2,579 views

Loài Người (04): Một Số Câu Thánh Kinh Liên Quan đến Tâm Thần – Kỳ 1

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?5mngccouebodwog

Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/1033
 

Dẫn Nhập

Trong bài trước, chúng ta đã cùng nhau học biết về tâm thần của loài người. Chúng ta đã biết rằng, tâm thần chính là thân thể thiêng liêng của chúng ta, được hình thành từ hơi thở sống của Thiên Chúa. Tâm thần nhận thức về thế giới thuộc linh, sinh hoạt trong thế giới thuộc linh. Tâm thần của những người chưa được cứu thì chỉ biết thông công với Ma Quỷ và thờ phượng Ma Quỷ. Tâm thần của những người đã được cứu thì được phục hồi mối tương giao với Thiên Chúa và nhận được năng lực từ Đức Thánh Linh để thờ phượng Thiên Chúa, hiểu biết Thiên Chúa càng hơn, và giúp cho linh hồn, tức con người, sống một đời sống vâng phục Thiên Chúa. Trong bài này, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa của những câu Thánh Kinh liên quan đến tâm thần.

Một Số Câu Thánh Kinh Liên Quan đến Tâm Thần

Dưới đây là một số câu Thánh Kinh liên quan đến tâm thần và ý nghĩa của chúng:


Thi Thiên 51:17 “Của lễ đẹp lòng Thiên Chúa, ấy là tâm thần đau thương: Thiên Chúa ôi! lòng đau thương thống hối Chúa không khinh dể đâu.”

Thi Thiên 51 là bài cầu nguyện xưng tội của Vua Đa-vít, sau khi Tiên Tri Na-than vâng lời Thiên Chúa đến gặp vua để chỉ ra tội ngoại tình, giết chồng đoạt vợ của vua. (Câu chuyện Đa-vít phạm tội được ghi lại trong II Sa-mu-ên 11 và 12). Các tôn giáo dùng hình thức dâng lễ vật lên các thần linh để xoa dịu cơn giận của các thần linh mà họ thờ phượng. Trong Đạo Chúa, sự phạm tội của loài người cũng phải được chuộc bằng một mạng sống thánh khiết, mà một sinh vật tinh sạch được dùng làm biểu tượng trong tế lễ chuộc tội, cho đến khi Đức Chúa Jesus Christ hoàn thành công cuộc dâng chính mình Ngài làm của lễ chuộc tội cho nhân loại. Tuy nhiên, trong Đạo Chúa, sự chuộc tội còn phải kèm theo lòng đau thương thống hối chân thành. Lòng đau thương thống hối chân thành phát xuất từ sự cảm nhận sâu kín của tâm thần.

Như chúng ta đã biết, tâm thần tức là thân thể thiêng liêng, thân thể thiêng liêng đó cũng có đủ năm giác quan như thân thể xác thịt, nhờ đó mà chúng ta có thể thấy, nghe, ngửi, nếm, và sờ chạm trong thế giới thuộc linh. Những ai đã từng nhận được khải tượng từ nơi Chúa hoặc thường xuyên tương giao mật thiết với Chúa trong sự cầu nguyện thì biết rõ điều này. Khi chúng ta phạm tội thì trước hết là linh hồn, tức là bản ngã của chúng ta, quyết định phạm tội. Kế tiếp, chúng ta sẽ nghe sự cáo trách của lương tâm ở trong tâm thần của chúng ta. Nếu chúng ta không ăn năn sau khi lương tâm cáo trách mà chúng ta đã là con dân Chúa thì chúng ta sẽ nghe tiếng cáo trách của Đức Thánh Linh trong tâm thần của chúng ta. Người chưa tin nhận Chúa, chưa được tái sinh thì không có sự cáo trách của Đức Thánh Linh. Nếu chúng ta vẫn tiếp tục không ăn năn thì tội lỗi sẽ thể hiện qua thân thể xác thịt của chúng ta. Đức Chúa Trời là tình yêu, sự nhân từ của Ngài còn đến đời đời, sự thương xót của Ngài là vô bờ bến, cho nên, Ngài sẽ cho chúng ta thêm nhiều cơ hội để ăn năn, sau khi chúng ta đã thể hiện sự phạm tội qua xác thịt. Nếu chúng ta vẫn cứng lòng không chịu ăn năn thì Đức Chúa Trời sẽ cất đi mạng sống của chúng ta. Ngài cất đi mạng sống của chúng ta vì Ngài quá yêu chúng ta, không muốn chúng ta tiếp tục làm ra thêm nhiều tội lỗi để rồi phải chịu nhiều hình phạt nặng nề trong ngày phán xét.

Rất thường khi, vì sự cứng lòng của chúng ta mà Đức Chúa Trời dùng một người nào đó để thức tỉnh chúng ta về tội lỗi của chúng ta. Chúng ta ăn năn tội vì chúng ta nghe được sự cáo trách, sự lên án của lương tâm và của Đức Thánh Linh trong tâm thần của chúng ta. Khi đó, tâm thần của chúng ta nhận thức rõ sự ghê tởm, xấu xa của tội lỗi và hậu quả nghiêm trọng của sự phạm tội. Tâm thần của chúng ta rung động và đau đớn trước tội lỗi của linh hồn.

Đức Chúa Trời yêu chúng ta đến nỗi đã hy sinh Con Một của Ngài, như Giăng 3:16 đã công bố và Rô-ma 8:31-35 đã giải thích:

Giăng 3:16 “Vì Ðức Chúa Trời yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin nơi Con ấy không bị hư mất, mà được sự sống đời đời.”

Rô-ma 8:32-35 “Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao? Ai sẽ kiện kẻ lựa chọn của Thiên Chúa? Thiên Chúa là Đấng xưng công bình những kẻ ấy. Ai sẽ lên án họ ư? Đức Chúa Jesus Christ là Đấng đã chết, và cũng đã sống lại nữa. Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, cầu nguyện thế cho chúng ta. Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ? có phải hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hay là gươm giáo chăng?”

Chú ý là trong những câu trên đây không hề liệt kê ra tội lỗi, vì tội lỗi là sự chúng ta chủ động cắt đứt mối tương giao giữa mình với Đức Chúa Trời, phân rẽ ra khỏi tình yêu của Ngài; như Ê-sai 59:2 đã khẳng định: “Nhưng ấy là sự gian ác các ngươi làm xa cách mình với Thiên Chúa; và tội lỗi các ngươi đã che khuất mặt Ngài khỏi các ngươi, đến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa.” Nhiều giáo sư giả ngày nay dùng Rô-ma 8:32-35 để bảo vệ cho tà thuyết “Tin Chúa một lần được cứu vĩnh viễn” hay “Người đã được cứu thì không bao giờ bị hư mất.” Đúng là không có một sự gì có thể phân rẽ tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho loài người, chỉ trừ một điều: loài người tiếp tục sống trong tội mà không ăn năn!

