3,332 views

Ngươi Chớ Phạm Tội Giết Người

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Ghi Chú: Bấm vào các từ ngữ Hê-bơ-rơ hoặc Hy-lạp để nghe phát âm. Bấm vào các mã số Strong để xem định nghĩa trong tiếng Anh.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này
Bấm vào đây để nghe mp3

"Ngươi chớ giết người."
(Xuất Ê-díp-tô Ký 20:13; Phục Truyền Luật lệ Ký 5:17)

Từ ngữ "giết người" trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là "râtsach" (H7523) có nghĩa chính là "bẻ, đập, đâm, đánh, chà nát một cách hung bạo," và bao gồm các nghĩa sau đây: "phạm tội giết người, bạo sát (người hoặc thú), giết một sinh vật." Chúng ta cần phân tích các ý nghĩa của từ ngữ này để có thể hiểu rõ điều răn thứ sáu.

►Phạm Tội Giết Người

"Phạm tội giết người" (trong tiếng Anh là "murder"), còn gọi là "cố sát," là giết người có ý thức và không hợp pháp cho dù là bởi động cơ hay mục đích nào. "Có ý thức" tức là đã suy nghĩ và quyết định về hành động giết người. "Không hợp pháp" có nghĩa là không được luật pháp cho phép; và luật pháp nói đến ở đây tức là luật pháp của Thiên Chúa được ghi chép rõ ràng trong Thánh Kinh, thường khi thể hiện qua luật pháp của các nhà cầm quyền. Như vậy, Thiên Chúa không cho phép chúng ta "giết người có ý thức và không hợp pháp" và điều răn thứ sáu cần được dịch một cách chính xác hơn là: "Ngươi chớ phạm tội giết người!"

►Án Tử Hình Trong Thánh Kinh

Theo luật pháp của Thiên Chúa, có những tội, tức là những hành động vi phạm luật pháp của Ngài, bị lên án tử hình. Như vậy, sự thi hành án tử hình theo luật pháp của Thiên Chúa, không phải là điều Thiên Chúa ngăn cấm trong điều răn thứ sáu. Dưới đây là những câu Thánh Kinh nói đến các tội bị Thiên Chúa lên án chết:

Xuất Ê-díp-tô Ký 19:12 "Vả, ngươi hãy phân định giới hạn cho dân sự ở chung quanh núi, và dặn rằng: Khá giữ mình đừng leo lên núi, hoặc đụng đến chân; hễ kẻ nào đụng đến thì sẽ bị xử tử."

Xuất Ê-díp-tô Ký 21:12 "Kẻ nào đánh chết một người, sẽ bị xử tử."

Xuất Ê-díp-tô Ký 21:15 "Kẻ nào đánh cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử."

Xuất Ê-díp-tô Ký 21:16 "Kẻ nào bắt người và bán, hoặc giữ lại trong tay mình, sẽ bị xử tử."

Xuất Ê-díp-tô Ký 21:17 "Kẻ nào mắng cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử."

Xuất Ê-díp-tô Ký 21:28 "Ví có một con bò báng nhằm một người đàn ông hay đàn bà phải chết đi, con bò sẽ bị ném đá chết, người ta không nên ăn thịt nó; còn người chủ bò sẽ được vô tội."

Xuất Ê-díp-tô Ký 21:29 "Nhưng ngộ từ trước con bò có tật hay báng và chủ đã bị mắng vốn mà không cầm giữ, nếu bò nầy còn giết một người đàn ông hay đàn bà, thì nó sẽ bị ném đá, và chủ sẽ bị xử tử nữa."

Xuất Ê-díp-tô Ký 21:32 "Con bò báng nhằm một đứa đầy tớ trai hay gái, chủ bò phải trả ba chục siếc lơ bạc cho chủ nó; rồi bò sẽ bị ném đá chết."

Xuất Ê-díp-tô Ký 22:19 "Kẻ nào nằm cùng một con vật sẽ bị xử tử."

Xuất Ê-díp-tô Ký 31:14, 15 "Vậy, hãy giữ ngày Sa-bát, vì là một ngày thánh cho các ngươi. Kẻ nào phạm đến ngày đó, phải bị xử tử; kẻ nào làm một việc chi trong ngày đó, cũng sẽ bị truất khỏi vòng dân sự. Người ta sẽ làm công việc trong sáu ngày, nhưng qua ngày thứ bảy là ngày Sa-bát, tức là ngày nghỉ, biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va. Trong ngày Sa-bát hễ ai làm một việc chi sẽ bị xử tử."

Xuất Ê-díp-tô Ký 35:2 "Người ta sẽ làm công việc trong sáu ngày, nhưng đến ngày thứ bảy sẽ là một lễ thánh, tức là ngày Sa-bát biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va. Ai làm công việc trong ngày đó sẽ bị xử tử."

Lê-vi Ký 20:2 "Ngươi hãy nói cùng dân I-sơ-ra-ên rằng: Phàm ai trong dân I-sơ-ra-ên hay là kẻ khách kiều ngụ giữa vòng họ, dùng một trong các con mình dâng cho thần Mo-lóc, thì chắc sẽ bị xử tử: dân bổn xứ phải ném đá người ấy."

Lê-vi Ký 20:9 "Khi một người nào chửi cha mắng mẹ mình, thì phải bị xử tử: nó đã chửi rủa cha mẹ; huyết nó sẽ đổ lại trên mình nó."

Lê-vi Ký 20:10 "Nếu người nào phạm tội tà dâm cùng vợ của người khác, hay là phạm tội tà dâm cùng vợ người lân cận mình, người nam cùng người nữ đó đều phải bị xử tử."

Lê-vi Ký 20:11 "Nếu người nào nằm cùng vợ cha mình, ấy là gây nhục cho cha mình, thì hai người đều hẳn phải bị xử tử; huyết họ sẽ đổ lại trên mình họ."

Lê-vi Ký 20:12 "Nếu người nào nằm cùng dâu mình, hai người đều hẳn phải bị phạt xử tử; vì họ phạm một sự gớm ghiếc; huyết họ sẽ đổ lại trên mình họ."

Lê-vi Ký 20:13 "Nếu một người nam nằm cùng một người nam khác, như nằm cùng người nữ, thì hai người đó đều hẳn phải bị xử tử, vì họ đã làm một sự gớm ghiếc; huyết họ sẽ đổ lại trên mình họ."

Lê-vi Ký 20:15 "Nếu một người nam cấu hiệp cùng thú vật, thì hẳn phải bị xử tử, và các ngươi hãy giết thú đó đi."

Lê-vi Ký 20:27 "Khi nào một người nam hay nữ làm đồng cốt, hay là bói khoa, thì hẳn sẽ bị xử tử; người ta sẽ ném đá chúng nó: huyết chúng nó sẽ đổ lại trên mình chúng nó."

Lê-vi Ký 24:16 "Ai nói phạm đến danh Đức Giê-hô-va hẳn sẽ bị xử tử; cả hội chúng sẽ ném đá nó: mặc dầu nó là kẻ khách ngoại bang hay là sanh trong xứ, hễ khi nào nói phạm đến danh Đức Giê-hô-va, thì sẽ bị xử tử."

Lê-vi Ký 24:17 "Kẻ nào đánh chết một người nào, mặc dầu kẻ đó là ai, sẽ bị xử tử."

Lê-vi Ký 24:21 "Kẻ nào làm chết một súc vật, thì sẽ thường lại; còn kẻ nào giết chết một người, thì phải bị xử tử."

Dân Số Ký 1:51 "Khi nào đền tạm dời chỗ, thì người Lê-vi sẽ tháo dỡ nó; khi nào đền tạm dừng lại, thì họ sẽ dựng nó lên; còn người ngoại đến gần sẽ bị xử tử."

Dân Số Ký 3:10 "Vậy, ngươi sẽ lập A-rôn và các con trai người, để làm chức tế lễ; người ngoại đến gần sẽ bị xử tử."

Dân Số Ký 3:38 "Những người đóng trại trước đền tạm về phía đông, tức trước hội mạc về phía mặt trời mọc, là Môi-se, A-rôn và các con trai người, có chức phận săn sóc nơi thánh thế cho dân I-sơ-ra-ên. Người ngoại đến gần sẽ bị xử tử."

Dân Số Ký 15:32-36 "Vả, dân I-sơ-ra-ên đương ở tại đồng vắng, gặp một người lượm củi trong ngày Sa-bát; những kẻ gặp người đương lượm củi dẫn người đến Môi-se, A-rôn, và cả hội chúng. Họ bắt người giam tù, vì điều phải làm cho người chưa nhất định.Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Người nầy phải phạt xử tử, cả hội chúng hãy ném đá người ngoài trại quân. Vậy, cả hội chúng đem người ra ngoài trại quân mà ném đá, và người chết, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se."

Dân Số Ký 18:7 "Nhưng ngươi và các con trai ngươi phải kỹ lưỡng lo cho xong chức tế lễ, quản trị các điều chi thuộc về bàn thờ, và vật chi ở phía trong màn; các ngươi phải làm việc mình tại đó. Chức tế lễ của các ngươi là một việc ta phong cho như một của ban: người ngoại nào đến gần sẽ bị xử tử."

Phục Truyền Luật Lệ Ký 13:1-5 "Nếu giữa ngươi có nổi lên một tiên tri hay là một kẻ hay chiêm bao làm cho ngươi một dấu kỳ hoặc phép lạ, nếu dấu kỳ hoặc phép lạ nầy mà người đã nói với ngươi được ứng nghiệm, và người có nói rằng: Ta hãy đi theo hầu việc các thần khác mà ngươi chẳng hề biết, thì chớ nghe lời của tiên tri hay là kẻ chiêm bao ấy, vì Giê-hô-va Thiên Chúa các ngươi thử các ngươi, đặng biết các ngươi có hết lòng hết ý kính mến Giê-hô-va Thiên Chúa của các ngươi chăng. Các ngươi phải theo Giê-hô-va Thiên Chúa của các ngươi, kính sợ Ngài, gìn giữ các điều răn Ngài, vâng nghe tiếng phán Ngài, phục sự Ngài và tríu mến Ngài. Nhưng người ta phải giết tiên tri hay là kẻ chiêm bao ấy, vì hắn có giục dấy loạn cùng Giê-hô-va Thiên Chúa các ngươi, (là Đấng đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, chuộc các ngươi khỏi nhà nô lệ), đặng xô ngươi ra ngoài con đường của Giê-hô-va Thiên Chúa ngươi đã chỉ cho ngươi đi. Ấy, ngươi sẽ diệt kẻ hung ác khỏi giữa mình là như vậy."

Phục Truyền Luật Lệ Ký 13:6-10 "Khi anh em một mẹ với ngươi, hay là con trai, con gái ngươi, vợ yêu mến, hoặc bạn hữu thiết ngươi, giục ngươi cách mật nhiệm, mà rằng: Ta hãy đi hầu việc các thần khác, mà ngươi hay tổ phụ ngươi không biết, tức là các thần của những dân tộc ở chung quanh, hoặc gần hay xa ngươi, từ đầu nầy của đất cho đến đầu kia, thì chớ chịu theo nó, chớ khứng nghe nó. Mắt ngươi đừng thương tiếc nó; chớ động lòng xót xa mà che chở cho nó. Ngươi hẳn phải giết nó, tay mình phải tra vào mình nó trước hết đặng giết đi; rồi kế sau tay của cả dân sự. Phải ném đá cho nó chết, vì nó tìm thế giục ngươi xa cách Giê-hô-va Thiên Chúa ngươi, là Đấng đã đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, tức khỏi nhà nô lệ."

Phục Truyền Luật Lệ Ký 13:12-15 "Khi ngươi nghe nói về một trong các thành mà Giê-hô-va Thiên Chúa ngươi ban cho ngươi ở, rằng có những kẻ gian tà từ giữa mình ra dụ dỗ dân thành đó, mà rằng: Ta hãy đi hầu việc các thần khác mà các ngươi không hề biết, thì phải tìm kiếm, hỏi thăm, và tra xét cho kỹ càng. Bằng điều người ta nói là chân thật và quả quyết, và nếu một điều gớm ghiếc như vậy đã phạm giữa ngươi, thì ngươi phải giết dân sự thành ấy bằng lưỡi gươm; phải dùng gươm tận diệt nó và mọi vật ở trong, luôn với súc vật của nó."

Phục Truyền Luật Lệ Ký 17:2-5 "Khi ở giữa ngươi, trong một thành nào mà Giê-hô-va Thiên Chúa ngươi ban cho ngươi, có một người nam hay nữ làm điều ác trước mặt Giê-hô-va Thiên Chúa ngươi, vi phạm giao ước Ngài, đi hầu việc và quì lạy các thần khác, hoặc mặt trời, mặt trăng, hay là cả thiên binh, tức là điều ta không có dạy biểu; khi điều đó đem học cho ngươi hay, thì phải tra hỏi kỹ càng, và nếu điều người ta nói là thật, và quả quyết có một sự gớm ghê dường ấy đã phạm trong I-sơ-ra-ên,thì ngươi phải dẫn người nam hay nữ đã làm việc ác đó đến cửa thành, ném đá cho chúng nó chết."

Phục Truyền Luật Lệ Ký 21:18-21 "Khi ai có một đứa con khó dạy và bội nghịch, không nghe theo lời cha mẹ, và mặc dầu bị trừng trị, nó vẫn không khứng vâng lời, thì cha mẹ phải bắt nó dẫn đến trước mặt các trưởng lão của thành mình, tại nơi cửa thành. Đoạn, cha mẹ sẽ nói cùng các trưởng lão của thành mình rằng: Nầy con chúng tôi khó dạy và bội nghịch, không vâng lời chúng tôi, làm kẻ hoang đàng say sưa. Bấy giờ, chúng dân thành ấy sẽ ném đá cho nó chết; như vậy ngươi sẽ cất sự ác khỏi giữa mình, và cả I-sơ-ra-ên sẽ hay điều đó mà bắt sợ."

Phục Truyền Luật Lệ Ký 24:7 "Khi người ta gặp ai có ăn cướp một người anh em mình trong dân I-sơ-ra-ên, và đã bắt làm mọi hay là đã bán người, thì tên bợm ấy phải bị xử tử; ngươi sẽ trừ sự ác khỏi giữa mình vậy."

Ngày nay, hầu hết luật pháp của các quốc gia không xử tử những kẻ gian dâm, ngoại tình, đồng tính luyến ái, chửi mắng cha mẹ, thờ hình tượng hoặc không giữ ngày Sa-bát, vv… nhưng không có nghĩa là luật pháp của Thiên Chúa không còn hiệu lực. Tất cả những ai vi phạm điều răn và luật pháp của Thiên Chúa đều phải gánh lấy án phạt. Tuy nhiên, trong thời kỳ ân điển, là thời kỳ từ khi Đức Chúa Jesus Christ chịu chết trên thập tự giá cho đến cuối cùng của Vương Quốc Ngàn Năm Bình An, Thiên Chúa ban cho mọi tội nhân cơ hội ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ. Sự cứu rỗi đó bao gồm việc Đức Chúa Jesus Christ gánh thay mọi án phạt của tất cả tội lỗi cho toàn thể nhân loại. Người ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ sẽ được Thiên Chúa tha tội và xưng là công chính, nghĩa là người ấy không còn chịu án phạt về mọi tội lỗi đã gây ra. Người không ăn năn và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ sẽ bị chính Đức Chúa Jesus Christ phán xét và định tội, rồi người ấy sẽ chịu hình phạt đời đời trong hỏa ngục (Khải Huyền 20:11-15).

►Ngộ Sát và Cố Ý Đả Thương Gây Chết Người

Ngoài hành động cố ý giết người còn có những hành động vô ý giết người gọi là ngộ sát như việc không cẩn thận hoặc lầm lẫn khiến xảy ra ra tai nạn làm chết người. Những hành động ngộ sát không thuộc về sự phạm tội giết người mà Thiên Chúa nghiêm cấm trong điều răn thứ sáu. Lại có những hành động cố ý đánh người nhưng lỡ tay làm chết người gọi là "cố ý đả thương, nhân thương trí mạng," tức là: cố ý đánh cho người ta bị thương nhưng người bị thương lại bị chết. Tất cả những hành động cố ý đả thương gây chết người đều bị kể là phạm tội giết người. Hai trường hợp ngộ sát và cố ý đả thương gây chết người đều được đề cập cách rõ ràng trong Dân Số Ký 35:13-25 như sau:

 "Vậy, trong những thành các ngươi nhường cho, sẽ có sáu thành ẩn náu cho các ngươi. Các ngươi phải chỉ ba thành phía bên kia sông Giô-đanh, và lập ba thành khác trong xứ Ca-na-an; ấy sẽ là những thành ẩn náu. Sáu thành nầy sẽ dùng làm chỗ ẩn náu cho dân I-sơ-ra-ên, luôn cho khách ngoại bang và kẻ nào kiều ngụ ở trong dân đó, để ai vì vô ý đánh chết một người có thế chạy ẩn mình tại đó. Nhưng nếu người ấy đánh bằng đồ sắt, và người bị đánh chết đi, ấy là một kẻ sát nhơn; kẻ sát nhơn hẳn phải bị xử tử. Nếu người đánh bằng một cục đá cầm nơi tay có thế làm chết, và người bị đánh chết đi, ấy là một kẻ sát nhơn; kẻ sát nhân hẳn phải bị xử tử. Cũng vậy, nếu người đánh bằng đồ cây cầm nơi tay có thế làm chết, và người bị đánh chết đi, ấy là một kẻ sát nhơn; kẻ sát nhơn hẳn phải bị xử tử. Ấy là kẻ báo thù huyết sẽ làm cho kẻ sát nhơn phải chết; khi nào kẻ báo thù huyết gặp kẻ sát nhơn thì phải làm cho nó chết đi. Nếu một người nào vì lòng ganh ghét xô lấn một người khác, hay là cố ý liệng vật chi trên mình nó, và vì cớ đó nó bị chết; hoặc vì sự thù đánh bằng bàn tay, và vì cớ đó nó bị chết, thì người nào đánh đó hẳn phải bị xử tử. Ấy là một kẻ sát nhơn; người báo thù huyết khi nào gặp kẻ sát nhơn phải làm cho nó chết đi.

Nếu vì tình cờ, vẫn hòa thuận nhau, mà người có lấn xô, hoặc liệng vật chi trên mình người kia, hoặc nếu không phải thù nghịch chẳng có ý làm hại, lại không thấy mà làm rớt một cục đá trên mình người kia, có thế làm chết được, và nếu người chết đi, thì cứ theo luật lệ nầy, hội chúng phải xử đoán cho kẻ đã đánh và kẻ báo thù huyết: hội chúng sẽ giải cứu kẻ sát nhơn khỏi tay người báo thù huyết, và biểu người trở về thành ẩn náu, là nơi người đã chạy ẩn mình; và người phải ở đó cho đến chừng nào thầy tế lễ thượng phẩm đã được xức dầu thánh qua đời."

►Giết Người Trong Chiến Tranh

Trong lịch sử loài người, có những lúc Thiên Chúa dùng dân tộc này để trừng phạt hoặc tiêu diệt một dân tộc khác qua hình thức chiến tranh, vì cớ tội lỗi của dân tộc bị diệt đó đã vượt quá sự cho phép của Thiên Chúa. Những sự tàn sát có tính cách diệt chủng đó không phải là điều Thiên Chúa ngăn cấm trong điều răn thứ sáu. Điển hình là việc Chúa ra lệnh cho dân I-sơ-ra-ên tiêu diệt các dân tộc của xứ Ca-na-an:

Phục Truyền Luật lệ Ký 20:16, 17 "Nhưng trong các thành của những dân tộc nầy, mà Giê-hô-va Thiên Chúa ngươi ban cho ngươi làm sản nghiệp, thì chớ để sống một vật nào biết thở; khá tận diệt dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, dân Giê-bu-sít, y như Giê-hô-va Thiên Chúa ngươi đã phán dặn."

Giô-suê 6:20, 21"Vậy, dân sự la lên, và những thầy tế lễ thổi kèn. Vừa khi dân sự nghe tiếng kèn, bèn la lớn lên, và vách thành liền ngã sập, dân sự leo lên thành, mỗi người ngay trước mặt mình. Chúng lấy thành, đưa gươm qua diệt mọi vật ở trong thành, nào nam phụ lão ấy, cho đến bò, chiên, và lừa."

Ngày nay, loài người lên án một cách gắt gao những cuộc chiến tranh diệt chủng đó. Tuy nhiên, đối với Thiên Chúa, đó là cách thức công chính của Ngài để chấm dứt sự phạm tội của những dân tộc bị diệt, đồng thời bảo vệ con dân của Ngài không bị tiêm nhiễm nếp sống tội của các dân tộc bị diệt. Mục đích của sự tiêu diệt các dân tộc của xứ Ca-na-an được Thiên Chúa công bố rất rõ ràng cho dân I-sơ-ra-ên:

Phục Truyền Luật lệ Ký 20:18 "để chúng nó không dạy các ngươi bắt chước làm theo những sự gớm ghiếc chúng nó đã làm, đặng cúng thờ các thần chúng nó, e các ngươi phạm tội cùng Giê-hô-va Thiên Chúa các ngươi chăng."

Tuy nhiên, dân I-sơ-ra-ên đã không hoàn toàn vâng phục mệnh lệnh của Chúa. Dân I-sơ-ra-ên đã để cho dân Hê-vít của thành Ga-ba-ôn lừa gạt, kết ước với họ nên không thể tiêu diệt họ (Giô-suê 9); chi phái Giu-đa và chi phái Bên-gia-min đã không tiêu diệt dân Giê-bu-sít (Giô-suê 15:63; Các Quan Xét 1:21); chi phái Ép-ra-im, chi phái Ma-na-se, chi phái Sa-bu-lôn, chi phái A-se và chi phái Nép-ta-li đã không tiêu diệt dân Ca-na-an (Giô-suê 16:10; 17:12; Các Quan Xét 1:27-33); chi phái Đan và nhà Giô-sép đã không tiêu diệt dân A-mô-rít (Các Quan Xét 1:34-36). Vì thế, theo dòng thời gian, nền văn hóa sống luông tuồng theo ham muốn của sắc dục và thờ lạy tà thần của các dân tộc xứ Ca-na-an đã tiêm nhiễm vào nếp sống của dân I-sơ-ra-ên, khiến cho dân I-sơ-ra-ên phạm tội và bị Thiên Chúa dùng các dân tộc A-si-ri và Ba-by-lôn chinh phạt họ.

Chưa đầy 700 năm sau khi dân I-sơ-ra-ên đặt chân vào đất hứa, Vương Quốc I-sơ-ra-ên ở phía bắc, bao gồm mười chi phái, bị dân A-si-ri tiêu diệt vào năm 722 TCN; và thêm 136 năm nữa thì Vương Quốc Giu-đa ở phía nam, bao gồm hai chi phái còn sót lại, bị dân Ba-by-lôn tiêu diệt vào năm 586 TCN.

►Án Tử Hình của Thế Quyền

Ngày nay, nhiều quốc gia trên thế giới có án tử hình dành cho tội giết người, và như vậy, luật pháp của Thiên Chúa đã được thể hiện qua luật pháp của loài người. Tuy nhiên, có nhiều tổ chức giáo hội mang danh Chúa đã biểu tình chống đối việc thi hành án tử hình, dù là can phạm đã phạm tội giết người hàng loạt. Lý do được họ đưa ra là "Thiên Chúa cấm giết người!" Đây rõ ràng là sự hiểu sai Lời Chúa. Như đã trưng dẫn trên đây, chính Lời Chúa đã lên án tử hình rất nhiều tội khác nhau.

Người ta lý luận rằng, trong thời Tân Ước Đức Chúa Jesus Christ đã chết thế cho mọi người kể cả những người phạm tội giết người hàng loạt, vì thế, không ai có quyền kết án tử hình những kẻ sát nhân. Lý luận như thế có khác nào nói rằng vì Đức Chúa Jesus Christ đã chết chuộc tội cho nhân loại, cho nên, kẻ phạm tội không còn bị hình phạt. Lý luận như thế là không hiểu được ý nghĩa sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ.

♦ Sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ chỉ có hiệu lực cứu một người ra khỏi sự đoán phạt của Thiên Chúa về tất cả những tội lỗi của người ấy, nếu người ấy thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đức Chúa Jesus Christ.

♦ Sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ không giải trừ người có tội ra khỏi trách nhiệm hình sự trong xã hội; nghĩa là, người có tội vẫn phải bồi thường những thiệt hại mình đã gây ra cho người bị hại và phải gánh lấy hình phạt theo luật định của thế gian.

♦ Dầu chúng ta ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Chúa nhưng thân thể vật chất của chúng ta vẫn phải tiếp tục gánh lấy hậu quả của tội lỗi: bệnh tật, đau đớn, già yếu rồi chết đi cho đến ngày Chúa biến hóa nó hoặc phục sinh nó từ cõi chết. Vì thế, đối với tất cả tội lỗi chúng ta gây ra, dù chúng ta có ăn năn hay không, thì thân thể thịt và huyết này vẫn phải gánh lấy hậu quả, kể cả sự bị tù đày và tử hình theo luật định.

Thánh Kinh Tân Ước khẳng định, những kẻ làm dữ phải bị nhà cầm quyền hình phạt:

Rô-ma 13:4 "…vì quan quyền là chức việc của Thiên Chúa để làm ích cho ngươi. Song nếu ngươi làm ác, thì hãy sợ, vì người cầm gươm chẳng phải là vô cớ; người là chức việc của Thiên Chúa để làm ra sự công bình và phạt kẻ làm dữ."

Mặt khác, ngoài việc bày tỏ sự công chính của Thiên Chúa, sự hình phạt kẻ phạm tội còn có hai mục đích thực tế: (1) cất sự gian ác khỏi xã hội, và (2) làm gương cho những người khác, khiến cho họ sợ mà không phạm tội:

Phục Truyền Luật Lệ Ký 21:18-21 "Khi ai có một đứa con khó dạy và bội nghịch, không nghe theo lời cha mẹ, và mặc dầu bị trừng trị, nó vẫn không khứng vâng lời, thì cha mẹ phải bắt nó dẫn đến trước mặt các trưởng lão của thành mình, tại nơi cửa thành. Đoạn, cha mẹ sẽ nói cùng các trưởng lão của thành mình rằng: Nầy con chúng tôi khó dạy và bội nghịch, không vâng lời chúng tôi, làm kẻ hoang đàng say sưa. Bấy giờ, chúng dân thành ấy sẽ ném đá cho nó chết; như vậy ngươi sẽ cất sự ác khỏi giữa mình, và cả I-sơ-ra-ên sẽ hay điều đó mà bắt sợ."

Một người sau khi phạm tội chết, nếu ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ thì người ấy hoàn toàn được sự tha thứ của Đức Chúa Trời, nhưng về mặt xã hội người ấy vẫn phải gánh lấy hậu quả và trách nhiệm việc làm của mình theo luật định. Dĩ nhiên, nếu nạn nhân, gia đình của nạn nhân, và nhà cầm quyền đều đồng ý tha thứ kẻ có tội thì kẻ ấy hoàn toàn được giải trừ mọi trách nhiệm.

Là con dân của Chúa chúng ta có bổn phận và trách nhiệm bênh vực, bảo vệ người bị hại, tố cáo kẻ phạm pháp trước pháp luật theo luật định để giúp nhà cầm quyền làm tròn thiên chức. Nếu chúng ta là người bị hại thì sau khi phạm nhân bị kết án theo luật định để công lý được sáng tỏ, chúng ta nên tha thứ cho phạm nhân và xin nhà cầm quyền miễn thi hành án phạt.

►Phá Thai

Phá thai là hành động tiêu diệt bào thai để hài nhi không được sinh ra. Lịch sử phá thai lâu đời nhất được ghi lại là từ năm 1550 TCN tại Ai-cập. Trung Quốc có văn kiện ghi chép sự phá thai của các quý phi từ năm 515 đến 550 TCN. Theo thần thoại của Trung Quốc thì gần 5000 năm trước Vua Thần Nông đã dạy cho dân cách dùng thủy ngân để phá thai [1].

Hầu như dân tộc nào cũng cảm biết rằng phá thai là một hành động vô đạo đức, là giết người. Nếu vì một lý do nào khiến cho một người chọn sự phá thai thì người ấy sẽ cố gắng làm trong sự kín dấu. Trải qua các thời đại cho đến đầu thế kỷ 18, việc phá thai vẫn xảy ra khắp nơi mà không có một quốc gia nào ra luật ngăn cấm. Năm 1803 Anh Quốc là quốc gia đầu tiên ra luật cấm phá thai, kế tiếp là các tiểu bang của Hoa Kỳ lần lượt đặt sự phá thai ra ngoài vòng pháp luật. Đến năm 1880 thì hầu như mọi sự phá thai đều bị ngăn cấm tại Hoa Kỳ, ngoại trừ trường hợp cần phải cứu lấy tính mạng của người mẹ. Dầu vậy, vào thập niên 1890 thì các bác sĩ ước tính mỗi năm có khoảng hai triệu trường hợp phá thai xảy ra tại Hoa Kỳ. Đến ngày 22 tháng Giêng năm 1973, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ban hành luật cho phép phá thai, theo đó, một người mẹ có toàn quyền phá thai vì bất kỳ lý do nào nếu bào thai không quá ba tháng tuổi; nếu bào thai trên ba tháng tuổi thì mỗi tiểu bang có những luật riêng quy định về quyền phá thai [2]. Riêng tại Việt Nam, phụ nữ có toàn quyền phá thai vì bất cứ lý do nào trong bất kỳ thời điểm nào. Theo thống kê, trong năm 2011 có khoảng 42 triệu cuộc phá thai xảy ra trên thế giới, trong đó, có khoảng 47 ngàn phụ nữ đã chết vì phá thai [3].

Ngày nay, có những giáo hội mang danh Chúa ủng hộ cho sự phá thai, dưới đây là danh sách [4]:

♦ Liên Hiệp Hội Thánh Đấng Christ (The United Church of Christ): ủng hộ mạnh mẽ quyền được phá thai của phụ nữ.

♦ Giáo Hội Giám Nhiệm (The Episcopal Church): ủng hộ quyền được phá thai của phụ nữ.

♦ Giáo Hội Tin Lành Lutheran tại Mỹ (Evangelical Lutheran Church of America): ủng hộ việc phá thai để cứu sống người mẹ, phá thai vì bị hiếp dâm, phá thai vì kết quả của loạn luân, phá thai vì thai nhi không bình thường.

♦ Giáo Hội Liên Hiệp Giám Lý (The United Methodist Church): ủng hộ việc phá thai để cứu sống người mẹ.

♦ Giáo Hội Trưởng Lão Hoa Kỳ (The Presbyterian Church – USA): ủng hộ việc phá thai để cứu sống người mẹ.

♦ Giáo Hội Liên Hiệp Trưởng Lão (The United Presbyterian Church): ủng hộ việc phá thai để cứu sống người mẹ.

♦ Giáo Hội Báp-tít Mỹ (The American Baptist Churches USA): ủng hộ việc phá thai để cứu sống người mẹ.

♦ Hội Báp-tít Nam Phương (Southern Baptist Convention): ủng hộ việc phá thai để cứu sống người mẹ.

Thi Thiên 139:13  chép: "Vì chính Chúa nắn nên tâm thần tôi, dệt thành tôi trong lòng mẹ tôi." Thi Thiên 139:16 chép: "Mắt Chúa đã thấy thể chất vô hình của tôi; Số các ngày định cho tôi, đã biên vào sổ Chúa trước khi chưa có một ngày trong các ngày ấy." Hai câu Thánh Kinh này cho chúng ta thấy việc thai dựng hài nhi trong lòng mẹ là việc làm của Thiên Chúa; tuổi thọ của mỗi người do Thiên Chúa định trước. Như vậy, ai có thẩm quyền phá hủy việc làm của Thiên Chúa và tiêu diệt sự sống đến từ nơi Ngài? Ai có thẩm quyền cất đi mạng sống của thai nhi để cứu lấy mạng sống của người mẹ? Đối với chúng ta là con dân Thiên Chúa, trong hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm, chúng ta chỉ hoàn toàn phó thác sự sống và sự chết của mình trong bàn tay của Thiên Chúa. Thiên Chúa toàn năng có thể bảo vệ mạng sống của bất cứ ai nếu đó là thánh ý của Ngài. Nhưng nếu thánh ý của Thiên Chúa muốn cất đi mạng sống của chúng ta qua nghịch cảnh thì chúng ta không thể nào chọn bảo vệ sự sống của mình bằng cách tiêu diệt sự sống của người khác.

Đối với các trư

Đọc Tiếp →
3,102 views

Ngày Chúa Chết và Ngày Chúa Phục Sinh

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?hg3mzhhw53llojh

Huỳnh Christian Timothy

Lời Tác Giả: Bài này đã được viết vào ngày 31.07.2010, sau đó, đã được hiệu đính hai lần. Trong khi biên soạn tác phẩm “Kỳ Tận Thế,” chúng tôi thu thập được nhiều dữ kiện lịch sử chính xác hơn, cho nên, hôm nay chúng tôi làm công việc hiệu đính lần thứ ba, để giúp quý con dân Chúa có được một tài liệu tham khảo thật chính xác. Huỳnh Christian Timothy, 23.12.2012.

Dẫn Nhập

Hơn 200 năm đầu của lịch sử Hội Thánh, trước khi bị ngoại giáo xâm nhập, dẫn đến việc hình thành Công Giáo [01] với tất cả những giáo lý sai lầm của nó, thì Hội Thánh không hề kỷ niệm sự giáng sinh, sự thương khó hay là sự phục sinh của Chúa. Hội Thánh chỉ biết và thực hiện hai nghi thức do chính Chúa truyền dạy: Lễ Bẻ Bánh, tức Tiệc Thánh, để nhớ đến Chúa, và Lễ Báp-tem để người mới tin Chúa công khai xưng nhận đức tin, gia nhập vào Hội Thánh [02]. Năm 325, qua công đồng lần thứ nhất tại Nicaea, Giáo Hội Công Giáo ra sắc lệnh cho toàn giáo hội kỷ niệm Chúa chịu thương khó vào ngày thứ sáu và kỷ niệm Chúa phục sinh vào chủ nhật liền sau tiết xuân phân (ngày đầu tiên của mùa xuân) [03]. Năm 787, Giáo Hội Công Giáo chính thức phê chuẩn cho sự thờ lạy hình tượng qua công đồng lần thứ bảy, tại Nicaea [04]. Có lẽ, đây là điểm không thể quay lại, khiến cho kể từ đây, Giáo Hội Công Giáo không còn thuộc về Hội Thánh của Chúa nữa. Năm 869, sau Công Đồng Constantinople, thì Giáo Hội Công Giáo bị phân chia thành hai khối: Khối phương tây giữ nguyên tên Công Giáo (Catholic), còn gọi là Công Giáo La-mã, và khối phương đông lấy tên là Chính Thống Giáo (Orthodox), còn gọi là Chính Thống Giáo Đông Phương [05].

