xuống cầu thang, nhưng không có ai chặn tôi lại và chẳng có tên gác nào nói với tôi một lời!

Khi tôi tới cổng chính dẫn ra ngoài sân, tôi khám phá thấy cổng đã mở! Thật là lạ lùng, luôn luôn cổng này là một cái cổng an toàn nhất. Thường thường có hai người gác tại cổng tầng thứ nhất, một người bên trong và một người bên ngoài, nhưng không biết vì lý do nào mà không có ai gác và cổng chỉ khép hờ!

Tim tôi đập thình thịch! Bây giờ tôi đang đứng ngoài đường phố bên ngoài trại tù Zhengzhou số một về an ninh! Sau
này tôi được cho biết là chưa bao giờ có ai trốn thoát khỏi trại tù
này trước đây.

Ngay lập tức có một chiếc xe taxi mầu vàng chạy sà ngay cạnh tôi và người tài xế khoảng hơn 20 tuổi mở cửa phía bên hành khách cho tôi. Anh hỏi: ‘Anh muốn tôi chở tới đâu?’

Tôi bước vào và trả lời: ‘Tôi cần phải đến văn phòng của tôi càng lẹ càng tốt, vậy làm ơn chạy cho lẹ.’ tôi cho anh tài xế địa chỉ của một gia đình Cơ đốc nhân mà tôi biết ở Zhengzhou và chúng tôi lái xe xa khỏi trại tù. Tôi nói với anh tài xế nếu bị kẹt xe anh cố tránh, tiếp tục lái đừng có ngừng bất cứ lý do gì.

Tất cả mọi biến cố này dường như chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn. Như là một giấc mộng ban ngày. Tôi không chắc rằng mọi sự thật đã xảy ra hoặc là tôi đang trong giấc mơ. Tôi không biết bằng cách nào mà Chúa đã làm như vậy hoặc tại sao những cửa sắt thường thì khóa chặt, nay lại để ngỏ cho tôi. Tất cả tôi biết là hiện giờ tôi đang ngồi trên xe taxi và đang hướng tới nhà của bạn tôi.

Khi chúng tôi tới nơi, tôi yêu cầu người tài xế đợi tôi chốc lát để tôi đi mượn tiền trả tiền xe.

Tôi trèo lên bậc thang ba từng lầu của cư xá và bấm chuông hai lần. Một trong những người con gái của gia đình nhìn qua lỗ khóa ở cửa và nhận ra ngay là tôi. Chị rất xúc động nói: ‘Ô, anh Yun, anh đã được thả ra khỏi nhà thương (có nghĩa là nhà tù)!’

Tôi nói: ‘Vâng, tôi đã rời khỏi nhà thương, nhưng tôi không xuất khỏi theo lối thông thường. Chị có thể cho tôi mượn ít tiền để trả tiền cho tài xế taxi?’

Chị thật là xúc động khi thấy tôi, đến nỗi quên cả mở cửa cho tôi vào! Cuối cùng chị trở ra đưa cho tôi tiền. Tôi vội chạy xuống trả tiền cho anh tài xế đang đợi tôi.

Gia đình Cơ đốc nhân quí hóa này đã đón tiếp tôi hết sức nồng nhiệt tại nhà. Một trong những người con gái này nói với tôi: ‘Cả Hội Thánh đã kiêng ăn cầu nguyện cho anh và cho những cộng sự viên của anh hơn một tuần lễ nay. Ngày hôm qua Chúa Thánh Linh nói với mẹ tôi là: ‘Ta sẽ thả Yun ra và nơi đầu tiên mà Yun sẽ ở là nhà của con. Anh ấy sẽ ở đây trong thời gian ngắn và sẽ cầu nguyện với con.’

‘Cha mẹ tôi nói với chúng tôi là rất trông chờ ngày anh đến và chúng tôi cũng đã kiếm một chỗ ở bí mật để anh trốn. Không ai khác biết chỗ này ngoại trừ chúng tôi. Hãy đi với tôi, thay quần áo đi rồi chúng tôi sẽ đến dẫn anh tới chỗ đó.’

Sau khi chúng tôi cùng nhau cầu nguyện, tôi được trao cho chiếc xe đạp và một người trong gia đình ngồi phía sau, chỉ đường cho tôi đến nơi tôi sẽ trốn, đi xuống những con đường nhỏ một cách thông thạo để tránh chỗ chặn đường họ đang khám xét trên những con đường chính vì sự vượt ngục của tôi.