Trong khi bạn xem phim hay đọc truyện, bạn thấy kẻ ác cứ được thịnh vượng, người lành cứ bị hãm hại mà không biết, còn cám ơn kẻ ác, thì bạn thấy bực tức và nổi giận trong lòng, ước gì bạn có thể can thiệp và dạy cho kẻ ác một bài học thích đáng. Khi ấy, lòng bạn hoàn toàn tức giận mà không có chút gì thương xót. Đức Chúa Trời thì khác, Ngài luôn chờ đón mỗi người ăn năn tội và tiếp nhận sự tha thứ của Ngài, dù là những người phạm tội kinh khủng nhất, và nhiều nhất, vì Ngài thật sự yêu nhân loại. Đức Chúa Trời phán:

Đấng cao cả, ở nơi đời đời vô cùng, danh Ngài là Thánh, có phán như vầy: Ta ngự trong nơi cao và thánh, với người có tâm thần ăn năn đau đớn và khiêm nhường, đặng làm tươi tỉnh tâm thần của người khiêm nhường, và làm tươi tỉnh lòng người ăn năn đau đớn. Ta chẳng muốn cãi lẽ đời đời, cũng chẳng tức giận mãi mãi; vì tâm thần sẽ mòn mỏi trước mặt Ta, và các linh hồn mà Ta đã dựng nên cũng vậy.” (Ê-sai 57:15-16)

Ngay cả khi chúng ta vì mặc cảm phạm tội, không dám đến để ăn năn, xưng tội với Ngài, thì Đức Chúa Trời vẫn mời gọi chúng ta:

Đức Giê-hô-va phán: Bây giờ hãy đến, cho chúng ta biện luận cùng nhau. Dầu tội các ngươi như hồng điều, sẽ trở nên trắng như tuyết; dầu đỏ như son, sẽ trở nên trắng như lông chiên.” (Ê-sai 1:18)

Ngày hôm nay, của lễ chuộc tội cho loài người đã được Đức Chúa Jesus Christ dâng lên Đức Chúa Trời bằng chính mạnh sống thánh khiết của Ngài, có hiệu lực cho đến đời đời. Loài người không cần phải dâng một lễ vật nào nữa cả mà chỉ cần thật lòng ăn năn, thống hối về mọi tội lỗi của mình, và thật lòng tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ. Sự ăn năn chỉ trên môi miệng mà không phát xuất từ tâm thần chẳng những không đem lại sự cứu rỗi mà còn thêm tội cho người không thật lòng. Loài người có thể giả vờ ăn năn tội, giả vờ tin nhận Chúa để được nhận vào trong các tổ chức giáo hội, để được các giáo hội giúp đỡ hoặc để lợi dụng con dân Chúa về vật chất. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời biết hết mọi sự, vì Ngài là Đấng “dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng”“báo cho mỗi người tùy đường họ đi, tùy kết quả của việc họ làm“ (Giê-rê-mi 17:10).

Tâm thần đau thương thống hối, công nhận mình là tội nhân, ăn năn tội, và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời là điều mà Thiên Chúa mong đợi nơi mỗi con người.


Thi Thiên 78:8 “Để chúng nó chẳng như tổ phụ mình, chẳng dọn lòng cho chánh-đáng, có tâm thần không trung tín cùng Thiên Chúa.”

Tâm thần không trung tín là khuynh hướng bội nghịch, không vâng phục Thiên Chúa. Ví cớ thân thể thiêng liêng là tâm thần không đầu phục Thiên Chúa nên thân thể xác thịt cầm quyền trên linh hồn, bắt linh hồn phải chìu theo mọi sự ưa muốn của xác thịt, khiến loài người sống như loài thú.

Chỉ những ai đã tin nhận Thiên Chúa mới có tâm thần không trung tín cùng Thiên Chúa. Người chưa tin nhận Thiên Chúa, chưa hề hứa nguyện vâng phục Ngài thì không thể phạm tội không trung tín với Thiên Chúa.


Thi Thiên 139:13 “Vì chính Chúa nắn nên tâm thần tôi, dệt thành tôi trong lòng mẹ tôi.”

Từ ngữ được dịch là “tâm thần” ở trong nguyên ngữ có nghĩa đen là “quả thận,” một cơ quan có chức năng lọc các chất độc trong thân thể rồi bài tiết qua đường tiểu. Nghĩa bóng của từ ngữ này là “trí,” tương tự như từ ngữ “quả tim” có nghĩa bóng là “tình cảm.”

Câu này cho biết thân thể thiêng liêng và thân thể vật chất của chúng ta cùng được Thiên Chúa thai dựng trong lòng của người mẹ, cho nên, đó không phải là sự sáng tạo trực tiếp của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã ngưng mọi công tác sáng tạo của Ngài, sau khi Ngài hoàn thành công cuộc sáng tạo trời đất và muôn vật trong trời đất, trong sáu ngày. Từ đó trở đi, muôn vật tiếp tục sinh sản theo quy luật Thiên Chúa đã ấn định. Dù kể từ đó trở đi, muôn vật được sinh ra cũng đều là loài thọ tạo của Thiên Chúa nhưng chúng không nằm trong nghĩa sáng tạo từ không thành có, mà chúng được tạo ra từ những gì Thiên Chúa đã sáng tạo.


Châm Ngôn 15:4 “Lưỡi hiền lành giống như một cây sự sống; Song lưỡi gian tà làm cho hư nát tâm thần.”

Lưỡi là một cơ quan của thân thể xác thịt, nhưng lời nói bởi lưỡi thì xuất phát từ linh hồn. Lưỡi hiền lành là lưỡi nói ra những lời ân hậu và có ích lợi cho người nghe, nên được ví như cây sự sống. Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ, “Lưỡi hiền lành” có thể dịch là “Lưỡi đem lại sự chữa lành”:

Chớ có một lời dữ nào ra từ miệng anh em; nhưng khi đáng nói hãy nói một vài lời lành giúp ơn cho và có ích lợi cho kẻ nghe đến.” (Ê-phê-sô 4:29)

Lưỡi gian tà là lưỡi nói ra những lời không chân thật làm hại đến tâm thần của người nghe lẫn người nói. Nguy hiễm nhất là những lưỡi gian tà rao giảng những điều không chân thật về Lời Chúa, đem sự bại hoại đến cho tâm thần của người nghe. Đó là lý do vì sao Chúa dạy chúng ta phải tránh xa những kẻ rao giảng tà giáo:

Sau khi mình đã khuyên bảo kẻ theo tà giáo lần thứ nhất và lần thứ nhì rồi, thì hãy tránh khỏi, vì biết rằng người như thế đã bội nghịch mà cứ phạm tội, thì tự đoán phạt lấy mình.” (Tít 3:10-11)

Hễ ai đi dông dài, chẳng bền lòng theo giáo lý của Đấng Christ, thì người ấy không có Thiên Chúa. Còn ai bền lòng trong đạo ấy, thì người đó có Cha và Con. Nếu ai đến cùng các ngươi mà không đem giáo lý ấy theo, thì chớ rước họ vào nhà, và đừng chào hỏi họ. Vì người nào chào hỏi họ, tức là dự vào công việc ác của họ.” (II Giăng 9-11)


Châm Ngôn 18:14 “Tâm thần người nâng đỡ sự bịnh hoạn mình; Nhưng tâm thần bị thương tích ai có thể chịu nổi?”