Các phong trào cải cách nổi lên từ trong Công Giáo La-mã dẫn đến sự hình thành các Giáo Hội Đối Kháng (Protestant Churches). Tiếp theo đó, các phong trào cải cách nổi lên từ trong các Giáo Hội Đối Kháng dẫn đến sự hình thành các Giáo Hội Cải Chánh (Reformed Churches). Đến thế kỷ 18, các Giáo Hội Tin Lành (Evangelical Churches) được hình thành bởi những người bước ra từ các Giáo Hội Cải Chánh. Dù các Giáo Hội Đối Kháng, Cải Chánh, lẫn Tin Lành đều đem lại những sự thay đổi lớn trong tín lý, trong nếp sống đạo, và trong cơ cấu tổ chức của giáo hội so với Công Giáo La-mã và Chính Thống Giáo Đông Phương, nhưng các giáo hội này vẫn giữ nguyên các Lễ Christmas, Thứ Sáu Thương Khó, Easter… và sự nhóm họp thờ phượng Chúa vào chủ nhật theo truyền thống của Công Giáo, bác bỏ sự tôn kính ngày Sa-bát (tức ngày thứ bảy cuối tuần) của Thiên Chúa. Riêng, một số mục sư Tin Lành người Việt trong những năm gần đây, đã cho hội nhập thêm các thứ Lễ Tro, Lễ Lá, Mùa Chay, Mùa Vọng… của Công Giáo La-mã vào trong giáo hội của mình.

Trong bài này, chúng tôi trình bày một số dữ kiện trích ra từ Thánh Kinh đã được đối chiếu với sử liệu để xác định ngày chết và ngày phục sinh của Chúa. Ước mong bài viết này sẽ giúp cho con dân chân thật của Chúa không bị những truyền thống của các giáo hội dẫn dắt đi vào sự thờ phượng Chúa bằng tâm thần nhưng không bằng lẽ thật (Giăng 4:23, 24).

Ngày Chúa Chết và Ngày Chúa Phục Sinh

Về ngày Chúa sinh thì Thánh Kinh không ghi rõ chi tiết để chúng ta có thể xác định, nhưng về ngày Chúa chết và phục sinh thì Thánh Kinh ghi rất rõ: Chúa bị đóng đinh vào ngày Lễ Vượt Qua, tức ngày 14 tháng Nisan, theo Lịch Do-thái [07]. Chúa chết và bị chôn vào trong lòng đất "ba ngày ba đêm,"tức 72 tiếng đồng hồ [08]; đến "ngày thứ ba,"tức ngày 17 tháng Nisan, thì Chúa phục sinh [09]. Vì thế, giáo lý "Chúa chết vào ngày thứ sáu" và “Chúa phục sinh vào sáng sớm chủ nhật” là hoàn toàn không đúng Thánh Kinh. Ngày Chúa chết phải là ngày thứ tư và ngày Chúa sống lại phải là ngày thứ bảy, trước khi Chúa hiện ra cho Ma-ri Ma-đơ-len và các môn đồ vào ngày thứ nhất trong tuần lễ. Ngày Chúa phục sinh là ngày 17 tháng Nisan không phải lúc nào cũng rơi vào chủ nhật. Thói quen kỷ niệm Chúa phục sinh vào chủ nhật sau ngày xuân phân (ngày mở đầu mùa xuân) là không đúng. Thật ra, chủ nhật sau ngày xuân phân được dân ngoại giáo tổ chức mừng sự phục sinh của Easter, được họ xem là nữ thần sinh sản và mùa màng.

Dưới đây là những chi tiết từ Thánh Kinh được đối chiếu với Lịch Do-thái (Hebrew Calendar) và các chi tiết lịch sử để giúp chúng ta thẩm định ngày Chúa chết và ngày Chúa phục sinh. Có một điểm cần ghi nhớ là: Quan niệm về ngày của người Do-thái khác với chúng ta. Chúng ta bắt đầu một ngày mới từ lúc nửa đêm: 12:00 giờ đêm của ngày hiện tại là 0:00 giờ sáng của ngày hôm sau. Người Do-thái theo cách tính của Thánh Kinh [10], bắt đầu một ngày mới từ sau khi mặt trời lặn của ngày hiện tại. Thí dụ: vào khoảng 6:00 giờ chiều của ngày 13 tháng Nisan (tháng một của lịch Do-thái) là thời điểm chấm dứt ngày 13 và bắt đầu ngày 14 của tháng Nisan. Thánh Kinh ghi chép về sự Thiên Chúa thiết lập Lễ Vượt Qua và truyền cho dân I-sơ-ra-ên cách thức giữ Lễ Vượt Qua như sau, Xuất Ê-díp-tô Ký 12:1-14:

1. Tại xứ Ê-díp-tô, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:

2 Tháng nầy định làm tháng đầu cho các ngươi, tức là tháng Giêng trong quanh năm.

3 Hãy nói cho toàn hội chúng I-sơ-ra-ên rằng: Đến ngày mồng mười tháng nầy, mỗi gia trưởng tùy theo nhà mình phải bắt một con chiên con.

4 Nếu nhà ít người quá ăn không hết một chiên con, hãy chung cùng người rất lân cận mình, tùy theo số người; và hãy tính cho mỗi chiên con tùy sức người ăn hết.

5 Các ngươi hãy bắt hoặc trong bầy chiên, hoặc trong bầy dê, chiên con đực hay là dê con đực, tuổi giáp niên, chẳng tì vít chi,

6 đoạn để dành cho đến ngày mười bốn tháng nầy; rồi cả hội chúng I-sơ-ra-ên sẽ giết nó, vào lối chiều tối.

7 Họ sẽ lấy huyết đem bôi trên hai cây cột và mày cửa của nhà nào ăn thịt chiên con đó.

8 Đêm ấy họ sẽ ăn thịt chiên quay với bánh không men và rau đắng.

9 Chớ ăn thịt nửa chín nửa sống hay là luộc trong nước, nhưng phải quay trên lửa cả và đầu, giò, với bộ lòng.

10 Các ngươi chớ để chi còn lại đến sáng mai; nếu còn lại, hãy thiêu đi.

11 Vậy, ăn thịt đó, phải như vầy: Dây lưng cột, chân mang giày, tay cầm gậy, ăn hối hả; ấy là lễ Vượt-qua của Đức Giê-hô-va.

12 Đêm đó Ta sẽ đi qua xứ Ê-díp-tô, hành hại mọi con đầu lòng xứ Ê-díp-tô, từ người ta cho đến súc vật; Ta sẽ xét đoán các thần của xứ Ê-díp-tô; Ta là Đức Giê-hô-va.

13 Huyết bôi trên nhà các ngươi ở, sẽ dùng làm dấu hiệu; khi Ta hành hại xứ Ê-díp-tô, thấy huyết đó, thì sẽ vượt qua, chẳng có tai nạn hủy diệt các ngươi.

14 Các ngươi hãy ghi ngày đó làm kỷ niệm; trải các đời hãy giữ làm một lễ cho Đức Giê-hô-va, tức là một lễ lập ra đời đời.

Thánh Kinh ghi chép các chi tiết liên quan đến những ngày cuối cùng của Chúa như sau:

1. Thứ tư, ngày Lễ Vượt Qua – Ngày Chúa chết (Ngày 14 tháng Nisan): Trong ngày Lễ Vượt Qua, bắt đầu từ sau khi mặt trời lặn của ngày 13 cho đến trước khi mặt trời lặn của ngày 14 tháng Nissan:

  • Chiên con của Lễ Vượt Qua bị giết. Chiên con của Lễ Vượt Qua phải bị giết sau khi mặt trời lặn của ngày 13 tháng Nissan, là lúc đã bước sang buổi chiều tối ngày 14 của Lễ Vượt Qua.
  • Chúa và các môn đồ ăn Lễ Vượt Qua. Bửa ăn của Lễ Vượt Qua thuộc về đêm 14 rạng sáng 14 tháng Nissan.
  • Chúa thiết lập Tiệc Thánh.
  • Chúa cầu nguyện trong vườn Ghết-sê-ma-nê.
  • Chúa bị bắt và bị xét xử bởi Tòa Công Luận.
  • Phi-e-rơ chối Chúa.
  • Sau khi mặt trời mọc ngày 14, Chúa bị xét xử bởi Tổng Trấn Phi-lát, bị giải đến trước Vua Hê-rốt, bị Phi-lát giao cho quân lính đem đi đóng đinh.
  • Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, người sứ đồ phản Chúa, tự sát.
  • Chúa chết trên thập tự giá (Chiên con của Đức Chúa Trời bị giết!), vào khoảng 3 giờ chiều ngày 14.
  • Xác Chúa được chôn cất trước khi mặt trời lặn của ngày 14.

2. Thứ năm, ngày thứ nhất của Lễ Bánh Không Men (Ngày 15 tháng Nisan): Đây là một ngày Sa-bát trọng thể còn gọi là Lễ Sa-bát [11] và bắt đầu cho bảy ngày Lễ Hội Bánh Không Men [12]. Mặc dù Lễ Bánh Không Men bắt đầu vào ngày 15 nhưng trong ngày 14 của Lễ Vượt Qua thì dân I-sơ-ra-ên đã bắt đầu ăn bánh không men [13].

Ngày thứ nhất của Lễ Bánh Không Men bắt đầu từ sau khi mặt trời lặn của ngày 14 và kết thúc khi mặt trời lặn vào ngày 15:

  • Xác Chúa được chôn từ trước khi mặt trời lặn ngày 14. Tính đến trước khi mặt trời lặn của ngày 15 thì Chúa đã ở trong lòng đất trọn một đêm 14 và trọn một ngày 15 (khoảng 24 tiếng).
  • Vì đây là một ngày Sa-bát trọng thể cho nên các nữ môn đồ của Chúa đã không thể đi mua sắm hương liệu để tẩm xác Chúa.

3. Thứ sáu, ngày thứ nhì của Lễ Bánh Không Men (Ngày 16 tháng Nisan):

  • Tính đến trước khi mặt trời lặn của ngày 16 thì Chúa đã ở trong lòng đất trọn hai đêm, đêm 14 15, và trọn hai ngày, ngày 15 16 (khoảng 48 tiếng).
  • Có lẽ, trong ngày này các nữ môn đồ của Chúa đã cùng nhau đi mua sắm hương liệu để xức xác Chúa.

4. Thứ bảy, ngày Sa-bát cuối tuần – Ngày Chúa phục sinh (Ngày 17 tháng Nisan):

  • Tính đến trước khi mặt trời lặn của ngày 17 thì Chúa đã ở trong lòng đất trọn ba đêm, đêm 14 15 16, và trọn ba ngày, ngày 15 16 17 (khoảng 72 tiếng).
  • Vì Thánh Kinh cho biết Chúa bị chết và được chôn, "đến ngày thứ ba" "sau ba ngày"Chúa sẽ sống lại cho nên chúng ta có thể kết luận rằng: Chúa đã phục sinh vào thời điểm kết thúc ngày 17 để sang ngày 18 (ngày thứ nhất trong tuần, tức chủ nhật), tức là vào thời điểm trước khi mặt trời lặn của cuối ngày 17. Ngày 17 là "ngày thứ ba"sau khi Chúa bị chết và được chôn. Thời điểm cuối cùng của ngày 17 ứng với cụm từ "sau ba ngày."
  • Chúa không thể sống lại sau khi mặt trời lặn, vì lúc đó sẽ là khởi đầu của ngày thứ nhất trong tuần lễ và như vậy thì sẽ trở thành "đến ngày thứ tư" Chúa sống lại, không đúng với lời Chúa phán.

5. Ngày thứ nhất đầu tuần (chủ nhật), sau khi Chúa sống lại (Ngày 18 tháng Nisan):

  • Sáng sớm, Chúa hiện ra cho Ma-ri Ma-đơ-len.
  • Chúa về cùng Cha.
  • Chúa hiện ra cho hai môn đồ trên đường họ đến làng Em-ma-út.
  • Buổi chiều, Chúa hiện ra cho các môn đồ.

Mác 16:9 là một câu khiến cho nhiều người hiểu lầm. Xin so sánh câu ấy Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống và câu dịch sát ý của chúng tôi:

Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống: “Vả, Đức Chúa Jesus đã sống lại buổi sớm mai ngày thứ nhứt trong tuần lễ, thì trước hết hiện ra cho Ma-ri Ma-đơ-len, là người mà Ngài đã trừ cho khỏi bảy quỉ dữ.”

Dịch sát nghĩa: “Khi đã sống lại, trước hết Ngài hiện ra cho Ma-ri Ma-đơ-len vào buổi sớm mai của ngày thứ nhất trong tuần lễ, (bà) là người Ngài đã đuổi bảy tà linh ra khỏi.”

Chú thích: Trong nguyên tác Thánh Kinh không có cụm từ "Đức Chúa Jesus." Chữ "bà" không có trong nguyên tác nhưng được chúng tôi thêm vào cho câu văn đúng theo văn phạm Việt.

Đọc theo câu dịch của Bản Dịch Truyền Thống thì người đọc sẽ hiểu là Chúa sống lại vào buổi sớm mai của ngày thứ nhất trong tuần lễ. Đọc theo câu dịch sát nghĩa thì người đọc sẽ hiểu là sau khi sống lại (không đề cập lúc nào) thì trước hết, Chúa hiện ra cho Ma-ri Ma-đơ-len vào buổi sáng sớm của ngày thứ nhất trong tuần lễ. Xin so sánh với các bản dịch Anh ngữ cổ dưới đây:

Bishops' Bible (1568): When [Iesus] was rysen early, the first [day] after the Sabboth, he appeared firste to Marie Magdalene, out of whom he had cast seuen deuils.

Geneva Bible (1587): And when Iesus was risen againe, early the first day of the weeke, he appeared first to Marie Magdalene, out of whom he had cast seuen deuils:

Ngày Tháng Năm Chúa Chết và Phục Sinh Theo Lịch

Theo sự trình bày trên đây, chúng ta nhận thấy ngày Chúa chết phải là ngày thứ tư và ngày Chúa phục sinh phải là ngày thứ bảy. Trong nguyên tác của Thánh Kinh, Ma-thi-ơ 28:1 xác nhận rằng thời gian từ khi Chúa chết cho đến khi Chúa sống lại có "nhiều" ngày Sa-bát vì Ma-thi-ơ dùng danh từ Sa-bát số nhiều trong câu này:

Bản Dịch Truyền Thống: Sau ngày Sa-bát, ngày thứ nhứt trong tuần lễ, lúc tưng tưng sáng, có Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri khác đến thăm mộ.

Dịch sát nghĩa: Sau nhữngngày Sa-bát, ngày thứ nhứt trong tuần lễ, lúc sáng sớm, có Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri khác đến thăm mộ.

Như vậy, rõ ràng là từ khi Chúa chết cho đến khi Chúa sống lại phải có hai ngày Sa-bát: một là ngày Lễ Sa-bát trọng thể, tức ngày thứ nhất của Lễ Hội Bánh Không Men, liền sau ngày Lễ Vượt Qua; hai là ngày Sa-bát cuối tuần.

Để truy tìm Chúa chết vào năm nào chúng ta cần dựa vào một số chi tiết trong Thánh Kinh và đối chiếu với các chi tiết trong lịch sử. Thánh Kinh cho chúng ta biết Chúa bị đóng đinh dưới thời Phi-lát làm tổng trấn xứ Giu-đê mà lịch sử thì cho biết Phi-lát cầm quyền từ năm 26 đến năm 36 [15]. Như vậy, chúng ta cần tìm biết xem trong số 11 năm nói trên, ngày Lễ Vượt Qua của năm nào rơi vào thứ tư. Năm thứ 26 tương đương với năm 3786 của lịch Hê-bơ-rơ. Dùng các nhu liệu hoán chuyển lịch chúng ta có thể bắt đầu dò tìm ngày 14 tháng Nisan từ năm 3786. Có nhiều nhu liệu hoán chuyển lịch trên Internet; chúng tôi chọn dùng nhu liệu trên website http://www.abdicate.net/cal.aspx và ghi được các dữ liệu sau đây:

  • Năm 26: Lễ Vượt Qua nhằm thứ sáu ngày 14 tháng Nisan năm 3786.
  • Năm 27: Lễ Vượt Qua nhằm thứ tư ngày 14 tháng Nisan năm 3787.
  • Năm 28: Lễ Vượt Qua nhằm thứ hai ngày 14 tháng Nisan năm 3788.
  • Năm 29: Lễ Vượt Qua nhằm thứ bảy ngày 14 tháng Nisan năm 3789.
  • Năm 30: Lễ Vượt Qua nhằm thứ tư ngày 14 tháng Nisan năm 3790.
  • Năm 31: Lễ Vượt Qua nhằm thứ hai ngày 14 tháng Nisan năm 3791.
  • Năm 32: Lễ Vượt Qua nhằm thứ hai ngày 14 tháng Nisan năm 3792.
  • Năm 33: Lễ Vượt Qua nhằm thứ sáu ngày 14 tháng Nisan năm 3793.
  • Năm 34: Lễ Vượt Qua nhằm thứ hai ngày 14 tháng Nisan năm 3794.
  • Năm 35: Lễ Vượt Qua nhằm thứ hai ngày 14 tháng Nisan năm 3795.
  • Năm 36: Lễ Vượt Qua nhằm thứ sáu ngày 14 tháng Nisan năm 3796.

Như vậy, năm 27 và năm 30 là hai năm mà Lễ Vượt Qua nhằm vào ngày thứ tư. Từ kết quả này chúng ta tiếp tục dựa vào các chi tiết khác của Thánh Kinh và sử liệu để tìm xem Chúa chết vào năm 27 hay là năm 30.

Lu-ca 3:1-3 chép:

"Năm thứ mười lăm đời Sê-sa Ti-be-rơ, khi Bôn-xơ Phi-lát làm quan tổng đốc xứ Giu-đê, Hê-rốt làm vua chư hầu xứ Ga-li-lê, Phi-líp em vua ấy làm vua chư hầu xứ Y-tu-rê và tỉnh Tra-cô-nít, Ly-sa-ni-a làm vua chư hầu xứ A-by-len, An-ne và Cai-phe làm thầy cả thượng phẩm, thì có lời Đức Chúa Trời truyền cho Giăng, con Xa-cha-ri, ở nơi đồng vắng. Giăng bèn dạo qua hết thảy miền lân cận sông Giô-đanh, giảng dạy phép báp-tem về sự ăn năn để được tha tội…"

Theo sử liệu thì Sê-sa Ti-be-rơ đồng trị với Sê-sa Au-gút-tơ từ năm 10 [16]. Vậy, năm thứ 15 đời Sê-sa Ti-be-rơ nhằm vào năm 25, là năm Giăng Báp-tít khởi đầu chức vụ, và cũng là năm Đức Chúa Jesus chịu báp-tem, trở thành Đấng Christ.

Như vậy, Đức Chúa Jesus đã được Giăng Báp-tít làm báp-tem trước kỳ Lễ Vượt Qua của năm 25, là Lễ Vượt Qua Chúa vào thành Giê-ru-sa-lem và dẹp sạch đền thờ lần thứ nhất, được đề cập đến trong Giăng 2:13. Lễ Vượt Qua của năm 26 được đề cập đến trong Giăng 6:4. Lễ Vượt Qua của năm 27, là Lễ Vượt Qua Chúa vào thành Giê-ru-sa-lem và dọn sạch đền thờ lần thứ nhì, rồi sau đó Ngài bị bắt và bị giết, được đề cập đến trong Giăng 12:1 và 13:1. Kết luận: Đức Chúa Jesus chết trên thập tự giá vào thứ tư, ngày 14 tháng Nisan năm 3787, theo Lịch Do-thái, nhằm thứ tư, ngày 9 tháng 4 năm 27, theo Lịch Julian, vào khoảng 3 giờ chiều, và xác Ngài được an táng trước khi mặt trời lặn.

Thêm một chi tiết khác: Ma-thi-ơ 2:16 cho chúng ta biết Vua Hê-rốt dựa vào lời tường thuật của các nhà thông thái mà ra lệnh giết các trẻ trai từ hai tuổi trở xuống trong thành Bết-lê-hem và các vùng phụ cận. Có lẽ, Vua Hê-rốt cho rằng Chúa đã giáng sinh trong khoảng thời gian các nhà thông thái nhìn thấy ngôi sao bên đông phương, nghĩa là trước khi họ tìm đến Giê-ru-sa-lem khoảng hai năm. Cũng có thể khoảng thời gian từ khi các nhà thông thái nhìn thấy ngôi sao bên đông phương cho tới khi họ đến Giê-ru-sa-lem chỉ trong vòng trên dưới một năm, nhưng Vua Hê-rốt muốn chắc chắc không giết sót, nên đã lùi lại thêm một năm, thay vì ra lệnh giết các trẻ trai từ một tuổi trở xuống, vua đã ra lệnh giết các trẻ trai từ hai tuổi trở xuống.

Lịch sử cho biết Vua Hê-rốt chết vào khoảng giữa ngày 13 tháng 3 năm 4 TCN, là ngày có hiện tượng nguyệt thực xảy ra trên vùng trời Giê-ru-sa-lem, và ngày 11 tháng 4 năm 4 TCN, là ngày Lễ Vượt Qua của năm đó. Sử gia Josephus người Do-thái ghi lại các biến cố xảy ra trong khoảng thời gian này và cho biết Vua Hê-rốt đã chết sau ngày nguyệt thực nhưng trước ngày Lễ Vượt Qua [17]. Như vậy, Đức Chúa Jesus phải được sinh ra khoảng ba năm trước ngày Vua Hê-rốt chết, tức là vào khoảng năm 7 TCN. Nếu sự thật là Đức Chúa Jesus được sinh ra vào năm 7 TCN thì Ngài phải được sinh ra trước ngày 15 tháng 10 Lịch Julian, là ngày bắt đầu vào mùa mưa lạnh, các mục đồng không thể chăn chiên ngoài đồng sau ngày ấy.

Đức Chúa Jesus chịu báp-tem và bắt đầu chức vụ trước Lễ Vượt Qua năm 25, thì như vậy, Ngài chưa đầy 31 tuổi. Cách tính (1) theo Lịch Julian: Lấy năm 7 TCN trừ năm 1 TCN = 6. Lấy năm 25 trừ năm 1 = 24. Lấy 6 24=30. Nên nhớ, không có năm 0 giữa năm 1 TCN và năm 1. Cách tính (2) theo Lịch Do-thái: Lấy năm 3785 trừ cho năm 3754 = 31. Chúa được sinh ra vào khoảng đầu tháng Tishrei (tháng 7) năm 3754 (tương đương đầu tháng 10 Lịch Julian), và chịu báp tem trước Lễ Vượt Qua năm 3785 (tương đương cuối tháng 3 năm 25 Lịch Julian), cho nên, vào lúc chịu báp-tem để bắt đầu chức vụ, Ngài đã qua 30 tuổi nhưng chưa đến 31 tuổi.

Xin chú ý chi tiết trùng hợp lạ lùng sau đây:

  • Ngày 14 tháng Nissan của Lễ Vượt Qua lần đầu tiên do Thiên Chúa thiết lập và ghi lại trong Xuất Ê-díp-tô Ký 12 nhằm thứ tư, ngày 14 tháng Nissan năm 2315 Lịch Do-thái, tức thứ tư, ngày 25 tháng 3 năm 1446 TCN Lịch Julian.
  • Ngày 14 tháng Nissan của Lễ Vượt Qua cuối cùng Đức Chúa Jesus Christ tham dự trước khi bị giết, (được ghi lại trong Ma-thi-ơ 26:17-29; Mác 14:12-25; Lu-ca2:7-23), nhằm thứ tư, ngày 14 tháng Nissan năm 3787 Lịch Do-thái, tức thứ tư, ngày 9 tháng 4 năm 27 Lịch Julian. Chính trong bữa ăn của Lễ Vượt Qua này, Đức Chúa Jesus Christ đã dùng bánh không men và nước nho (không phải rượu nho) để thiết lập Lễ Tiệc Thánh.
  • Chiên con của Lễ Vượt Qua đầu tiên, bị giết vào ngày thứ tư. Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Jesus Christ, Đấng cất tội lỗi của thế gian đi, cũng bị giết vào ngày thứ tư. Trong tuần lễ sáng thế, ngày thứ tư mặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú được dựng nên để chiếu sáng và định thì tiết cho trái đất (Sáng Thế Ký 1:14-16). Trong ngày thứ tư của Lễ Vượt Qua, Đức Chúa Jesus Christ đã chiếu ra ánh sáng của sự cứu rỗi cho toàn thế gian qua sự chết chuộc tội của Ngài cho toàn thể nhân loại, rực rỡ như mặt trời. Qua sự chết của Đức Chúa Jesus Christ mà Hội Thánh của Chúa có thể phản chiếu ánh sáng cứu rỗi của Ngài như mặt trăng phản chiếu ánh sáng của mặt trời. Cũng kể từ ngày thứ tư đó, qua sự chết của Đức Chúa Jesus Christ mà mỗi cá nhân các môn đồ của Chúa chiếu sáng Tin Lành cứu rỗi của Ngài cho thế gian như muôn vàn tinh tú, bởi chính sự sáng của Đức Chúa Jesus Christ trong mỗi đời sống của họ. Cùng với Đức Chúa Jesus Christ và Hội Thánh, mỗi cá nhân các môn đồ của Chúa chiếu rọi sự sáng của Đức Chúa Trời cho thế gian và giúp thế gian phân biệt thiện ác, đúng sai, như mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao chiếu sáng cho trái đất và giúp thế gian phân định ngày đêm, thì tiết, tháng năm. Sự sáng của Đức Chúa Trời chính là vinh quang của Ngài, sự chiếu ra chói lọi bản tính: yêu thương, thánh khiết, và công bình của Thiên Chúa.

Vấn Nạn Giữa Sự Giữ Lễ Vượt Qua của Chúa và của Người Pha-ri-si

Trong Ma-thi-ơ 26:17; Mác 14:12; Lu-ca 22:7 đều ghi rõ ngày Lễ Vượt Qua là ngày con sinh làm Lễ Vượt Qua bị giết thì Chúa và các sứ đồ dự bữa ăn của Lễ Vượt Qua. Ngày Lễ Vượt Qua cũng là ngày thứ nhất dân Do-thái ăn bánh không men, mặc dù ngày hôm sau, 15 tháng Nissan mới là ngày thứ nhất của Lễ Bánh Không Men. Ngày thứ nhất ăn bánh không men khác với ngày thứ nhất của Lễ Bánh Không Men.

Giăng 13:1 thì cho biết là bữa ăn tối mà Chúa thiết lập thành Tiệc Thánh thuộc về: "Trước ngày Lễ Vượt Qua."Giăng 18:1 cho biết Chúa bị bắt trong đêm ấy.

Giăng 18:28 thì cho biết là qua sáng ngày sau vẫn chưa phải là ngày Lễ Vượt Qua, vì những người Pha-ri-si giải Chúa đến trước mặt Phi-lát nhưng không dám vào nơi công đường vì sợ bị ô uế sẽ không thể dự Lễ Vượt Qua sẽ bắt đầu sau khi mặt trời lặn của ngày hôm đó.

Câu hỏi được đặt ra: Phải chăng hoặc là Ma-thi-ơ, Mác và Lu-ca cùng ghi sai hoặc là Giăng đã ghi sai về ngày Chúa dự Lễ Vượt Qua? Nếu Giăng đúng, thì làm sao Chúa và các môn đồ lại có thể kỷ niệm và ăn Lễ Vượt Qua vào một ngày không phải là ngày Lễ Vượt Qua?

Khi chúng ta trở lại với nguồn gốc của Lễ Vượt Qua được ghi chép trong Xuất Ê-díp-tô Ký 12 thì chúng ta sẽ thấy Đức Chúa Trời truyền cho Môi-se những chi tiết sau đây:

  • Đức Chúa Trời ban truyền tháng Giêng, tức tháng một cho dân I-sơ-ra-ên (và như vậy, ngày mà Chúa đang phán với Môi-se trở thành ngày thứ nhất của tháng đó): "Tháng nầy định làm tháng đầu cho các ngươi, tức là tháng Giêng trong quanh năm" (12:2).
  • Đến ngày 10 biệt riêng một con sinh: "Hãy nói cho toàn hội chúng I-sơ-ra-ên rằng: Đến ngày mồng mười tháng nầy, mỗi gia trưởng tùy theo nhà mình phải bắt một con chiên con"(12:3).
  • Đến ngày 14 giết con sinh đó vào buổi chiều tối (buổi chiều tối của ngày 14 bắt đầu liền sau khi mặt trời lặn của ngày 13): "đoạn để dành cho đến ngày mười bốn tháng nầy; rồi cả hội chúng I-sơ-ra-ên sẽ giết nó, vào lối chiều tối" (12:6).
  • Đêm 14 dân I-sơ-ra-ên ăn thịt con sinh bị giết với bánh không men (đêm 14 là khoảng thời gian từ sau khi mặt trời lặn của ngày 13 cho đến khi mặt trời lên của ngày 14): "Đêm ấy họ sẽ ăn thịt chiên quay với bánh không men và rau đắng"(12:8).
  • Ngày đó, tức ngày 14 tháng một phải được kỷ niệm vì là một lễ lập ra đời đời: "Các ngươi hãy ghi ngày đó làm kỷ niệm; trải các đời hãy giữ làm một lễ cho Đức Giê-hô-va, tức là một lễ lập ra đời đời"(12:14).

Cần ghi nhớ: Liền sau khi mặt trời lặn của ngày 13 là khởi đầu của ngày 14 và được gọi là "buổi chiều tối" của ngày 14. Liền sau khi mặt trời lặn của ngày 14 là khởi đầu của ngày 15 và được gọi là "buổi chiều tối" của ngày 15. Như vậy, Đức Chúa Jesus giữ đúng ngày Lễ Vượt Qua, những người Pha-ri-si giữ sai ngày Lễ Vượt Qua. Vì theo cách tính ngày của Thánh Kinh và của người I-sơ-ra-ên thì một ngày mới bắt đầu từ buổi chiều tối sau khi mặt trời lặn của ngày hiện tại; cho nên, buổi chiều tối của ngày 14 chính là sau khi mặt trời lặn vào cuối ngày 13. Đêm 14 chính là trước khi mặt trời lên vào ngày 14.

Người Pha-ri-si, một giai cấp tự dấy lên trong khoảng thời gian 400 năm Đức Chúa Trời yên lặng với dân I-sơ-ra-ên, đã thiết lập nhiều luật lệ sai lạc với điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời [18], trong đó có cả sự thiết lập sai lầm ngày Lễ Vượt Qua. Họ giết con sinh Lễ Vượt Qua vào xế trưa ngày 14 và ăn thịt con sinh đó sau khi mặt trời lặn là thời điểm kết thúc ngày 14 và mở đầu cho buổi tối của ngày 15. Ngoài ra, họ uống rượu, là chất có men trong ngày Lễ Vượt Qua. Truyền thống sai lầm về Lễ Vượt Qua này vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay [19].

Như vậy, Sứ đồ Giăng ghi lại cách gọi và giữ ngày Lễ Vượt Qua của người Pha-ri-si trong khi Ma-thi-ơ, Mác và Lu-ca thì ghi lại cách gọi và giữ ngày Lễ Vượt Qua của Đức Chúa Jesus.

Ngày Lễ Vượt Qua Trong Các Năm từ 2013 – 2020

Con dân chân thật của Chúa thờ phượng Chúa bằng tâm thần và lẽ thật, cho nên, nếu chúng ta muốn kỷ niệm ngày Chúa thiết lập Tiệc Thánh, ngày Chúa chết, ngày Chúa Phục sinh thì chúng ta nên kỷ niệm như sau:

1. Kỷ niệm đêm Chúa thiết lập Tiệc Thánh: Sau khi mặt trời lặn của ngày 13 tháng Nisan, tức buổi chiều của ngày 14 là ngày Lễ Vượt Qua; không phải sau khi mặt trời lặn của ngày 14 vì lúc đó đã sang ngày 15 là ngày Lễ Bánh Không Men.

2. Kỷ niệm sự đau đớn và sự chết của Chúa: Từ buổi trưa cho đến trước khi mặt trời lặn của ngày 14 tháng Nisan, ngày Lễ Vượt Qua.

3. Kỷ niệm sự phục sinh của Chúa: Trước khi mặt trời lặn của ngày 17 tháng Nisan.

Dưới đây là bảng liệt kê các ngày Lễ Vượt Qua (14 tháng Nisan) từ năm 2013 đến năm 2020 tức năm 5773 đến 5780 theo Lịch Do-thái (bắt đầu liền sau khi mặt trời lặn của những ngày được liệt kê):

  • 5773: 25.03.2013
  • 5774: 14.04.2014
  • 5775: 03.04.2015
  • 5776: 22.04.2016
  • 5777: 10.04.2017
  • 5778: 30.03.2018
  • 5779: 19.04.2019
  • 5780: 08.04.2020

Kết Luận

Qua cách thức tổ chức và những dạy dỗ của các giáo hội mang danh Chúa ngày nay, chúng ta có thể rút ra được kết luận sau: Các giáo hội, các tổ chức tôn giáo của loài người mang danh Đạo Chúa đã gieo rắc rất nhiều các giáo lý sai lạc Thánh Kinh, làm mất đi các ý nghĩa sâu nhiệm của Lời Chúa, đồng thời khiến cho con dân Chúa không thờ phượng Chúa theo lẽ thật, tức theo Lời Chúa. Dầu vậy, chúng ta cũng nhận biết: Hội Thánh của Chúa không phải là các giáo hội, không phải là các tổ chức tôn giáo (thí dụ: các "nhà thờ," các "trường thần học," các "trường Thánh Kinh," các "chủng viện…") nhưng trong các giáo hội và các tổ chức đó vẫn có những con dân chân thật của Chúa.