Lúc mà tôi khởi sự đạp xe đạp đó là lúc đầu tiên tôi thấy Chúa đã chũa lành bàn chân và chân tôi! Đầu óc tôi khi đó chỉ chú tới sự vâng lời Chúa và sửa soạn để bị bắn mà tôi không bao giờ để ý đến Chúa đã chữa lành vết thương cho tôi. Tôi không cảm thấy quyền năng chữa lành của Ngài. Từ lúc chân tôi bị đánh dập nát bằng gậy cho đến khi tôi trốn tù, chân tôi vẫn nguyên mầu đen hoàn toàn và không thể xử dụng được. Tôi cũng không thể đứng đậy được, đi bộ một mình được. Cái mà tôi có thể làm được nhiều nhất là bò khoảng đường ngắn mà phải bám vào tường.

Anh Musheng sau này nói với tôi rằng khi anh đi qua tôi trên tầng thứ ba, tôi đi như thường lệ, như vậy dường như Chúa phải chữa lành chân tôi trong khi tôi hãy còn ở trong sà-lim.

Khi tôi đạp trên xe đạp tôi lại nhớ đến lời của Chúa:

‘Khá làm đường thẳng cho chân anh em theo, hầu cho kẻ nào què khỏi lạc đường mà lại được chữa lành nữa.’ (Hê-bơ-rơ 12:13)

Ngay khi chúng tôi tới chỗ trốn, thiêng đàng mở ra. Mưa xối xả như thác lũ rải khắp thành phố Zhengzhou và gió rít lên đập vào cửa sổ và thổi bay cả chiếc xe đạp. Đó là cơn bão khổng lồ. Dù rằng lúc đó vẫn còn ban ngày mà bầu trời trở nên đen xậm.

Tôi vô trong nơi trốn và ở lại một mình. Gia đình thân yêu này đối xử với tôi giống như thiên sứ từ trên thiên đàng. Họ đặt người trong gia đình bên ngoài cửa tôi ngày cũng như đêm để canh gác cho tôi.

Sau này những bạn Cơ đốc nói với tôi rằng họ được xem báo cáo trên đài vô tuyến truyền hình về mục tin tức vào buổi chiều nói đến vụ trốn tù của tôi. Văn phòng cảnh sát an ninh, văn phòng ANCC và Quân đội nhân dân giải phóng được động viên để truy lùng tôi. Họ lùng kiếm từng nhà ở Zhengzhou từ cửa này qua cửa kia. Họ cho ngăn chặn các đường phố tại những ngã tư đường chính và kiếm trong từng xe. Những tên gác được gởi đi tới các trạm xe buýt, ga xe lửa và phi trường.

Tôi còn được cho biết những con chó được huấn luyện đánh hơi của sở cảnh sát cũng được dùng để kiếm hơi tôi, nhưng tất cả những cố gắng đó đều vô ích. Tôi được an toàn trong nơi trốn kín đáo của Chúa. Giông tố đã cản trở những chức quyền và rửa sạch những vết tích của tôi.

Chúa nhắc nhở tôi về mười ba năm về trước, trong thời gian 74 ngày kiêng ăn, tại sao Chúa cho tôi thấy khải tượng mạnh mẽ là một loạt những cửa sắt được mở ra từ cái nọ đến cái kia.

Bây giờ, những năm đó sau này, lời hứa của Chúa đã thành sự thật. Tôi lấy làm lạ về lòng tốt của Chúa và sự trung tín của Ngài đối với tôi. Từ ngày đó tôi coi sự vượt ngục của tôi là một sự kiện lạ lùng nhất trong đời tôi.

* * *

Anh Xu: Sau khi anh Yun cố gắng vưột ngục bằng cách nhảy qua cửa sổ rồi anh bị gẫy chân. Rồi chúng đánh anh khủng khiếp trong bùn, nghiền nát chân anh thêm để sau này anh không còn có thể đi bộ được nữa.