Thân thể thiêng liêng có thể giúp chữa lành và hồi phục sức khỏe cho thân thể vật chất, nhưng nếu thân thể thiêng liêng bị bệnh tật hay thương tổn thì đó là một sự khốn khổ lớn cho một người. Nhờ đức tin và sự cầu nguyện trong tâm thần mà thân thể thiêng liêng giúp cho việc chữa lành thân thể vật chất. Nhưng nếu thân thể thiêng liêng bị thương tích thì sẽ khiến cho thân thể vật chất bị kiệt quệ theo. Nhiều người vì tổn thương tâm thần mà trở nên điên loạn hoặc chọn sự tự sát để mong chấm dứt sự đau đớn trong tâm thần. Chúng ta phải cẩn thận về việc mình có thể làm cho tổn thương tâm thần của người khác. Không gì dễ dàng làm cho tâm thần của người khác tổn thương cho bằng nếp sống giả hình của chúng ta và những sự rao giảng tà giáo.


Ê-sai 65:14 “Nầy, tôi tớ Ta sẽ hát mừng vì lòng đầy vui vẻ, còn các ngươi thì khóc lóc vì lòng buồn bực, kêu than vì tâm thần phiền não.”

Câu Thánh Kinh trên đây nằm trong bối cảnh Thiên Chúa đoán phạt những người I-sơ-ra-ên cứng lòng, không chịu ăn năn tội và ban phước cho những người I-sơ-ra-ên đã tin nhận sự cứu rỗi của Ngài. Những người được Chúa ban phước thì được Ngài gọi là tôi tớ của Ngài sẽ hát mừng vì linh hồn được vui vẻ. Những kẻ cứng lòng sống trong tội thì khóc lóc vì linh hồn buồn bực và vì tâm thần của họ phiền não. Chữ “phiền não” trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ có nghĩa là “tan nát.” Tâm thần họ tan nát vì tội lỗi khiến cho họ không còn được thông công với Thiên Chúa để được Ngài an ủi, vỗ về, dạy dỗ và bổ sức lại.


Đa-ni-ên 7:15 “Còn như ta, Đa-ni-ên, thì tâm thần ta rầu rĩ trong mình ta, và những sự hiện thấy trong đầu ta làm cho ta bối rối.”

Khi Tiên Tri Đa-ni-ên nhìn thấy khải tượng về thế giới trong tương lai thì tâm thần ông trở nên buồn rầu, vì ông không hiểu được ý nghĩa của những điều ông được mạc khải. Điều đó tương tự như chúng ta sẽ buồn rầu khi thân thể xác thịt của chúng ta được nghe, thấy, ngửi, nếm, sờ chạm một điều gì đó trong thế giới vật chất này mà chúng ta không sao hiểu được điều ấy.

Mệnh đề “tâm thần ta rầu rĩ trong mình ta” có nghĩa là, “thân thể thiêng liêng ở trong thân thể xác thịt của ta đang buồn rầu,” tức là sự buồn rầu không đến từ nhận thức của thân thể xác thịt nhưng đến từ nhận thức của thân thể thuộc linh.

Đôi khi chúng ta có những nỗi buồn vô cớ, buồn mà không hiểu vì sao mình buồn, buồn trong khi đang có đủ ăn, đủ mặc, đủ ở, và có những người thân yêu bên cạnh, không có gì cần phải lo lắng hay sợ hãi. Những nỗi buồn vô cớ đó bắt đầu xuất hiện ngay từ tuổi thiếu niên, tức là tuổi bắt đầu có ý thức về nhu cầu tâm linh. Những nỗi buồn không tên đó chính là nỗi buồn vì không có Thiên Chúa ngự trong chúng ta, vì tâm thần của chúng ta không được tiếp xúc với Thiên Chúa. Sự phiền muộn trong tâm thần sẽ khiến cho linh hồn rối ren trong sự suy nghĩ; nhưng sự phiền muộn trong tâm thần cũng thúc giục chúng ta tìm kiếm Thiên Chúa.

Là con dân Chúa, chúng ta cũng có thể có những lần bị phiền muộn trong tâm thần khi chúng ta quan tâm đến đời sống thuộc linh của người khác, khi chúng ta nhìn thấy tội lỗi xảy ra trong Hội Thánh hoặc khi chúng ta phạm tội với Chúa mà không ăn năn. Dù lý do là gì thì chúng ta cũng chỉ có một cách duy nhất để giải quyết, là “chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng” (Hê-bơ-rơ 4:16).


Ma-la-chi 2:15-16 “Vả, hơi sống của Thiên Chúa dầu có dư dật, chỉ làm nên một người mà thôi. Nhưng vì sao chỉ làm một người? Ấy là vì tìm một dòng dõi thánh. Vậy các ngươi khá cẩn thận trong tâm thần mình; chớ đãi cách phỉnh dối với vợ mình lấy lúc tuổi trẻ. Vì Giê-hô-va Thiên Chúa của I-sơ-ra-ên có phán rằng Ta ghét người nào bỏ vợ, và người nào lấy sự hung dữ che áo mình, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. Vậy hãy giữ trong tâm thần các ngươi, chớ đãi cách phỉnh dối.”

Đây là một câu Thánh Kinh rất là quan trọng. Trước hết, Thiên Chúa đích thân giải thích rõ ràng vì sao Ngài không cùng một lúc tạo ra nhiều người mà chỉ tạo ra có một người. Lời Chúa thật rõ ràng, không cần phải diễn giải gì thêm: Ngài chỉ làm nên một người để tìm một dòng dõi thánh qua người ấy!Tuy nhiên, chúng ta sẽ đi sâu vào chi tiết của câu này trong bài nói về sự kiện Thiên Chúa sáng tạo loài người. Trong bài này, chúng ta chỉ để ý đến lý do vì sao từ ngữ tâm thần được nói đến trong câu này. Thiên Chúa muốn tìm một dòng dõi thánh qua một người mà Ngài đã dựng nên là A-đam. Từ A-đam, Thiên Chúa đã tạo thành Ê-va để cả hai kết hợp mà sinh ra một dòng dõi thánh. Chữ thánh được dùng ở đây có nghĩa là biệt riêng ra cho Thiên Chúa, theo như ý muốn của Ngài. Đó là mô hình gia đình và tình yêu nam nữ mà Thiên Chúa đã thiết lập. Gia đình là một vợ một chồng sinh ra con cái theo ý muốn của Thiên Chúa. Chồng và vợ dù là hai nhưng kết hợp thành một. Ở đây không phải nói về sự kết hợp thuộc linh mà là sự kết hợp của thân thể xác thịt: “hai người trở nên một thịt!” Sự kết hợp thuộc linh là sự kết hợp ở trong Đấng Christ, mọi người trở thành một trong Hội Thánh.

Vì sự cứng lòng của dân I-sơ-ra-ên mà Thiên Chúa cho phép có sự ly dị và đa thê (Ma-thi-ơ 19:8). Cứng lòng tức là không chịu sống theo tiêu chuẩn gia đình mà Thiên Chúa đã đặt ra. Vì lòng nhân từ không muốn tiêu diệt họ mà Thiên Chúa đã cho phép họ sống theo ý riêng một thời gian, và Ngài đã đặt thêm các luật về ly dị và đa thê để giới hạn sự buông thả theo xác thịt của họ. Thế nhưng, dân I-sơ-ra-ên đã lạm dụng các luật này để hất hủi vợ đang có mà cưới thêm vợ khác. Từ ngữ tâm thần được dùng trong hai câu Thánh Kinh nói trên, có nghĩa là “khuynh hướng tham muốn sắc dục, bạc đãi vợ, lừa dối vợ, buộc vợ phải chung thủy với mình mà mình không chung thủy với vợ.”