Lời Chúa dạy: Con dân chân thật của Chúa đọc, nghe, suy ngẫm, và cẩn thận vâng giữ Lời Chúa (Giô-suê 1:8; Khải Huyền 1:3); nhất quyết tra xem Thánh Kinh để tìm biết xem các lời giảng dạy của những người mang danh tôi tớ Chúa có thật hay không (Công Vụ Các Sứ Đồ 17:11). Con dân chân thật của Chúa: chỉ thờ phượng Chúa bằng tâm thần và theo lẽ thật của Lời Chúa (Giăng 4:23, 24; 17:17); không thờ phượng Chúa theo truyền thống của giáo hội sai trật với lẽ thật của Lời Chúa; không pha trộn văn hóa của thế gian vào nghi thức thờ phượng Chúa; không thờ phượng Chúa theo cách thức dân ngoại thờ phượng thần của họ (Lê-vi Ký 18:3, 30; 20:23).

Ngày "Thứ sáu Thương Khó" và "Chủ Nhật Easter" mà các giáo hội kỷ niệm hơn 1700 năm nay trong danh Chúa, hoàn toàn không đúng với sự thật như đã ghi chép trong Thánh Kinh. Đã vậy, các giáo hội còn dùng tên nữ thần Easter của ngoại giáo để đặt tên cho ngày kỷ niệm Chúa phục sinh (xem bài: "Huyền Thoại Về Easter" [20]). Con dân chân thật của Chúa nên dứt khoác từ bỏ tổ chức hai ngày "lễ" "Thứ Sáu Thương Khó" và "Chủ Nhật Easter;" cũng không gọi "Easter" là Lễ Chúa Phục Sinh hoặc "Christmas" là Lễ Chúa Giáng Sinh. Xin xem bài: "Sự Thật về Christmas" [21].

Chúng tôi cầu xin tất cả những con dân chân thật của Chúa khi đọc bài này sẽ được Đức Thánh Linh dẫn vào trong sự thông biết lẽ thật.

Nguyện Chúa tha thứ cho chúng con những tội mà chúng con không biết, trong đó có tội thờ phượng Chúa không theo lẽ thật.

Huỳnh Christian Timothy
31.07.2010
Hiệu đính lần thứ nhất, ngày 03.09.2011
Hiệu đính lần thứ nhì, ngày 13.03.2012
Hiệu đính lần thứ ba, ngày 23.12.2012

Ghi Chú và Tham Khảo:

[A] Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Quý bạn có thể đọc trên mạng: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

[B] Chúng tôi chọn cách gọi "Trước Công Nguyên" (Before the Common Era) và "Công Nguyên" (Common Era) viết tắt là "TCN" và "CN" thay vì "BC" và "AD."

Cách gọi "BC" (Before Christ) và "AD" (Anno Domini – tiếng La-tin, có nghĩa: Trong Năm của Chúa) là không chính xác, bởi vì Chúa không giáng sinh vào năm 1. Chúng ta chấp nhận cách tính của Lịch La-mã mở ra một nguyên đại chung cho toàn thế gian, nên chúng ta gọi năm thứ nhất của Lịch La-mã là năm thứ nhất Công Nguyên và gọi thời gian trước năm thứ nhất đó là "trước Công Nguyên," viết tắt là TCN.

[C] Xem thêm cách tính các ngày lễ trong Cựu Ước: http://www.bibletrack.org/notes/resource/misc/Feasts.html

[01] Bruce L. Shelley. Church History In Plain Language, trang 94-97. Thomas Nelson Publishers, Nashville, 1995.

Năm 312, Hoàng Đế La-mã Constantine nhập Đạo; năm 313, ông ra chiếu chỉ khoan dung cho Đạo Chúa dẫn đến việc hình thành Công Giáo. Năm 380, Công Giáo được quốc giáo hóa bởi Hoàng Đế La-mã Theodosius.

[02] The Encyclopaedia Britannica, "Easter," 11th edition, trang 828-829.

[03] Philip Schaff. History of the Christian Church, volume 2, trang 218. Hendrickson Publishers, Peabody, Massachusetts, 2006.

Tiết xuân phân là ngày đầu tiên mở đầu cho mùa xuân.

[04] Philip Schaff. History of the Christian Church, volume 4, trang 459-474. Hendrickson Publishers, Peabody, Massachusetts, 2006.

[05] Andrew Louth. Greek East and Latin West, trang 171. St Vladimirs Seminary Press, 2007.

[06] http://vietnamesechristianmission.org/node/4

[07] Xuất Ê-díp-tô Ký 12:6; Dân Số Ký 28:16; Phục Truyền Luật lệ Ký 16:6; Ma-thi-ơ 26:17 – 27:66; Mác 14:1 – 15:47; Lu-ca 22:1 – 23:56.

[08] Ma-thi-ơ 12:40 "Vì Giô-na đã bị ở trong bụng cá lớn ba ngày ba đêm, cũng một thể ấy, Con người sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm."

[09] Ma-thi-ơ 16:21; 17:23; 20:19; Mác 8:31; 9:31; 10:34; Lu-ca 9:22; 18:33; 24:7, 46; Công Vụ Các Sứ Đồ 10:40; I Cô-rinh-tô 15:4.

[10] Sáng Thế Ký 1:5, 8, 13, 19, 23, 31: "Vậy, có buổi chiều và buổi mai, ấy là ngày thứ…"

[11] Lê-vi Ký 23:9-11; Giăng 19:31.

[12] Xuất Ê-díp-tô Ký 12:17; 23:15; 34:18; Lê-vi Ký 23:5-6; Dân Số Ký 28:17.

[13] Xuất Ê-díp-tô Ký 12:8; Dân Số Ký 9:11; Phục Truyền Luật lệ Ký 16:3.

[14] Lê-vi Ký 23:9-11.

[15] Britannica Online: Pontius Pilate; http://www.livius.org/jo-jz/judaea/judaea.htm

[16] http://www.newadvent.org/cathen/14717b.htm

[17] Flavius Josephus. Jewish Antiquities, 17.6.4.

[18] Ma-thi-ơ 15:3, 6.

[19] Đọc Tiếp →

3,111 views

Sự Cứu Rỗi và Sự Sống Đời Đời

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này

Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài viết này là từ "Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Phan Khôi Hiệu Đính Năm 2011," ngoại trừ những câu trích dẫn từ sách Giăng và sách Khải Huyền là từ "Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời." Quý con dân Chúa có thể tra cứu tại đây:  http://pk2011.thanhkinhvietngu.net/biblehttp://ngoiloi.thanhkinhvietngu.net/.

Dẫn Nhập

Trong lịch sử của Hội Thánh, nhiều giáo lý sai nghịch Thánh Kinh đã được Sa-tan đưa vào Hội Thánh nhằm mục đích phá hoại sự phát triển của Hội Thánh. Một trong những phương cách cổ điển của Sa-tan là sửa đổi hoặc bẻ cong ý nghĩa chân thật của Lời Chúa để khiến người nghe áp dụng những hiểu biết sai lầm vào trong nếp sống đạo. Sa-tan đã từng thêm bớt Lời Chúa để khiến cho Ê-va phạm tội. Sa-tan cũng từng bẻ cong Lời Chúa mong rằng có thể cám dỗ Đức Chúa Jesus Christ phạm tội.

Trong những ngày cuối cùng này, chiến thuật sửa đổi (thêm hoặc bớt) Lời Chúa được Sa-tan ứng dụng trong các bản Thánh Kinh Diễn Ý hoặc các Bản Dịch Mới Thánh Kinh trong mọi ngôn ngữ. Chiến thuật bẻ cong Lời Chúa được Sa-tan ứng dụng trong các phong trào thần học và các tài liệu giải kinh. Từ đó, vô số giáo lý lạ được phát sinh và giảng dạy trong các giáo hội xưng danh là Hội Thánh.

Cảm tạ Chúa! Lời phán của Ngài là chân lý, cho nên, dù Sa-tan có gắng sức đánh phá cũng không thể nào thắng được Hội Thánh (Ma-thi-ơ 16:18). Những sự lường gạt của Sa-tan đầy dẫy trong các giáo hội chỉ có thể gạt được những ai không thuộc về Chúa, là những người vì không có lòng tìm kiếm Chúa và lẽ thật của Ngài nên đã bị Sa-tan làm cho mù thuộc linh (II Cô-rinh-tô 4:3, 4). Những người thật sự thuộc về Chúa sẽ được chính Đức Thánh Linh là Thần Lẽ Thật dẫn họ vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa và dùng chính Lời Chúa để thánh hóa họ (Giăng 16:13; 17:17), chuẩn bị họ cho ngày gặp Chúa giữa chốn không trung. Chúa cũng sẽ dùng những tôi tớ chân thật của Ngài để rao giảng và dạy dỗ các lẽ thật của Lời Ngài trong Hội Thánh.

Hai trong những lẽ đạo căn bản nhất của Thánh Kinh là "Sự Cứu Rỗi" và "Sự Sống Đời Đời" đã bị Sa-tan cố gắng che dấu, bẻ cong với nhiều ý tưởng thần học và giáo lý không có trong Thánh Kinh. Trong bài này, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa chân thật của sự cứu rỗi ở trong Đức Chúa Jesus Christ và sự sống đời đời được ban cho bởi Ngài.

Sự Thực Hữu, Sự Sống và Sự Chết

Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ định nghĩa của Thánh Kinh về sự sống và sự chết. Để có thể kinh nghiệm sự sống và sự chết thì phải có sự thực hữu (có thật). Chúng ta và muôn loài vạn vật, kể cả các thiên sứ, thực hữu là do Thiên Chúa sáng tạo. Thiên Chúa là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, nghĩa là, Thiên Chúa Tự Có và Có Đến Đời Đời; còn muôn loài vạn vật do ý muốn và quyền phép của Thiên Chúa mà có. Sự thực hữu của muôn loài vạn vật bắt đầu với sự sống cho đến khi sự chết xuất hiện. Sự chết làm biến đổi quan hệ của loài thọ tạo với Thiên Chúa và với nhau, chứ không chấm dứt sự thực hữu của chúng. Vì thế, một khi đã thực hữu thì chúng ta sẽ thực hữu trong sự sống hoặc thực hữu trong sự chết.

Chính Thánh Kinh dạy cho chúng ta biết, chết không có nghĩa là không còn thực hữu: "Còn anh em đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình, đều là những sự anh em xưa đã học đòi, theo thói quen đời nầy, vâng phục vua cầm quyền chốn không trung tức là thần hiện đương hành động trong các con bạn nghịch. Chúng ta hết thảy cũng đều ở trong số ấy, trước kia sống theo tư dục xác thịt mình, làm trọn các sự ham mê của xác thịt và ý tưởng chúng ta, tự nhiên làm con của sự thạnh nộ, cũng như mọi người khác. Nhưng Đức Chúa Trời, là Đấng giàu lòng thương xót, vì cớ lòng yêu thương lớn Ngài đem mà yêu chúng ta, nên đang khi chúng ta chết vì tội mình, thì Ngài làm cho chúng ta sống với Đấng Christ, ấy là nhờ ân điển mà anh em được cứu, và Ngài làm cho chúng ta đồng sống lại và đồng ngồi trong các nơi trên trời trong Đức Chúa Jesus Christ, hầu cho về đời sau tỏ ra sự giàu có vô hạn của ân điển Ngài, mà Ngài bởi lòng nhơn từ đã dùng ra cho chúng ta trong Đức Chúa Jesus Christ" (Ê-phê-sô 2:1-7). Các mệnh đề "anh em đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình""đang khi chúng ta chết vì tội mình" cho chúng ta thấy rõ, "đã chết" hoặc "đang chết" không có nghĩa là trở thành hư không, không còn thực hữu.

Trong câu chuyện người ăn mày tên La-xa-rơ và người nhà giàu được ghi chép trong Lu-ca 16:19-31, Đức Chúa Jesus dạy rằng, cả người trong Chúa lẫn người ngoài Chúa, sau khi chết thuộc thể thì vẫn thực hữu với đầy đủ ý thức, tình cảm, lý trí, và ý chí.

Trong sự kiện Chúa hóa hình trên núi được ghi lại trong Ma-thi-ơ 17, Mác 9, và Lu-ca 9, thì Lu-ca 9:30, 31có nói rõ, Môi-se vốn là người đã chết phần thể xác hơn 1400 năm trước đó, (thân thể ông được thiên sứ trưởng Mi-chen chống với ma quỷ để dành lấy, không cho ma quỷ lạm dụng  – Giu-đe 9), đã hiện ra trò chuyện với Chúa về sự Ngài sẽ qua đời. Đối với tên trộm bị đóng đinh bên phải Chúa, Ngài phán: "hôm nay ngươi sẽ được ở với Ta trong nơi Ba-ra-đi" (Lu-ca 23:43). Trong Hê-bơ-rơ 12:23 nói đến sự kiện Hội Thánh của Chúa được ở gần "thần linh của những người nghĩa đã được làm cho vẹn lành," tức là các thánh đồ đã qua đời. Khải Huyền 6:9-11 nói đến linh hồn của những người tử đạo được ở dưới bàn thờ trên thiên đàng, kêu xin Chúa báo thù cho họ, và họ được ban cho những áo trắng. Tất cả các phân đoạn Thánh Kinh trên đây đã dạy rõ: cái chết thể xác không khiến cho sự thực hữu của một người bị chấm dứt và thuyết "linh hồn ngủ" cho rằng một người đã chết thì không còn biết gì nữa, là hoàn toàn sai lầm, nghịch lại lẽ thật của Thánh Kinh.

Vì không hiểu rõ những điều trên đây nên vài giáo phái Cơ-đốc, như Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật (Seventh Day Adventist), Hội Thánh của Đức Chúa Trời (Church of God), và Chứng Nhân của Đức Giê-hô-va (Jehovah's Witnesses) đã tạo ra các giáo lý sai nghịch Thánh Kinh. Họ dạy rằng, sống là thực hữu còn chết là trở về hư không, vì thế, họ bài bác sự kiện ma quỷ và những người hư mất sẽ bị khổ đời đời trong hỏa ngục.

Theo Thánh Kinh, sống là sự kết hợp năng động, đem lại kết quả, còn chết là sự phân rẽ, chấm dứt mọi năng động. Có sự sống thuộc thể và sự sống thuộc linh, sự chết thuộc thể và sự chết thuộc linh. Trong sự sống thuộc thể, linh hồn và tâm thần kết hợp với thể xác, khiến cho thể xác được năng động. Sự chết thuộc thể xảy ra khi linh hồn và tâm thần phân rẽ với thể xác. Trong sự sống thuộc linh, loài người được kết hợp với Thiên Chúa, nghĩa là được tương giao với Ngài, được thực hữu trong sự vinh quang và quyền phép của Ngài. Đó là địa vị ban đầu của loài người khi được Thiên Chúa dựng nên. Trong sự chết thuộc linh loài người bị phân rẽ với Thiên Chúa, bị thực hữu trong sự thịnh nộ của Ngài. Sự chết thuộc linh hay sự phân rẽ với Thiên Chúa xảy ra khi loài người chống nghịch lại luật pháp của Thiên Chúa. Luật pháp của Thiên Chúa  tức là mọi ý muốn của Ngài đối với loài người. Thánh Kinh gọi sự chống nghịch đó là "sự phạm tội" và định nghĩa: "Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp" (I Giăng 3:4); đồng thời giải thích: "Nhưng ấy là sự gian ác các ngươi làm xa cách mình với Thiên Chúa; và tội lỗi các ngươi đã che khuất mặt Ngài khỏi các ngươi, đến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa" (Ê-sai 59:2).

Sự sống còn có nghĩa là nhận thức và sự chết còn có nghĩa là không nhận thức, vì thế, sự sống còn được gọi là sự sáng và sự chết còn bị gọi là sự tối tăm. Trong sự sống thuộc thể, thể xác nhận biết linh hồn và tâm thần; nhưng khi sự chết thuộc thể xảy ra thì thể xác không còn nhận biết linh hồn và tâm thần nữa. Trong sự sống thuộc linh, loài người nhìn biết Thiên Chúa; nhưng khi sự chết thuộc linh xảy ra thì loài người không còn nhìn biết Thiên Chúa nữa.

"Trong Ngài có sự sống; sự sống là sự sáng của loài người. Sự sáng hiện ra trong sự tối tăm; và sự tối tăm chẳng thể kiềm chế sự sáng"(Giăng 1:4, 5). Trong Ngôi Lời, tức là trong Đức Chúa Jesus Christ, có sự sống và sự sống là sự loài người nhận thức Thiên Chúa. Sự sống hiện ra trong sự chết; và sự chết chẳng thể bắt phục sự sống.

"Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Ngài, tức là Chúa Trời có một và thật, cùng Jesus Christ, là Đấng Ngài đã sai đến" (Giăng 17:3). Sự sống đời đời là nhận thức Đức Chúa Cha và Đức Chúa Jesus Christ. Nhận thức Đức Chúa Cha qua sự giải bày của Đức Chúa Jesus Christ và nhận thức Đức Chúa Jesus là Đấng Christ, là Đấng Đức Chúa Cha đã sai đến thế gian để cứu chuộc nhân loại.

"Rồi những kẻ nầy sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự sống đời đời" (Ma-thi-ơ 25:46). Hình phạt đời đời là sự chết thứ hai, tức là đời đời thực hữu trong hỏa ngục: "Còn những kẻ hèn nhát, không tin, đáng gớm ghiếc; những kẻ giết người; những đĩ đực; những kẻ phù phép; những kẻ thờ thần tượng; và tất cả những kẻ nói dối sẽ có phần của chúng trong hồ đốt với lửa và lưu hoàng. Đó là sự chết thứ hai" (Khải Huyền 21:8). Sự sống đời đời là được làm con dân của Đức Chúa Trời và được Ngài ở cùng cho đến đời, không bao giờ bị phân rẽ nữa: "Tôi nghe một tiếng lớn từ trời phán rằng: 'Này, lều của Đức Chúa Trời ở với loài người và Ngài sẽ ở với họ. Họ sẽ làm dân của Ngài và chính mình Đức Chúa Trời sẽ ở với họ, làm Đức Chúa Trời của họ. Đức Chúa Trời sẽ lau hết mọi nước mắt khỏi mắt họ. Sẽ không còn sự chết, không còn buồn khổ, không còn khóc lóc, cũng không còn đau đớn nữa vì những sự cũ đã qua rồi.' Đấng ngự trên ngai phán rằng: 'Này, Ta làm mới mọi sự!' Ngài lại phán với tôi: 'Hãy chép, vì những lời này là chân thật và thành tín.' Ngài phán với tôi: 'Xong rồi! Ta là An-pha và Ô-mê-ga: Đấng Đầu Tiên và Đấng Cuối Cùng. Ta sẽ ban cho kẻ nào khát được tự do uống từ Nguồn Nước Sống. Kẻ nào thắng sẽ được hưởng mọi sự làm cơ nghiệp. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời người và người sẽ làm con trai Ta'" (Khải Huyền 21:3-7). Từ ngữ "con trai" trong nguyên tác Thánh Kinh để chỉ về sự được hưởng quyền thừa kế. "Con trai của Đức Chúa Trời" có nghĩa là kẻ được hưởng cơ nghiệp của Ngài. Trong ý nghĩa đó, khi Thánh Kinh gọi các thiên sứ là "các con trai của Đức Chúa Trời" thì hàm ý các thiên sứ cũng được dự phần trong cơ nghiệp của Đức Chúa Trời. Một trong các cơ nghiệp của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời.

"Nhiều kẻ ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, kẻ thì để được sự sống đời đời, kẻ thì chịu sự xấu hổ nhơ nhuốc đời đời"(Đa-ni-ên 12:2). Trong tương lai, thân thể vật chất của người tin Chúa và người không tin Chúa đều sẽ sống lại, nghĩa là được kết hợp trở lại với linh hồn. Thân thể phục sinh của người tin Chúa sẽ thực hữu trong hạnh phúc với Thiên Chúa cho đến đời đời, vì được đầy dẫy ân điển của Ngài; còn thân thể phục sinh của người không tin Chúa sẽ thực hữu trong đau khổ cho đến đời đời, vì thiếu mất ân điển của Ngài.

"Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của quyền phép Ngài"(II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9). Những kẻ không vâng phục Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ sẽ bị hư mất đời đời, nghĩa là, đời đời xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của quyền phép Ngài, là thực hữu cách đau khổ cả ngày lẫn đêm trong hỏa ngục: "Ma Quỷ là kẻ lừa dối chúng bị ném vào hồ lửa và lưu hoàng, nơi có con thú và tiên tri giả. Chúng sẽ bị đau khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời. Rồi, tôi thấy một ngai trắng, lớn và Đấngngự trên ngai. Đất và trời trốn khỏi mặt Ngài, chẳng còn thấy chỗ của chúng nữa. Tôi thấy những kẻ chết, nhỏ lẫn lớn, đứng trước Đức Chúa Trời. Có những sách mở ra. Lại có một sách khác là Sách Sự Sống được mở ra. Những kẻ chết bị phán xét tùy theo những việc họ đã làm và đã được ghi lại trong những sách ấy. Biển đã giao lại những kẻ chết trong nó. Sự chết và âm phủ cũng đã giao lại những kẻ chết trong chúng. Mỗi người bị phán xét tùy theo những việc họ đã làm. Sự chết và âm phủ bị ném vào hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai. Bất kỳ kẻ nào không tìm thấy được chép trong Sách Sự Sống thì bị ném vào hồ lửa" (Khải Huyền 20:10-15).

Ý Nghĩa của Sự Cứu Rỗi

Sự cứu rỗi và sự sống đời đời là hai điều khác nhau nhưng có liên quan mật thiết với nhau. Một người không thể nào có được sự sống đời đời nếu chưa được cứu rỗi. Được cứu rỗi là được cứu ra khỏi:

•         địa vị làm con cái của ma quỷ, con cái của ma quỷ có nghĩa là giống như ma quỷ và thuộc về ma quỷ (Giăng 8:44);

•         quyền lực của tội lỗi, nghĩa là không còn bị buộc phải làm những điều nghịch lại luật pháp của Đức Chúa Trời (Rô-ma 7:23);

•         hậu quả của tội lỗi là sự chết đời đời, tức là sự bị phân cách đời đời với Đức Chúa Trời (II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9).

Tiến trình của sự cứu rỗi bao gồm các bước sau đây:

•          được xưng nghĩa, tức là tội nhân được Đức Chúa Trời tuyên bố không còn trách nhiệm đối với mọi tội lỗi (Rô-ma 3:23, 24);

•           được tái sinh, tức là được sinh ra mới bởi Đức Chúa Trời (II Cô-rinh-tô 5:17; I Phi-e-rơ 1:3);

•          được thánh hóa, tức là được trở nên giống như Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 4:24; I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23).

Sự xưng nghĩa bao gồm các phương diện sau đây, tội nhân được:

•           tha tội và làm cho sạch tội (I Giăng 1:9);

•           ban cho địa vị con cái của Đức Chúa Trời (Giăng 1:12);

•           ban cho địa vị thánh đồ trong Đức Chúa Jesus Christ (I Cô 1:2).

Sự tái sinh bao gồm các phương diện sau đây, thánh đồ được:

•          trở nên đền thờ của Đức Chúa Trời và được Đức Thánh Linh ngự trong thân thể (I Cô-rinh-tô 3:16; 6:19);

•         Đức Thánh Linh ban cho các ân tứ để hầu việc Đức Chúa Trời (I Cô-rinh-tô 12:1-11);

•         ban cho các chức vụ: tiên tri, thầy tế lễ, nhà vua (Ma-thi-ơ 28:19, 20; I Phi-e-rơ 2:9, 10; Khải Huyền 1:6) để làm những việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho (Ê-phê-sô 2:10).

Sự thánh hóa bao gồm các phương diện sau đây, thánh đồ được:

•         trở nên giống Chúa (Rô-ma 8:29; Ê-phê-sô 4:24);

•         thông công với Chúa và với các chi thể trong Hội Thánh của Chúa (I Cô-rinh-tô 1:9; 12:12-26);

•         đạt đến mức không tì, không vít, không chỗ trách được (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23), nghĩa là trở nên trọn vẹn như Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 5:48).

Điều Kiện để Được Sự Cứu Rỗi

Một người muốn được cứu rỗi phải hội đủ các điều kiện sau đây:

•         nhận mình là người có tội (I Giăng 1:8-10);

•         thật lòng ăn năn tội, tức là chịu từ bỏ tội (Ma-thi-ơ 4:17; Công Vụ Các Sứ Đồ 3:19; Giăng 5:14; 8:11);

•         tin nhận chỉ một mình sự cứu rỗi trong Đức Chúa Jesus Christ, nghĩa là không dựa vào các việc làm công đức hay là ai khác (Giăng 14:6; Công Vụ Các Sứ Đồ 4:12; Ê-phê-sô 2:8, 9).

Sự Cứu Rỗi Dẫn Đến Sự Sống Đời Đời

Người đã được cứu rỗi là người được Đức Chúa Trời dựng nên mới và ban cho năng lực để có thể sống theo luật pháp của Thiên Chúa. Luật pháp của Thiên Chúa tức là mọi ý muốn của Thiên Chúa đối với loài người được ghi chép trong Thánh Kinh.

Chúng ta không làm theo luật pháp để được cứu nhưng chúng ta được cứu để làm theo luật pháp.

Trước khi chúng ta được cứu thì chúng ta đang chết (nghĩa là đang bị phân rẽ với Chúa), bị nô lệ cho tội lỗi (nghĩa là phải làm theo sự sai khiến của tội lỗi), và ở dưới luật pháp (nghĩa là bị phán xét bởi luật pháp). Sau khi chúng ta được cứu thì chúng ta được tái sinh (nghĩa là được dựng nên mới trong Đức Chúa Jesus Christ), thoát khỏi sự cai trị của tội lỗi (nghĩa là có thể vừa muốn vừa làm theo thánh ý của Đức Chúa Trời), và được tự do đối với luật pháp (nghĩa là luật pháp vẫn có đó nhưng không còn phán xét chúng ta về mọi tội lỗi của chúng ta mà sự phán xét đó được thi hành trên Đức Chúa Jesus Christ). Vì thế, nếu chúng ta tiếp tục ở lại trong sự cứu rỗi, nghĩa là không quay về với nếp sống chống nghịch luật pháp của Thiên Chúa, thì chúng ta sẽ nhận được sự sống đời đời.

Hiện nay, chúng ta đang ở trong sự cứu rỗi, đã được tái sinh, đang ở trong địa vị làm con của Đức Chúa Trời, và đang ở trong sự sống, tức là đang được tương giao với Thiên Chúa, nếm biết sự sống đời đời nhưng chưa hoàn toàn sở hữu sự sống đời đời. Nếu chúng ta trung tín làm theo Lời Chúa cho đến chết hoặc cho đến khi Chúa trở lại thì chúng ta sẽ hoàn toàn sở hữu sự sống đời đời trong một thân thể vinh quang. Khi đó, chúng ta trở nên trọn vẹn như Cha của chúng ta ở trên trời và chúng ta không còn thể nào phạm tội.

Ý Nghĩa của Sự Sống Đời Đời

Sự sống đời đời là được thực hữu trong hạnh phúc với Đức Chúa Trời cho đến đời đời, bao gồm sự:

•         nhận biết Đức Chúa Cha và Đức Chúa Jesus Christ (Giăng 17:3);

•         được làm con của Đức Chúa Trời (Giăng 1:12; Khải Huyền 21:7);

•      được hưởng cơ nghiệp của Đức Chúa Trời (Ê-phê 1:18; Cô-lô-se 1:12, 3:24; Hê-bơ-rơ 9:15; I Phi-e-rơ 1:4).

Điều Kiện để Được Sự Sống Đời Đời

Một người muốn được sự sống đời đời phải hội đủ các điều kiện sau đây:

•         được cứu rỗi, tức là: được xưng nghĩa, được tái sinh, và được thánh hóa, xin đọc bài "Ba Phương Diện của Sự Cứu Rỗi" tại đây: http://thanhoc.timhieutinlanh.net/node/264;

•         nên thánh, tức là từ bỏ mọi sự ô uế, tội lỗi (II Cô-rinh-tô 7:1; I Tê-sa-lô-ni-ca 4:3, 7; I Giăng 3:3), là vâng giữ các điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời (I Cô-rinh-tô 7:19; I Ti-mô-thê 6:14; I Giăng 2:3-5; 5:3; II Giăng 4; Khải Huyền 4:12), là sống như Đấng Christ (Ê-phê-sô 5:1; I Tê-sa-lô-ni-ca 1:6; I Giăng 2:6), là bắt chước Phao-lô như Phao-lô đã bắt chước Đấng Christ (I Cô-rinh-tô 1:11);

•         trung tín với Chúa cho đến chết, tức là sẵn sàng chịu khổ, thậm chí chịu chết, để làm theo Lời Chúa (Lu-ca 9:23; Rô-ma 14:7, 8; Phi-líp 1:29; II Ti-mô-thê 3:3; Khải Huyền 2:10).

Người Đã Được Cứu Rỗi Vẫn Có Thể Bị Hư Mất Đời Đời

Trái với thứ giáo lý sai nghịch Thánh Kinh, dạy rằng: "một khi đã được cứu rỗi thì vĩnh viễn không bao giờ bị hư mất" hoặc "được cứu một lần là được cứu vĩnh viễn" hoặc "người đã được cứu rỗi không bao giờ bị mất sự cứu rỗi," Thánh Kinh khẳng định như sau:

"Ta là gốc nho thật; và Cha Ta là người trồng nho. Mỗi nhánh trong Ta mà không kết quả, thì chính Ngài chặt bỏ nó; và Ngài tỉa sửa từng nhánh nào kết quả, để nó được sai trái hơn. Các ngươi đã được tinh sạch, bởi lời Ta đã phán với các ngươi. Hãy cứ ở trong Ta, và Ta ở trong các ngươi. Như nhánh không tự mình kết quả được nếu không cứ ở trong gốc nho, thì các ngươi cũng vậy, nếu các ngươi không cứ ở trong Ta. Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh. Ai cứ ở trong Ta và Ta trong người ấy, thì người ấy kết quả nhiều; vì ngoài Ta, các ngươi chẳng làm chi được. Nếu ai chẳng cứ ở trong Ta, thì bị ném ra ngoài, như một nhánh và bị khô đi; và người ta gom chúng lại, ném vào trong lửa, thì nó cháy" (Giăng 15:1-6). Nhánh bị chặt bỏ là bị phân rẽ với gốc, là chết. Người đã được cứu rỗi mà không tiếp tục ở trong Chúa, tức là không kết quả xứng đáng với sự ăn năn, thì sẽ bị dứt bỏ khỏi Đấng Christ là nguồn của sự sống đời đời và bị ném vào hồ lửa của sự chết đời đời: "Thế thì, hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn…" (Lu-ca 3:8). Kết quả xứng đáng với sự ăn năn là sốt sắng làm theo Lời Chúa như đã được ghi chép trong Thánh Kinh, là vâng giữ các điều răn và luật pháp của Thiên Chúa: "Nhưng bây giờ đã được buông tha khỏi tội lỗi và trở nên tôi mọi của Đức Chúa Trời rồi, thì anh em được lấy sự nên thánh làm kết quả, và sự sống đời đời làm cuối cùng" (Rô-ma 6:22); là không còn phạm tội nữa: "Này, ngươi đã lành rồi, đừng phạm tội nữa, để không có sự xấu gì xảy đến cho ngươi" (Giăng 5:14);"…hãy đi, đừng phạm tội nữa" (Giăng 8:11).

"Vậy hãy xem sự nhơn từ và sự nghiêm nhặt của Thiên Chúa: sự nghiêm nhặt đối với họ là kẻ đã ngã xuống, còn sự nhơn từ đối với ngươi, miễn là ngươi cầm giữ mình trong sự nhơn từ Ngài: bằng chẳng, ngươi cũng sẽ bị chặt"(Rô-ma 11:22). Thiên Chúa là nhân từ nên Ngài ban cho mọi người có cơ hội để được cứu rỗi; nhưng Thiên Chúa cũng rất là nghiêm nhặt nên Ngài sẽ loại bỏ những ai lợi dụng sự nhân từ của Ngài để tiếp tục sống trong tội. Mệnh lệnh của Chúa đối với người tin nhận Chúa rất là rõ ràng: "Đừng phạm tội nữa!"

"Vì chưng những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Thánh Linh, Lời lành của Thiên Chúa, và năng lực của đời sau, nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường. Vả, một đám đất nhờ mưa đượm nhuần mà sanh cây cỏ có ích cho người cày cấy, thì đất đó hưởng phần phước lành của Đức Chúa Trời. Nhưng đất nào chỉ sanh ra những cỏ rạ, gai gốc, thì bị bỏ, và hầu bị rủa, cuối cùng phải bị đốt"(Hê-bơ-rơ 6:4-8). Lời Chúa khẳng định rõ ràng: Một người đã được soi sáng một lần (từng nhận biết Chúa và lẽ thật của Lời Chúa), nếm biết sự ban cho từ trên trời (ơn cứu rỗi), dự phần về Thánh Linh (được tái sinh và nhận lãnh Thánh Linh), Lời Lành của Thiên Chúa (được thánh hóa bởi Lời Chúa), và năng lực của đời sau (vượt khỏi sự chết vào trong sự sống, chiến thắng ma quỷ) mà lại vấp ngã (trở lại sống trong tội) thì không thể khiến cho họ lại ăn năn nữa. Số phận của kẻ không ăn năn sẽ đi về đâu?