Khi tôi trông thấy thân xác anh ngất xỉu được vác trở về xà-lim, mặt anh đầy những bùn. Chúng đánh vào đầu anh, do đó anh không còn nghe được trong một thời gian.Sau khi chúng tôi bị thuyên chuyển về nhà tù Zhengzhou, tôi được trao cho mộtviệc là cõng anh Yun đến nhà tắm, phòng thẩm vấn trong tù vì anh bị tàn phế và rất là đau đớn. Nhờ lối đó mà chúng tôi có thể có được thời gian ngắn ngủi để liên lạc được với nhau khuyến khích lẫn nhau trong Chúa, và tăng cường cho nhau thêm đức tin. Ngay dù chúng tôi không thể nói được với nhau, nhưng chỉ nhìn nhau cũng cho chúng tôi sức mạnh và sự thông công. Tôi cõng Yun đi trở về con đường dài nên trao đổi với nhau những kinh nghiệm rất nhiều về ân điển của Chúa.

Tôi nói với Yun là Chúa muốn anh trốn tù. Chúa còn căn dặn kỹ là nói với anh như vậy. Tôi có cảm tưởng là Chúa muốn Yun trốn, nhưng Ngài muốn tôi nói.

Một buổi sáng nọ Chúa trực tiếp cho Yun thấy đã đến giờ vượt ngục. Khi anh đi bộ xuống cầu thang trong tù hướng về sân thì một người anh em Cơ đốc đi vô. Cửa an ninh mở ra đúng vào lúc anh Yun bước ra!

Người anh em đó vội chạy đến xà-lim chúng tôi báo cho mọi người biết là anh đã nhìn thấy anh Yun bước ra khỏi tù! Tất cả tù nhân chúng tôi trèo lên để nhìn qua cửa sổ ra sân. Chúng tôi nhìn thấy anh Yun đi bộ qua cổng chính nhà tù tới nơi tự do!

Hành động lòng thương xót của Chúa và quyền năng của Ngài đã khuyến khích chúng tôi rất nhiều. Một lần nữa chúng tôi lại thấy đối với Chúa chẳng có gì là khó cả. Tuyệt đối là không có gì.

Ngài nắm giữ đời sống chúng ta trong tay, không có gì xảy ra cho một trong những đứa con của Chúa, ngoại trừ đó là phần của chương trình Ngài để nó xảy ra trong đời sống chúng ta.

Tôi tin có một điều là tại sao Chúa chọn thả anh Yun ra trong trường hợp hãn hữu như vậy, đó là bởi vì chính quyền nhà tù đã chế nhạo Chúa và Yun khi chúng đập nát chân anh. Chúng nói: ‘Chúng tao muốn bây giờ mày trốn đi!’ Chúa luôn luôn đợi đến lúc gặp sự thử thách!

Vài phút sau khi Yun vượt ngục, những tên gác khám phá ra thiếu mất anh, một đám rất đông lính gác bổ đi lùng kiếm. Mộtcuộc điều tra đều khắp tổ chức bởi chính quyền để tìm ra tại sao một người tù tàn phế bị kiểm soát nghiêm ngặt lại có thể đi bộ ra khỏi trại tù và biến mất!

Thật là hấp dẫn, cuộc điều tra kết luận là Yun đã không được sự giúp đỡ nào của con người từ những tù nhân khác hay những người gác trong lúc anh trốn tù.

Tôi đã thử dò hỏi thì đó là hoàn toàn đúng.

Đó tất cả là do bàn tay tối cao của Đức Chúa Trời đầy quyền năng.

* * *

Anh Musheng: Tôi có cái đặc quyền được chứng kiến việc trốn khỏi tù của anh Yun năm 1997, do bàn tay của Chúa.

Tôi được kêu làm việc tại sân của trại tù vào lúc bảy giờ sáng hôm đó. Khi tôi trở về xà-lim của tôi, dẫn độ bởi một tên gác, chúng tôi ngừng lại để đi qua chiếc cổng bằng sắt an ninh. Tôi không thể tin được rằng tôi trông thấy Yun đi bộ ra! Chúng tôi đều biết là anh Yun bị tàn phế nên tôi nói là tôi thật ngạc nhiên thấy anh đi bộ, đó là một điều nói sai? Anh đi thẳng ngang qua tôi, nhưng tên gác đi cùng tôi không trông thấy anh gì hết.

Ngay cả cho tới khi tôi trở về xà-lim rồi mà tôi cũng nhớ rằng anh không đi bộ đưọc kể từ khi chân anh bị gãy. Tôi là một trong ba người khiêng anh đi chỗ này chỗ kia trong tù. Ngay cả những tên gác cũng gọi anh là ‘tên què’. Chân của anh hoàn toàn bầm tím vì những trận đánh đòn. Anh không thể nào tự làm được gì cả vì tình trạng đau đớn của anh. Chúng tôi cũng còn phải tắm cho anh và thay quần áo cho anh.