Ma-thi-ơ 5:3 “Phước cho những kẻ thiếu nghèo trong tâm thần, vì Vương Quốc Trời là của những kẻ ấy!”

Thiếu nghèo trong tâm thần được dùng ở đây có nghĩa là trong tâm thần ý thức được rằng mình không giầu có về thuộc linh. Một người thiếu nghèo trong tâm thần có thể rất giầu có về vật chất hoặc cũng rất nghèo khó về vật chất. Lu-ca 6:20 thì chỉ ghi là: “Phước cho các ngươi thiếu nghèo, vì vương quốc của Đức Chúa Trời thuộc về các ngươi!” mà dựa trên văn mạch, thì hàm ý là thiếu nghèo về vật chất trong thế gian. Thánh Kinh cho biết, Đức Chúa Jesus Christ giảng Tin lành cho những người nghèo trong xã hội: Ma-thi-ơ 11:5, Lu-ca 4:18, và cũng cho biết người giàu thì khó vào Nước Trời: Ma-thi-ơ 19:23; Lu-ca 18:24.


Ma-thi-ơ 22:43 “Ngài đáp rằng: Vậy, vì cớ nào vua Đa-vít trong tâm thần gọi Đấng Christ là Chúa…”

Trong tâm thần gọi” có nghĩa là dù lời nói được phát ra bởi miệng lưỡi của thân thể xác thịt nhưng sự nhận thức thì đến từ tâm thần. Trong tâm thần Đa-vít nhận biết Đấng Christ là Con của Thiên Chúa, có cùng một bản thể với Thiên Chúa, và hoàn toàn là Thiên Chúa.


Ma-thi-ơ 26:41“Hãy thức canh và cầu nguyện, kẻo các ngươi sa vào chước cám dỗ; tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối.”

Mác 14:38 “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, để các ngươi khỏi sa vào chước cám dỗ; tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối.”

Trong câu này chúng ta thấy sự tương phản giữa thân thể thiêng liêng là tâm thần với thân thể vật chất là xác thịt. Tâm thần nhận thức được các giá trị thuộc linh và khao khát, ưa thích các giá trị thuộc linh; nhưng xác thịt thì bị mệt mõi vì những sinh hoạt trong thế giới vật chất, không đủ sức để tỉnh thức và cầu nguyện.

Sa-tan sẽ tung ra các mưu chước cám dỗ khi thân thể xác thịt của chúng ta mệt mõi, yếu đuối, bỏ qua sự tương giao với Chúa trong sự cầu nguyện và đọc, suy ngẫm Lời Chúa. Thiếu cầu nguyện, thiếu ăn nuốt Lời Chúa sẽ khiến cho chúng ta thiếu cảnh giác. Thiếu cảnh giác sẽ khiến cho chúng ta không nhận ra mưu kế của Ma Quỷ. Trong cuộc chiến thuộc linh, chúng ta chỉ cần tỉnh táo nhận ra mưu kế của Ma Quỷ và dùng Lời Chúa để chống trả. Ê-phê-sô 6:11 dạy chúng ta: “Hãy mang lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời, để được đứng vững mà địch cùng mưu kế của ma quỷ,” nhưng trong bảy thứ khí giới thì sáu thứ là để bảo vệ, chỉ có một thứ là để tấn công, là gươm của Đức Thánh Linh, là Lời hằng Sống của Đức Chúa Trời. Lời Chúa là vũ khí duy nhất để tấn công Ma Quỷ. Trong câu chuyện Sa-tan cám dỗ Đức Chúa Jesus Christ thì cả ba lần Chúa đều dùng Lời Chúa đã chép trong Thánh Kinh để đánh bại Sa-tan.

Chúng ta không cần phải chiến đấu chống lại bệnh tật, tai ương, hoạn nạn, bắt bớ… mà chúng ta chỉ cần chống lại mưu kế của Ma Quỷ, là âm mưu dùng những thứ đó để khiến cho chúng ta mất đức tin nơi Chúa. Khi Sa-tan tấn công ông Gióp, ông không tìm cách để dành lại tài sản, cứu sống các con của mình hay chữa lành bệnh cho chính mình, mà ông chỉ một lòng tin cậy nơi Chúa, đến nổi ông nói: “Mặc dầu xảy đến cho ta điều gì… dẫu Chúa có giết ta, ta vẫn còn nhờ cậy nơi Ngài” (Gióp 13:13, 15). Vì thế âm mưu của Sa-tan đã hoàn toàn thất bại, trái lại, âm mưu đó còn tạo cho ông Gióp cơ hội để chứng minh đức tin và sự trung tín của ông nơi Thiên Chúa, khiến cho tất cả thiên sứ và con dân Chúa muôn đời về sau, nhìn thấy rõ thế nào là thật lòng tin cậy nơi Thiên Chúa.


Lu-ca 1:17 “Chính người lại sẽ lấy tâm thần quyền phép Ê-li mà đi trước mặt Chúa, để đem lòng cha trở về con cái, kẻ loạn nghịch đến sự khôn ngoan của người công bình, đặng sửa soạn cho Chúa một dân sẵn lòng.”

Trong nguyên ngữ là “người sẽ đi trước Ngài trong tâm thần và năng lực của Ê-li.” Đây là lời của thiên sứ tiên tri về sứ mạng của Giăng Báp-tít. “Đi trong tâm thần và năng lực của Ê-li” có nghĩa là “hành động trong cùng một khuynh hướng và sức mạnh như Ê-li.” Mặc dầu Giăng Báp-tít không làm ra các phép lạ lớn bên ngoài như Tiên Tri Ê-li đã làm, nhưng ông đã làm ra phép lạ biến đổi những tấm lòng cứng cõi của dân I-sơ-ra-ên, mà trong đó không thiếu những người thuộc phái Pha-ri-si và Sa-đu-sê (Ma-thi-ơ 3:7), khiến họ ăn năn tội, dọn lòng chờ đón Đấng Christ.


Lu-ca 1:47 “Tâm thần tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Đấng Giải Cứu tôi.”

Tâm thần có khi phiền muộn thì cũng có khi mừng rỡ. Trên đây là câu cảm tạ tôn vinh của bà Ma-ri, mẹ phần xác của Đức Chúa Jesus. Bà mừng rỡ trong tâm thần vì tâm thần bà nhận thức được Đức Chúa Trời là Đấng giải cứu bà ra khỏi hậu quả và sức mạnh của tội lỗi. Câu nói này của bà Ma-ri đã đánh tan tà giáo “Vô nhiễm nguyên tội,” dạy rằng bà Ma-ri không hề nhiễm tội từ A-đam.


Lu-ca 1:80 “Vả, con trẻ ấy lớn lên, tâm thần mạnh mẽ, ở nơi đồng vắng cho đến ngày tỏ mình ra cùng dân I-sơ-ra-ên.”