"Vả, chúng nó bởi sự nhận biết Chúa và Đấng Giải Cứu chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ, mà đã thoát khỏi sự ô uế của thế gian, rồi lại mắc phải và suy phục những sự đó, thì số phận sau cùng của chúng nó trở xấu hơn lúc đầu. Chúng nó đã biết đường công bình, rồi lại lui đi về lời răn thánh đã truyền cho mình, thế thì thà rằng không biết là hơn. Đã xảy đến cho chúng nó như lời tục ngữ rằng: Chó liếm lại đồ nó đã mửa, heo đã rửa sạch rồi, lại lăn lóc trong vũng bùn"(II Phi-e-rơ 2:20-22). Số phận sau cùng là số phận lúc chung cuộc, lúc bị phán xét trước tòa án của Đấng Christ. Số phận của kẻ nhận biết Chúa rồi mà trở lại sống trong tội thì xấu hơn số phận của chính họ lúc chưa tin nhận Chúa, bởi vì, dù người không tin nhận Chúa cũng sẽ bị hình phạt nhưng sự hình phạt của họ sẽ nhẹ hơn hình phạt của người đã tin nhận Chúa rồi mà quay lại với nếp sống tội lỗi.

"Vì ngươi hâm hẫm, không lạnh cũng không nóng, Ta sẽ mửa ngươi ra khỏi miệng Ta"(Khải Huyền 3:16). Số phận của người không hết lòng theo Chúa, bị Chúa mửa ra sẽ đi về đâu?

Những lời giảng dạy sau đây của Đức Chúa Jesus Christ cho chúng ta thấy rằng, một người đã tin nhận ơn cứu rỗi của Ngài vẫn có thể bị hư mất đời đời trong hỏa ngục, là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng (Ma-thi-ơ 13:42):

►         Ngụ ngôn về đầy tớ không thương xót(Ma-thi-ơ 18:23-35) dạy rằng, người nào không tha thứ cho anh em mình thì sẽ không được Đức Chúa Cha tha thứ: "Nếu mỗi người trong các ngươi không hết lòng tha lỗi cho anh em mình, thì Cha Ta ở trên trời cũng sẽ xử với các ngươi như vậy" (câu 35).

►         Ngụ ngôn về tiệc cưới(Ma-thi-ơ 22:1-14) dạy rằng, người nào tin nhận Chúa mà không chịu thánh hóa thì sẽ bị hư mất: "Vua vào xem khách dự tiệc, chợt thấy một người không mặc áo lễ, thì phán cùng người rằng: Hỡi bạn, sao ngươi vào đây mà không mặc áo lễ? Người đó làm thinh. Vua bèn truyền cho đầy tớ rằng: Hãy trói tay chơn nó lại, và quăng ra ngoài nơi tối tăm, là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng. Bởi vì có nhiều kẻ được gọi, mà ít người được chọn" (câu 11-14).

►         Ngụ ngôn về mười nữ đồng trinh(Ma-thi-ơ 25:1-13) dạy rằng, người nào không khôn ngoan ghi nhớ Lời Chúa để thực hành trong cuộc sống, trở thành muối của đất và ánh sáng của thế gian, khi Chúa đến, sẽ bị bỏ lại, dù đã được chọn để đi với Ngài. Năm người dại tiêu biểu cho những người không biết còn năm người khôn tiêu biểu cho những người biết làm việc cho kết quả xứng đáng với sự ăn năn. Dầu là sự dạy dỗ của Lời Chúa, đèn là nếp sống đạo, chiếu sáng lẽ thật của Chúa. Người bán dầu là Đức Thánh Linh giảng dạy Lời Chúa. Mua dầu là dùng thời gian, công sức, và tiền bạc để đổi lấy cơ hội đọc và suy ngẫm Lời Chúa. Thắp đèn là ứng dụng sự dạy dỗ của Lời Chúa vào trong nếp sống mỗi ngày. Ánh sáng của đèn là lẽ thật của Lời Chúa được chiếu ra qua nếp sống đạo của người tin Chúa: "Chặp lâu, những người nữ đồng trinh khác cũng đến và xin rằng: Hỡi Chúa, hỡi Chúa, xin mở cho chúng tôi! Nhưng người đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta không biết các ngươi đâu" (câu 11-12).

►         Ngụ ngôn về đầy tớ xấu(Ma-thi-ơ 24:43-51) và ngụ ngôn về quản gia bất trung (Lu-ca 12:41-48) dạy rằng, người nào được Chúa ban cho các chức vụ cai trị trong nhà Chúa mà không trung tín làm tròn nhiệm vụ thì sẽ bị hư mất: "Chủ sẽ đánh xé xương và định phần nó đồng với kẻ giả hình. Đó là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng" (câu 51)."Nhưng nếu đầy tớ ấy tự nghĩ rằng: Chủ ta chậm đến; rồi cứ đánh đập đầy tớ trai và gái, ăn uống say sưa, thì chủ nó sẽ đến trong ngày nó không dè, và gi

Đọc Tiếp →
2,246 views

Jesus Christ và Christ Jesus

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy
 
Chúng ta vẫn biết Thánh Kinh là Lời của Thiên Chúa do các tiên tri và các môn đồ của Chúa ghi chép lại. Khi ghi chép, mỗi người dùng văn phong riêng của chính mình. Tuy nhiên, chính Đức Thánh Linh đã thần cảm họ trong khi họ viết, vì thế, từng lời, từng chữ của Thánh Kinh nguyên bản khi được các tiên tri và các môn đồ của Chúa đặt bút chép ra, hoàn toàn có sự soi dẫn của Đức Thánh Linh. II Ti-mô-thê 3:16, 17 khẳng định rằng: "Cả Thánh Kinh đều là bởi Thiên Chúa hà hơi, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành." Có người cho rằng, đây là nói về Cựu Ước, vì khi Phao-lô viết những dòng chữ này cho Ti-mô-thê thì chưa có Thánh Kinh Tân Ước. Thực tế, ngay lúc ấy, chính thư II Ti-mô-thê cũng mới được viết đến chương ba, câu 17! Vậy, họ kết luận, sự thần cảm của Đức Thánh Linh không bao gồm phần Tân Ước. Những người nói như vậy là những người chưa có sự cứu rỗi, nên chưa được tái sinh, chưa có Đức Thánh Linh ngự trong thân thể họ để dạy cho họ biết Thánh Kinh Tân Ước cũng chính là Lời của Đức Chúa Trời. Vì thế, họ mới phủ nhận thần tính và thần quyền của Tân Ước.
 

Bấm vào đây để download MP3 file
Bấm vào nút "play" ► để nghe
 
 
Chính vì cả Thánh Kinh đều được Thiên Chúa hà hơi mà Thánh Kinh trở thành lời sống và linh nghiệm, như Hê-bơ-rơ 4:12, 13 chép: "Vì Lời Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi phân chia linh hồn, tâm thần, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng. Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng hết thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại." Thế nên, tôi tin rằng từng chữ trong Thánh Kinh và mỗi cách dùng chữ trong Thánh Kinh đều có những ý nghĩa rõ ràng và nhất định, không phải để cho ai có thể tùy ý thêm hay bớt, hoặc tùy ý diễn giải.
 
Bây giờ, chúng ta hãy cùng nhau xét đến một vài cách dùng tên gọi và các danh xưng của Đức Chúa Jesus Christ:
 
·         Jesus: tên gọi của Chúa, có nghĩa là "Đấng Tự Hữu Hằng Hữu Là Đấng Cứu Rỗi" hoặc "Sự Cứu Rỗi Thuộc Về Đấng Tự Hữu Hằng Hữu!" Khi Thánh Kinh chỉ đề cập đến tên gọi Jesus mà không kèm theo các danh xưng "Chúa" và "Christ" thì Thánh Kinh muốn nhấn mạnh về bản thể của Ngài. Ngài là Thiên Chúa Ngôi Con nhập thế làm người để mang sự cứu rỗi của Thiên Chúa đến cho toàn thể nhân loại. Ngài hoàn toàn là Thiên Chúa vì Ngài là con của Thiên Chúa mà Ngài cũng hoàn toàn là Người vì Ngài cũng là con của loài người.
·         Chúa: trong nghĩa đen không có nghĩa "Thiên Chúa" hay "Đức Chúa Trời," mà là "người có toàn quyền trên người khác" như vua trong một vương quốc, chủ nhân của những nô lệ. Trong bốn sách Tin Lành không dùng danh xưng "Chúa" kèm theo tên gọi Jesus hoặc Jesus Christ. (Thánh Kinh Việt ngữ dịch "Jesus" thành "Đức Chúa Jesus" hoặc "Jesus Christ" và "Christ Jesus" thành "Đức Chúa Jesus Christ"). Sau khi Chúa phục sinh, Thánh Kinh dùng danh xưng "Chúa" kèm theo tên gọi Jesus hoặc Jesus Christ với hàm ý, sau khi hoàn thành công cuộc cứu rỗi nhân loại, Ngài cai trị những ai tiếp nhận sự cứu rỗi của Ngài. Ngày nay, nếu chúng ta gọi Ngôi Hai Thiên Chúa là "Đức Chúa Jesus" thì chúng ta cần ghi nhớ, chúng ta phải hoàn toàn vâng phục Ngài, như nô lệ vâng phục chủ, người dân trong một vương quốc vâng phục vua. Ngài chính là chủ của chúng ta vì Ngài đã dùng chính sự vinh quang và máu của Ngài để chuộc chúng ta về. Ngài chính là vua của chúng ta vì Ngài là Đấng Tạo Hóa, và là Vua trên muôn vua, Chúa trên muôn chúa. Nếu chúng ta gọi Ngài là "Chúa" mà chúng ta không vâng phục Ngài, thì chúng ta là những kẻ dối trá, giả hình, và Ngài biết rõ điều đó. Gần hai ngàn năm trước Ngài đã phán: "Sao các ngươi gọi Ta: Chúa, Chúa, mà không làm theo lời Ta phán" (Lu-ca 6:46)?
·         Christ: trong nghĩa đen là "người được xức dầu;" nghĩa bóng là "người được Thiên Chúa giao cho một chức vụ, kèm theo thẩm quyền, năng lực, và ân tứ để thi hành chức vụ ấy." Đức Chúa Jesus được gọi là "Christ" (Mat-thi-ơ 1:16) vì Ngài được Đức Chúa Cha giao cho các chức vụ như sau: (1) Tiên tri: để giải bày về Đức Chúa Cha cùng thánh ý của Cha cho toàn thể nhân loại. (2) Thầy tế lễ: để dâng của lễ chuộc tội cho toàn thể nhân loại và cầu thay cho con dân Thiên Chúa. (3) Vua: để cai trị con dân Thiên Chúa trong mọi thời đại. Hiện nay, Đức Chúa Jesus Christ đang cai trị trong tấm lòng, trong đời sống của con dân Chúa; sắp tới, Ngài sẽ cai trị Vương Quốc Ngàn Năm trên đất; và cuối cùng, Ngài sẽ cai trị Vương Quốc Đời Đời trong trời mới đất mới.
·         Jesus Christ:Khi danh xưng Christ được đặt đàng sau tên gọi Jesus, thì Thánh Kinh muốn nhấn mạnh đến chính mình Ngài trong chức vụ Đức Chúa Cha đã ban cho Ngài.
·         Christ Jesus: Khi danh xưng Christ được đặt đàng trước tên gọi Jesus, thì Thánh Kinh muốn nhấn mạnh đến thành quả trong các chức vụ của Ngài. Những câu Thánh Kinh dùng cách gọi "Christ Jesus" là: Công 18:4; Rô-ma 3:24; 8:1, 2, 39; 15:5; 16:3; I Cô. 1:2, 30; 4:15; 15:31; 16:24; II cô. 4:5; Ga. 2:4; 3:26; 28; 4:14; 6:15; Ê-phê 1:1; 2:6, 13; 3:11, 21; Phi. 1:1; 2:5; 3:3, 8, 12, 14; 4:7, 19, 21; Cô. 1:4, 28; 2:6; I Tê. 2:14; 5:18; I Ti. 1:12, 14, 15; 2:5; 3:13; 6:13; II Ti. 1:1, 2, 9, 13; 2:1, 10; 3:12; 15; Phi-lê-môn 1:23; Hê. 3:1; I Phi 5:10, 14.
Câu Thánh Kinh điển hình cho cách dùng các danh xưng: "Jesus Christ," "Christ Jesus," và "Chúa"  là I Cô-rinh-tô 1:2.
"Gởi cho Hội Thánh Đức Chúa Trời tại thành Cô-rinh-tô, tức là cho những người đã được nên thánh trong Đấng Christ Jesus, được gọi làm thánh đồ, lại cho mọi người bất luận nơi nào, cầu khẩn danh Đức Jesus Christ của chúng ta, là Chúa của những người ấy và của chúng ta."
Trong câu này chúng ta nhận thấy: (1) Hội Thánh của Chúa được nên thánh bởi việc làm của Ngài nên Thánh Kinh chép là: "được nên thánh trong Đấng Christ Jesus." (2) Danh "Jesus Christ" chỉ về Đấng Con Trời nhập thế làm người mang các chức vụ liên quan đến sự cứu rỗi nhân loại, là danh mà mọi người ở bất luận nơi nào cũng nên cầu khẩn. (3) Danh xưng "Chúa" nói đến quyền cai trị của Đức Jesus Christ trên những ai tin nhận Ngài.
 
Trong thời Cựu Ước, những tiên tri, những thầy tế lễ, và những vua của dân I-sơ-ra-ên thường trải qua nghi thức xức dầu trước khi thi hành chức vụ. Dầu tức là dầu được ép từ trái ô-li-ve, đựng trong một cái bình làm bằng sừng. Từ trong sừng đó, dầu được một tiên tri của Chúa đổ ra trên đầu và chảy tràn xuống thân thể của người được xức dầu. Sừng tiêu biểu cho Đức Thánh Linh, là sức mạnh và thẩm quyền của Thiên Chúa. Dầu tiêu biểu cho Thánh Linh của Thiên Chúa, bao gồm mọi năng lực và ân tứ được ban cho bởi Đức Thánh Linh. Sự tuôn tràn tiêu biểu cho sự dư dật.
 
Trong thời Tân Ước, chính Đức Chúa Cha xức dầu cho Đức Chúa Jesus để Ngài trở thành Đấng Christ (Giăng 3:34). Chính Đức Chúa Jesus Christ xức dầu cho chúng ta, còn gọi là báp-tem bằng Thánh Linh để chúng ta trở thành những Cơ-đốc nhân (Christians), tức là những người được chính ngài ban cho các chức vụ: (1) Tiên Tri: để rao giảng Tin lành cho muôn dân (Ma-thi-ơ 28:19, 20).(2) Thầy tế lễ: để dâng của tế lễ thiêng liêng lên Đức Chúa Trời (I Phi 2:5) và cầu thay cho mọi người (I Ti. 2:1-4). (3) Vua: để cùng cai trị với Đức Chúa Jesus Christ (II Ti. 2:12).
 
"Và anh em cũng như đá sống, được xây nên nhà thiêng liêng, làm chức tế lễ thánh, đặng dâng của tế lễ thiêng liêng, nhờ Đức Chúa Jesus Christ mà đẹp ý Đức Chúa Trời." (I Phi-e-rơ 2:5)
"Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em."(Rô-ma 12:1)
"Vậy, hãy cậy Đức Chúa Jesus mà hằng dâng tế lễ bằng lời tôn vinh cho Đức Chúa Trời, nghĩa là bông trái của môi miếng xưng danh Ngài ra. Chớ quên việc lành và lòng bố thí, và sự tế lễ dường ấy đẹp lòng Đức Chúa Trời."(Hê-bơ-rơ 13:15, 16)
"Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhơn đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn. Ấy là một sự lành và đẹp mắt Thiên Chúa là Đấng Giải Cứu chúng ta, Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật."(I Ti-mô-thê 2:1-4)
"Lại nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì sẽ cùng Ngài đồng trị; nếu chúng ta chối Ngài, thì Ngài cũng sẽ chối chúng ta." (II Ti-mô-thê 2:12)
 
Nói tóm lại: Bốn sách Tin Lành giới thiệu và trình bày Con Người Jesus, gọi là Christ, chính là Con Thiên Chúa nhập thế làm người để đem sự cứu rỗi của Thiên Chúa đến cho toàn thể nhân loại. Các thư tín diễn giải ý nghĩa và thành quả các việc làm của Đấng Christ; và mỗi khi muốn nhấn mạnh đến phương diện thành quả hoặc tác động của việc làm của Ngài thì Thánh Kinh đặt chức vụ Christ trước tên gọi Jesus.

Huỳnh Christian Timothy
11.02.2012
Đọc Tiếp →
4,268 views

Hình Tượng và Thần Tượng

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này
Bấm vào đây để download bài viết này dùng cho Kindle
Bấm vào đây để nghe và download audio bài giảng này

Ghi Chú: Bấm vào các từ ngữ Hê-bơ-rơ hoặc Hy-lạp để nghe phát âm. Bấm vào các mã số Strong để xem định nghĩa trong tiếng Anh.

Định Nghĩa Hình Tượng và Thần Tượng

Hình tượng khác với thần tượng, dù chúng có liên quan với nhau.

Hình tượng là hình ảnh của một người, một vật, một thần linh được chạm trổ, điêu khắc hoặc đúc, nắn nên.

Thần tượng bao gồm: (1) những hình tượng được tôn thờ như những đấng thần linh có quyền ban phước, giáng họa; (2) tất cả những gì không phải là Thiên Chúa nhưng được tôn kính như Thiên Chúa, từ thiên sứ, ma quỷ, người, vật, cho đến sự ham muốn, chủ nghĩa, lý tưởng, ý thức hệ…

Thánh Kinh Cấm Loài Người Chạm Tượng Hoặc Đúc Tượng

Thánh Kinh cấm loài người làm tượng để sánh với Thiên Chúa:

"Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Ngươi hãy nói cho dân I-sơ-ra-ên như vầy: Các ngươi đã thấy Ta từ trên trời phán xuống cùng; vậy, chớ đúc tượng thần bằng bạc hay bằng vàng mà sánh với Ta."(Xuất Ê-díp-tô Ký 20:22-23)

Thánh Kinh cũng cấm loài người làm tượng chạm (pesel H6459) và tượng đúc (massêkâh H4541) "những vật ở trên trời cao kia hoặc nơi đất thấp này hoặc trong nước dưới đất," bao gồm các loài sau đây:

  • tà thần (ngoại trừ Thiên Chúa, là tất cả những thần linh có thật hoặc tưởng tượng, các anh hùng dân tộc được phong thần, các tổ phụ lập quốc, tổ tiên trong gia đình hoặc bất cứ người chết nào được tôn thờ để cầu phước)
  • người nam hoặc người nữ
  • thú vật đi trên đất hoặc có cánh bay trên trời
  • côn trùng bò trên đất hoặc cá ở trong nước dưới đất

"Ngươi chớ làm tượng chạmcho mình, cũng chớ làm tượng nào giống những vật trên trời cao kia, hoặc nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất." (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:4; Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:8)

"Vậy, các ngươi hãy cẩn thận giữ lấy linh hồn mình cho lắm, vì các ngươi không có thấy một hình trạng nào trong ngày Giê-hô-va Thiên Chúa các ngươi, từ nơi giữa lửa phán cùng các ngươi, tại Hô-rếp; e các ngươi phải làm hư hoại cho mình chăng, và làm một tượng chạm nào, tạo hình trạng của tà thần nào, hoặc hình của người nam hay người nữ, hoặc hình của con thú nào đi trên đất, hoặc hình của vật nào có cánh bay trên trời, hoặc hình của loài côn trùng nào bò trên đất, hay là hình của con cá nào ở trong nước dưới đất."(Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:15-18)

Thánh Kinh rủa sả những kẻ chạm hoặc đúc tượng:

"Đáng rủa sả thay người nào làm tượng chạm hay là tượng đúc, là vật gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va, công việc bởi tay người thợ, dựng nó lên trong nơi kín nhiệm!…"(Phục Truyền Luật Lệ Ký 27:15)

Từ ngữ "nơi kín nhiệm" trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ có các nghĩa sau đây: (a) nơi kín đáo, (b) nơi được che chở, bảo vệ, (c) nơi riêng tư.

Trong lời Thánh Kinh trên đây, chúng ta nhận thấy Thiên Chúa không nói Ngài cấm chúng ta chạm tượng hay đúc tượng để thờ phượng, mà nói Ngài cấm chúng ta chạm tượng hay đúc tượng vì chúng là vật gớm ghiếc đối với Ngài. Tại sao những tượng chạm và tượng đúc của "tà thần, người nam, người nữ, con thú đi trên đất, con vật có cánh bay trên trời, côn trùng bò trên đất, và con cá ở trong nước dưới đất" là gớm ghiếc cho Thiên Chúa? Có lẽ, vì Ngài biết chắc rằng, một khi những tượng đó được tạo ra thì chúng sẽ trở thành thần tượng, tức là những vật được loài người tôn kính, thờ phượng, và cầu xin.

Thánh Kinh Cấm Loài Người Thờ Phượng Hình Tượng

"Ngươi chớ quỳ lạy trước các hình tượng đó…" (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:5; Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:9)

Trong số những hình tượng do loài người làm ra, có nhiều hình tượng được người ta tôn kính, thờ phượng. Khi một hình tượng được tôn kính, thờ phượng thì chúng biến thành thần tượng, tức là hình tượng được tôn làm thần linh. Ma quỷ có thể lợi dụng sự thờ phượng hình tượng và sự mê tín, dị đoan để làm ra một số dấu kỳ, phép lạ, dẫn dụ loài người càng đi sâu vào trong chỗ tối tăm, hư mất.

Thánh Kinh khẳng định thần tượng và ma quỷ có liên quan đến nhau. Của cúng thần tượng là cúng tế các quỷ:

"Nói vậy có ý chi? Của cúng thần tượng có giá trị gì và thần tượng có ra gì chăng? Chắc là không; nhưng đồ người ngoại đạo cúng tế là cúng tế các quỷ, chớ không phải cúng tế Thiên Chúa. Vậy, tôi không muốn anh em thông đồng với các quỷ."(I Cô-rinh-tô 10:19-20)

Vì thế, thờ phượng hình tượng là biến hình tượng thành thần tượng, và thờ phượng thần tượng tức là thờ phượng ma quỷ, bất kể hình tượng đó được gọi bằng danh hiệu nào. Hành động thờ phượng hình tượng bao gồm việc tôn kính, quỳ lạy, cầu xin, đốt hương, dâng hoa quả và các thứ lễ vật cúng tế khác.

Từ thế kỷ thứ tư cho đến nay, biết bao nhiêu người mang danh là con dân Chúa nhưng sinh hoạt trong các giáo hội: Công Giáo, Chính Thống, Anh Giáo, và một số giáo phái Lutheran, đã thờ phượng những hình tượng mang danh "Đức Mẹ Maria," "Đức Chúa Jesus" hoặc tên của các vì "thánh" khi họ sấp mình cầu nguyện với các hình tượng đó.

Thánh Kinh Cấm Loài Người Hầu Việc Hình Tượng

"…và cũng đừng hầu việc chúng nó…" (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:5; Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:9)

Có những người không làm ra và không thờ phượng hình tượng nhưng dự phần trong sự hầu việc hình tượng. Tất cả những hoạt động nào nhằm chăm sóc, bảo vệ, tu bổ, vận chuyển, an vị (đặt hình tượng vào một chỗ nào đó), trang sức, quảng bá, mua bán hình tượng đều là hầu việc hình tượng.

Ghi Nhớ

Chúng ta cần ghi nhớ:

(1) Lý do duy nhất được Thánh Kinh nêu ra trong lệnh cấm chạm tượng và đúc tượng không phải vì chúng ta dựng tượng để thờ, mà vì chúng là vật gớm ghiếc đối với Thiên Chúa. "Đáng rủa sả thay người nào làm tượng chạm hay là tượng đúc, là vật gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va…" (Phục Truyền Luật Lệ Ký 27:15)

(2) Điều răn thứ hai trong Mười Điều Răn bao gồm:

  • Không được làm hình tượng
  • Không được thờ phượng hình tượng
  • Không được hầu việc hình tượng

Nhiều người cho rằng Thiên Chúa chỉ cấm làm tượng để thờ, chứ Ngài không cấm làm tượng để chơi hoặc để trang trí. Tuy nhiên, Lời Chúa khẳng định Ngài cấm ba điều: cấm làm hình tượng, cấm thờ hình tượng, và cấm hầu việc hình tượng. Nếu như có một đạo luật được ban hành với nội dung như sau: "Mọi công dân chớ trồng thuốc phiện, chớ hút thuốc phiện, và cũng đừng mua bán thuốc phiện, vì thuốc phiện có hại cho sức khỏe;" thì có thể nào các công dân lý luận rằng: "Chính phủ chỉ cấm trồng thuốc phiện để hút hoặc mua bán chứ không cấm trồng thuốc phiện để làm kiểng?

(3) Thiên Chúa cấm loài người làm hình tượng để sánh với Ngài, vì thế chúng ta không được làm bất cứ một hình tượng nào gọi là hình tượng của Chúa. "…chớ đúc tượng thần bằng bạc hay bằng vàng mà sánh với Ta" (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:23).

(4) Thiên Chúa cấm loài người chạm và đúc hình tượng của: "     tà thần, người nam hoặc người nữ, thú vật đi trên đất hoặc có cánh bay trên trời, côn trùng bò trên đất hoặc cá ở trong nước dưới đất" (Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:15-18).

(5) Hầu việc hình tượng dưới bất cứ hình thức nào cũng đều là vi phạm điều răn của Thiên Chúa, là có tội.

(6) Nhiều gia đình tín đồ và trong những nơi gọi là "nhà thờ" treo các loại tranh ảnh gọi là "hình Chúa." Đó cũng là một hình thức thờ hình tượng, vì đã đem những tranh ảnh được tạo ra bởi sự tưởng tượng của người vẽ, sánh với Chúa, gọi nó là "Chúa" và tôn kính nó, đặt nó vào những nơi trang trọng, thậm chí có người còn cầu nguyện với các tranh ảnh đó.

Áp Dụng Lời Chúa Dạy về Hình Tượng và Thần Tượng Trong Nếp Sống Đạo

(1) Nhân danh Đức Chúa Jesus Christ, đem tất cả các tượng chạm và tượng đúc mang hình dáng của "tà thần, người nam hoặc người nữ, thú vật đi trên đất hoặc có cánh bay trên trời, côn trùng bò trên đất hoặc cá ở trong nước dưới đất"kể cả các hình tượng được gọi là "tượng Chúa" ra khỏi nhà cửa, cơ sở làm ăn, và mọi sản nghiệp của chúng ta. Nhân danh Đức Chúa Jesus Christ, đập vỡ chúng nó và ném vào thùng rác.

(2) Nhân danh Đức Chúa Jesus Christ, đem tất cả những tranh ảnh gọi là "hình Chúa" ra khỏi nhà cửa, cơ sở làm ăn, và mọi sản nghiệp của chúng ta. Nhân danh Đức Chúa Jesus Christ, xé, đập vỡ chúng nó, và ném vào thùng rác.

(3) Không mua bán, lưu trử, trao tặng các loại hình tượng và tranh ảnh nói trên.

(4) Không chụp hình, quay phim trước các loại hình tượng và tranh ảnh nói trên dù là nơi công viên, khu giải trí hay đài kỷ niệm.

(5) Không thăm viếng những danh lam thắng cảnh có các đền, đình, chùa, miếu, am, điện… dùng làm nơi thờ phượng các tà thần.

(6) Không tham dự các lễ cúng giổ người chết. Không ăn uống các thức ăn đã dâng cúng cho người chết hoặc tà thần.

(7) Không mua sắm, ăn uống, vui chơi trong những nơi có bàn thờ tà thần, tiêu biểu là các am, bệ, khám hay trang thờ thần tài, ông địa, Phật Di-lạc, Phật Quan Âm, Bà Maria…

Nguyện Đức Thánh Linh là Thần Lẽ Thật dắt chúng ta là con dân Chúa vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa và thánh hóa chúng ta bằng chính Lời Chúa.

Huỳnh Christian Timothy
15.12.2011

Đọc Tiếp →
2,365 views

Thiên Tượng Trong Năm 2011

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này
Bấm vào đây để download Audio bài chia sẻ này

"Thiên Tượng" là những hiện tượng xảy ra trên trời. Từ ngữ này thường được dùng để chỉ những hiện tượng liên quan đến thời tiết của địa cầu, như: mây, mưa, gió, tuyết, sấm chớp, giông, bão, v.v.; hoặc những hiện tượng liên quan đến sự vận hành của các thiên thể, như: sao chổi, sao băng, nhật thực, nguyệt thực, v.v.. Trong năm 2011 có hai thiên tượng xảy ra trùng khớp vào ngày Lễ Ngũ Tuần 12.06.2011 và Lễ Thổi Kèn 29.09.2011 [1].

Hiện tượng thứ nhất là đúng vào ngày Lễ Ngũ Tuần vừa qua, mặt trời đã ở vào vị trí phía trên đầu và giữa hai sừng của chòm sao Kim Ngưu, (xem hình 1 dưới đây). Hiện tượng thứ hai là đúng vào ngày Lễ Thổi Kèn vừa qua, mặt trời đã ở ngang tầm vai và mặt trăng đã ở ngang tầm chân của chòm sao Xử Nữ, (xem hình 2 dưới đây).

Hình 1
Thiên tượng lúc 12 giờ trưa, ngày 12.06.2011,
nhìn từ Jerusalem, Israel.
(Bấm vào hình để xem toàn cảnh của bầu trời)

Hình 2
Thiên tượng lúc 12 giờ trưa, ngày 29.09.2011,
nhìn từ Jerusalem, Israel.
(Bấm vào hình để xem toàn cảnh của bầu trời)

Các thiên tượng này có ý nghĩa gì khi được đối chiếu với các dữ kiện của Thánh Kinh? Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu những điểm sau đây: (1) Mục đích và ý nghĩa của các vì tinh tú; (2) Mục đích và ý nghĩa của các ngày lễ trong Thánh Kinh [2]; rồi dựa vào đó để tìm kiếm một kết luận có lý về ý nghĩa của hai thiên tượng kể trên. Phần trình bày dưới đây về ý nghĩa thuộc linh của các chòm sao trong Cung Hoàng Đạo và ý nghĩa thuộc linh của các ngày lễ trong Thánh Kinh, phần lớn chỉ dựa trên suy luận, cho nên chúng ta không thể biến đó thành tín lý trong Thánh Kinh. Tuy nhiên, những suy luận đó hoàn toàn phù hợp với các giáo lý của Thánh Kinh, đem lại cho chúng ta nhiều phước hạnh trong việc suy ngẫm Thánh Kinh và chiêm nghiệm các kỳ công của Thiên Chúa trong vũ trụ.

Mục đích của các vì tinh tú

Thiên Chúa dựng nên các vì tinh tú với những mục đích và nghiêm cấm loài người thờ lạy các vì tinh tú. Nhưng từ ngàn xưa, Sa-tan đã cố ý xúi dục loài người thờ lạy các vì tinh tú qua các tôn giáo và các huyền thoại mê tín, dị đoan; qua các thuật chiêm tinh bói toán, chấm tử vi từ đông sang tây. Mỗi dân tộc, mỗi nền văn hóa, ít hay nhiều đều có những huyền thoại để thần thánh hóa các vì tinh tú; cùng những học thuật chiêm tinh để đoán định các việc tương lai. Tuy nhiên, lẽ thật về mục đích và ý nghĩa của các vì sao, đã do chính Thiên Chúa mạc khải cho loài người và được ghi chép lại trong Thánh Kinh.

Sáng Thế Ký 1:14-16:

"Thiên Chúa lại phán rằng: Phải có các vì sáng trong khoảng không trên trời, đặng phân ra ngày với đêm, và dùng làm dấu để định thì tiết, ngày và năm; lại dùng làm các vì sáng trong khoảng không trên trời để soi xuống đất; thì có như vậy. Thiên Chúa làm nên hai vì sáng lớn; vì lớn hơn để cai trị ban ngày, vì nhỏ hơn để cai trị ban đêm; Ngài cũng làm các ngôi sao"[3].

Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:19:

"lại, e khi ngươi ngước mắt lên trời thấy mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, tức là toàn cả thiên binh, thì ngươi bị quyến dụ quì xuống trước các vì đó, và thờ lạy các tinh tú nầy mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã chia phân cho muôn dân dưới trời chăng."

Thi Thiên 19:1-4:

"Các từng trời rao truyền sự vinh quang của Đức Chúa Trời. Bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm. Ngày nầy giảng cho ngày kia. Đêm nầy tỏ sự tri thức cho đêm nọ. Chẳng có tiếng, chẳng có lời nói; Cũng không ai nghe tiếng của chúng nó. Dây do chúng nó bủa khắp trái đất, và lời nói chúng nó truyền đến cực địa. Nơi chúng nó Ngài đã đóng trại cho mặt trời."

Thi Thiên 104:19:

"Ngài đã làm nên mặt trăng để chỉ thì tiết; Mặt trời biết giờ lặn."

Thi Thiên 19:1-4:

"Hỡi mặt trời, mặt trăng, hãy tôn vinh Ngài! Hỡi hết thảy ngôi sao sáng, hãy tôn vinh Ngài!"

Qua Lời Chúa, chúng ta nhận biết các mục đích của Thiên Chúa khi Ngài dựng nên những vì tinh tú là:

  • Dùng chúng làm dấu để phân biệt ngày với đêm.
  • Dùng chúng làm dấu để định thì tiết.
  • Dùng chúng làm dấu để phân định ngày, tháng, năm.
  • Dùng chúng làm các vì sáng trong khoảng không trên trời để soi xuống đất.
  • Phân chia chúng cho muôn dân dưới trời
  • Dùng chúng rao truyền sự vinh quang của Thiên Chúa.
  • Dùng chúng để tôn vinh Thiên Chúa.

Trong công tác rao truyền vinh quang của Thiên Chúa: về mặt thuộc thể, rõ ràng các vì tinh tú là chứng tích cho quyền năng sáng tạo vô biên và sự khôn ngoan tuyệt đối của Thiên Chúa, mà loài người có thể nhìn thấy bằng con mắt xác thịt; về mặt thuộc linh, phải chăng các vì tinh tú trong Cung Hoàng Đạo đã được Thiên Chúa dùng để minh họa lịch sử của loài người và ơn cứu chuộc của Thiên Chúa dành cho nhân loại? Một điểm đáng cho chúng ta lưu ý là Thiên Chúa đã đặt tên cho từng vì sao:

"Ngài dựng nên Sao Bắc Đẩu (Arcturus), Sao Cày (Orion), và Sao Rua (Pleiades), cùng những lầu các bí mật của phương nam" (Gióp 9:9).