Trí óc tôi mới bắt đầu hé mở là Yun đang cố vượt ngục. Tôi tức thì quì xuống nài xin Chúa cứu sống anh vì tôi nghĩ rằng những tên gác không có lý do gì để anh ra khỏi sân nhà tù nên họ có thể bắn anh. Tôi trèo lên cửa sổ xà-lim và nhìn anh đi qua cái sân và biến mất qua cái cổng.

Có lẽ có khoảng ba chục tên gác tù ở ngoài sân trong lúc đó, nhưng không tên nào để ý đến anh Yun trốn tù! Anh còn đi bộ thẳng qua mặt chúng nữa.

Một lúc sau thì một trận mưa lớn đến. Trở lại trên tầng thứ ba trong trại tù, tên gác thấy thiếu anh Yun ngay sau vài phút lúc anh Yun trốn. Hắn đi kiếm khắp nơi, gọi ầm lên: ‘Tên què, mày ở đâu?’. Lúc ban đầu thì tên gác có vẻ từ từ; nhưng kiếm một số nơi mà anh Yun có thể trốn nhưng không thấy. Hắn càng lúc càng lo sợ. Vào khoảng năm phút sau hắn rung chuông báo động và cả trại tù ồn ào về việc Yun vượt ngục.

Chức quyền trong tù thẩm vấn chúng tôi nhưng chúng tôi thành thực trả lời chúng tôi không giúp Yun bằng cách nào cả. Hai tên gác bị mất việc.

Để mua tác phẩm này trong Anh ngữ, xin theo link sau đây:
"The Heavenly Man"

Để mua tác phẩm này trong Việt ngữ, xin liên lạc với dịch giả:

Hoang-duc-Thanh
9218 Buffalo Bend Lane
Houston, TX 77089-5800
Tel. 281-485-4705
Webpage www.vnbaptist.net/HDT/
Email address: hoangdthanh32@yahoo.com

Đọc Tiếp →
4,516 views

Biên Niên Sử Hội Thánh: Thế Kỷ Thứ Nhất

Năm 30

Đức Chúa Jesus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá, chịu chết và chôn, đến ngày thứ ba, Ngài đã sống lại từ trong sự chết. Trước khi thăng thiên và hẹn ngày trở lại, Ngài ban truyền mệnh lệnh cho các môn đồ: "Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta. Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Ðức Cha, Ðức Con, và Ðức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế" (Ma-thi-ơ 28:19, 20).

Trong ngày lễ Ngũ Tuần đầu tiên, kể từ sau các sự kiện kể trên, Đức Thánh Linh giáng lâm, Hội Thánh được chính thức hình thành và trong ngày đó, qua bài giảng của Sứ đồ Phi-e-rơ, có khoảng ba ngàn người thêm vào Hội Thánh (Công Vụ 2).

Năm 41

Thành phố Jerusalem được mở rộng. Những tường thành mới được xây dựng và bao gồm luôn đồi Sọ, nơi Đức Chúa JesusChrist bị đóng đinh, vào trong phạm vi của thành phố.

Năm 42

Hội Thánh tại Jerusalem bị bách hại lần đầu tiên. Nhiều thánh đồ lánh sang thành Antiốt và thiết lập Hội Thánh tại đó. Gia-cơ, anh của Giăng, bị chém đầu (Công Vụ 12:2).
 
Năm 43

Ba-na-ba đem Phao-lô đến thành An-ti-ốt (Công Vụ 11:25-26). Trong năm này, Hoàng Đế La-mã Claudius (41-54) chinh phục Anh Quốc (Britain).

Năm 44

Vua Hê-rốt Ạc-ríp-ba Đệ Nhất, vua xứ Giu-đê và Sa-ma-ri qua đời (Công Vụ 12:23).

Năm 45

Hội Thánh An-ti-ốt qua Phao-lô và Ba-na-ba gửi tặng phẩm đến các tín hữu xứ Giu-đê để cứu đói.

Năm 47-49

Chuyến truyền giáo đầu tiên của Sứ Đồ Phao-lô và Ba-na-ba (Công Vụ 13-14). Theo Sử Gia La-mã Suetonius (70-122) ghi lại trong tác phẩm "The Twelve Caesars" thì Hoàng Đế La-mã Claudius trục xuất dân Do-thái ra khỏi La-mã vì họ liên tục nổi loạn chống lại Cơ-đốc giáo.