Đây là câu nói về Giăng báp-tít. Một thân thể xác thịt khỏe mạnh là một thân thể đầy dinh dưỡng, không tật bệnh và có năng lực để làm việc. Tương tự như vậy, một tâm thần mạnh mẽ là một tâm thần tràn đầy năng lực của Thiên Chúa, được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa qua sự thông công mật thiết với Ngài, và không bị tội lỗi làm cho băng hoại. Nói như thế không có nghĩa là Giăng Báp-tít không hề phạm tội, mà chỉ có nghĩa là, Giăng Báp-tít nhờ ơn Chúa, hết lòng vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và khi phạm tội thì biết xưng tội. Thánh Kinh cho biết, mọi người đều đã phạm tội, ngoại trừ Đấng Christ vừa là người vừa là Thiên Chúa, nên Ngài không hề và không thể phạm tội.


Lu-ca 9:55 “Nhưng Đức Chúa Jesus xoay lại, trách hai người, mà rằng: Các ngươi không biết tâm thần mình thuộc loại nào.”

Chữ tâm thần dùng trong câu này có nghĩa là khuynh hướng hay tinh thần. Vì dân của một làng Sa-ma-ri không tiếp đón Chúa mà Gia-cơ và Giăng hỏi Chúa rằng, Ngài có muốn hai ông gọi lửa từ trời xuống để thiêu họ chăng; và Chúa đã quở trách họ như trên.

Có lẽ, trong lúc nói như vậy, Gia-cơ và Giăng đã tưởng rằng mình vì tinh thần tôn kính Chúa, không chấp nhận cho bất cứ ai xúc phạm hay xem thường Chúa. Tuy nhiên, nguồn gốc thật của câu nói đó là tinh thần muốn trả thù. Gia-cơ và Giăng đã lầm lẫn giữa tinh thần tôn kính Chúa với tinh thần trả thù những kẻ không tôn kính Chúa của mình. Vì thế, Chúa phán rằng, hai ông không biết tinh thần mình thuộc loại nào.

Ngày nay, tín đồ của Chúa trong các giáo phái thường cư xử với nhau bằng tinh thần ghen ghét và tranh cạnh, vì thế, xảy ra những chuyện gọi là “cướp chiên” hoặc “gặt trộm” hoặc “cạnh tranh truyền giảng.” “Cướp chiên” là dụ dỗ tín đồ đang sinh hoạt trong một giáo phái khác hay một điểm nhóm khác về sinh hoạt với tổ chức của mình. “Gặt trộm” là cho nhân sự đến tham dự những buổi truyền giảng của người khác, rồi hướng dẫn những người tin nhận Chúa trong những buổi truyền giảng đó về sinh hoạt với tổ chức của mình. “Cạnh tranh truyền giảng” là tổ chức truyền giảng cùng một thời điểm với người khác và dùng đủ mọi cách để chiêu dụ thính giả, kể cả mời các ca sĩ chưa tin Chúa đến trình diễn trong buổi truyền giảng và tiếp đãi thính giả ăn uống miễn phí. Người ta nhân danh Chúa làm tất cả những điều đó và tự hào là mình có tinh thần truyền giáo nóng cháy mà thật ra, những việc làm đó phát xuất từ tinh thần, ghen ghét, tranh cạnh, và kiêu ngạo. Từ thời Phao-lô, trong Hội Thánh cũng đã có những người “vì lòng ganh tỵ và cãi lẫy mà rao truyền Đấng Christ”“vì ý phe đảng xui giục, có lòng rao truyền Đấng Christ cách không ngay thật” (Phi-líp 1:15, 17).

Chúng ta cần phân biệt hành động gọi là “cướp chiên” như trình bày trên đây, hoàn toàn khác với sự kiện, vì tình yêu thương của Chúa mà chúng ta đến sinh hoạt trong một tổ chức giáo hội để làm quen với con dân Chúa đang bị giáo hội đó giảng dạy những điều sai nghịch với Lời Chúa, mà hướng dẫn họ quay về với lẽ thật của Lời Chúa. Chúng ta chỉ cần làm quen, trao tặng các CD bài giảng, trao tặng sách hoặc các bài viết trình bày lẽ thật của Lời Chúa. Khi nào có ai chịu tiếp nhận lẽ thật của Lời Chúa, muốn nhóm họp với chúng ta thì chúng ta tiếp nhận họ. Chúng ta cần phải chiến đấu chống lại “thù trong” để giải cứu những người đã tin Chúa ra khỏi tà giáo và các giáo sư giả, cùng lúc chúng ta cũng chiến đấu chống lại “giặc ngoài” để đưa dắt những người chưa biết Chúa đến với sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Trong mọi sự, chúng ta cần xin Chúa tra xét mình, giúp cho mình nhận thức mình đang hành động bởi tinh thần nào.


Lu-ca 10:21“Cũng giờ đó, Đức Chúa Jesus vui mừng trong tâm thần, bèn nói rằng: Lạy Cha, là Chúa trời đất, tôi tôn vinh Cha, vì Cha đã giấu những sự nầy với kẻ khôn ngoan, người sáng dạ, mà tỏ ra cho trẻ nhỏ hay! Thưa Cha, phải, thật như vậy, vì Cha đã thấy điều đó là tốt lành.”

Đức Chúa Jesus Christ vừa hoàn toàn là người vừa hoàn toàn là Thiên Chúa. Trong thân vị Thiên Chúa, Ngài là Đấng Tạo Hóa: “Muôn vật bởi Ngài mà có; ngoài Ngài chẳng một vật nào có được” (Giăng 1:3). Trong thân vị loài người, Ngài là một con người sống trọn vẹn theo thánh ý của Đức Chúa Trời:

Đức Chúa Jesus bèn lên tiếng phán với họ rằng: Thật vậy, thật vậy, Ta nói với các ngươi, chẳng thể nào Con tự mình làm việc gì mà Ngài chỉ làm những việc Ngài thấy Cha làm. Những việc Cha làm, Con cũng làm y như vậy” (Giăng 5:19)

Chẳng thể nào Ta tự mình làm việc gì. Ta phán xét theo điều Ta nghe, và sự phán xét của Ta là công bình, vì Ta chẳng tìm ý muốn của Ta, nhưng tìm ý muốn của Đấng đã sai Ta” (Giăng 5:30)

Vì Ta từ trời xuống, chẳng phải để làm theo ý Ta, nhưng làm theo ý Đấng đã sai Ta đến” (Giăng 6:38)

Đức Chúa Jesus đáp lời họ, phán rằng: Giáo lý của Ta chẳng phải bởi Ta, nhưng bởi Đấng đã sai Ta đến” (Giăng 7:16)

Vì Ta chẳng nói theo ý riêng của Ta; nhưng Cha là Đấng sai Ta, Ngài đã ra mệnh lệnh cho Ta phải truyền gì và phải nói gì. Ta biết mệnh lệnh của Ngài là sự sống đời đời. Vậy, những điều Ta nói, là y như Cha đã phán với Ta, mà Ta nói” (Giăng 12:49-50)

Con đã tôn vinh Ngài trên đất, làm xong công việc Ngài giao cho con làm” (Giăng 17:4)

Vì thế, mọi tâm tư, tình cảm của Đức Chúa Jesus Christ đều dựa trên sự nhận thức của tâm thần chứ không dựa trên sự nhận thức của xác thịt. Nghĩa là, mọi nhận thức của xác thịt phải được đối chiếu với sự tri thức trong tâm thần trước khi tình cảm và ý chí phát sinh. Thánh Kinh gọi đó là sống trong thần quyền, tức là sống trong quyền năng của Đức Chúa Trời:

Vậy tôi nói rằng: Hãy bước đi trong thần quyền, chớ hề làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt.” (Ga-la-ti 5:16)

Nếu chúng ta sống trong thần quyền, thì cũng hãy bước đi trong thần quyền.” (Ga-la-ti 5:30)

Rô-ma 6-8 dạy rất rõ cho con dân Chúa biết, thế nào là sống trong thần quyền bởi sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh.