"Ngài đếm số các vì sao; gọi từng tên hết thảy các vì ấy" (Thi Thiên 147:4).

"Hãy ngước mắt lên cao mà xem: Ai đã tạo những vật nầy? Ấy là Đấng khiến các cơ binh ra theo số nó, và đặt tên hết thảy; chẳng một vật nào thiếu, vì sức mạnh Ngài lớn lắm, và quyền năng Ngài rất cao" (Ê-sai 40:26).

Trong Gióp 38:31, 32 chính Thiên Chúa gọi tên riêng của Cung Hoàng Đạo và một số chòm sao:

"Ngươi có thế riết các dây chằng Sao Rua (Pleiades) lại, Và tách các xiềng Sao Cày (Orion) ra chăng? Ngươi có thế làm cho Cung Hoàng Đạo (Mazzaroth/Zodiac) ra theo mùa, và dẫn đường cho Bắc Đẩu (Arcturus) với các sao theo nó chăng?"

Về ý nghĩa của từ ngữ, "Cung Hoàng Đạo" là danh từ Hán Việt: "cung" là "hình vòng cung," "hoàng" là "vua," "đạo" là đường đi; "cung hoàng đạo" là đường đi hình vòng cung của vua; và chữ "vua" này dùng để chỉ mặt trời, mà theo cái nhìn của loài người từ địa cầu thì mặt trời là "vua" của các vì tinh tú. Trong tiếng Hy-lạp thì từ ngữ "zōdiakos" được dùng để gọi Cung Hoàng Đạo, được phiên âm sang tiếng La-tin là "zōdiacus," rồi từ tiếng La-tin được phiên âm ra Anh ngữ là "zodiac." Zōdiakos có nghĩa là những con thú, có lẽ, vì hầu hết các hình ảnh tiêu biểu cho những chòm sao trong Cung Hoàng Đạo là hình ảnh của loài thú. Tuy nhiên, từ ngữ "Mazzaroth" trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ chỉ có nghĩa là: được biệt riêng ra (như là biệt riêng ra để làm nhiệm vụ soi sáng và phân định thì tiết, ngày, tháng, năm).

Về thiên văn, Cung Hoàng Đạo là một vòng tròn tưởng tượng trong vũ trụ, cùng tâm điểm với quỹ đạo của địa cầu, tiêu biểu cho đường đi của mặt trời theo cái nhìn từ địa cầu (vòng đỏ sậm bên ngoài trong hình 3 dưới đây). Cung Hoàng Đạo chia đều thành 12 cung, mỗi cung 30o và là vị trí của một chòm sao chính cùng với ba chòm sao phụ liên kết với chòm sao chính.  Nhìn từ địa cầu, dường như mỗi tháng mặt trời di chuyển ngang qua một trong 12 chòm sao chính và  ba chòm sao phụ liên kết với chòm sao chính. Vì thế, các chòm sao trong Cung Hoàng Đạo được dùng làm các dấu hiệu để ấn định ngày, mùa, tháng, năm; và qua đó, ấn định thì tiết của từng mùa như Thánh Kinh đã xác định trong Sáng Thế Ký 1:4. Nói cách khác, trong khi địa cầu quay chung quanh mặt trời thì mỗi tháng địa cầu đối diện với một trong 12 chòm sao đã được Thiên Chúa phân bố đều thành một vòng tròn bao quanh địa cầu, mặt trời và mặt trăng. Vòng tròn của các chòm sao đó ngày nay được dân Á Đông gọi là "Cung Hoàng Đạo," còn dân Tây Phương thì gọi là "Đường Zodiac." Từ đông sang tây, trong môn thiên văn của mọi nền văn hóa, 12 chòm sao chính và 36 chòm sao phụ của Cung Hoàng Đạo luôn luôn giống nhau.

Các nhà thiên văn học từ xa xưa đã biết quan sát và ghi chép sự xuất hiện của các chòm sao trong Cung Hoàng Đạo để làm lịch cho các vụ gieo trồng. Tuy nhiên, Sa-tan đã tạo ra những thần thoại hoặc những ý nghĩa mê tín dị đoan trong việc chiêm tinh bói toán mà gán cho Cung Hoàng Đạo. Đó cũng là một trong những chiến thuật rất hiệu quả của Sa-tan để khiến cho loài người phạm tội trước Thiên Chúa, làm nhục chính mình và Đấng Tạo Hóa, khi họ sấp mình thờ lạy các vì tinh tú và cầu phước từ chúng.

Hình 3
(Bấm vào hình để phóng lớn)
Minh họa vị trí của các chòm sao trong Cung Hoàng Đạo so với mặt trời và địa cầu. Vòng tròn đỏ phía trong là quỹ đạo của địa cầu chung quanh mặt trời. Vòng tròn đỏ lớn phía ngoài là Cung Hoàng Đạo, tiêu biểu cho đường đi tưởng tượng của mặt trời. Những đường xanh lá cây kết nối các vì sao trong mỗi chùm sao thuộc về Cung Hoàng Đạo. Vòng tròn trắng xanh tiêu biểu cho xích đạo trời (celestial equator) tương ứng với xích đạo của địa cầu mà mỗi năm đường đi tưởng tượng của mặt trời cắt ngang qua hai lần, vào tháng ba và tháng chín. Hai thời điểm này được gọi là: Xuân Phân và Thu Phân. Vào hai ngày này thì ngày và đêm dài bằng nhau, khi đó, mặt trời đứng thẳng góc với đường xích đạo trên dất.
Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/File:Ecliptic_path.jpg

Ý nghĩa của các vì tinh tú trong Cung Hoàng Đạo

Dù Thánh Kinh không xác định cách cụ thể nhưng theo niềm tin truyền thống của người Do-thái, được Sử Gia Joshephus chép lại, thì Thiên Chúa đã đặt lời tiên tri về lịch sử của nhân loại và chương trình cứu rỗi nhân loại vào trong Cung Hoàng Đạo. Mười hai chòm sao chính trong Cung Hoàng Đạo mang ý nghĩa của mười hai lời tiên tri.

Vì lời hứa đầu tiên về sự cứu rỗi của Thiên Chúa ban cho nhân loại được ghi chép trong Sáng Thế Ký 3:15 và lời tiên tri về sự xuất hiện của "Vua trên muôn vua, Chúa trên muôn chúa" được ghi chép trong Khải Huyền 19:16, cho nên, sứ điệp của Thiên Chúa được ghi chép trong các vì sao nhất thiết bắt đầu bằng chòm sao Xử Nữ và kết thúc với chòm sao Hải Sư. Dưới đây là bảng liệt kê 12 chòm sao thuộc Cung Hoàng Đạo và ý nghĩa thuộc linh mà chúng tiêu biểu:

  • Virgo – Xử Nữ (Trinh Nữ, Thất Nữ), tương ứng với chòm sao Thất Nữ, mang hình dáng một trinh nữ. Ý nghĩa thuộc linh: Một nữ đồng trinh sẽ sinh ra một Đấng Giải Cứu để giải cứu nhân loại ra khỏi tội lỗi và hậu quả của tội lỗi.

"Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người"(Sáng Thế Ký 3:15).

"Vậy nên, chính Chúa sẽ ban một điềm cho các ngươi: nầy một gái đồng trinh sẽ chịu thai, sanh ra một trai, và đặt trên là Em-ma-nu-ên"(Ê-sai 7:14).

  • Libra – Thiên Bình hoặc Thiên Xứng, tương ứng với chòm sao Thiên Xứng, mang hình dáng một cái cân trong trạng thái cân bằng. Ý nghĩa thuộc linh: Để giải cứu nhân loại ra khỏi tội lỗi và hậu quả của tội lỗi, Đấng Giải Cứu phải trả một giá tương xứng với sự phạm tội của nhân loại mới thỏa mãn đức công chính của Thiên Chúa.

"Theo luật pháp thì hầu hết mọi vật đều nhờ huyết mà được sạch: không đổ huyết thì không có sự tha thứ"(Hê-bơ-rơ 9:22).

"Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét, cũng vậy, Đấng Christ đã dâng mình chỉ một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người; Ngài lại sẽ hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội lỗi đi nữa, nhưng để ban sự cứu rỗi cho kẻ chờ đợi Ngài"(Hê-bơ-rơ 9:27, 28).

  • Scorpio – Hổ Cáp hoặc Thần Nông, Thiên Yết, Thiên Hạt, tương ứng với chòm sao Thiên Hạt, mang hình dáng con bọ cạp. Ý nghĩa thuộc linh: Nọc độc của sự chết là tội lỗi (tội lỗi làm cho chết), vì thế, để trả một giá tương xứng cho sự phạm tội của nhân loại thì Đấng Giải Cứu phải chịu khổ và chịu chết.

"Vì tiền công của tội lỗi là sự chết"(Rô-ma 6:23a).

"Hỡi sự chết, sự thắng của mầy ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mầy ở đâu? Cái nọc sự chết là tội lỗi, sức mạnh tội lỗi là luật pháp"(I Cô-rinh-tô 15:55, 56).

  • Sagittarius – Nhân Mã hoặc Xạ Thủ, Cung Thủ, tương ứng với chòm sao Nhân Mã, mang hình một cung thủ đầu người, mình ngựa. Ý nghĩa thuộc linh: Để cản trở sự ra đời của Đấng Giải Cứu, Sa-tan lập mưu làm ô nhiễm dòng dõi của người nữ bằng cách xui khiến các thiên sứ phạm tội dưới quyền nhập vào những người đàn ông không kính sợ Thiên Chúa, rồi dùng những người này làm băng hoại dòng dõi của loài người, như đã được ghi chép trong Sáng THế Ký 6:1-4:

"Vả, khi loài người khởi thêm nhiều trên mặt đất, và khi loài người đã sanh được con gái rồi, các con trai của Đức Chúa Trời thấy con gái loài người tốt đẹp, bèn cưới người nào vừa lòng mình mà làm vợ. Đức Giê-hô-va phán rằng: Thần ta sẽ chẳng hằng ở trong loài người luôn; trong điều lầm lạc, loài người chỉ là xác thịt; đời người sẽ là một trăm hai mươi năm mà thôi. Đời đó và đời sau, có người cao lớn trên mặt đất, vì con trai Đức Chúa Trời ăn ở cùng con gái loài người mà sanh con cái; ấy những người mạnh dạn ngày xưa là tay anh hùng có danh."

  • Capricornus – Ma Kết, tương ứng với chòm sao Ma Kết, mang hình con dê có đuôi cá. Ý nghĩa thuộc linh: Tội lỗi của loài người lên đến tuyệt đỉnh khiến cho Thiên Chúa phải tiêu diệt thế gian.

"Thế gian bấy giờ đều bại hoại trước mặt Thiên Chúa và đầy dẫy sự hung ác. Nầy, Thiên Chúa nhìn xem thế gian, thấy điều bại hoại, vì hết thảy xác thịt làm cho đường mình trên đất phải bại hoại. Thiên Chúa bèn phán cùng Nô-ê rằng: Kỳ cuối cùng của mọi xác thịt đã đưa đến trước mặt Ta; vì cớ loài người mà đất phải đầy dẫy điều hung hăng; vậy, Ta sẽ diệt-trừ họ cùng đất"(Sáng Thế Ký 6:11-13).

  • Aquarius – Bảo Bình, hay Thủy Bình tương ứng với chòm sao Bảo Bình, manh hình một người đổ nước. Ý nghĩa thuộc linh: Thiên Chúa dùng một cơn lụt lớn để tiêu diệt thế gian.

"Còn Ta đây, Ta sẽ dẫn nước lụt khắp trên mặt đất, đặng tuyệt diệt các xác thịt có sanh khí ở dưới trời; hết thảy vật chi ở trên mặt đất đều sẽ chết hết"(Sáng Thế Ký 6:17).

  • Pisces – Song Ngư, tương ứng với chòm sao Song Ngư, mang hình hai con cá bơi ngược chiều. Ý nghĩa thuộc linh: Trong cơn nước lụt, Thiên Chúa vẫn chừa lại những người đàn ông và đàn bà có lòng tin nơi Ngài và chưa bị băng hoại bởi mưu kế của Sa-tan.

"Mọi loài ở trên mặt đất đều bị hủy diệt, từ loài người cho đến loài thú, loài côn trùng, cùng loài chim trời, chỉ còn Nô-ê và các loài ở với người trong tàu mà thôi"(Sáng Thế Ký 7:23).

  • Aries – Dương Cưu hay Bạch Dương, tương ứng với chòm sao Bạch Dương, mang hình con chiên đực. Ý nghĩa thuộc linh: Chiên Con của Thiên Chúa sẽ xuất hiện để hoàn thành công cuộc cứu rỗi nhân loại.

"Qua ngày sau, Giăng thấy Đức Chúa Jesus đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi"(Giăng 1:29).

"Vì biết rằng chẳng phải bởi vật hay hư nát như bạc hoặc vàng mà anh em đã được chuộc khỏi sự ăn ở không ra chi của tổ tiên truyền lại cho mình, bèn là bởi huyết báu Đấng Christ, dường như huyết của chiên con không lỗi không vít, đã định sẵn trước buổi sáng thế, và hiện ra trong cuối các thời kỳ vì cớ anh em"(I Phi-e-rơ 1:18-20).

  • Taurus – Kim Ngưu, tương ứng với chòm sao Kim Ngưu, mang hình con bò đực. Ý nghĩa thuộc linh: Sau khi chịu chết để chuộc nhân loại ra khỏi tội lỗi và hậu quả của tội lỗi, Đấng Giải Cứu sẽ chỗi dậy, dũng mãnh như một con bò tơ, để phán xét và cai trị muôn dân.

"Rồi, tôi thấy trời mở ra, và này, có một con ngựa trắng. Đấng cưỡi nó được xưng là Thành Tín và Chân Thật. Trong sự công chính Ngài sẽ phán xét và gây chiến. Đôi mắt Ngài như ngọn lửa. Trên đầu Ngài có nhiều mão và có một danh được viết mà không ai biết, ngoại trừ chính Ngài. Ngài được khoác áo đã nhúng trong máu và tên Ngài được xưng là 'Lời của Đức Chúa Trời.' Các đạo binh trên trời, mặc áo vải mịn, trắng và tinh sạch, đều cưỡi ngựa trắng, theo Ngài. Từ miệng Ngài ra một thanh gươm bén và Ngài dùng nó để đánh hạ các quốc gia. Ngài sẽ cai trị chúng bằng một cây gậy sắt. Ngài sẽ giày đạp thùng ép rượu của cơn thịnh nộ dữ dội của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Trên áo và trên đùi Ngài có một danh được viết: 'Vua Của Các Vua và Chúa Của Các Chúa'"(Khải Huyền 19:11-16 – Bản Dịch Ngôi Lời) [4].

  • Gemini – Song Tử (Song Nam), tương ứng với chòm sao Song Tử, mang hình hai bé trai song sinh. Có ba ý nghĩa thuộc linh: (1) A-đam thứ nhất tiếp nhận Ê-va như thế nào thì A-đam thứ hai cũng sẽ tiếp nhận tân nương của Ngài là Hội Thánh như thế ấy. (2) A-đam thứ nhất nhờ A-đam thứ hai mà được phục hồi địa vị làm con của Thiên Chúa và cả hai trở thành anh em. (3) Đấng Christ vừa mang nhân tính (Con Người) lại vừa mang thần tính (Con Trời) cho đến đời đời.

"Giê-hô-va Thiên Chúa dùng xương sường đã lấy nơi A-đam làm nên một người nữ, đưa đến cùng A-đam. A-đam nói rằng: Người nầy là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi mà ra. Người nầy sẽ được gọi là người nữ, vì nó do nơi người nam mà có. Bởi vậy cho nên người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ trở nên một thịt."(Sáng Thế Ký 2:22-24).

"Hỡi kẻ làm vợ, phải vâng phục chồng mình như vâng phục Chúa, vì chồng là đầu vợ, khác nào Đấng Christ là đầu Hội Thánh, Hội Thánh là thân thể Ngài, và Ngài là Đấng Giải Cứu của Hội Thánh" (Ê-phê-sô 5:22, 23).

"Tôi nghe như tiếng của một đám đông lớn, như tiếng của nhiều dòng nước, như tiếng sấm dội vang rền rằng: 'A-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng cai trị; chúng ta hãy vui vẻ, mừng rỡ và dâng sự tôn kính lên Ngài. Hôn lễ của Chiên Con đã tới. Vợ Ngài đã sẵn sàng. Người đã được ban cho trang phục trắng, mịn và sạch. Trang phục là những việc làm công bình của các thánh đồ.' Thiên sứ phán với tôi rằng: 'Hãy viết: Phước cho những kẻ được gọi vào tiệc cưới của Chiên Con.' Người phán với tôi rằng: 'Những lời này là Lời Chân Thật của Đức Chúa Trời'" (Khải Huyền 19:6-9 – Bản Dịch Ngôi Lời) [4].

"Ấy vậy, có lời chép rằng: Người thứ nhứt là A-đam đã nên linh hồn sống. A-đam sau hết là thần ban sự sống"(I Cô-rinh-tô 15:45).

"Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định. Vì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em"(Rô-ma 8:28, 29).

  • Cancer – Cự Giải hay Bắc Giải, tương ứng với chòm sao Cự Giải, mang hình con cua. Ý nghĩa thuộc linh: Muôn dân thuộc muôn nước, từ bốn phương trời sẽ quy tụ trong thành thánh của Thiên Chúa trong cõi trời mới, đất mới.

"Các quốc gia đã được cứu sẽ bước đi trong ánh sáng của thành. Các vua trên đất sẽ đem sự vinh quang và sự oai nghi của họ vào trong thành. Ban ngày, các cổng thành không hề đóng. Tại đó, không còn có ban đêm. Họ sẽ đem sự vinh quang và sự oai nghi của các quốc gia vào trong thành"(Khải Huyền 21:24-26 – Bản Dịch Ngôi Lời) [5].

  • Leo – Sư Tử, tương ứng với chòm sao Hải Sư, mang hình sư tử. Ý nghĩa thuộc linh: Đấng Christ trong địa vị Vua của muôn vua, Chúa của muôn chúa, sẽ cai trị vương quốc của Thiên Chúa cho đến đời đời.

"Thiên sứ thứ bảy thổi loa, có những tiếng nói lớn trên trời rằng: 'Các quốc gia của thế gian đã thuộc về Chúa chúng ta và Đấng Christ Ngài. Ngài sẽ cai trị cho đến đời đời'" (Khải Huyền 11:15 – Bản Dịch Ngôi Lời) [6].

Lễ Ngũ Tuần và ý nghĩa của thiên tượng thứ nhất

Lễ Ngũ Tuần, trong nguyên ngữ là Lễ Mùa Gặt hoặc Lễ Các Tuần Lễ, do Thiên Chúa chỉ định cho dân sự của Ngài cử hành hàng năm (Lê-vi Ký 23: 15-22). Lễ Ngũ Tuần đối với dân I-sơ-ra-ên là cơ hội để nhớ đến sự kiện Thiên Chúa ban hành Mười Điều Răn tại núi Si-na-i; đối với Hội Thánh là cơ hội để nhớ đến sự kiện Đức Thánh Linh được Thiên Chúa ban cho Hội Thánh và Hội Thánh được báp-tem bằng Thánh Linh, cũng là thời điểm luật pháp của Thiên Chúa được chép vào trong lòng của con dân Chúa. Có lẽ, trong ý nghĩa thuộc linh sâu kín, Lễ Ngũ Tuần tiêu biểu cho thời kỳ Thiên Chúa thu hoạch vụ mùa thuộc linh của Ngài sau khi hạt giống Đấng Christ đã được gieo vào trong thế gian, đã chết, đã phục sinh, và mang lại nhiều kết quả. Vì thế, thiên tượng mặt trời hiện ra giữa hai sừng của chòm sao Kim Ngưu trong ngày Lễ Ngũ Tuần có thể là dấu hiệu tỏ ra cho biết Đấng Christ sắp hiện ra cách vinh hiển để đem Hội Thánh về nhà Cha và thi hành sự phán xét trên toàn thế gian. Thiên tượng đó cũng khiến cho chúng ta nhớ đến Thi Thiên 84:11:

"Vì Giê-hô-va Thiên Chúa là mặt trời và là cái khiên; Đức Giê-hô-va sẽ ban ân điển và vinh quang; Ngài sẽ chẳng từ chối điều tốt lành gì cho ai ăn ở ngay thẳng."

Lễ Thổi Kèn và ý nghĩa của thiên tượng thứ nhì

Lễ Thổi Kèn cũng do Thiên Chúa chỉ định cho dân sự của Ngài cử hành hàng năm (Lê-vi Ký 23:23-25). Có lẽ, trong ý nghĩa thuộc linh sâu kín, Lễ Thổi Kèn tiêu biểu cho (1) ngày Đấng Christ đem Hội Thánh ra khỏi thế gian và (2) ngày Đấng Christ nhóm họp con dân Chúa sau thời đại nạn. Những câu Thánh Kinh dưới đây giúp cho chúng ta liên kết Lễ Thổi Kèn với hai sự kiện nói trên:

(1) I Cô-rinh-tô 15:52"Trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại được không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa."

(1) I Tê-sa-lô-ni-ca 4:16"Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Thiên Chúa, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ, sẽ sống lại trước hết."

(2) Ma-thi-ơ 24:31"Ngài sẽ sai thiên sứ mình dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại những kẻ đã được lựa chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời nầy cho đến tận phương kia."

Vì thế, thiên tượng xảy ra trong ngày Lễ Thổi Kèn của năm 2011, rất có thể là dấu lạ báo trước rằng thời đại nạn sẽ đến liền sau khi Đấng Christ đem Hội Thánh ra khỏi thế gian; đặc biệt là cơn đau đớn của I-sơ-ra-ên khi bị Sa-tan bách hại trong thời đại nạn, như đã tiên tri trước trong Khải Huyền 12:1-6.

"Trên trời hiện ra một sự lạ lớn: Một người đàn bà được bao phủ bởi mặt trời; dưới chân có mặt trăng và trên đầu có mão là mười hai ngôi sao. Người mang thai, kêu la trong cơn đau thai nghén và quặn đẻ. Lại xuất hiện một sự lạ khác trên trời. Này, một con rồng đỏ có bảy đầu, mười sừng với bảy cái mão trên những đầu của nó. Đuôi nó kéo một phần ba các ngôi sao trên trời mà quăng xuống đất. Con rồng đứng trước người đàn bà sắp đẻ để vừa khi con của người được sinh ra thì nó nuốt lấy. Người sinh ra một bé trai, là Đấng sẽ cai trị mọi quốc gia bằng một cây gậy sắt. Con trai người được cất lên tới Đức Chúa Trời, tới ngai Ngài. Rồi, người đàn bà trốn vào đồng hoang, nơi Đức Chúa Trời đã chuẩn bị một chỗ cho người và người được nuôi trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày" [6].

Kết luận và lời kêu gọi

Thiên Chúa là ĐấngToàn Năng và là nguồn của sự khôn ngoan. Nếu chúng ta suy luận rằng Thiên Chúa đã chọn thể hiện các lời tiên tri của Ngài về lịch sử của nhân loại và chương trình cứu rỗi của Ngài ban cho nhân loại, qua sự sáng tạo các chòm sao trong Cung Hoàng Đạo, thì đó không phải là điều không hợp lý. Tuy nhiên, vì Thánh Kinh không xác định một cách trực tiếp Thiên Chúa đã làm điều đó, cho nên, chúng ta không thể kể những điều được trình bày trên đây vào trong các tín lý của Thánh Kinh. Dầu vậy, chúng ta có thể dùng các chòm sao như là một sự minh họa và nhắc nhở chúng ta về những lẽ thật của Thánh Kinh. Những khi thiên tượng xảy ra một cách độc đáo, như hai thiên tượng trong ngày Lễ Ngũ Tuần và Lễ Thổi Kèn vừa qua, là thời điểm để chúng ta nhớ rằng: Ngày Đức Chúa Jesus Christ xuất hiện giữa chốn không trung để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian đã rất gần. Chúng ta hãy dùng Lời Chúa để khích lệ lẫn nhau cùng sống cho xứng đáng với tình yêu và ân điển Ngài đã ban cho chúng ta:

"Hỡi anh em, chúng tôi chẳng muốn anh em không biết về phần người đã ngủ, hầu cho anh em chớ buồn rầu như người khác không có sự trông cậy. Vì nếu chúng ta tin Đức Chúa Jesus đã chết và sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những kẻ ngủ trong Đức Chúa Jesus cùng đến với Ngài. Vả, nầy là điều chúng tôi nhờ lời Chúa mà rao bảo cho anh em: chúng ta là kẻ sống, còn ở lại cho đến kỳ Chúa đến, thì không lên trước những người đã ngủ rồi. Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Thiên Chúa, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ, sẽ sống lại trước hết. Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn. Thế thì, anh em hãy dùng lời đó mà yên ủi nhau." Đọc Tiếp →

2,264 views

Các Ngày Lễ của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này
Bấm vào đây để nghe hoặc download audio bài giảng này

 

Sự cứu rỗi và đủ mọi ân điển của Thiên Chúa dành cho nhân loại được trình bày cách ẩn dấu qua những ngày lễ do chính Ngài quy định và được tóm lược trong Lê-vi Ký 23. Mỗi ngày lễ đều mang lấy những ý nghĩa thuộc linh, và nếu chúng ta vâng giữ sẽ đem lại cho chúng ta những phước hạnh của sự tôn kính Lời Chúa, làm theo Lời Chúa, về thuộc thể lẫn thuộc linh. Vì thế, một phần nào đó trong ý nghĩa về một cuộc sống sung mãn trong Chúa, ("Kẻ trộm chỉ đến để đánh cắp, giết và hủy diệt; còn Ta đã đến, hầu cho họ được sự sống và họ được sự sống dư dật" Giăng 10:10), chính là một cuộc sống được hưởng tất cả mọi phước hạnh thuộc thể lẫn thuộc linh do Thiên Chúa ban cho chúng ta qua sự vâng giữ các ngày lễ của Ngài.

Trong bài này, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa thuộc linh của các ngày lễ của Đức Giê-hô-va đã được ghi chép  trong Lê-vi Ký 23.

Thời điểm được chỉ định

1 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:

2 Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Nầy là những ngày lễ của Đức Giê-hô-va, các ngươi hãy rao truyền ra là các hội thánh.

Trước hết, chúng ta cần chú ý đến danh xưng "Đức Giê-hô-va," có nghĩa là "Đấng Tự Hữu Hằng Hữu," tức là: Đấng Tự Có và Còn Đến Mãi Mãi. Trong Lê-vi Ký 23, danh xưng Đức Giê-hô-va được nhấn mạnh trong từng mạng lịnh, nói lên tính cách nghiêm trọng của mỗi mạng lịnh.

Tất cả những ngày lễ được liệt kê trong phân đoạn này đều được xác định là: "những ngày lễ của Đức Giê-hô-va" bao gồm cả ngày Sa-bát, tức là ngày thứ bảy, hàng tuần.

Chữ "ngày lễ" trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là một từ ngữ có ý nghĩa là "thời điểm được chỉ định." Dĩ nhiên, sự chỉ định đến từ Đấng Tự Hữu Hằng Hữu. Một sự chỉ định tuyệt đối của Đấng Toàn năng mà không ai, không giáo hội nào hoặc nhà thần học nào có quyền bác bỏ hoặc thay đổi.

Chữ "hội thánh" trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là một từ ngữ có ý nghĩa là "sự nhóm họp thánh." Tức là (1) sự nhóm họp theo mạnh lịnh của Thiên Chúa; (2) sự nhóm họp để thờ phượng Thiên Chúa; (3) sự nhóm họp để đón nhận ơn phước từ Thiên Chúa.

Ngày Sa-bát

3 Người ta làm việc trong sáu ngày, nhưng qua ngày thứ bảy là ngày sa-bát, một ngày nghỉ, tức một sự nhóm hiệp thánh; đừng làm một công việc gì; ấy là lễ Sa-bát của Đức Giê-hô-va trong những nơi các ngươi ở.

Mục đích của những ngày Sa-bát là Đức Giê-hô-va muốn loài người nghỉ làm việc để nhóm họp thờ phượng Ngài. Trong sự nhóm họp thờ phượng Thiên Chúa, con dân Chúa được tương giao, thông công với Chúa và với nhau. Đó là ngày nghỉ của Đức Giê-hô-va, không phải của loài người, vì thế, loài người không có quyền thay đổi, hoặc bỏ qua. Trong thời Tân Ước, chính Đấng Christ xác nhận Ngài là Chúa, là Chủ của ngày Sa-bát; và trong khi trả lời cho các môn đồ về điềm tận thế thì Ngài khẳng định cách gián tiếp là ngày Sa-bát vẫn còn trong những ngày cuối cùng:

Ma-thi-ơ 12:8"vì Con người là Chúa ngày Sa-bát."

Mác 2:28"Vậy thì Con người cũng làm Chúa ngày Sa-bát." (Bản dịch Phan Khôi dịch là "chủ" dù trong nguyên ngữ là "Chúa.")

Lu-ca 6:5"Ngài lại phán rằng: Con người cũng là Chúa ngày Sa-bát."

Ma-thi-ơ 24:20, 21"Hãy cầu nguyện cho các ngươi khỏi trốn tránh nhằm lúc mùa đông hay là ngày Sa-bát; vì lúc ấy sẽ có hoạn nạn lớn, đến nỗi từ khi mới có trời đất cho đến bây giờ chưa từng có như vậy, mà sau nầy cũng không hề có nữa."

 

Lễ Vượt Qua

4 Nầy là những lễ của Đức Giê-hô-va, tức những sự nhóm hiệp thánh, các ngươi phải rao truyền ra khi đến kỳ nhất định.

5 Đến ngày mười bốn tháng giêng, vào buổi chiều tối, ấy là lễ Vượt-qua của Đức Giê-hô-va;

Lễ Vượt Qua: Sự chết của Đấng Christ để hoàn thành công cuộc cứu rỗi nhân loại.

Giăng 1:29"Qua ngày sau, Giăng thấy Đức Chúa Jesus đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi."

Hê-bơ-rơ 9:27, 28"Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét, cũng vậy, Đấng Christ đã dâng mình chỉ một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người; Ngài lại sẽ hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội lỗi đi nữa, nhưng để ban sự cứu rỗi cho kẻ chờ đợi Ngài."

Lễ Bánh Không Men

6 qua ngày rằm tháng nầy, ấy là lễ bánh không men để kính trọng Đức Giê-hô-va; các ngươi sẽ ăn bánh không pha men trong bảy ngày.

7 Ngày đầu, các ngươi sẽ có một sự nhóm hiệp thánh, chẳng nên làm một công việc xác thịt.

8 Trong bảy ngày các ngươi phải dâng cho Đức Giê-hô-va những của lễ dùng lửa dâng lên; đến ngày thứ bảy, sẽ có một sự nhóm hiệp thánh nữa, các ngươi đừng làm một công việc xác thịt nào hết.

Lễ Bánh Không Men: Sự phục hòa với Thiên Chúa và tiếp nhận tiêu chuẩn thánh khiết của Ngài, tức tiếp nhận các luật pháp và điều răn của Thiên Chúa vào trong lòng của chúng ta là những người tin nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa ở trong Đấng Christ.

Giê-rê-mi 31:33"Đức Giê-hô-va phán: Nầy là giao ước mà ta sẽ lập với nhà I-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật pháp ta trong bụng chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta."

Hê-bơ-rơ 8:10"Nầy là lời ước mà ta sẽ lập với nhà I-sơ-ra-ên. Sau những ngày đó: Ta sẽ để luật pháp ta trong trí họ và ghi tạc vào lòng; Ta sẽ làm Thiên Chúa của họ, họ sẽ làm dân ta."

Ma-thi-ơ 16:6"Đức Chúa Jesus phán cùng môn đồ rằng: Hãy giữ mình cẩn thận về men của người Pha-ri-si và Sa-đu-sê."

Men của người Pha-ri-si là các giáo lý của họ (Ma-thi-ơ 16:12). Điểm nổi bật của người Pha-ri-si là sự giả hình (Lu-ca 12:1); của người Sa-đu-sê là tà giáo dạy rằng không có sự sống lại (Ma-thi-ơ 22:23; Mác 12:18).

I Cô-rinh-tô 5:7,8 "Hãy làm cho mình sạch men cũ đi, hầu cho anh em trở nên bột nhồi mới không men, như anh em là bánh không men vậy. Vì Đấng Christ là con sinh lễ Vượt Qua của chúng ta, đã bị giết rồi. Vậy thì, chúng ta hãy giữ lễ, chớ dùng men cũ, chớ dùng men gian ác, độc dữ, nhưng dùng bánh không men của sự thật thà và của lẽ thật."

Kính trọng Đức Giê-hô-va là sống một đời sống không phạm tội, tức là một đời sống hoàn toàn vâng phục, làm theo Lời Chúa.

Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa

9 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:

10 Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi nào các ngươi đã vào xứ mà ta sẽ ban cho, và đã gặt mùa màng rồi, thì hãy đem đến cho thầy tế lễ một bó lúa đầu mùa của các ngươi.

11 Qua ngày sau lễ sa-bát, thầy tế lễ sẽ dâng bó lúa đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va, hầu cho bó lúa đó được nhậm.

12 Chánh ngày dâng bó lúa đưa qua đưa lại đó, các ngươi cũng phải dâng cho Đức Giê-hô-va một chiên con giáp năm, không tì vít chi, đặng làm của lễ thiêu;

13 và dâng thêm một của lễ chay bằng hai phần mười bột lọc chế dầu, làm của lễ dùng lửa dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va, với một phần tư hin rượu, làm lễ quán.

14 Các ngươi chớ ăn hoặc bánh, hoặc hột lúa rang, hoặc lúa đang ở trong gié cho đến chánh ngày nầy, tức là ngày các ngươi đem dâng của lễ cho Thiên Chúa mình. Mặc dầu ở nơi nào, ấy là một lệ định đời đời cho con cháu các ngươi.

Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa: Sự phục sinh của Đấng Christ, trái đầu mùa của sự sống lại.

I Cô-rinh-tô 15:20"Nhưng bây giờ, Đấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, Ngài là trái đầu mùa của những kẻ ngủ."