Năm 49/50

Công Đồng Jerusalem nhóm tại Jerusalem và biểu quyết tín đồ dân ngoại không buộc phải chịu phép cắt bì (Công Vụ 15). Hoàng Đế La-mã Claudius cổ võ sự thờ lạy Magna Mater, "Mẹ Vĩ Đại Của Các Thần" (Great Mother of The Gods) và Attis, chồng của nữ thần. Hai tà thần này chính thức trở thành thần của người La-mã vào khoảng năm 200 TCN.

Năm 50

Chuyến truyền giáo thứ nhì của Sứ Đồ Phao-lô, có Si-la và Ti-mô-thê cùng đi (Công Vụ 15-18). Phao-lô trải qua các thành Phi-líp, Tê-sa-lô-ni-ca, Bê-rê, A-thên, Cô-rinh-tô, Ê-phê-sô, Sê-sa-rê, và Jerusalem trước khi trở về thành An-ti-ốt.

Năm 51

Từ thành phố Cô-rinh-tô, Phao-lô viết thư cho Hội Thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca.

Năm 53

Từ thành An-ti-ốt (?) Phao-lô viết thư cho Hội Thánh Ga-la-ti. Chuyến truyền giáo thứ ba của Phao-lô khởi đầu trong xứ Ga-la-ti, và Phi-ri-gi trước khi ông đến và ở lại lâu dài tại Ê-phê-sô. Phao-lô ở lại Ê-phê-sô từ năm 53 cho đến năm 55/56 (Công Vụ 18-19).

Năm 55

Từ thành Ê-phêsô Phao-lô viết thư thứ nhất cho Hội Thánh Cô-rinh-tô.

Năm 55/56

Phao-lô rời thành Ê-phê-sô (Công Vụ 20:1), ghé thăm xứ Ma-xê-đoan và thành Cô-rinh-tô. Từ xứ Ma-xê-đoan ông viết lá thư thứ hai cho Hội Thánh Cô-rinh-tô.

Năm 57

Từ thành Cô-rinh-tô Phao-lô viết thư cho Hội Thánh Rô-ma. Ông rời Hy-lạp, ngang qua thành Trô-ách, giảng cho các trưởng lão tại Ê-phê-sô.

Năm 57-59

Phao-lô bị cầm tù tại Sê-sa-rê dưới thời tổng đốc Phê-lít và Phê-tu (Công Vụ 23-26).

Năm 60

Phao-lô bị giải đến La-mã (Công Vụ 28).

Năm 61/62

Phao-lô viết các thư tín: Phi-lê-môn, Cô-lô-se, Ê-phê-sô, và Phi-líp.

Năm 62

Theo Sử Gia Do-thái Josephus, Gia-cơ (James the Just) giám mục của Hội Thánh Jerusalem bị một đám dân nổi loạn giết chết trong đền thờ, bằng cách đánh búa tạ vào đầu.

Sứ Đồ Ba-tê-lê-my tử đạo tại Kalyana, một thành phố tiểu quốc nằm trên bờ biển phía Tây của Ân-độ. Ông bị lột da trong lúc còn sống và sau đó bị đóng đinh.
 
Phao-lô được xét xử và trắng án tại La-mã.

Năm 63-66

Phao-lô trải qua các xứ Ma-xê-đoan, Tiểu á, Crete, và có thể cả Spain. Thư I Ti-mô-thê và Tít được viết trong thời gian này.

Năm 64

Hội Thánh bị bách hại lần thứ nhất dưới thời Nê-rô, hoàng đế La-mã (54-68). Khi thành phố La-mã bị một cơn hỏa hoạn lớn, cháy suốt sáu ngày, Nê-rô đã đổ lỗi cho các tín đồ Đấng Christ và ra lệnh tàn sát họ dưới nhiều hình thức dã man: cho chó xé xác, đóng đinh, nhúng dầu chai thắp làm đuốc soi trong ngự uyển…

Hội Thánh tại Alexandria được thành lập bởi Mác, một môn đồ của Phi-e-rơ. Đền thờ do Vua Hê-rốt xây dựng được hoàn thành (khởi công năm 20 TCN).