 

Huỳnh Christian Timothy
03.11.2012

Ghi Chú

[A] Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Quý bạn có thể đọc trên mạng: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

 


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

 

Đọc Tiếp →
2,364 views

Loài Người (03): Tâm Thần

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?cjhk9hc6rrr9krh

Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/1028

Huỳnh Christian Timothy

Dẫn Nhập

Trong bài thứ nhất, nói về nguồn gốc của loài người, chúng ta đã đề cập đến sự kiện Thiên Chúa sáng tạo nên loài người bằng cách:

  • Thiên Chúa dùng bụi của đất nắn nên thân thể vật chất của loài người.
  • Thiên Chúa thổi hơi thở sống của Ngài vào trong lỗ mũi của hình thể bụi đất.
  • Hình thể bụi đất trở nên một thân thể xác thịt, hơi thở sống của Thiên Chúa trở nên một thân thể thiêng liêng, gọi là tâm thần. Linh hồn loài người được sáng tạo trong giây phút tâm thần kết hợp với xác thịt. Linh hồn ở trong tâm thần và tâm thần ở trong xác thịt.

Trong câu chuyện về sự sáng tạo loài người, Thánh Kinh không cho chúng ta nhiều chi tiết. Tuy nhiên, theo thời gian, Thiên Chúa mạc khải cho loài người biết về bản thể, bản chất, và bản tính của loài người qua các phân đoạn khác nhau trong Thánh Kinh. Về bản thể (hình thể), loài người là một linh hồn sống được dựng nên theo hình Thiên Chúa. Về bản chất (chất liệu tạo nên bản thể), loài người ra từ bụi của đất và hơi thở sống của Thiên Chúa. Về bản tính (tính chất của bản thể), loài người được sáng tạo giống như Thiên Chúa, biết nhận thức, biết suy tư, biết cảm xúc, biết lựa chọn, và biết quyết định.

Bản chất xác thịt ra từ bụi đất thì chúng ta dễ dàng nhận thấy qua năm giác quan của xác thịt, còn bản chất thiêng liêng ra từ hơi thở sống của Thiên Chúa, tức là tâm thần ở trong thân thể xác thịt, thì chúng ta không thể nhìn thấy mà chỉ có thể nhận thức một cách siêu nhiên.

Qua thân thể xác thịt chúng ta nhận thức và giao tiếp với thế giới vật chất như thế nào thì qua thân thể thiêng liêng, là tâm thần, chúng ta cũng nhận thức và giao tiếp với thế giới thiêng liêng, thường gọi là thế giới thuộc linh, như thế ấy.

Từ ngữ “tâm thần” được dùng trong Thánh Kinh Việt ngữ, ở trong nguyên ngữ tiếng Hê-bơ-rơ của Thánh Kinh là “רוּח,” (rûach), /ru-ác-kh/, H7307 và ở trong nguyên ngữ tiếng Hy-lạp của Thánh Kinh là “πνεῦμα,” (pneuma), /niu-ma/, G4151. Hai từ ngữ này có nhiều nghĩa khác nhau, tùy theo văn mạch. Trước khi tìm hiểu về tâm thần của loài người, chúng ta cần biết qua các ý nghĩa của hai từ ngữ này khi chúng được dùng trong Thánh Kinh. Nhờ đó, chúng ta sẽ không bị lầm lẫn khi tìm hiểu những câu Thánh Kinh có hai từ ngữ này, và chúng ta sẽ hiểu rõ hơn sự quan hệ giữa tâm thần của loài người với Thiên Chúa Ngôi Thánh Linh và năng lực của Thiên Chúa là Thánh Linh.

Ý Nghĩa của “rûach” và “pneuma

Cả hai từ ngữ “rûach” và “pneuma” cùng được dịch sang tiếng Anh là “spirit,” bao gồm các nghĩa khác nhau, như sau:

1. Đức Thánh Linh: Thiên Chúa Ngôi Ba, còn gọi là “Thần của Thiên Chúa” (Sáng Thế Ký 1:2), “Thần của Đức Chúa Trời” (I Cô-rinh-tô 2:11), “Thần của Đức Chúa Jesus Christ” (Phi-líp 1:19), và “Đấng Thần Linh” (Công Vụ Các Sứ Đồ 16:7). Trong thời Cựu Ước thì Đức Thánh Linh chưa hề ngự trong thân thể của con dân Chúa mà Ngài chỉ tác động vào tâm thần và xác thịt của loài người để hoàn thành mọi ý muốn của Thiên Chúa. Trong thời Tân Ước thì Đức Thánh Linh ngự trong thân thể của con dân Chúa (I Cô-rinh-tô 3:16; 6:19), ban năng lực và ân tứ cho con dân Chúa để họ có thể sống theo điều răn và luật pháp của Thiên Chúa, làm trọn mọi việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho họ làm theo (Ê-phê-sô 2:10).

Khi Thiên Chúa Ngôi Ba hành động ở bên ngoài thân thể của loài người thì Thánh Kinh gọi là Đấng Thần Linh. Khi Thiên Chúa Ngôi Ba hành động bên trong thân thể loài người thì được Thánh Kinh gọi là Đức Thánh Linh để phân biệt với tâm thần của loài người và các tà linh xâm nhập vào thân thể loài người.

Ngày nay, trong các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần chuyên về “nói tiếng lạ” và “đặt tay té ngã” người ta nhân danh Đức Thánh Linh làm ra đủ thứ chuyện nhưng thật ra chỉ là năng lực đến từ tà linh, vì tất cả các hiện tượng “nói tiếng lạ” và “đặt tay té ngã” đó hoàn toàn không có trong Thánh Kinh. Sa-tan đã lợi dụng sự kiện ân tứ nói ngoại ngữ mà Đức Thánh Linh đã ban cho các môn đồ của Chúa, được ghi lại trong Công Vụ Các Sứ Đồ 2, để mạo xưng danh Đức Thánh Linh cho hiện tượng lấp ba lấp bấp một thứ âm thanh không phải là ngôn ngữ.

2. Thánh Linh: Năng lực của Thiên Chúa được thể hiện bởi Đức Thánh Linh, được ban cho loài người bởi Đức Thánh Linh. Chúng ta chớ lẫn lộn giữa Thánh Linh là năng lực của Thiên Chúa với Đức Thánh Linh là Ngôi Ba Thiên Chúa. Trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh, khi đề cập đến Ngôi Ba Thiên Chúa thì có thêm mạo từ xác định đứng trước từ ngữ “pneuma.” Khi không có mạo từ xác định đứng trước thì chỉ về năng lực của Thiên Chúa. Thánh Kinh Việt ngữ Bản Dịch Truyền Thống đã lẫn lộn rất nhiều giữa “Thánh Linh” và “Đức Thánh Linh.” Những lỗi này đã được sửa chữa trong Bản Hiệu Đính 2012.