I Cô-rinh-tô 15:23"nhưng mỗi người theo thứ tự riêng của mình: Đấng Christ là trái đầu mùa; rồi tới ngày Đấng Christ đến, những kẻ thuộc về Ngài sẽ sống lại."

Lễ Ngũ Tuần

15 Kể từ ngày sau lễ sa-bát, là ngày đem bó lúa dâng đưa qua đưa lại, các ngươi sẽ tính bảy tuần lễ trọn:

16 các ngươi tính năm mươi ngày cho đến ngày sau của lễ sa-bát thứ bảy, thì phải dâng một của lễ chay mới cho Đức Giê-hô-va.

17 Các ngươi hãy từ nhà mình đem đến hai ổ bánh đặng làm của lễ dâng đưa qua đưa lại; bánh đó làm bằng hai phần mười bột lọc hấp có pha men: ấy là của đầu mùa dâng cho Đức Giê-hô-va.

18 Các ngươi cũng phải dâng luôn với bánh, bảy chiên con giáp năm chẳng tì vít chi, một con bò tơ, và hai con chiên đực với của lễ chay và lễ quán cặp theo, đặng làm của lễ thiêu tế Đức Giê-hô-va: ấy là một của lễ dùng lửa xông, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.

19 Các ngươi cũng phải dâng một con dê đực đặng làm của lễ chuộc tội, và hai chiên con giáp năm, đặng làm của lễ thù ân.

20 Thầy tế lễ sẽ lấy các của lễ đó với hai ổ bánh bằng lúa đầu mùa, và hai chiên con, dâng đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va; các vật đó sẽ biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va, và thuộc về thầy tế lễ.

21 Các ngươi hãy rao truyền sự nhóm hiệp trong chánh một ngày đó; phải có một sự nhóm hiệp thánh, chớ nên làm một công việc xác thịt nào. Ấy là một lệ định đời đời cho dòng dõi các ngươi, mặc dầu ở nơi nào.

22 Khi các ngươi gặt lúa trong xứ mình, chớ gặt tận đầu đồng, và chớ mót lúa sót lại; hãy để phần đó cho người nghèo và cho kẻ khách ngoại bang: Ta là Giê-hô-va, Thiên Chúa của các ngươi.

Lễ Mùa Gặt (Lễ Các Tuần Lễ –  Lễ Ngũ Tuần): (1) Sự hình thành và phát triển của Hội Thánh. (2) Sự Tin Lành được rao giảng cho muôn dân.

Ma-thi-ơ 24:14"Tin Lành nầy về vương quốc sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến."

Ma-thi-ơ 28:18-20"Đức Chúa Jesus đến gần, phán cùng môn đồ như vầy: Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta. Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế."

Lễ Thổi Kèn

23 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:

24 Hãy truyền cho dân I-sơ-ra-ên rằng: Ngày mồng một tháng bảy, sẽ có cho các ngươi một ngày nghỉ, một lễ kỷ niệm lấy tiếng kèn thổi mà rao truyền, tức là một sự nhóm hiệp thánh vậy.

25 Chớ làm một công việc xác thịt nào; phải dâng các của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va.

Lễ Thổi Kèn: (1) Sự cất lên của Hội Thánh. (2) Sự nhóm họp muôn dân sau thời đại nạn

(1) I Cô-rinh-tô 15:52"Trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại được không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa."

(1) I Tê-sa-lô-ni-ca 4:16"Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Thiên Chúa, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ, sẽ sống lại trước hết."

(2) Ma-thi-ơ 24:31"Ngài sẽ sai thiên sứ mình dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại những kẻ đã được lựa chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời nầy cho đến tận phương kia."

Hội Thánh giống như Hê-nóc sẽ được cất lên trước kỳ tận thế. Các thánh đồ thời đại nạn giống như gia đình Nô-ê trong cơn nước lụt.

Sáng Thế Ký 5:21-24"Hê-nóc được sáu mươi lăm tuổi, sanh Mê-tu-sê-la. Sau khi Hê-nóc sanh Mê-tu-sê-la rồi, đồng đi cùng Đức Chúa Trời trong ba trăm năm, sanh con trai con gái. Vậy Hê-nóc hưởng thọ được ba trăm sáu mươi lăm tuổi. Hê-nóc đồng đi cùng Đức Chúa Trời, rồi mất biệt, bởi vì Đức Chúa Trời tiếp người đi."

Hê-bơ-rơ 11:5"Bởi đức tin, Hê-nóc được cất lên và không hề thấy sự chết; người ta không thấy người nữa, vì Đức Chúa Trời đã tiếp người lên. Bởi chưng trước khi được tiếp lên, người đã được chứng rằng mình ở vừa lòng Đức Chúa Trời rồi."

Khải Huyền 3:

6 Ai có tai, người ấy hãy nghe điều Đấng Thần Linh phán với các Hội Thánh.

7 "Hãy viết cho thiên sứ của Hội Thánh tại Phi-la-đen-phi: 'Đây là những lời phán của Đấng Thánh; Đấng Chân Thật; Đấng giữ chìa khóa của Đa-vít: Đấng mở thì không ai có thể đóng, Đấng đóng thì không ai có thể mở:

8 Ta biết những việc làm ngươi. Kìa, Ta đã đặt trước ngươi một cửa đã mở mà không ai có thể đóng; vì ngươi có ít sức mà vẫn giữ Lời Ta và không chối Danh Ta.

9 Này, Ta sẽ khiến chúng nó – những kẻ thuộc hội Sa-tan, xưng mình là người Do-thái mà không phải, chúng chỉ là những kẻ nói dối – đến phủ phục trước chân ngươi và biết rằng Ta yêu ngươi!

10 Vì ngươi đã giữ lời của sự nhẫn nại Ta, Ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách là giờ sẽ đến trên mọi người trong thế gian để thử nghiệm những kẻ ở trên đất.

11 Này, Ta đến mau chóng! Hãy giữ vững những điều ngươi có thì không ai có thể lấy mão của ngươi.

12 Kẻ nào thắng, Ta sẽ cho làm trụ trong đền của Đức Chúa Trời Ta và người sẽ không ra khỏi đó nữa. Ta sẽ viết trên người tên của Đức Chúa Trời Ta, tên của thành Đức Chúa Trời Ta là Giê-ru-sa-lem mới từ nơi Đức Chúa Trời Ta ở trên trời giáng xuống và tên mới của Ta.'

Lễ Chuộc Tội

26 Đức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se rằng:

27 Ngày mồng mười tháng bảy nầy là ngày lễ chuộc tội; các ngươi sẽ có sự nhóm hiệp thánh; hãy ép tâm hồn mình và dâng cho Đức Giê-hô-va các của lễ dùng lửa dâng lên.

28 Ngày đó chẳng nên làm công việc nào, vì là ngày chuộc tội, trong ngày đó phải làm lễ chuộc tội cho các ngươi trước mặt Giê-hô-va, Đức Chúa Trời mình.

29 Trong ngày đó, hễ ai không ép tâm hồn mình, sẽ bị truất khỏi dân sự mình.

30 Và hễ ai làm một công việc gì, thì ta sẽ diệt họ khỏi dân sự mình.

31 Các ngươi chẳng nên làm công việc chi hết, ấy là một lệ định đời đời cho dòng dõi các ngươi, mặc dầu ở nơi nào.

32 Ấy sẽ là một lễ Sa-bát, một ngày nghỉ cho các ngươi; các ngươi phải ép tâm hồn mình. Ngày mồng chín tháng đó, các ngươi phải giữ lễ Sa-bát mình, từ chiều nay đến chiều mai.

Lễ Chuộc Tội: (1) Ngày phán xét cuối thời đại nạn (Ma-thi-ơ 25:31-46). (2) Ngày phán xét chung cuộc (Khải Huyền 20:11-15)

31 Khi Con người ngự trong sự vinh quang mình mà đến với các thiên sứ thánh, thì Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh quang của Ngài.

32 Muôn dân nhóm lại trước mặt Ngài, rồi Ngài sẽ chia người nầy với người khác ra, như kẻ chăn chiên chia chiên với dê ra;

33 để chiên ở bên hữu và dê ở bên tả.

34 Bấy giờ, vua sẽ phán cùng những kẻ ở bên hữu rằng: Hỡi các ngươi được Cha ta ban phước, hãy đến mà nhận lấy nước thiên đàng đã sắm sẵn cho các ngươi từ khi dựng nên trời đất.

35 Vì ta đói, các ngươi đã cho ta ăn; ta khát, các ngươi đã cho ta uống; ta là khách lạ, các ngươi tiếp rước ta;

36 ta trần truồng, các ngươi mặc cho ta; ta đau, các ngươi thăm ta; ta bị tù, các ngươi viếng ta.

37 Lúc ấy, người công bình sẽ thưa rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa đói, mà cho ăn; hoặc khát, mà cho uống?

38 Lại khi nào chúng tôi đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà mặc cho?

39 Hay là khi nào chúng tôi đã thấy Chúa đau, hoặc bị tù, mà đi thăm viếng Chúa?

40 Vua sẽ trả lời rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy.

41 Kế đó, Ngài sẽ phán cùng những người ở bên tả rằng: Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi ta; đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỷ và những quỷ sứ nó.

42 Vì ta đã đói, các ngươi không cho ăn; ta khát, các ngươi không cho uống;

43 ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước; ta trần truồng, các ngươi không mặc cho ta; ta đau và bị tù, các ngươi không thăm viếng.

44 Đến phiên các ngươi nầy bèn thưa lại rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa, hoặc đói, hoặc khát, hoặc làm khách lạ, hoặc trần truồng, hoặc đau ốm, hoặc bị tù mà không hầu việc Ngài ư?

45 Ngài sẽ đáp lại rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy, ấy là các ngươi cũng không làm cho ta nữa.

46 Rồi những kẻ nầy sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự sống đời đời.

Lễ Lều Tạm

33 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:

34 Hãy truyền cho dân I-sơ-ra-ên rằng: Ngày rằm tháng bảy nầy là lễ lều tạm, trải qua bảy ngày đặng tôn kính Đức Giê-hô-va.

35 Ngày thứ nhất sẽ có sự nhóm hiệp thánh, các ngươi chẳng nên làm một công việc xác thịt nào.

36 Trong bảy ngày phải dâng các của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va; qua ngày thứ tám, các ngươi có một sự nhóm hiệp thánh nữa, cũng dâng của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va. Ấy sẽ là một hội trọng thể; chớ nên làm một công việc xác thịt nào hết.

37 Đó là những lễ trọng thể của Đức Giê-hô-va, mà các ngươi phải rao truyền là sự nhóm hiệp thánh, đặng dâng cho Đức Giê-hô-va những của lễ dùng lửa dâng lên, của lễ thiêu, của lễ chay, của lễ thù ân, lễ quán, vật nào đã định theo ngày nấy.

38 Ngoài ra, các ngươi phải cứ giữ lễ Sa-bát của Đức Giê-hô-va, cứ dâng cho Ngài các lễ vật mình, các của lễ khấn nguyện và lạc ý.

39 Nhưng đến ngày rằm tháng bảy, khi các ngươi đã thâu-hoạch thổ sản mình rồi, hãy giữ một lễ cho Đức Giê-hô-va trong bảy ngày. Bữa thứ nhất sẽ là ngày nghỉ, và bữa thứ tám cũng sẽ là ngày nghỉ.

40 Bữa thứ nhất, các ngươi phải lấy trái cây tốt, tàu chà là, nhành cây rậm, và cây dương liễu, rồi vui mừng trong bảy ngày trước mặt Giê-hô-va, Thiên Chúa của các ngươi.

41 Mỗi năm, vào tháng bảy, các ngươi phải giữ lễ nầy cho Đức Giê-hô-va như vậy trong bảy ngày. Ấy là một lệ định đời đời cho dòng dõi các ngươi.

42 Hết thảy ai sanh trong dòng I-sơ-ra-ên sẽ ở nơi trại trong bảy ngày,

43 hầu cho dòng dõi các ngươi biết rằng khi ta đem dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô, ta cho họ ở trong những trại: Ta là Giê-hô-va, Thiên Chúa của các ngươi.

44 Ấy vậy, Môi-se truyền cho dân Y-sơ-ra-ên biết các lễ của Đức Giê-hô-va là lễ nào.

Lễ Lều Tạm: (1) Vương Quốc Ngàn Năm (Khải Huyền 20). (2) Vương quốc đời đời trong trời mới đất mới (Khải Huyền 21, 22).

Thời điểm những ngày lễ của Đức Giê-hô-va được hoàn thành

Như chúng ta đã biết các ngày Lễ Vượt Qua, Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa, và Lễ Ngũ Tuần là hình bóng cho các sự kiện: sự chết, sự phục sinh của Đấng Christ, cùng với sự chọn lựa những kẻ tin nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa. Dù công cuộc cứu rỗi nhân loại đã được hoàn thành nhưng Đấng Christ vẫn tiếp tục ở trong sự thương khó vì loài người vẫn còn phạm tội. Có lẽ vì thế mà dấu vết thương khó vẫn còn trên thân thể phục sinh của Ngài. Đấng Christ là trái đầu mùa của sự sống lại nhưng sự sống lại vẫn chưa xảy ra cho con dân Chúa. Hội Thánh sẽ được cất ra khỏi thế gian nhưng trong thời đại nạn Tin Lành vẫn được rao giảng và vô số người sẽ được cứu. Tuy những sự kiện nói trên đã xảy ra nhưng ý nghĩa được tiên tri trong các ngày lễ ấy vẫn chưa được hoàn thành. Trong khi đó, ý nghĩa được tiên tri trong các ngày Lễ Thổi Kèn, Lễ Chuộc Tội, và Lễ Lều Tạm chưa được ứng nghiệm. Vì thế, cả bảy ngày Lễ của Đức Giê-hô-va đáng cho chúng ta tôn kính và cử hành để: bày tỏ đức tin của chúng ta vào trong chương trình của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu dành cho nhân loại, bày tỏ lòng biết ơn của chúng ta đối với tình yêu và ân điển của Ngài, và bày tỏ mối hy vọng của chúng ta về sự đến của vương quốc Thiên Chúa.

Chúng ta giữ các ngày lễ của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu không phải với thần trí làm theo luật pháp để được cứu vì chúng ta là những người đã được cứu bởi ân điển và đức tin. Nhưng vì chúng ta đã được Chúa ban ơn để hiểu biết ý nghĩa thuộc linh của những ngày Lễ của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu; nên chúng ta vui mừng giữ các ngày lễ ấy với đức tin, lòng trông cậy, và tình yêu thương.

Huỳnh Christian Timothy
30.09.2011
www.timhieutinlanh.net
tim@timhieutinlanh.net

Đọc Tiếp →
2,917 views

Ý Nghĩa của Một Số Câu Thánh Kinh Liên Quan đến Sự Tái Sinh và Sự Thánh Hóa

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này

 
Lưu ý:Trong bài viết này, những câu Thánh Kinh trong các sách Giăng và Khải Huyền được trích từ Bản Dịch Ngôi Lời [1]; một số câu khác được tác giả dịch sát nghĩa theo nguyên ngữ của Thánh Kinh và ghi chú là "Dịch sát nghĩa;" những câu còn lại được trích từ Bản Dịch Phan Khôi đang được hiệu đính [2].
 
Nếu bạn đang kết nối với Internet trong khi đọc bài này thì bạn có thể bấm vào mã số Strong như: G4151 để xem định nghĩa của từ ngữ; bấm vào ký hiệu phát âm như: (loo-tron') để nghe cách phát âm.
 
Trong bài này, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa chi tiết của một số câu trong Thánh Kinh có liên quan đến sự tái sinh và sự thánh hóa. Ý nghĩa của mỗi câu trong Thánh Kinh phải được giải bày và chứng minh từ những câu khác trong Thánh Kinh chứ không phải theo ý riêng của người nào (II Phi-e-rơ 1:20), đó là nguyên tắc giải kinh nhằm bảo đảm cho chúng ta hiểu đúng lẽ thật của Lời Chúa.
 
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhận ra những trường hợp dùng Thánh Kinh để giải thích Thánh Kinh mà sự giải thích đó không đúng với các lẽ thật căn bản của Thánh Kinh (II Phi-e-rơ 3:16). Thí dụ: Sự kiện dùng Giăng 3:3 và Tít 3:5 để giải thích rằng phép báp-tem bằng nước tạo ra sự tái sinh, (danh từ thần học trong Anh ngữ là: "baptismal regeneration"), nghĩa là: nếu không có sự báp-tem bằng nước thì sẽ không có sự tái sinh.
 
Lẽ thật căn bản của Thánh Kinh dạy rằng: phép báp-tem bằng nước là hình thức tiêu biểu cho sự chúng ta được cứu ra khỏi sự hư mất bởi sự đoán phạt của Đức Chúa Trời, nhờ đức tin vào sự sống lại của Đức Chúa Jesus Christ (Rô-ma 10:9); như xưa kia gia đình của Nô-ê được cứu ra khỏi sự hư mất bởi cơn nước lụt (hình thức Đức Chúa Trời đoán phạt thế gian thời bấy giờ) nhờ đức tin vào lời của Đức Chúa Trời.
 
Phép báp-tem bằng nước chúng ta chịu ngày hôm nay cũng như sự đóng tàu và vào tàu trước cơn nước lụt của gia đình Nô-ê ngày xưa, đều thể hiện sự đáp ứng của một lương tâm tốt với Đức Chúa Trời. Lương tâm tốt tức là tấm lòng tin và làm theo Lời Chúa. I Phi-e-rơ 3:20, 21 chép:
 
"…về thời kỳ Nô-ê, khi Đức Chúa Trời nhịn nhục đã có lần chờ đợi cho chiếc tàu được đóng nên, trong đó chỉ có một số ít, là tám linh hồn được cứu qua nước. Phép báp-tem bây giờ là hình thức tiêu biểu của sự ấy để cứu chúng ta – chứ không phải là sự cất đi sự ô uế của xác thịt, nhưng là sự đáp ứng của một lương tâm tốt với Đức Chúa Trời – qua sự sống lại của Đức Chúa Jesus Christ…"(Dịch sát ý của nguyên ngữ Hy-lạp. Bản Dịch Phan Khôi dịch là "sự liên lạc lương tâm tốt").
 
Khi gọi phép báp-tem bằng nước là hình thức tiêu biểu, Thánh Kinh dạy rằng: hình thức đó giúp cho chúng ta hiểu được ý nghĩa việc làm của Đức Chúa trời trong sự tái sinh chúng ta. Phép báp tem bằng nước không làm ra sự tái sinh nhưng phép báp-tem bằng nước thể hiện một trong hai yếu tố mà Đức Chúa Trời dựa vào đó để tái sinh chúng ta. Yếu tố đó là sự chúng ta thật lòng ăn năn tội và tin nhận sự rửa tội bằng huyết thánh của Đấng Christ; nghĩa là: chúng ta bằng lòng chết đi con người cũ trong sự chết của Đấng Christ (trong danh Đức Cha) để được sống lại một con người mới trong sự sống lại của Đấng Christ (trong Danh Đức Con), và chúng ta bằng lòng tiếp nhận sự thánh hóa bởi Đức Thánh Linh, qua Lời của Đức Chúa Trời (trong Danh Đức Thánh Linh).
 
I. Ý Nghĩa của Một Số Câu Thánh Kinh Liên Quan đến Sự Tái Sinh
 
1. Giăng 3:3:
"Đức Chúa Jesus lên tiếng, đáp rằng: Thật vậy, thật vậy, Ta nói với ngươi: Nếu một người chẳng sinh lại, thì không thể thấy biết được vương quốc của Đức Chúa Trời."
 
Từ ngữ "sinh lại" trong Giăng 3:3 trong nguyên ngữ Hy-lạp là "sinh từ trên cao" hàm ý "được sinh bởi Đức Chúa Trời" như Giăng 1:12, 13 đã nói rõ:
 
"Nhưng hễ những ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho họ năng quyền, để trở nên con cái của Đức Chúa Trời; là ban cho những kẻ tin vào danh Ngài: là những kẻ chẳng phải sinh bởi máu huyết, hoặc bởi ý của xác thịt, cũng chẳng bởi ý người, nhưng sinh bởi Đức Chúa Trời."
 
Từ ngữ "thấy biết" hàm ý sự nhận thức trong tâm trí, nghĩa là sự hiểu biết về Nước Trời, đồng thời cũng nói lên sự nhận thức về tác động của Nước Trời trong cuộc sống mỗi ngày. Nếu một người không được tái sinh thì không thể hiểu được về Nước Trời và cũng không thể nhìn thấy được sự đến của Nước Trời trong thế gian. Trong thời đại của Hội Thánh, Nước Trời thể hiện trong lòng của người thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ, cho nên chỉ những ai đã được tái sinh thì mới nhận biết sự hiện diện của Nước Trời trong lòng mình và trong lòng các anh chị em thật trong Chúa:
 
"Người Pha-ri-si hỏi Đức Chúa Jesus nước Đức Chúa Trời chừng nào đến, thì Ngài đáp rằng: Nước Đức Chúa Trời không đến cách rõ ràng, và người ta sẽ không nói: Ở đây, hay là: Ở đó; vì nầy, nước Đức Chúa Trời ở trong các ngươi" (Lu-ca 17:20, 21).
 
Vì thế, Thánh Kinh gọi những người ở trong Hội Thánh là "uống chung một Thánh Linh:"
 
"Vì chưng chúng ta hoặc người Giu-đa, hoặc người Gờ-réc, hoặc tôi mọi, hoặc tự chủ, đều đã chịu phép báp-tem chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa" (I Cô-rinh-tô 12:13).
 
Từ ngữ "uống chung một Thánh Linh" nói lên sự kiện con dân Thiên Chúa có Đức Thánh Linh hiện diện trong thân thể mình và Thánh Linh của Ngài tuôn trào trong lòng mình:
 
"Người nào tin nơi Ta, thì nước hằng sống sẽ tuôn trào từ trong lòng mình, y như Thánh Kinh đã chép vậy. Ngài phán điều đó chỉ về Đức Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ nhận lấy; bởi bấy giờ, chưa có Thánh Linh, vì Đức Chúa Jesus chưa được vinh hiển." (Giăng 7:38, 39).
 
Từ ngữ "uống chung một Thánh Linh" còn nói lên sự kiện con dân Thiên Chúa "nếm sự ban cho từ trên trời""dự phần về Thánh Linh;" "nếm Lời lành của Đức Chúa Trời và quyền phép của đời sau:"
 
"Vì chưng những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Thánh Linh, nếm Lời lành của Đức Chúa Trời, và quyền phép của đời sau, nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường"(Hê-bơ-rơ 6:4-6).
 
2. Giăng 3:5:
"Đức Chúa Jesus đáp rằng:Thật vậy, thật vậy, Ta nói với ngươi: Nếu một người chẳng sinh ra bởi nước và bởi Thánh Linh, thì không được vào vương quốc của Đức Chúa Trời."
 
Từ ngữ "bởi nước và bởi Thánh Linh" trong Giăng 3:5 là nói đến hai yếu tố, tức là hai điều cần phải có, để một người được tái sinh. Nhiều người cho rằng chữ "nước" là chỉ về Lời Chúa. Tuy nhiên, nguyên tắc giải kinh buộc chúng ta phải dùng cùng một phương cách để giải thích hai từ ngữ được liên kết với nhau bằng liên từ "và." Nếu từ ngữ "Thánh Linh" được hiểu theo nghĩa đen là Thánh Linh của Chúa thì từ ngữ "nước" cũng phải được hiểu theo nghĩa đen là nước. Ngoài ra, Thánh Kinh dùng nước để làm hình bóng về Thánh Linh như trong Giăng 7:38, 39; nhưng không bao giờ Thánh Kinh dùng nước để làm hình bóng về Lời Chúa.
 
Nhờ Ê-phê-sô 5:25, 26 mà chúng ta biết chắc nước và Lời Chúa (Đạo) là hai điều khác nhau. Chữ "Đạo" trong Bản Dịch Phan Khôi thật ra là chữ "Lời" trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh:
 
"Hỡi người làm chồng, hãy yêu vợ mình, như Đấng Christ đã yêu Hội Thánh, phó chính mình vì Hội Thánh, để khiến Hội nên thánh sau khi lấy nước rửa và dùng Lời (Đạo) làm cho Hội tinh sạch…
 
Ý nghĩa của câu này làHội Thánh được nên thánh sau khi: (1) Đấng Christ hy sinh chuộc tội cho Hội Thánh. (2) Hội Thánh ăn năn tội, tin nhận sự chuộc tội của Đấng Christ, thể hiện qua sự chịu báp-tem tức là rửa mình trong nước, tiêu biểu cho sự kiện tội lỗi được rửa sạch bởi huyết của Đấng Christ. (3) Hội Thánh được tiếp tục thánh hóa bởi Lời Chúa (Giăng 17:17). Ý nghĩa Hội Thánh được rửa bằng nước còn được xác định trong Hê-bơ-rơ 10:19-22:
 
"Hỡi anh em, vì chúng ta nhờ huyết Đức Chúa Jesus được dạn dĩ vào nơi rất thánh, bởi đường mới và sống mà Ngài đã mở ngang qua cái màn, nghĩa là ngang qua xác Ngài, lại vì chúng ta có một thầy tế lễ lớn đã lập lên cai trị nhà Đức Chúa Trời, nên chúng ta hãy lấy lòng thật thà với đức tin đầy dẫy trọn vẹn, lòng được tưới sạch khỏi lương tâm xấu, thân thể rửa bằng nước trong, mà đến gần Chúa."
 
Lòng được tưới sạch khỏi lương tâm xấu là bởi huyết của Đấng Christ còn thân thể rửa bằng nước trong là "bởi nước" của phép báp-tem. Sự rửa sạch thân thể bên ngoài bằng nước trong tiêu biểu cho sự rửa sạch bên trong bằng huyết của Đấng Christ. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa một người phải chịu báp-tem bằng nước thì mới được tái sinh hoặc sự tái sinhxảy ra trong giây phút một người chịu báp-tem bằng nước. Chúng ta hãy cùng nhau xem bảng phân tích dưới đây:
 
Yếu tố
Nghĩa đen
Thể hiện
Tiêu biểu
Kết luận
Nước
Phép báp-tem
Lòng ăn năn năn tội và đức tin trong Đấng Christ
Tội lỗi được rửa sạch bởi huyết của Đấng Christ
(I Giăng 1:7;
Khải Huyền 1:6)
Bất kỳ lúc nào, một người thật lòng ăn năn tội, tin nhận Đấng Christ thì người ấy lập tức được Đức Chúa Trời xưng nghĩa và tái sinh thành một người mới trong Đấng Christ, thuộc về Hội Thánh, được làm chức vua và chức thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời. Sự kiện gia đình Cọt-nây được tái sinh khi họ tin nhận lời giảng của Phi-e-rơ là bằng cớ điển hình.
Thánh Linh
Quyền phép của
Đức Chúa Trời
Ân điển và sự ban cho của Đức Chúa Trời
Sự dự phần trong bản tính của Đức Chúa Trời, tức dự phần trong sự sống đời đời
(I Phi-e-rơ 1:3;
II Phi-e-rơ 1:4)
 
Như vậy, dựa trên lòng ăn tội và đức tin nơi Đấng Christ của một người và dựa trên ân điển cùng sự ban cho của Đức Chúa Trời mà Đức Thánh Linh tái sinh người ấy. Lòng ăn năn tội và đức tin nơi Đấng Christ của một người là yếu tố cần phải có về phía loài người, kết hợp với ân điển của Đức Chúa Trời để một người được xưng nghĩa, dẫn đến sự được tái sinh. Lòng ăn năn tội và đức tin nơi Đấng Christ của một người cần được thể hiện qua sự chịu báp-tem bằng nước khi hoàn cảnh cho phép, tức là sự rửa mình trong nước tiêu biểu cho sự người ấy tin nhận tội lỗi mình được rửa sạch bằng huyết của Đức Chúa Jesus Christ; nhưng phép báp-tem bằng nước không hề là yếu tố của sự tái sinh. Nếu phép báp-tem bằng nước là yếu tố của sự tái sinh thì tên trộm bị đóng đinh bên tay phải của Chúa sẽ không được vào Nước Trời.
 
Một người không thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ thì dù cho có chịu báp-tem bằng nước, sinh hoạt trong Hội Thánh, thậm chí đưa dắt nhiều người đến với sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, người ấy vẫn không được tái sinh, không có sự cứu rỗi, và sẽ hư mất đời đời trong hỏa ngục. Mặt khác, một người thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ thì không có lý do gì từ chối chịu báp-tem bằng nước để thể hiện tấm lòng và đức tin của mình. Phép báp-tem bằng nước là mệnh lệnh của Đức Chúa Jesus Christ truyền cho những ai tin nhận Ngài. Người có thể chịu báp-tem bằng nước mà không thi hành là phạm tội không vâng phục Đấng Christ.
Đức Chúa Jesus khẳng định:
 
"Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha Ta ở trên trời mà thôi. Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhơn danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhơn danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? Khi ấy, Ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi Ta"(Ma-thi-ơ 7:21-23)!
 
"Làm theo ý của Cha Ta ở trên trời " là gì? Đức Chúa Jesus dạy rõ:
 
"Đây là ý muốn của Đấng đã sai Ta, hễ ai thấy Con và tin nơi Ngài, thì được sự sống đời đời; và Ta sẽ làm cho kẻ ấy sống lại nơi ngày sau rốt"(Giăng 6:40).
 
"Tin nơi Ngài" là gì? Là đồng ý với những gì Đức Chúa Jesus Christ phán dạy và làm theo như Ngài đã làm, nghĩa là sống như Ngài đã sống: không vi phạm bất cứ một điều răn nào của Đức Chúa Trời và vâng phục Đức Chúa Trời cho đến chết như Ngài đã vâng phục. I Giăng 2:3-6 cho chúng ta biết:
 
"Nầy tại sao chúng ta biết mình đã biết Ngài, ấy là tại chúng ta giữ các điều răn của Ngài. Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ các điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người. Nhưng ai giữ lời phán Ngài, thì lòng kính mến Đức Chúa Trời thật là trọn vẹn trong người ấy. Bởi đó, chúng ta biết mình ở trong Ngài. Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm."
 
Và Khải Huyền 21:8 cho biết phần của những kẻ nói dối sẽ là ở trong hồ lửa!
 
3. Giăng 3:6:
"Hễ chi sinh ra bởi xác thịt là xác thịt; hễ chi sinh ra bởi Đức Thánh Linh là thần.”
 
Từ ngữ "Đức Thánh Linh" trong Giăng 3:6 cho chúng ta thấy sự tái sinh được thực hiện bởi Đức Thánh Linh; và hễ ai đã được sinh ra bởi Đức Thánh Linh thì người ấy là thần linh giống như Chúa. Trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh, hai từ ngữ "Linh" và "thần" của Giăng 3:6 đều dùng chung một danh từ: "πνεῦμα," G4151, phiên âm /pneuma/, phát âm (pnyoo'-mah), tiếng Anh dịch là "spirit," có nghĩa là "thần" hoặc "linh." Tương tự như vậy là từ ngữ "Thần" và "tâm thần" trong Giăng 4:24:
 
"Đức Chúa Trời là Thần. Những người thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong tâm thần và lẽ thật"(Giăng 4:24).
 
Để có thể thật sự thờ phượng Đức Chúa Trời là Thần thì một người phải có tâm thần đã được tái sinh. Người chưa được tái sinh là một người có tâm thần đã chết, tức là một tâm thần không thể thông công với Đức Chúa Trời, mà chỉ có thể thông công với các tà linh. Vì thế, người không biết Chúa chỉ có thể thờ lạy hình tượng và tà thần.
 
4. Tít 3:4, 5:
"Nhưng từ khi lòng nhân từ và tình yêu đối với loài người của Đức Chúa Trời, là Đấng Giải Cứu chúng ta, đã được bày ra, thì không phải vì việc công bình chúng ta đã làm, nhưng cứ theo lòng thương xót Ngài mà Ngài cứu chúng ta bởi sự rửa của sự tái sinh và sự đổi mới của Thánh Linh."
 
Từ ngữ "bởi sự rửa của sự tái sinh" nói đến sự chúng ta được rửa sạch tội lỗi bởi huyết của Đấng Christ khi Đức Thánh Linh tái sinh chúng ta. Điều này được Khải Huyền 1:6 xác chứng:
 
"Đấng yêu thương chúng ta: đã rửa sạch tội lỗi chúng ta trong máu Ngài, đã lập chúng ta làm những vua và những thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời Ngài và Cha Ngài – Nguyện sự vinh quang và quyền thế thuộc về Ngài cho đến đời đời. A-men!"
 
Từ ngữ "sự rửa" nguyên ngữ Hy-lạp của Tân Ước là "λουτρόν," G3067, phiên âm /loutron/, phát âm (loo-tron'), và chỉ xuất hiện có hai lần, trong Tít 3:4 và Ê-phê-sô 5:26, với nghĩa đen là "sự tắm bằng cách báp-tem trong nước, tức dìm mình trong nước." Không phải phép báp-tem bằng nước khiến cho chúng ta được tái sinh nhưng phép báp-tem bằng nước tiêu biểu cho điều mà Đức Chúa Trời đã làm cho con người bên trong của chúng ta. Điều này tương tự như: không phải tình yêu vợ chồng phát sinh ra bởi lễ cưới nhưng lễ cưới tiêu biểu cho tình yêu vợ chồng đã có giữa người đàn ông và đàn bà.
 
Từ ngữ: "sự đổi mới của Thánh Linh" (BảnDịch Phan Khôi dịch là "sự đổi mới của Đức Thánh Linh" )nói đến sự kiện Thánh Linh của Đức Chúa Trời, tức quyền phép, năng lực, và sự sống ra từ Đức Chúa Trời đã làm cho mới lại một người được tái sinh.
 