Năm 66

Dân Do-thái nổi loạn chống lại chính quyền La-mã. Chiến tranh xảy ra, thánh đồ tại Jerusalem nhớ lời Chúa phán về sự hủy phá của Jerusalem nên đã ra khỏi thành. Thành Jerusalem bị thất thủ năm 70 và bị hủy diệt, cùng với đền thờ tráng lệ do vua Hê-rốt xây dựng trong 46 năm. Tacitus ghi rằng 600 000 dân Dothái bị tàn sát khi thành Jerusalem bị thất thủ; sử gia người Do thái, Josephus, thì ghi là một triệu người.

Năm 67

Vài học giả cho rằng sách cuối cùng của Thánh Kinh, Khải Huyền, được viết trong năm này. Nhiều học giả khác cho rằng sách được viết vào cuối triều đại của Diocletian, hoàng đế La-mã (81-96).

Phao-lô trải qua lần xét xử thứ hai tại La-mã. Thư II Ti-mô-thê được viết.

Năm 67/68

Sứ Đồ Phao-lô bị chém trên đường dẫn từ La-mã đến Ostia. Sứ Đồ Phi-e-rơ cũng tử đạo trong khoảng thời gian này, bị đóng đinh với đầu chúi xuống đất.

Năm 69
 
Theo truyền thuyết, Sứ Đồ Anh-rê bị đóng đinh tại Patrae trên bán đảo Peloponnesus. Ignatius trở thành giám mục của Hội Thánh An-ti-ốt, xứ Syria. Giám Mục Polycarp của Hội Thánh Si-miệc-nơ sinh trong năm này (chết năm 155).

Năm 70

Sách Tin Lành Ma-thi-ơ và Mác có thể được viết vào cuối năm này.

Năm 72

Theo truyền thuyết, Sứ Đồ Thô-ma bị đâm chết bởi các thầy tế lễ của Ấn Giáo tại Mylapore, Ấn độ.

Năm 79

Theo truyền thuyết, Giu-đe và Si-môn người Ca-na-an đã bị xé xác bởi đám dân nổi loạn người Persian (Iran ngày nay).

Năm 80

Sách Tin Lành Lu-ca được viết.

Năm 90

Hội đồng Jamnia (Synod of Jamnia) của dân Do-thái thiết lập kinh điển Hê-bơ-rơ (tương đương với Thánh Kinh Cựu Ước chúng ta có ngày hôm nay). Ngôn ngữ phổ biến trong Hội Thánh thuở ban đầu là tiếng Hy-lạp (Greek) và bản dịch Thánh Kinh Cựu Ước được sử dụng rộng rãi thời bấy giờ là bản "Septuagint" (Bảy Mươi). Bản dịch Septuagint có thêm các "ngụy kinh" không được công nhận là kinh điển (không được công nhận là Lời Chúa). Về sau, một bản dịch mới dựa trên bản văn tiêu chuẩn của Hội đồng Jamnia được Hội Thánh chấp nhận.

Theo truyền thuyết, Phi-líp đã bị đóng đinh, đầu chúi xuống đất (như Phi-e-rơ) tại Hierapolis, xứ Tiểu Á. Vài học giả cho rằng Phi-líp sứ đồ và Phi-líp nhà truyền giáo là hai người khác nhau, và Phi-líp truyền giáo là người tử đạo tại Hierapolis.

Theo Hippolytus, Sứ Đồ Ma-thi-ơ chết già tại Hierees, xứ Persia.

Năm 92

Clement được bầu làm giám mục tại La-mã và tại chức cho đến năm 100.

Năm 93

Hội Thánh bị bách hại lần thứ nhì dưới thời Domitian, hoàng đế La-mã (81-96). Sứ Đồ Giăng bị lưu đày trên đảo Bát-mô. Nhiều nhà giải kinh cho rằng sách Khải Huyền được viết vào khoảng năm 95, 96 trên đảo Bát-mô.

Năm 100

Sứ đồ Giăng qua đời vào khoảng thời gian này tại thành Ê-phê-sô.

Cerinthus giảng dạy tà giáo, cho rằng Đấng Christ được sáng tạo chứ Ngài không phải là Thiên Chúa. Ông cũng cho rằng Đức Chúa Jesus là con tự nhiên của ông Giô-sép và bà Ma-ri được một thực thể siêu nhiên là Đấng Christ, ngự vào khi Chúa Jesus chịu lễ báp-tem và ra khỏi khi Chúa Jesus bị đóng đinh.
 
Huỳnh Christian Timothy
Tổng hợp từ các tài liệu về lịch sử Hội Thánh
 
 
Đọc Tiếp →