3. Bản chất vô hình của Thiên Chúa: Trong Thánh Kinh Việt ngữ được dịch là “Thần.” Giăng 4:24 chép về bản chất của Đức Chúa Trời như sau: “Đức Chúa Trời là Thần. Những người thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong tâm thần và lẽ thật.” Chúng ta không thể nào hiểu được bản chất vô hình của Thiên Chúa cho đến khi chúng ta được đối diện với Ngài trong cõi đời đời (I Cô-rinh-tô 13:12). Qua sự mạc khải của Chúa trong Thánh Kinh, chúng ta chỉ biết rằng: Thiên Chúa là ánh sáng, Thiên Chúa là sự sống, và Thiên Chúa là tình yêu.

4. Bản chất vô hình của thiên sứ: Trong Thánh Kinh Việt ngữ được dịch là “thần linh” Hê-bơ-rơ 11:13-14 chép về bản chất của các thiên sứ như sau: “Ngài há có bao giờ phán cùng thiên sứ nào rằng: Hãy ngồi bên hữu Ta, cho đến chừng nào Ta để kẻ thù nghịch làm bệ dưới chân ngươi? Họ há chẳng phải đều là những thần linh hầu việc, đã được sai xuống để giúp việc những người sẽ hưởng cơ nghiệp cứu rỗi hay sao?”

5. Bản chất vô hình của tà linh: Tà linh là những thiên sứ phạm tội, có thể nhập vào thân thể xác thịt của loài người. Trong Thánh Kinh Việt ngữ được dịch là “ác thần,” “quỷ,” “tà ma,” “tà linh” hoặc “thần linh.” Những câu Thánh Kinh sau đây chép về sự kiện các tà linh nhập vào thân thể xác thịt của loài người:

I Sa-mu-ên 18:10 “Ngày mai, ác thần bởi Thiên Chúa khiến nhập vào Sau-lơ…”

Ma-thi-ơ 8:16 “Đến chiều, người ta đem cho Đức Chúa Jesus nhiều kẻ bị quỷ ám, Ngài lấy lời nói mà đuổi quỷ ra; cũng chữa được hết thảy những người bịnh.”

Lu-ca 4:33 “Vả, trong nhà hội có một người bị tà ma ám, cất tiếng kêu lớn lên rằng: Hỡi Jesus Na-xa-rét!”

I Phi-e-rơ 3:19 “Vả, Đấng Christ cũng vì tội lỗi chịu chết một lần, là Đấng công bình thay cho kẻ không công bình, để dẫn chúng ta đến cùng Đức Chúa Trời; về phần xác thịt thì Ngài đã chịu chết, nhưng tâm thần được sống. Bởi (tâm thần) đó, Ngài đã đi giảng cho các thần linh ở trong ngục.”

6. Bản chất vô hình của loài người: Trong Thánh Kinh Việt ngữ được dịch là “tâm thần.”

I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23 “Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Jesus Christ chúng ta đến!”

Hê-bơ-rơ 4:12 “Vì Lời Đức Chúa Trời là Lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi phân chia linh hồn, tâm thần, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng.”

Dù Thánh Kinh dùng cùng một từ ngữ để nói về bản chất vô hình của Thiên Chúa, của các thiên sứ, của các tà linh, và của loài người nhưng có sự khác biệt lớn giữa bản chất của Thiên Chúa và bản chất của các loài thọ tạo; có sự khác biệt lớn giữa bản chất thiêng liêng của các thiên sứ và tâm thần của loài người.

7. Khuynh hướng của loài người: Trong Thánh Kinh Việt ngữ được dịch là “tâm thần.” Các khuynh hướng như “nhút nhát,” “sợ hãi,” “gan dạ,” “dũng mãnh,” vv… đều được gọi là “tâm thần” hoặc “thần trí” hoặc “tinh thần.”

II Ti-mô-thê 1:7 “Vì Đức Chúa Trời chẳng ban cho chúng ta tâm thần nhút nhát, bèn là tâm thần mạnh mẽ, có tình thương yêu và giè giữ.”

I Phi-e-rơ 3:4 “Nhưng hãy tìm kiếm sự trang sức bề trong giấu ở trong lòng, tức là sự tinh sạch chẳng hư nát của tâm thần dịu dàng im lặng, ấy là giá quý trước mặt Đức Chúa Trời.”

8. Gió:

A-mốt 4:13 “Thật, ấy là Ngài đã làm nên các núi và sáng tạo gió. Ấy là Ngài làm cho người ta biết ý tưởng riêng của mình, đổi ban mai ra tối tăm, và bước đi trên những chỗ cao trên đất. Danh Ngài là Giê-hô-va Thiên Chúa vạn quân.”

Giăng 3:8Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng, nhưng chẳng biết nó đến từ đâu và cũng không biết nó đi đâu. Hễ ai sinh bởi Đức Thánh Linh, thì cũng như vậy.”

9. Hơi thở:

Sáng Thế Ký 2:7 Giê-hô-va Thiên Chúa nắn loài người từ bụi của đất, thổi hơi thở sống vào lỗ mũi, thì loài người trở nên một linh hồn sống” (Dịch Sát Nghĩa).

II Tê-sa-lô-ni-ca 2:8 “Bấy giờ kẻ nghịch cùng luật pháp kia sẽ hiện ra, Đức Chúa Jesus sẽ dùng hơi thở của miệng Ngài mà hủy diệt nó, và trừ bỏ nó bởi sự chói sáng của sự Ngài đến.”

Trong bài này, chúng ta chỉ tìm hiểu về “tâm thần” loài người.

Đặc Tính của Tâm Thần

Dựa vào các sinh hoạt và chức năng của thân thể xác thịt trong thế giới vật chất mà chúng ta có thể hiểu được các sinh hoạt và chức năng của thân thể thiêng liêng, là tâm thần, trong thế giới thuộc linh. Chúng ta cần ghi nhớ rằng, thân thể xác thịt của chúng ta sinh hoạt trong và tương tác với thế giới thuộc thể như thế nào thì thân thể thiêng liêng của chúng ta cũng sinh hoạt trong và tương tác với thế giới thuộc linh như thế ấy.

Tâm thần giúp cho chúng ta nhìn thấy, tiếp xúc với, và cảm nhận được thế giới thuộc linh. Qua tâm thần mà chúng ta có thể:

  • Nhận thức có một Thiên Chúa, nhận thức năng lực và bản tính của Ngài (Rô-ma 1:19-20), nghe được tiếng phán của Ngài (Hê-bơ-rơ 3:7-8), biết được ý muốn của Ngài (Phi-líp 2:13). Nhìn thấy được những mạc khải từ Ngài (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:11-16; II Cô-rinh-tô 12:1-4; Khải Huyền 1:10-11).
  • Nhận thức được các tiêu chuẩn yêu thương, thánh khiết, và công bình của Thiên Chúa, đồng thời ghi khắc sự nhận thức đó trong lương tâm:

Giê-rê-mi 31:33-34 “…Ta sẽ đặt luật pháp Ta bên trong chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Thiên Chúa chúng nó, chúng nó sẽ làm dân Ta. Chúng nó ai nấy sẽ chẳng dạy kẻ lân cận mình hay là anh em mình, mà rằng: Hãy nhận biết Đức Giê-hô-va! vì chúng nó thảy đều sẽ biết Ta, kẻ nhỏ cũng như kẻ lớn…”

Hê-bơ-rơ 8:10 “Nầy là lời ước mà Ta sẽ lập với nhà I-sơ-ra-ên. Sau những ngày đó: Ta sẽ để luật pháp Ta trong trí họ và ghi tạc vào lòng; Ta sẽ làm Thiên Chúa của họ, họ sẽ làm dân Ta.”