Khi Đức Chúa Trời dựng nên loài người, Ngài ban Thánh Linh của Ngài vào trong thân thể người (Sáng Thế Ký 2:7), tạo nên tâm thần của loài người, tức phần linh thể của loài người,  để loài người được tương giao với Ngài, có thể sống theo tiêu chuẩn thánh khiết, công chính, và yêu thương của Ngài, đồng thời cai trị đất cùng muôn vật trên đất. Nhưng khi loài người phạm tội thì tâm thần bị chết, tức là bị xa cách Chúa, mất đi sự tương giao với Chúa, trái lại, loài người tương giao với ma quỷ và thờ lạy tà thần, khiến cho quyền phép, năng lực, và sự sống đến từ Đức Chúa Trời trước đó bị băng hoại, ô nhiễm với tội lỗi. Vì thế, khi một người được tái sinh thì Đức Chúa Trời làm mới lại mọi sự bên trong con người đó, tức là làm mới lại Thánh Linh của Ngài trong con người đó. Ngài làm mới bằng cách hiện diện trong thân thể của người được tái sinh qua thân vị Đức Thánh Linh và tuôn tràn Thánh Linh của Ngài trong lòng người. II Cô-rinh-tô 5:17 xác chứng cho sự đổi mới đó:
 
"Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới."
 
5. I Phi-e-rơ 1:22, 23:
"Các anh em đã làm sạch linh hồn mình bởi sự vâng phục lẽ thật trong tâm thần, đặng có lòng yêu thương anh em cách chân thật, nên hãy yêu nhau sốt sắng với tấm lòng tinh sạch đã được sinh lại chẳng phải bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống không hư nát, là bởi Lời sống và bền vững đời đời của Đức Chúa Trời."
 
Linh hồn chính là con người còn được gọi là bản ngã. Linh hồn ở trong thân thể xác thịt và ở trong thân thể thần linh, tức tâm thần. Thân thể xác thịt có thể được rửa sạch bằng nước trong. Thân thể thần linh, còn được gọi là tâm thần, được rửa sạch bởi sự đổi mới Thánh Linh của Đức Chúa Trời như đã trình bày ở trên.
 
Một người trước khi được tái sinh thì linh hồn, tâm thần, và thể xác đang chết, tức là đang bị phân cách với Đức Chúa Trời, sau khi được tái sinh thì linh hồn và tâm thần được sống lại, tức là được phục hòa, được giao thông với Đức Chúa Trời, còn thể xác sẽ được phục sinh hoặc biến hóa trong ngày Đấng Christ trở lại. Khi được tái sinh thì con người bên trong, tức tâm thần và linh hồn, hoàn toàn được dựng nên mới, hoàn toàn tinh sạch và thánh khiết như Đấng Christ. Tuy nhiên, sau đó con người có thể phạm tội trở lại hoặc là vì thiếu sự tri thức trong Chúa mà phạm những tội không biết; hoặc là vì những thói quen xấu của xác thịt chỗi dậy bất ngờ, không kịp chế ngự, như thói quen nóng giận, lớn tiếng; hoặc là vì yếu đuối trước những cám dỗ mà phạm những tội cố ý.
 
Sau khi phạm tội, chúng ta cần ăn năn, xưng tội với Chúa thì Ngài sẽ "tha thứ cho chúng ta và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác" (I Giăng 1:9). Đó là sự vâng phục lẽ thật được bày tỏ trong I Giăng 1:9 để làm sạch tâm thần và linh hồn. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần vâng theo các lẽ thật khác của Lời Chúa để thôi, không còn phạm tội vì bất cứ một lý do nào nữa, giữ cho mình luôn được thánh sạch.
 
Đối với những tội không biết, chúng ta có thể cầu xin sự khôn ngoan từ nơi Chúa để nhận biết chúng. Gia-cơ 1:5:
 
"Ví bằng trong anh em có kẻ kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời, là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không trách móc ai, thì kẻ ấy sẽ được ban cho."
 
Đối với những tội vì những thói quen xấu chỗi dậy bất ngờ, chúng ta cần cầu xin Chúa tha thứ và đem những thói xấu đó ra khỏi đời sống của chúng ta; dâng thân thể mình lên cho Chúa mỗi ngày để làm công cụ cho những việc công bình là những việc Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho chúng ta làm theo; đồng thời phải nhân danh Chúa để cai trị thân thể của mình. bắt nó phải phục:
 
"Vậy, chớ để tội lỗi cai trị trong xác hay chết của anh em, và chớ chiều theo tư dục nó. Chớ nộp chi thể mình cho tội lỗi, như là đồ dùng gian ác, nhưng hãy phó chính mình anh em cho Đức Chúa Trời, dường như đã chết mà nay trở nên sống, và dâng chi thể mình cho Đức Chúa Trời như là đồ dùng về sự công bình"(Rô-ma 6:12, 13).
 
"Vậy hãy làm chết các chi thể của anh em ở nơi hạ giới, tức là tà dâm, ô uế, tình dục, ham muốn xấu xa , tham lam, tham lam chẳng khác gì thờ hình tượng… bởi những sự ấy cơn giận của Đức Chúa Trời giáng trên các con không vâng phục; lúc trước anh em sống trong những nết xấu đó, và ăn ở như vậy. Nhưng bây giờ anh em nên trừ bỏ hết nói sự đó, tức là sự thạnh nộ, buồn giận và hung ác. Đừng nói hành ai, chớ có một lời tục tỉu nào ra từ miệng anh em. Chớ nói dối nhau, vì đã lột bỏ người cũ cùng công việc nó, mà mặc lấy người mới là người đang đổi ra mới theo hình tượng Đấng dựng nên người ấy, đặng đạt đến sự hiểu biết đầy trọn."(Cô-lô-se 3:5-10).
 
"Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em. Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào"(Rô-ma 12:1, 2).
 
"Vậy thì, tôi chạy, chẳng phải là chạy bá vơ; tôi đánh, chẳng phải là đánh gió; song tôi đãi thân thể mình cách nghiêm khắc, bắt nó phải phục, e rằng sau khi tôi đã giảng dạy kẻ khác, mà chính mình phải bị bỏ chăng"(I Cô-rinh-tô 9:26, 27).
 
Đối với những tội vì sự yếu đuối mà chúng ta sa vào sự cám dỗ, thì chúng ta cần cầu xin Chúa tha thứ cho chúng ta và sau đó, mỗi khi đối diện với cám dỗ chúng ta phải dùng Lời của Chúa để chống cự theo gương của Đức Chúa Jesus, đồng thời gọi danh Đức Chúa Jesus Christ, xin Ngài cứu chúng ta ra khỏi sự cám dỗ: "Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu" (Rô-ma 10:13).
 
Chính lòng yêu thương anh chị em trong Chúa một cách chân thật và sốt sắng xác chứng cho chúng ta rằng chúng ta đã được tái sinh.
 
Nguyên cớ của sự tái sinh là bởi Lời của Chúa dẫn chúng ta đến sự ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đấng Christ, là Tin Lành được rao giảng cho muôn dân:
 
"Lời Chúa làm cho tôi được sống lại. Ấy là sự an ủi tôi trong cơn hoạn nạn" (Thi Thiên 119:50).
 
"Nhưng Lời Chúa còn lại đời đời. Và Lời đó là Tin Lành đã giảng ra cho anh em" (I Phi-e-rơ 1:25).
 
"Ấy chính Ngài theo ý muốn mình, đã dùng lời chân thật sinh ra chúng ta, hầu cho chúng ta được nên một loại trái đầu mùa trong những tạo vật của Ngài" (Gia-cơ 1:18 – Dịch sát nghĩa).
 
Nền tảng của sự tái sinh, về phía loài người là lòng ăn năn tội và đức tin nơi Đấng Christ, thể hiện qua phép báp-tem; về phía Đức Chúa Trời là ân điển và sự ban cho của Ngài, thể hiện qua quyền phép của Đức Thánh Linh.
 
6. Ga-la-ti 3:27
"Vả, anh em thảy đều chịu phép báp-tem trong Đấng Christ, đều mặc lấy Đấng Christ vậy."
 
Ý nghĩa của sự kiện "chịu phép báp-tem trong Đấng Christ" là mỗi một tín đồ của Đấng Christ đều đồng chết và đồng sống lại với Đấng Christ. Đấng Christ chết vì tội lỗi của chúng ta, còn chúng ta thì cùng chết đi bản ngã tội lỗi trong cái chết của Ngài. Đấng Christ sống lại, đắc thắng sự

Đọc Tiếp →
3,815 views

Ba Phương Diện của Sự Cứu Rỗi: Sự Xưng Nghĩa, Sự Tái Sinh, và Sự Thánh Hóa

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này

Lưu ý:Trong bài viết này, những câu Thánh Kinh trong các sách Giăng và Khải Huyền được trích từ Bản Dịch Ngôi Lời [1], những câu còn lại được trích từ Bản Dịch Phan Khôi.

Nếu bạn đang kết nối với Internet trong khi đọc bài này thì bạn có thể bấm vào các mã số Strong như: H6663G1334 để xem định nghĩa các từ ngữ; bấm vào các ký hiệu phát âm như: (tsaw-dak') và (dik-ah-yo'-o) để nghe cách phát âm. 

I. Dẫn Nhập

Sự xưng nghĩa, sự tái sinh, và sự thánh hóa là ba yếu tố liên kết với nhau trong sự cứu rỗi mà Đức Chúa Jesus Christ đã ban cho nhân loại. Một người thật lòng tin nhận sự cứu rỗi của Đấng Christ cần hiểu rõ ý nghĩa và sự liên kết của ba yếu tố này trong ơn cứu rỗi; nhờ đó, người ấy có thể sống một đời sống ngày càng tăng trưởng trong đức tin và đắc thắng trong Đấng Christ.

Sự khác biệt và mối tương quan của ba yếu tố này được Thánh Kinh trình bày rất rõ ràng; nhưng từ cuối thế kỷ thứ tư cho đến nay, các tư tưởng thần học lẫn lộn giữa sự xưng nghĩa với sự tái sinh hoặc giữa sự xưng nghĩa với sự thánh hóa, đã tạo ra các giáo lý không đúng với Thánh Kinh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tăng trưởng đức tin của con dân Chúa.

Trước hết, chúng ta cần nhận biết: nguyên cớ, đối tượng, ý nghĩa, phương cách, tiến trình, và thành quả của sự cứu rỗi.

Nguyên cớ của sự cứu rỗi là "vì Ðức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời" (Giăng 3:16).

Đối tượng của sự cứu rỗi là toàn thể loài người, kể từ A-đam cho đến người cuối cùng được sinh ra trong trời cũ đất cũ này: "vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời" (Rô-ma 3:23).

Ý nghĩa của sự cứu rỗi là: (1) Đức Chúa Trời cứu loài người ra khỏi hậu quả của tội lỗi là sự hư mất, bao gồm: sự chết thể xác, sự chết tâm linh, phải chịu phán xét về mọi tội lỗi đã làm ra và chịu khổ đời đời trong hỏa ngục. (2) Đức Chúa Trời cứu loài người ra khỏi quyền lực của tội lỗi đang cai trị trong xác thịt đang chết của loài người. (3) Đức Chúa Trời phục hồi địa vị làm con của Đức Chúa Trời, ban sự sống lại và sự sống đời đời cho người được cứu.

Phương cách của sự cứu rỗi là Đức Chúa Jesus Christ chịu khổ, chịu chết, chịu phân cách với Đức Chúa Cha để gánh thay hậu quả của tội lỗi cho toàn thể nhân loại: "Ấy chính Ngài làm của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa" (I Giăng 2:2).

Tiến trình của sự cứu rỗi bắt đầu với sự xưng nghĩa, dẫn đến sự tái sinh, đem lại một đời sống mới được thánh hóa bởi quyền phép của Đức Thánh Linh qua lẽ thật của Lời Chúa.

Thành quả của sự cứu rỗi là: Trong đời này, người được cứu được thông công với Đức Chúa Trời, được đầy dẫy Thánh Linh, có thẩm quyền trên ma quỷ, trên tội lỗi, và vui hưởng sự bình an, thỏa lòng trong mọi cảnh ngộ của đời sống, dù có phải trải qua nhiều nỗi khó khăn trên bước đường theo Chúa. Trong đời sau, người được cứu sẽ sống đời đời, vô cùng phước hạnh, với Đức Chúa Trời trong trời mới, đất mới.

II. Sự Xưng Nghĩa

Quan hệ giữa Đức Chúa Trời với loài người được thiết lập trên luật pháp của Đức Chúa Trời. Luật pháp của Đức Chúa Trời là mọi ý muốn và lời phán của Ngài, phản ánh bản tính của Ngài, là tiêu chuẩn công bình, thánh khiết, và yêu thương do chính Ngài đặt ra và yêu cầu loài người vâng phục, được ghi chép trong Thánh Kinh. Nếu loài người vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời thì được ở trong địa vị làm con của Đức Chúa Trời và được sống đời đời trong hạnh phúc với Ngài. Nếu loài người không vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời thì sẽ bị hư mất, bị mất quyền làm con của Đức Chúa Trời, và phải chịu khổ đời đời trong hỏa ngục.

Đức tin là sự hoàn toàn tin cậy luật pháp của Đức Chúa Trời, tức là vâng phục mọi ý muốn và lời phán của Đức Chúa Trời, được thể hiện qua sự tôn kính, yêu mến luật pháp của Ngài, và hết lòng, tận sức làm theo luật pháp của Ngài. Tội lỗi là sự không vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời được thể hiện qua sự xem thường luật pháp của Ngài, khó chịu vì luật pháp của Ngài, và quyết định làm nghịch lại luật pháp của Ngài.

Đức Chúa Trời dựng nên loài người giống như Ngài cho nên loài người có trí khôn, biết suy nghĩ, và có ý chí tự quyết. Tổ phụ của loài người là ông A-đam và bà Ê-va đã chọn không vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời, cho nên, đã đem tội lỗi và hậu quả của tội lỗi vào trong toàn thế gian: "Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội" (Rô-ma 5:12).

Thái độ đương nhiên của Đức Chúa Trời công chính và thánh khiết đối với tội lỗi và tội nhân, là tội lỗi phải bị lên án và tội nhân phải bị hình phạt. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời cũng là tình yêu và Ngài yêu thế gian, cho nên, Ngài đã ban cho thế gian sự cứu rỗi qua sự kiện Đức Chúa Jesus Christ hy sinh, gánh thay hình phạt của tội lỗi cho toàn thể nhân loại. Bất cứ tội nhân nào thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đức Chúa Jesus Christ, thì người ấy lập tức được Đức Chúa Trời xưng là công nghĩa (hoặc công bình), nói cách ngắn gọn là được xưng nghĩa. Một người đã được Đức Chúa Trời xưng nghĩa là một người đã được Đức Chúa Trời tha tội và được hòa thuận lại với Ngài.

"Xưng nghĩa" trong tiếng Hê-bơ-rơ là צדק, H6663, phiên âm là /tsâdaq/, và phát âm là (tsaw-dak'); trong tiếng Hy-lạp là δικαιόω, G1334, phiên âm là /dikaioō/, và phát âm là (dik-ah-yo'-o); trong tiếng Anh là "justified."

Sự xưng nghĩa có bảy đặc tính như sau:

1. Sự xưng nghĩa là ân điển của Đức Chúa Trời ban cho người thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ, chứ không do nơi công đức của người ấy:

"Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và họ nhờ ân điển Ngài mà được xưng công bình nhưng không, bởi sự chuộc tội đã làm trọn trong Đức Chúa Jesus Christ"(Rô-ma 3:23, 24).

2. Sự xưng nghĩa đến từ Đức Chúa Trời, là hành động xảy ra chỉ một lần và hoàn tất, do Đức Chúa Trời làm ra cho người thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ, chứ không phải là một tiến trình kéo dài trong đời sống của người tin Chúa:

"Vậy, chúng ta đã được xưng công bình bởi đức tin, thì được hòa thuận với Đức Chúa Trời, bởi Đức Chúa Jesus Christ chúng ta"(Rô-ma 5:1).

3. Một người được Đức Chúa Trời xưng nghĩa là một người được Đức Chúa Trời kể là không còn chịu trách nhiệm về tội lỗi của mình, vì người ấy đã ăn năn tội và tin nhận rằng Đức Chúa Jesus Christ đã gánh hết trách nhiệm cho mình; đồng thời, người ấy được hưởng tất cả những phước hạnh của một người không có tội:

"Ai sẽ kiện kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời là Đấng xưng công bình những kẻ ấy"(Rô-ma 8:33).

"Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jesus Christ"(Rô-ma 8:1).

"Còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình, và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển" (Rô-ma 8:30)

4. Sự xưng nghĩa dựa trên sự đổ huyết của Đức Chúa Jesus Christ, không có sự đổ huyết của Đức Chúa Jesus Christ thì không có sự tha tội cho người ăn năn tội:

"Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết. Huống chi nay chúng ta đã nhờ huyết Ngài được xưng công bình, thì sẽ nhờ Ngài được cứu khỏi cơn thạnh nộ là dường nào"(Rô-ma 5:8, 9)!

"Theo luật pháp thì hầu hết mọi vật đều nhờ huyết mà được sạch: không đổ huyết thì không có sự tha thứ"(Hê-bơ-rơ 9:22).

5. Sự công nghĩa của Đức Chúa Jesus Christ bao gồm: sự Ngài vâng phục Đức Chúa Trời một cách trọn vẹn và sự Ngài gánh chịu hình phạt thay cho toàn thể nhân loại, được mặc lấy cho người thật lòng ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Ngài:

"Vì, như bởi sự không vâng phục của một người mà mọi người khác đều thành ra kẻ có tội, thì cũng một lẽ ấy, bởi sự vâng phục của một người mà mọi người khác sẽ đều thành ra công bình"(Rô-ma 5:19).

6. Sự xưng nghĩa hoàn toàn khác biệt với sự tái sinh. Sự xưng nghĩa là do phán quyết của Đức Chúa Trời công bố người được xưng nghĩa không còn trách nhiệm về sự phạm tội, chứ không hề có tính cách thay đổi phẩm chất của người ấy. Sự tái sinh là sự dựng nên mới người đã được xưng nghĩa, hoàn toàn thay đổi phẩm chất của người ấy. Sự xưng nghĩa thay đổi mối quan hệ với Đức Chúa Trời của một người, còn sự tái sinh thay đổi bản chất của một người.

7. Sự xưng nghĩa hoàn toàn khác biệt với sự thánh hóa. Sự xưng nghĩa là phán quyết của Đức Chúa Cha, giúp cho một người có tội được kể là vô tội, dẫn đến sự người đó được tái sinh. Sự thánh hóa là nếp sống được dẫn dắt và ban ơn bởi Đức Thánh Linh, để giúp cho một người đã được tái sinh có năng lực sống một nếp sống hoàn toàn vâng theo luật pháp của Đức Chúa Trời, như Đức Chúa Jesus Christ đã sống giữa thế gian. Sự xưng nghĩa xảy ra chỉ một lần, trong thời điểm một người thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ. Sự thánh hóa là một tiến trình, xảy ra trong suốt đời sống giữa thế gian của người theo Chúa.

III. Sự Tái Sinh

Như đã trình bày trên đây: Sự xưng nghĩa chỉ thay đổi địa vị của một người từ địa vị tội nhân, là người không vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời, sang địa vị của người công chính, là người vâng giữ luật pháp của Đức Chúa Trời. Sự thay đổi địa vị làm thay đổi mối quan hệ của một người với Đức Chúa Trời, nhưng không làm thay đổi bản chất của người được xưng nghĩa. Sự xưng nghĩa xảy ra nhờ Đấng Christ đứng vào địa vị của tội nhân để tội nhân được đứng vào địa vị của Đấng Christ. Sự xưng nghĩa cần thiết để một người được tái sinh, vì nó khiến cho một người được phục hòa với Đức Chúa Trời để được Ngài ban cho ơn tái sinh; và sự tái sinh làm thay đổi bản chất của người đã được xưng nghĩa.

Từ ngữ "tái sinh" chỉ xuất hiện trong Thánh Kinh Tân Ước, với nguyên ngữ Hy-lạp là παλιγγενεσία, G3824, phiên âm là /paliggenesia/, và phát âm là (pal-ing-ghen-es-ee'-ah), trong tiếng Anh, được dịch là "regeneration" hoặc "new birth," có nghĩa là "sự sinh ra mới." Tuy nhiên, các từ ngữ khác trong Tân Ước như: "sinh từ trên cao" (Giăng 3:3, 7 –  Bản Dịch Phan Khôi dịch là "sanh lại"); "sinh bởi Đức Thánh Linh" (Giăng 3:6, 8); "sinh bởi Đức Chúa Trời" (Giăng 1:13); "làm cho sống" (Ê-phê-sô 2:5; Cô-lô-se 2:13); "lại sanh" (Tít 3:5; I Phi-e-rơ 1:3, 23); "dựng nên mới" (II Cô-rinh-tô 5:17) đều có cùng một ý nghĩa.

Sự tái sinh có bảy đặc tính như sau:

1. Sự tái sinh là ân điển thứ hai của Đức Chúa Trời ban cho người thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ, sau ân điển xưng nghĩa, không liên quan gì đến công đức của người ấy. Ân điển tái sinh được Thánh Kinh gọi là: lòng thương xót lớn của Đức Chúa Trời:

"Tôn vinh Đức Chúa Trời, là Cha Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, là Đấng theo lòng thương xót lớn của Ngài đã tái sinh chúng ta, để chúng ta nhờ sự Đức Chúa Jesus Christ sống lại từ trong kẻ chết mà có sự trông cậy sống"  (I Phi-e-rơ 1:3 – Dịch sát nghĩa).

2. Sự tái sinh là hành động xảy ra chỉ một lần và hoàn tất, do Đức Thánh Linh làm ra cho người thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ, chứ không phải là một tiến trình kéo dài trong đời sống của người tin Chúa. Sự tái sinh khiến cho tâm thần và linh hồn chúng ta được hoàn toàn dựng nên mới, nghĩa là: tâm thần và linh hồn chúng ta, vốn đang chết vì tội lỗi và chết trong tội lỗi, được sinh ra mới bởi Đức Thánh Linh; và chúng ta trở nên giống như Đức Chúa Trời trong bản tính, giống như Đấng Christ trong nếp sống giữa thế gian (thể hiện qua mọi việc làm của xác thịt), trong địa vị làm con thừa kế cơ nghiệp của Đức Chúa Trời:

"Đức Chúa Trời ôi! xin hãy dựng nên trong tôi một lòng trong sạch, và làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng"(Thi Thiên 51:10).

"Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới" (II Cô-rinh-tô 5:17).

"…mặc lấy người mới, tức là người đã được dựng nên giống như Đức Chúa Trời, trong sự công bình và sự thánh sạch của lẽ thật"(Ê-phê-sô 4:24).

"Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định. Vì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em"(Rô-ma 8:28, 29).

3. Sự tái sinh giữ nguyên địa vị được xưng nghĩa của chúng ta, nhờ đó, chúng ta vẫn được gọi là những người công bình của Đức Chúa Trời; đồng thời ban thêm cho chúng ta địa vị được làm con của Đức Chúa Trời, nhờ đó, chúng ta được gọi là con trai và con gái của Đức Chúa Trời. Từ ngữ "con trai và con gái" hàm ý chúng ta nhận được địa vị làm con của Đức Chúa Trời ngay khi còn ở trong thân thể xác thịt này:

"Ta sẽ làm Chúa các ngươi, các ngươi làm con trai con gái Ta, Chúa Toàn năng phán như vậy"(II Cô-rinh-tô 6:18)

"Nhưng hễ những ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho họ năng quyền, để trở nên con cái của Đức Chúa Trời; là ban cho những kẻ tin vào danh Ngài: là những kẻ chẳng phải sinh bởi máu huyết, hoặc bởi ý của xác thịt, cũng chẳng bởi ý người, nhưng sinh bởi Đức Chúa Trời"(Giăng 1:12, 13).

4. Sự tái sinh báp tem chúng ta vào trong sự chết và sự sống lại của Đấng Christ; báp tem chúng ta vào trong thân thể của Đấng Christ, là Hội Thánh; báp-tem chúng ta vào trong Thánh Linh của Đức Chúa Trời, khiến cho chúng ta được dự phần trong bản tính của Đức Chúa Trời, và thân thể của chúng ta trở thành đền thờ của Đức Chúa Trời bởi sự hiện diện của Đức Thánh Linh:

"Hay là, anh em chẳng biết rằng chúng ta thảy đều đã chịu phép báp-tem trong Đức Chúa Jesus Christ, tức là chịu phép báp-tem trong sự chết Ngài sao? Vậy chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp-tem trong sự chết Ngài, hầu cho Đấng Christ nhờ vinh hiển của Cha được từ kẻ chết sống lại thể nào, thì chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy. Vì nếu chúng ta làm một cùng Ngài bởi sự chết giống như sự chết của Ngài, thì chúng ta cũng sẽ làm một cùng Ngài bởi sự sống lại giống nhau"(Rô-ma 6:3-5).

"Anh em há chẳng biết thân thể mình là chi thể của Đấng Christ sao?…"(I Cô-rinh-tô 6:15).

"Hội Thánh là thân thể của Đấng Christ, tức là sự đầy đủ của Đấng gồm tóm mọi sự trong mọi loài"(Ê-phê-sô 1:23).

"Anh em há chẳng biết mình là đền thờ của Đức Chúa Trời, và Thánh Linh Đức Chúa Trời ở trong anh em sao?" (I Cô-rinh-tô 3:16).

"Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao" (I Cô-rinh-tô 6:19)?

Trong trời mới, đất mới, là vương quốc đời đời của Đức Chúa Trời, chúng ta thấy Thánh Kinh nói đến ngai của Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con (Khải Huyền 22:1) nhưng không thấy nói đến ngai của Đức Thánh Linh. Theo tác giả bài này, có lẽ ngai của Đức Thánh Linh được thể hiện qua hình ảnh của dòng nước sống tuôn tràn từ ngai của Chúa Cha và Chúa Con, vào tận trong lòng của con dân Chúa (Giăng 7:38, 39), khiến cho tấm lòng của con dân Chúa trở thành ngai của Đức Thánh Linh.

Ghi chú ngoài lề:I Cô-rinh-tô 3:16; 6:19 và Công Vụ Các Sứ Đồ 5:3, 4 là một trong những chứng cớ của Thánh Kinh về sự kiện Đức Thánh Linh là Thiên Chúa.

5. Vì sự tái sinh khiến cho chúng ta được báp-tem vào trong Thánh Linh của Đức Chúa Trời – tức là chúng ta nhận được sự sống, bản tính, và quyền phép của Đức Chúa Trời, để sống một đời sống thánh khiết đẹp lòng Chúa, đắc thắng: cám dỗ, tội lỗi, và ma quỷ, để có thể thờ phượng và hầu việc Chúa trong tâm thần và lẽ thật – cho nên, chúng ta không cần tìm kiếm sự kiện "được báp-tem bằng Thánh Linh." Một người thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ thì đương nhiên được Đức Chúa Trời xưng nghĩa và tái sinh người ấy. Một người đã được tái sinh thì đương nhiên Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã tuôn đổ trên người ấy và  người ấy đã được nhúng chìm trong Thánh Linh của Chúa, tức ân điển, sự sống, và quyền phép của Đức Chúa Trời. Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần giảng dạy giáo lý tìm kiếm sự nói "tiếng lạ" và báp-tem bằng Thánh Linh là mưu kế thâm độc của Sa-tan nhằm gieo tà giáo vào trong Hội Thánh, khiến những con dân Chúa thiếu sự thông biết Lời Chúa, phủ nhận Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã ban cho mình mà tiếp nhận tà linh đến từ Sa-tan. Linh "nói tiếng lạ" (không phải là nói ngoại ngữ như Thánh Kinh ghi lại trong Công Vụ Các Sứ Đồ 2) và linh của sự "đặt tay té ngã" hoàn toàn không hề được nói đến trong Thánh Kinh, là các tà linh đến từ Sa-tan [2].

Thánh Kinh khẳng định người ở trong Đấng Christ là người được dựng nên mới hoàn toàn:

"Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới"(II Cô-rinh-tô 5:17).

Người được dựng nên mới đó đã được nhận lãnh Đức Thánh Linh và Thánh Linh của Đức Chúa Trời, tức là đã được Đấng Christ báp-tem bằng Thánh Linh, đồng thời đã được nhận lãnh các ân tứ của Đức Thánh Linh. Sự ban cho các ân tứ là tùy theo ý muốn Đức Thánh Linh chứ không phải bởi sự cầu xin của chúng ta (I Cô-rinh-tô 12:11). Chỉ những người còn tánh xác thịt, chưa được tái sinh để nhận lấy bản tính của Đức Chúa Trời mới không nhận được những sự thuộc về Đức Thánh Linh:

"Về phần chúng ta, chúng ta chẳng nhận lấy thần thế gian, nhưng đã nhận lấy Thánh Linh từ Đức Chúa Trời đến, hầu cho được hiểu biết những ơn mà chúng ta nhận lãnh bởi Đức Chúa Trời; chúng ta nói về ơn đó, không cậy lời nói mà sự khôn ngoan của loài người đã dạy đâu, song cậy sự khôn ngoan mà Đức Thánh Linh đã dạy, dùng tiếng thiêng liêng để giải bày sự thiêng liêng. Vả, người có tánh xác thịt không nhận được những sự thuộc về Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời; bởi chưng người đó coi sự ấy như là sự rồ dại, và không có thể hiểu được, vì phải xem xét cách thiêng liêng"(I Cô-rinh-tô 2:12, 13).

Nếu một người thật lòng tin nhận Đấng Christ mà không thật lòng ăn năn tội thì người ấy vẫn không được xưng nghĩa và không được tái sinh. Một người như vậy, sẽ dễ dàng chạy theo các phong trào tìm kiếm sự nói "tiếng lạ" và báp-tem bằng Thánh Linh để rồi mở đường cho các "thần thế gian" tức các tà linh xâm nhập vào thân thể của chính mình. Họ có thể tạo ra các mục vụ lẫy lừng, làm ra nhiều sự lạ lùng trong danh Chúa, nhưng chính Đức Chúa Jesus Christ đã tiên tri về họ trong Ma-thi-ơ 7:22, 23:

"Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhơn danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhơn danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? Khi ấy, Ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi Ta!"

Trách nhiệm của con dân Chúa là cầu xin sự khôn ngoan từ nơi Chúa để có sự thông biết hầu phân biệt được các tiên tri giả và nếp sống của họ, phân biệt Thánh Linh và tà linh:

"Dân ta bị diệt vì cớ thiếu sự thông biết. Bởi ngươi bỏ sự thông biết thì ta cũng bỏ ngươi, đặng ngươi không làm thầy tế lễ cho ta nữa; bởi ngươi đã quên luật pháp của Đức Chúa Trời mình, thì ta cũng sẽ quên con cái ngươi" (Ô-sê 4:6).

"Ví bằng trong anh em có kẻ kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời, là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không trách móc ai, thì kẻ ấy sẽ được ban cho" (Gia-cơ 1:5)

"Hãy coi chừng tiên tri giả, là những kẻ mang lốt chiên đến cùng các ngươi, song bề trong thật là muông sói hay cắn xé. Các ngươi nhờ những trái nó mà nhận biết được…"(Ma-thi-ơ 7:15, 16).

Những ai đã bị lừa gạt bởi sự giảng dạy của các tiên tri giả, đã dự phần trong các Phong Trào Ân Tứ, Ngũ Tuần, tìm kiếm sự nói "tiếng lạ" và sự báp-tem bằng Thánh Linh, cần phải thật lòng, đến với Chúa để ăn năn, xưng tội, hầu cho thật sự được Đức Chúa Trời xưng nghĩa và tái sinh, thật sự được Đấng Christ báp-tem bằng Thánh Linh; sau đó, nhân danh Đức Chúa Jesus Christ để trục xuất các "thần thế gian" tức các tà linh của Sa-tan, và tất cả những quyền lực của các tà linh ra khỏi thân thể mình.

6. Sự tái sinh khiến cho một người nhận biết Nước Trời và được vào trong Nước Trời.

"Đức Chúa Jesus lên tiếng, đáp rằng: Thật vậy, thật vậy, Ta nói với ngươi: Nếu một người chẳng sinh lại, thì không thể thấy biết được vương quốc của Đức Chúa Trời"(Giăng 3:3).

"Đức Chúa Jesus đáp rằng:Thật vậy, thật vậy, Ta nói với ngươi: Nếu một người chẳng sinh ra bởi nước và bởi Thánh Linh, thì không được vào vương quốc của Đức Chúa Trời" (Giăng 3:5).

7. Sự tái sinh là điều phải có để một người thật lòng ăn năn tội, tin nhận Đấng Christ, có thể bước vào nếp sống được thánh hóa. Không có sự xưng nghĩa thì không có sự tái sinh. Không có sự tái sinh thì không có sự thánh hóa. Sự tái sinh khiến cho chúng ta trở nên giống như Đức Chúa Trời trong bản tính, chỉ xảy ra một lần và trọn vẹn. Sự thánh hóa khiến cho chúng ta thực thi bản tính của Đức Chúa Trời trong thân thể xác thịt của chúng ta, và là một tiến trình, bắt đầu liền sau khi chúng ta được tái sinh và chấm dứt khi chúng ta ra khỏi thân thể xác thịt.

IV. Sự Thánh Hóa

Được "thánh hóa" hoặc được "nên thánh" trong tiếng Hê-bơ-rơ làקדשׁ, H6942, phiên âm là /qâdash/, và phát âm là (kaw-dash'); trong tiếng Hy-lạp là ἁγιάζω, G37, phiên âm là /hagiazō/, và phát âm là (hag-ee-ad'-zo); trong tiếng Anh là "sanctified." Ý nghĩa tổng quát của từ ngữ này là một người hay một vật được biệt riêng để dùng cho mục đích mà người hay vật đó được dựng nên. Thí dụ: cây bút được "thánh hóa" khi được dùng để viết; cây thước được "thánh hóa" khi được dùng để đo đạc; lưỡi cày được "thánh hóa" khi được dùng để cày xới đất. Trong Thánh Kinh, một vật được thánh hóa khi vật đó được dùng cho mục đích mà Đức Chúa Trời đã định cho nó; một người được thánh hóa khi người ấy sống theo sự thiết kế và ý muốn của Đức Chúa Trời. Ngoài ra, thánh hóa còn có nghĩa là phục hồi địa vị ban đầu của một người hay một vật đã bị ô uế để người hoặc vật ấy có thể sống hoặc được dùng đúng với ý muốn của Đức Chúa Trời.

Ngược lại với được "thánh hóa" là bị "ô uế." Từ ngữ ô uế trong tiếng Hán Việt có nghĩa là nhiễm vào sự dơ bẩn, bao gồm sự ô uế thuộc thể, lẫn thuộc linh; đó cũng là ý nghĩa của từ ngữ ô uế được dùng trong Thánh Kinh.

Khi Đức Chúa Trời dựng nên muôn vật, Ngài có những mục đích cho muôn vật và Ngài thiết kế muôn vật có chức năng để phục vụ cho những mục đích Ngài đã đặt ra. Muôn vật, bao gồm loài người, được thánh hóa khi ở trong sự vâng phục Đức Chúa Trời. Khi loài người bắt đầu không vâng phục Đức Chúa Trời thì loài người tự làm cho mình bị ô uế, tức là bị nhiễm tội, đồng thời, khiến cho đất và muôn vật trên đất cũng bị ô uế. Từ đó, loài người và muôn vật mà Đức Chúa Trời đã đặt dưới quyền cai trị của loài người đã không còn ở trong tình trạng được thánh hóa nữa; nghĩa là, loài người và muôn vật đã bị ô uế, không còn sống theo sự thiết kế và ý muốn của Đức Chúa Trời. Đó chính là lý do của tất cả đau khổ, bất công, hổn loạn, thiên tai, và chết chóc xảy ra trong thế gian. Đó cũng chính là lý do vì sao loài người cần sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.

Trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời ban cho loài người, điểm chính yếu thứ nhất là Đức Chúa Trời cứu loài người ra khỏi quyền lực và hậu quả của tội lỗi; điểm chính yếu thứ nhì là Đức Chúa Trời thánh hóa những người chịu tin nhận sự cứu rỗi của Ngài. Sự thánh hóa khiến cho chúng ta bày tỏ bản tính của Đức Chúa Trời trong thân thể xác thịt của chúng ta, sống đúng theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Sự thánh hóa là một tiến trình, bắt đầu liền sau khi chúng ta được tái sinh và chấm dứt khi chúng ta ra khỏi thân thể xác thịt.

Người được tái sinh là người được dựng nên mới trong Đức Chúa Jesus Christ, khác với con người cũ được dựng nên trong A-đam. Con người cũ được dựng nên trong A-đam thì mang lấy bản tính ô uế từ A-đam; con người mới được dựng nên trong Đấng Christ thì mang lấy bản tính thánh khiết từ Đấng Christ. Khi Đức Thánh Linh tái sinh một người thì Ngài đã thiết kế cho người được tái sinh có năng lực sống theo tiêu chuẩn thánh khiết, công bình, và yêu thương của Đức Chúa Trời, tức là ý muốn của Đức Chúa Trời, bằng cách dựng nên mới tâm linh của người ấy. Việc còn lại là người đã đ

Đọc Tiếp →
3,812 views

Điềm Chúa Đến và Tận Thế

Huỳnh Christian Timothy

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Bấm vào đây để download bài viết này
Xin vào link dưới đây để nghe và download phần âm thanh:
– Điềm Chúa Đến: http://tinlanhvietnam.net/node/826
– Điềm Tận Thế: http://tinlanhvietnam.net/node/827

I. Dẫn Nhập

Vừa qua, thế giới lại một lần nữa xao động về sự kiện Chúa tái lâm vì Harold Camping, một nhà thuyết giảng Tin Lành nổi tiếng tại Hoa Kỳ, tiên đoán sự kiện Chúa tái lâm sẽ xảy ra vào ngày 21.05.2011. Dĩ nhiên, Chúa đã không tái lâm vào ngày 21.05.2011 và Camping đã định lại một ngày mới là ngày 21.10.2011. Trước đó, Camping tiên đoán Chúa sẽ tái lâm, đem Hội Thánh ra khỏi thế gian vào ngày 21.05.2011, và tận thế sẽ xảy ra vào ngày 21.10.2011;  bây giờ thì Camping tuyên bố một sự phán xét thuộc linh đã xảy ra vào ngày 21.05.2011 và đến ngày 21.10.2011 Hội Thánh sẽ được cất ra khỏi thế gian, cùng lúc, thế gian sẽ bị hủy diệt. Tưởng cũng nên nhắc lại, Camping đã từng đưa ra lời tiên đoán Chúa sẽ tái lâm vào ngày 21.05.1988 và ngày 07.09.1994.

Không riêng gì Harold Camping, từ thế kỷ thứ nhì cho đến nay, đã có ít nhất trên 40 người hoặc tổ chức giáo hội tiên đoán về ngày Chúa tái lâm, trong số đó, Giáo Hội Chứng Nhân Giê-hô-va (Jehovah's Witnesses) từng tiên đoán Chúa tái lâm vào các năm: 1914, 1915, 1918, 1920, 1925, 1941, 1975, và 1994 [1]. Tất cả các lời tiên đoán đều dựa vào một số phân đoạn trong Thánh Kinh để đưa ra những tính toán khẳng định ngày Chúa tái lâm. Tuy nhiên, tất cả những người đưa ra lời tiên đoán đều bỏ qua lời phán rất rõ ràng của chính Đức Chúa Jesus Christ, rằng: "Về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết chi cả, thiên sứ trên trời hay là Con cũng vậy, song chỉ một mình Cha biết thôi" (Ma-thi-ơ 24:36).

Một khuyết điểm khác của những người đưa ra lời tiên đoán về ngày Chúa tái lâm là họ không phân biệt hai sự kiện: Chúa đến giữa chốn không trung để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian trước khi Chúa đoán phạt thế gian trong bảy năm; và Chúa tái lâm trên đất vào cuối của bảy năm đoán phạt để kết thúc thế gian tội lỗi.

Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu các phân đoạn Thánh Kinh có liên quan đến hai sự kiện này.

 

II. Câu Hỏi Của Các Môn Đồ

Trước hết, chúng ta cần phải cám ơn các môn đồ của Chúa, vì nhờ câu hỏi của họ mà chúng ta có được những lời tiên tri của chính Đức Chúa Jesus Christ về sự kiện Chúa đến và tận thế. Ma-thi-ơ 24:1-3 ghi lại cuộc đối thoại giữa Chúa và các môn đồ bắt đầu như sau:

1 Khi Đức Chúa Jesus ra khỏi đền thờ, đương đi, thì môn đồ đến gần để chỉ cho Ngài xem các nhà thuộc về đền thờ.
2 Ngài phán rằng: Các ngươi có thấy mọi điều đó chăng? Quả thật, ta nói cùng các ngươi, đây sẽ không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn khác mà không bị đổ xuống.
3 Ngài đương ngồi trên núi ô-li-ve, môn đồ tới riêng cùng Ngài, và nói rằng: Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế.

Sau khi Đức Chúa Jesus vào trong đền thờ để giảng dạy cho dân chúng và quở trách sự giả hình của những người Pha-ri-si (Ma-thi-ơ 21:23-23:39) thì Ngài ra khỏi đền thờ, có lẽ để lên núi Ô-li-ve, chuẩn bị cho buổi cầu nguyện tối, thì các môn đồ đến gần Chúa, chỉ cho Ngài xem các kiến trúc của khu đền thờ và trầm trồ về sự hoành tráng của chúng.

Theo lịch sử và Thánh Kinh thì đền thờ tại Giê-ru-sa-lem đương thời Đức Chúa Jesus được gọi là đền thờ thứ nhì. Đền thờ thứ nhất do Vua Sa-lô-môn xây dựng vào năm 950 TCN và bị tàn phá bởi quân đội của Vua Nê-bu-cát-nết-xa (nước Ba-by-lôn) vào năm 586 TCN. Đền thờ thứ nhì được Vua Si-ru (nước Phe-rơ-sơ) ra chiếu chỉ cho phép E-xơ-ra xây dựng lại, được khởi công vào năm 538 TCN và hoàn thành vào năm thứ sáu triều Vua Đa-ri-út (nước Phe-rơ-sơ), nhằm ngày 12.03.515 TCN. Năm 19 TCN, Vua Hê-rốt bắt đầu công cuộc tu bổ và xây cất thêm nhiều kiến trúc cho đền thờ, biến đền thờ thành một thắng tích thời bấy giờ. Công cuộc tu bổ và xây dựng đền thờ được hoàn tất vào năm 63 và đền thờ bị quân đội La-mã phá hủy hoàn toàn vào năm 70 [2].

Đức Chúa Jesus phán lời tiên tri về sự kiện đền thờ sẽ bị phá hủy đến nổi "không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn khác mà không bị đổ xuống" vào khoảng vài ngày trước Lễ Vượt Qua năm 27 [3]. Chúng ta nhận thấy các môn đồ không hỏi Chúa ngay sau khi Chúa phán lời tiên tri về đền thờ mà họ chờ cho tới khi đã lên đến núi Ô-li-ve và Chúa đã ngồi xuống, nghỉ chân. Có lẽ lời phán của Chúa đã làm cho họ kinh ngạc và bàng hoàng nên họ im lặng suy nghĩ. Cũng có thể, suốt chặng đường từ đền thờ lên trên núi Ô-li-ve, các môn đồ đã thầm thì bàn tán với nhau về ý nghĩa lời phán của Chúa và họ liên kết sự kiện Chúa đến, sự kiện tận thế, với sự kiện đền thờ bị phá hủy. Thế nên, Phi-e-rơ, Gia-cơ, Giăng, và Anh-rê đã đem cả ba sự kiện đó đặt chung vào trong một câu để hỏi Chúa: "Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế?"

Đức Chúa Jesus đã lần lượt trả lời ba điều thắc mắc của các môn đồ:

(1) Lúc nào những sự đó – tức là sự kiện đền thờ bị phá hủy – sẽ xảy ra?

(2) Điềm gì chỉ về sự Chúa đến?

(3) Điềm gì chỉ về sự tận thế?

Những câu trả lời của Đức Chúa Jesus được ghi chép lại trong: Ma-thi-ơ 24-25; Mác 13:1-37; và Lu-ca 21:5-36. Ma-thi-ơ và Mác ghi lại câu trả lời của Chúa về điềm tận thế và điềm Chúa đến. Lu-ca ghi lại câu trả lời của Chúa về sự kiện đền thờ bị phá hủy, điềm tận thế, và điềm Chúa đến. Chúng ta hãy cẩn thận liên kết các câu Thánh Kinh trong cả ba sách để có đầy đủ những câu trả lời của Chúa.

III. Những Điều Sẽ Xảy Ra Trước Khi Sự Cuối Cùng Đến

Trước khi sự cuối cùng xảy ra, bao gồm sự Chúa đến, sự Chúa đoán phạt thế gian, và sự tận thế thì sẽ có:

(1) Christ giả

(2) Giặc và tiếng đồn về giặc

(3) Dân này nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia

(4) Đói kém trong nhiều chỗ

(5) Động đất trong nhiều chỗ

(6) Dịch lệ trong nhiều chỗ

(7) Có những điềm lạ kinh khiếp và dấu lớn ở trên trời

(8) Con dân Chúa bị bắt bớ, bị giết hại, và bị mọi dân ghen ghét

(9) Nhiều kẻ phản nghịch nhau và ghen ghét nhau

(10) Nhiều tiên tri giả nổi lên

(11) Tội ác gia tăng trong khi lòng yêu mến Chúa giảm đi

(12) Tin lành được rao giảng khắp đất

Ma-thi-ơ 24:4-13
4 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hãy giữ, kẻo có kẻ dỗ dành các ngươi.
5 Vì nhiều người sẽ mạo danh Ta đến mà nói rằng: Ta là Đấng Christ; và sẽ dỗ dành nhiều người.
6 Các ngươi sẽ nghe nói về giặc và tiếng đồn về giặc: hãy giữ mình, đừng bối rối, vì những sự ấy phải đến; song chưa là cuối cùng đâu.
7 Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia; nhiều chỗ sẽ có đói kém và động đất.
8 Song mọi điều đó chỉ là đầu sự tai hại.
9 Bấy giờ, người ta sẽ nộp các ngươi trong sự hoạn nạn và giết đi; các ngươi sẽ bị mọi dân ghen ghét vì danh Ta.
10 Khi ấy cũng có nhiều kẻ sẽ sa vào chước cám dỗ, phản nghịch nhau, và ghen ghét nhau.
11 Nhiều tiên tri giả sẽ nổi lên và dỗ dành lắm kẻ.
12 Lại vì cớ tội ác sẽ thêm nhiều thì lòng yêu mến của phần nhiều người sẽ nguội lần.
13 Nhưng kẻ nào bền chí cho đến cuối cùng, thì sẽ được cứu.
14 Tin Lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến.

Mác 13:5-13
5 Đức Chúa Jêsus khởi phán rằng: Hãy giữ mình kẻo có ai lừa dối các ngươi chăng.
6 Có nhiều kẻ sẽ lấy danh Ta mà đến, xưng rằng: Chính Ta là Đấng Christ! Họ sẽ dỗ dành nhiều người.
7 Khi các ngươi nghe nói về giặc và nghe tiếng đồn về giặc, thì đừng bối rối: những sự ấy phải xảy đến; nhưng chưa là cuối cùng.
8 Vì dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia; cũng sẽ có động đất nhiều nơi, và đói kém. Đó chỉ là đầu sự khốn khổ mà thôi.
9 Còn các ngươi, phải giữ mình; họ sẽ nộp các ngươi trước tòa án; các ngươi sẽ bị đánh trong các nhà hội, và vì cớ Ta, sẽ đứng trước mặt các quan tổng đốc và các vua, để làm chứng trước mặt họ.
10 Nhưng trước hết Tin Lành phải được giảng ra cho khắp muôn dân đã.
11 Vả, khi họ điệu các ngươi đi nộp, chớ có ngại trước về điều mình sẽ nói, nhưng đến giờ đó, hãy nói theo lời sẽ ban cho; vì ấy không phải các ngươi nói, bèn là Đức Thánh Linh vậy.
12 Bấy giờ, anh sẽ nộp em cho phải chết, cha sẽ nộp con; con cái sẽ dấy lên nghịch cùng cha mẹ mình mà làm cho phải chết.
13 Các ngươi sẽ bị mọi người ghen ghét vì danh Ta; song ai cứ bền lòng đến cuối cùng, người ấy sẽ được cứu.

Lu-ca 21:8-19
8 Ngài đáp rằng: Các ngươi hãy giữ, kẻo bị cám dỗ; vì có nhiều người sẽ mạo danh Ta mà đến, và nói rằng: Ấy chính ta là Đấng Christ, thì giờ đã đến gần. Các ngươi đừng theo họ.
9 Lại khi các ngươi nghe nói về giặc giã loạn lạc, thì đừng kinh khiếp, vì các điều đó phải đến trước; nhưng chưa phải cuối cùng liền đâu.
10 Ngài cũng phán cùng họ rằng: Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia;
11 sẽ có sự động đất lớn, có đói kém và dịch lệ trong nhiều nơi, có những điềm lạ kinh khiếp và dấu lớn ở trên trời.
12 Song trước những điều đó thiên hạ sẽ vì cớ danh Ta mà tra tay bắt bớ các ngươi, nộp tại các nhà hội, bỏ vào ngục, kéo đến trước mặt các vua và các quan tổng đốc.
13 Điều ấy xảy ra cho các ngươi để làm chứng cớ.
14 Vậy các ngươi hãy nhớ kĩ trong trí, đừng lo trước về sự binh vực mình thể nào.
15 Vì Ta sẽ ban cho các ngươi lời lẽ và sự khôn ngoan, mà kẻ nghịch không chống cự và bẻ bác được.
16 Các ngươi cũng sẽ bị cha, mẹ, anh, em, bà con, bạn hữu mình nộp mình; và họ sẽ làm cho nhiều người trong các ngươi phải chết.
17 Các ngươi sẽ vì cớ danh Ta bị mọi người ghen ghét.
18 Nhưng một sợi tóc trên đầu các ngươi cũng không mất đâu.
19 Nhờ sự nhịn nhục của các ngươi mà giữ được linh hồn mình.

IV. "Những Sự Đó"

Trong câu hỏi của các môn đồ: "Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế?" thì nhóm chữ "những sự đó" chỉ về sự kiện đền thờ Giê-ru-sa-lem sẽ bị phá hủy đến nổi "không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn khác mà không bị đổ xuống." Đức Chúa Jesus không hề nói cụ thể ngày, tháng, năm nhưng Chúa nói đến "điềm" tức là những sự kiện xảy ra trước làm dấu hiệu cho sự kiện đền thờ sắp bị phá hủy:

Lu-ca 21:20-24
20 Vả, khi các ngươi sẽ thấy quân lính vây thành Giê-ru-sa-lem, hãy biết sự tàn phá thành ấy gần đến.
21 Lúc đó, ai ở trong xứ Giu-đê hãy trốn lên núi; ai ở trong thành phải đi ra ngoài, ai ở ngoài đồng đừng trở vào thành.
22 Vì những ngày đó là ngày báo thù, hầu cho mọi lời đã chép được ứng nghiệm.
23 Trong những ngày ấy, khốn cho đờn bà có thai, và đờn bà cho con bú! Vì sẽ có tai nạn lớn trong xứ, và cơn thạnh nộ nghịch cùng dân nầy.
24 Họ sẽ bị ngã dưới lưỡi gươm, sẽ bị đem đi làm phu tù giữa các dân ngoại, thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị dân ngoại giày đạp, cho đến chừng nào các kỳ dân ngoại được trọn.

Bảy mươi ngàn lính La-mã chia thành bốn quân đoàn, dưới sự thống lãnh của Đại Tướng Titus, (về sau trở thành hoàng đế), đã tiến công bao vây thành Giê-ru-sa-lem vào mùa xuân năm 66. Đến mùa thu năm 70, thành Giê-ru-sa-lem hoàn toàn thất thủ: Đền thờ và thành bị thiêu đốt và triệt hạ. Đền thờ không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn đá nào. Thành chỉ còn lại một bức tường phía tây, ngày nay được gọi là "Bức Tường Than Khóc," vì dân I-sơ ra-ên vẫn thường đứng trước đó để cầu nguyện và than khóc. Theo sử gia Josephus, trên một triệu một trăm ngàn cư dân Giê-ru-sa-lem bị giết và trên 97,000 cư dân khác bị bắt đi làm nô lệ [4].

Từ năm 70 đến  năm 1967, thành Giê-ru-sa-lem hoàn toàn "bị dân ngoại giày đạp." Trong "Cuộc Chiến Sáu Ngày," (5-10.6.1967), dân Israel đã chiếm lại được thành Giê-ru-sa-lem vào ngày 7 tháng 6 năm 1967 và nắm trọn chủ quyền cho đến ngày hôm nay [5]. Sự kiện này được xem là "các kỳ dân ngoại được trọn" và một số nhà giải kinh cho rằng ngụ ngôn về cây vả ra nhành non, lá mới đâm, có ý nói đến sự kiện dân Israel hoàn toàn làm chủ trở lại thành Giê-ru-sa-lem, báo hiệu cho ngày Chúa trở lại đã rất gần.

V. "Điềm Chỉ Về Sự Chúa Đến"

Sự kiện Chúa đến để đem Hội Thánh đi với Chúa theo lời Ngài đã hứa trong Giăng 14:1-3 khác với sự kiện Chúa tái lâm trên đất để kết thúc sự đoán phạt thế gian và thiết lập vương quốc ngàn năm của Ngài. Chúng ta có thể nhận ra những điểm khác biệt giữa hai sự kiện như sau:

Chúa đến với Hội Thánh
Giữa chốn không trung

Chúa đến với thế gian
Giáng lâm trên núi Ô-li-ve

* Hội Thánh gặp Chúa giữa chốn không trung: "Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn" (I Tê-sa-lô-ni-ca 4:17).

* Hội Thánh cùng Chúa giáng xuống trên đất: "Các đạo binh trên trời đều mặc vải gai mịn, trắng và sạch, cỡi ngựa bạch theo Ngài" (Khải Huyền 19:14).

* Xảy ra trước bảy năm đại nạn, khi thế gian mãi lo vui chơi, ăn uống, cưới gã: "Vì Đức Chúa Trời chẳng định sẵn cho chúng ta bị cơn thạnh nộ, nhưng cho được sự giải cứu bởi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta" (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:9). "Vì ngươi đã giữ lời nhịn nhục Ta, Ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách, là giờ sẽ đến trong khắp thế gian, đặng thử những người ở trên đất" (Khải Huyền 3:10). "Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con người đến cũng thể ấy. Vì trong những ngày trước nước lụt, người ta ăn, uống, cưới, gả như thường cho đến ngày Nô-ê vào tàu, và người ta không ngờ chi hết cho đến khi nước lụt tới mà đùa đem đi hết thảy, khi Con người đến cũng như vậy" (Ma-thi-ơ 24:37-39).

* Xảy ra sau bảy năm đại nạn là khi thế gian đang kinh hoàng, khốn khổ vì những cơn đoán phạt của Đức Chúa Trời giáng xuống trong bảy năm đại nạn: Khải Huyền 6-19.

* Xảy ra như chớp nhoáng bất ngờ và thế gian không nhìn thấy: "Nầy là sự mầu nhiệm tôi tỏ cho anh em: Chúng ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ biến hóa, trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại được không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa" (I Cô-rinh-tô 15:51, 52).

* Muôn dân trên đất đều nhìn thấy và than khóc: "Khi ấy, điềm Con người sẽ hiện ra ở trên trời, mọi dân tộc dưới đất sẽ đấm ngực, và thấy Con người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà xuống" (Ma-thi-ơ 24:30). "Kìa, Ngài đến giữa những đám mây, mọi mắt sẽ trông thấy, cả đến những kẻ đã đâm Ngài cũng trông thấy; hết thảy các chi họ trong thế gian sẽ than khóc vì cớ Ngài. Quả thật vậy. A-men" (Khải Huyền 1:7).

 

Điềm chỉ về sự Chúa đến được Đức Chúa Jesus trả lời sau cùng kèm theo ngụ ngôn về cây vả và lời kêu gọi con dân Chúa hãy tỉnh thức, trông chờ ngày Chúa đến. Sau khi Đức Chúa Jesus thăng thiên, trong Hội Thánh Tê-sa-lô-ni-ca có những tin đồn cho rằng Chúa đã trở lại khiến cho Hội Thánh hoang mang. Đức Thánh Linh đã dùng Phao-lô giảng giải cho Hội Thánh như sau:

II Tê-sa-lô-ni-ca 2:1-4
1 Luận về sự đến của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, và về sự chúng ta hội hiệp cùng Ngài,
2 thì, hỡi anh em, xin chớ vội bối rối và kinh hoàng hoặc bởi thần cảm giả mạo, hoặc bởi lời nói hay là bởi bức thơ nào tựa như chúng tôi đã gởi mà nói rằng ngày Chúa gần đến.
3 Mặc ai dùng cách nào, cũng đừng để họ lừa dối mình. Vì phải có sự bỏ đạo đến trước, và có người tội ác, con của sự hư mất hiện ra,
4 tức là kẻ đối địch, tôn mình lên trên mọi sự mà người ta xưng là Đức Chúa Trời hoặc người ta thờ lạy, rất đỗi ngồi trong đền Đức Chúa Trời, chính mình tự xưng là Đức Chúa Trời.

Kết hợp lời của Đức Chúa Jesus và lời của Phao-lô chúng ta nhận thấy: Điềm Chúa đến bao gồm các sự kiện như sau:

(1) Mười hai chi tiết trong lời tiên tri của Chúa như đã trình bày trên đây được ứng nghiệm:

(2) Có sự bỏ đạo trong Hội Thánh: Hiện nay, những hình thức bỏ đạo đang lan rộng khắp Hội Thánh là: Chấp nhận cho người chăn được sống đồng tính luyến ái, xem đồng tính luyến ái là bệnh chứ không phải tội. Chối bỏ thẩm quyền của Thánh Kinh, không tin toàn bộ Thánh Kinh là Lời của Đức Chúa Trời. Chối bỏ thần tính của Đấng Christ.

(3) Người tội ác, con của sự hư mất hiện ra, tức là con thú thứ nhất trong Khải Huyền 13

(4) Về ngày và giờ Chúa đến không ai có thể biết được

Về ý nghĩa của ngụ ngôn cây vả, các nhà giải kinh đưa ra nhiều giả thuyết như sau:

1. Giả thuyết một:"Cây vả" là dân Israel. Cây vả "ra nhành non, lá mới đâm" là sự kiện Israel tái lập quốc vào ngày 14.05.1948. "Mùa hạ" là sự Chúa đến để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian trước khi Đức Chúa Trời giáng cơn đoán phạt xuống thế gian. "Dòng dõi này"  là thế hệ nhìn thấy sự kiện Israel tái lập quốc. Nếu một dòng dõi là 70 năm hay 80 năm như Thi Thiên 90:10 nói đến: "Tuổi tác của chúng tôi đến được bảy mươi, Còn nếu mạnh khỏe thì đến tám mươi; Song sự kiêu căng của nó bất quá là lao khổ và buồn thảm, vì đời sống chóng qua, rồi chúng tôi bay mất đi;" thì sự Chúa đến có thể xảy ra bất kỳ lúc nào trong khoảng thời gian từ hiện tại cho đến 10 năm nữa.

·         Israel tái lập quốc 14.05.1948 70 năm (một dòng dõi) = 2018

·         Vì Chúa đến trước bảy năm đại nạn cho nên: 2018 trừ ra 7 năm đại nạn = 2011 [6]

·         Israel tái lập quốc 14.05.1948 80 năm (một dòng dõi) = 2028

·         Vì Chúa đến trước bảy năm đại nạn cho nên: 2028 trừ ra 7 năm đại nạn = 2021

2. Giả thuyết hai: "Cây vả"là thành Giê-ru-sa-lem. Cây vả "ra nhành non, lá mới đâm" là sự kiện Israel tái chiếm và làm chủ hoàn toàn thành Giê-ru-sa-lem vào ngày 07.06.1967, khiến cho "các kỳ dân ngoại được trọn."  Như vậy, Chúa có thể đến bất kỳ lúc nào trong khoảng thời gian từ hiện tại cho đến 19 hay 29 năm nữa:

·         Israel tái chiếm thành Giê-ru-sa-lem 07.06.1967 70 năm (một dòng dõi) = 2037

·         Vì Chúa đến trước bảy năm đại nạn cho nên: 2037 trừ ra 7 năm đại nạn = 2030

·         Israel tái chiếm thành Giê-ru-sa-lem 07.06.1967 80 năm (một dòng dõi) = 2047

·         Vì Chúa đến trước bảy năm đại nạn cho nên: 2047 trừ ra 7 năm đại nạn = 2040

Dựa vào II Phi-e-rơ 3:9:"Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn;" và I Ti-mô-thê 2:4: "Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật;" mà chúng ta có thể tin rằng Chúa có thể kéo dài dòng dõi được chứng kiến "điềm cây vả" đến 80 năm. Như vậy, nếu cây vả là Israel thì Chúa sẽ đến trong vòng 10 năm, còn nếu cây vả là thành Giê-ru-sa-lem thì Chúa sẽ đến trong vòng 29 năm.

Tuy nhiên, chúng ta không thể biến giả thuyết thành tín lý. Điều quan trọng là tất cả các dấu hiệu về điềm Chúa đến đã xảy ra và không ai có thể biết ngày và giờ Chúa đến. Chúa có thể đến để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian bất kỳ lúc nào. Chính Đức Chúa Jesus đã khẳng định như vậy.

Ma-thi-ơ 24:32-51
"32 Hãy nghe lời ví dụ về cây vả, vừa lúc nhành non, lá mới đâm, thì các ngươi biết mùa hạ gần tới.
33 Cũng vậy, khi các ngươi thấy mọi điều ấy, khá biết rằng Con Người gần đến, Ngài đương ở trước cửa.
34 Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, dòng dõi nầy chẳng qua trước khi mọi điều kia chưa xảy đến.

35 Trời đất sẽ qua, nhưng lời Ta nói chẳng bao giờ qua đi.
36 Về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết chi cả, thiên sứ trên trời hay là Con cũng vậy, song chỉ một mình Cha biết thôi.
37 Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con Người đến cũng thể ấy.
38 Vì trong những ngày trước nước lụt, người ta ăn, uống, cưới, gả như thường cho đến ngày Nô-ê vào tàu,
39 và người ta không ngờ chi hết cho đến khi nước lụt tới mà đùa đem đi hết thảy, khi Con Người đến cũng như vậy.
40 Lúc ấy, sẽ có hai người nam ở trong một đồng ruộng, một người được đem đi, còn một người bị để lại;
41 và có hai người nữ đương xay cối, một người được đem đi, còn một người bị để lại.

42 Vậy hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày nào Chúa mình sẽ đến.
43 Hãy biết rõ, nếu người chủ nhà đã hay canh nào kẻ trộm sẽ đến, thì tỉnh thức, không để cho đào ngạch nhà mình.
44 Vậy thì các ngươi cũng hãy chực cho sẵn, vì Con Người sẽ đến trong giờ các ngươi không ngờ.
45 Ai là đầy tớ trung tín và khôn ngoan, mà người chủ đặt cai trị đầy tớ mình, đặng cho đồ ăn đúng giờ?
46 Phước cho đầy tớ đó, khi chủ đến thấy làm như vậy!
47 Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, chủ sẽ đặt kẻ ấy coi sóc cả gia tài mình.
48 Nếu, trái lại, là một đầy tớ xấu, nó nghĩ thầm rằng: Chủ ta đến chậm,
49 bèn đánh kẻ cùng làm việc với mình, và ăn uống với phường say rượu,
50 thì chủ nó sẽ đến trong ngày nó không ngờ và giờ nó không biết.
51 Chủ sẽ đánh xé xương và định phần nó đồng với kẻ giả hình. Đó là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng.

Mác 13:28-37
28 Hãy nghe lời thí dụ về cây vả. Vừa khi nhánh nó trở nên non và nứt lộc, thì biết mùa hạ gần tới.
29 Cũng một lẽ ấy, khi các ngươi thấy các điều đó xảy đến, hãy biết Con Người đã tới gần, ở nơi cửa.
30 Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, dòng dõi nầy chẳng qua trước khi mọi sự kia xảy tới.

31 Trời đất sẽ qua đi, song lời Ta không bao giờ qua đâu.
32 về ngày và giờ đó, chẳng ai biết chi hết, các thiên sứ trên trời, hay là Con cũng chẳng biết nữa; song chỉ Cha mà thôi.
33 Hãy giữ mình, tỉnh thức; vì các ngươi chẳng biết kỳ đó đến khi nào.
34 Ấy cũng như một người kia đi đường xa, bỏ nhà, giao cho đầy tớ mỗi đứa cai quản một việc, và cũng biểu đứa canh cửa thức canh.
35 Vậy, các ngươi hãy thức canh, vì không biết chủ nhà về lúc nào, hoặc chiều tối, nửa đêm, lúc gà gáy, hay là sớm mai,
36 e cho người về thình lình, gặp các ngươi ngủ chăng.
37 Điều mà Ta nói cùng các ngươi, Ta cũng nói cho mọi người: Hãy tỉnh thức!

Lu-ca 21: 29-36
29 Đoạn, Ngài phán cùng họ một lời ví dụ rằng: Hãy xem cây vả và các cây khác;
30 khi nó mới nứt lộc, các ngươi thấy thì tự biết rằng mùa hạ đã gần đến.
31 Cũng vậy, khi các ngươi thấy những điều ấy xảy ra, hãy biết nước Đức Chúa Trời gần đến.
32 Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, dòng dõi nầy chẳng qua trước khi mọi sự kia chưa xảy đến.

33 Trời đất sẽ qua, song lời Ta nói sẽ không qua đâu.
34 Vậy, hãy tự giữ lấy mình, e rằng vì sự ăn uống quá độ, sự say sưa và sự lo lắng đời nầy làm cho lòng các ngươi mê mẩn chăng, và e ngày ấy đến thình lình trên các ngươi như lưới bủa;
35 vì ngày đó sẽ đến cho mọi người ở khắp trên mặt đất cũng vậy.
36 Vậy, hãy tỉnh thức luôn và cầu nguyện, để các ngươi được tránh khỏi các tai nạn sẽ xảy ra, và đứng trước mặt Con người.

VI. "Điềm Tận Thế"

Ma-thi-ơ 24:15-31
15 Khi các ngươi sẽ thấy sự gớm ghiếc tàn nát lập ra trong nơi thánh, mà đấng tiên tri Đa-ni-ên đã nói (ai đọc phải để ý),
16 thì ai ở trong xứ Giu-đê hãy trốn lên núi;
17 ai ở trên mái nhà, đừng xuống chuyên của cải trong nhà;
18 và ai ở ngoài ruộng, đừng trở về lấy áo mình.
19 Đang lúc đó, khốn khó thay cho đờn bà có mang, và đờn bà cho con bú!
20 Hãy cầu nguyện cho các ngươi khỏi trốn tránh nhằm lúc mùa đông hay là ngày Sa-bát;
21 vì lúc ấy sẽ có hoạn nạn lớn, đến nỗi từ khi mới có trời đất cho đến bây giờ chưa từng có như vậy, mà sau nầy cũng không hề có nữa.
22 Nếu những ngày ấy không giảm bớt, thì chẳng có một người nào được cứu; song vì cớ các người được chọn, thì những ngày ấy sẽ giảm bớt.
23 Khi ấy, nếu có ai nói với các ngươi rằng: Kìa Đấng Christ ở đây hay là: Ở đó, thì đừng tin.
24 Vì nhiều christ giả và tiên tri giả sẽ dấy lên, làm những dấu lớn, phép lạ, nếu có thể được thì họ cũng đến dỗ dành chính những người được chọn.
25 Nầy, Ta đã bảo trước cho các ngươi.
26 Vậy nếu người ta nói với các ngươi rằng: Nầy, Ngài ở trong đồng vắng, thì đừng đi đến; nầy, Ngài ở trong nhà thì đừng tin.
27 Vì như chớp phát ra từ phương đông, nháng đến phương tây, thì sự Con người đến sẽ cũng thể ấy.
28 Nơi nào có xác chết, thì những chim ó sẽ nhóm tại đó.

29 Sự tai nạn của những ngày đó vừa mới qua, thì mặt trời liền tối tăm, mặt trăng không sáng, các ngôi sao từ trên trời sa xuống, và thế lực của các từng trời rúng động.
30 Khi ấy, điềm Con người sẽ hiện ra ở trên trời, mọi dân tộc dưới đất sẽ đấm ngực, và thấy Con người lấy đại quyền đại vinh ngự trên m&acir

Đọc Tiếp →