Hê-bơ-rơ 10:16 “Chúa phán: Nầy là giao ước Ta lập với chúng nó. Sau những ngày đó, Ta sẽ để luật pháp Ta vào lòng chúng nó, và ghi tạc nơi trí khôn.”

  • Từ chỗ nhận thức Thiên Chúa và các tiêu chuẩn của Ngài, đức tin vào trong Thiên Chúa nảy sinh.
  • Đức tin vào Thiên Chúa dẫn đến sự vâng phục và thờ phượng Thiên Chúa.

Lương tâm, đức tin, và thờ phượng là ba chức năng của tâm thần loài người mà các loài thú vật không hề có.

Sự Chết của Tâm Thần

Khi loài người mới được dựng nên thì từ tâm thần, linh hồn, cho đến thể xác đều trọn lành và tốt đẹp như tất cả mọi loài thọ tạo khác. Thiên Chúa kết thúc phần ký thuật về sự sáng tạo của Ngài như sau:

Thiên Chúa thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ sáu” (Sáng Thế Ký 1:31).

Liền sau khi loài người phạm tội thì tội lỗi làm cho loài người bị phân rẽ khỏi Thiên Chúa. Từ đó, tâm thần không còn được tương giao với Thiên Chúa, và ngôn ngữ của thần học gọi đó là sự chết thuộc linh.

Từ ngữ “chết” trong Thánh Kinh luôn luôn có nghĩa là bị phân rẽ và không hề có nghĩa là bị tan biến thành hư không.

  • Sự chết thứ nhất bao gồm sự chết của tâm thần và xác thịt. Sự chết của tâm thần là tâm thần bị phân rẽ khỏi Đức Chúa Trời.Sự chết của thân thể xác thịt là sự phân rẽ của linh hồn và tâm thần khỏi thân thể xác thịt. Thân thể xác thịt trở về với bụi đất và vẫn còn đó trong thế giới vật chất, chờ ngày được sống lại. Tâm thần trở về cùng Đức Chúa Trời (Truyền Đạo 12:7). Linh hồn vào trong âm phủ (Lu-ca 16:19-31), chờ ngày thân thể xác thịt được gọi sống lại và ra trước tòa phán xét của Đức Chúa Jesus Christ (Khải Huyền 20:11-15).

Riêng đối với người ở trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ thì tâm thần và linh hồn sau khi rời khỏi thân thể xác thịt được vào trong thiên đàng, ở với Đấng Christ. Sứ Đồ Phao-lô tâm sự với các thánh đồ tại thành Phi-líp rằng: “Ví thử tôi cứ sống trong xác thịt, là ích lợi cho công khó tôi, thì tôi chẳng biết nên lựa điều chi. Tôi bị ép giữa hai bề muốn đi ở với Đấng Christ, là điều rất tốt hơn; nhưng tôi cứ ở trong xác thịt, ấy là sự cần hơn cho anh em” (Phi-líp 1:22-24). Mệnh đề “muốn đi ở với Đấng Christ” mà Phao-lô dùng trong lời tâm tình trên đây hàm ý: người ở trong Chúa sau khi ra khỏi thân thể xác thịt thì linh hồn và tâm thần được vào trong thiên đàng, ở cùng Đấng Christ; bởi vì, người ở trong Chúa là người mà tâm thần và linh hồn đã được tái sinh, được vào trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời (Giăng 3:5). Trong ngày Đấng Christ trở lại thế gian để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian thì thân thể xác thịt của những người ở trong Chúa được sống lại hoặc được biến hóa (I Cô-rinh-tô 15:51-52; I Tê-sa-lô-ni-ca 4:13-17). Khi đó, mỗi người ở trong Chúa sẽ được phục hồi cách trọn vẹn: tâm thần, linh hồn, và thể xác hiệp một trong vinh quang cho đến đời đời.

  • Sự chết thứ hai hay sự chết đời đời là sự phân rẽ khỏi mặt Chúa và năng lực của Ngài cho đến đời đời đối với những ai không tin nhận Ngài (II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9; Khải Huyền 21:8). Thân thể xác thịt của những người không tin nhận Chúa cũng sẽ được sống lại, kết hợp với linh hồn đang bị giam trong âm phủ, để ra trước tòa phán xét của Đức Chúa Jesus Christ. Sau sự phán xét thì họ bị giam vào hỏa ngục cho đến đời đời (Khải Huyền 20:11-15). Những người này sẽ chỉ là linh hồn ở trong thân thể xác thịt mà không có thân thể thiêng liêng là tâm thần, bởi vì, họ không còn ở trong sự tương giao với Thiên Chúa.

Sau khi loài người bị phân rẽ khỏi Thiên Chúa vì tội lỗi thì loài người thông công với Ma Quỷ. Trong một giới hạn nhất định, Ma Quỷ có thể tạo ra những dấu kỳ phép lạ, thậm chí có thể ban ơn và giáng họa cho những ai thờ phượng nó. Ma Quỷ mạo làm thiên sứ sáng láng (II Cô-rinh-tô 11:14), tạo ra vô số tín ngưỡng và tôn giáo để quyến dụ loài người thờ lạy hình tượng, tà thần, cùng đủ mọi loài thọ tạo, để làm nhục hình ảnh của Thiên Chúa ở trong loài người.

Đối với những người thích sống buông thả theo sự ưa thích của xác thịt thì Ma Quỷ bày ra và xúi giục họ sống cho những thú vui tội lỗi nghịch lại tiêu chuẩn yêu thương, công bình, và thánh khiết của Thiên Chúa. Đối với những người chuộng về thuộc linh thì Ma Quỷ tung ra các triết học, tín ngưỡng và tôn giáo, gọi chung là “con đường” hay là “đạo.” Mỗi người tùy ý chọn cho mình một con đường hay một đạo do Ma Quỷ đưa ra mà không biết rằng: “Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người; Nhưng cuối cùng là những lối của sự chết” (Châm Ngôn 14:12; 16:25). Điều đó được Đức Chúa Jesus Christ nói rõ trong Ma-thi-ơ 7:13-14, “Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều. Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít.”

Con đường rộng và xem dường chánh đáng trong thế gian ngày nay mà hàng triệu người đang hớn hở đi vào, chính là các sản phẩm tôn giáo mang danh Chúa. Những lời sau đây của Đức Chúa Jesus Christ, rõ ràng và sống động, âm vang trong suốt gần hai ngàn năm qua cho đến ngày nay, nhưng ít có ai quan tâm ghi nhận:

Ma-thi-ơ 7:21-23

21 Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào Vương Quốc Trời đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha Ta ở trên trời mà thôi.

22 Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhơn danh Chúa mà trừ quỷ sao? và lại nhơn danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao?

23 Khi ấy, Ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi những kẻ làm gian ác, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi Ta!

Sự Tái Sinh của Tâm Thần

Sự tái sinh của tâm thần, linh hồn, và xác thịt là một huyền nhiệm không ai có thể hiểu được. Qua những sự dạy dỗ của Thánh Kinh chúng ta biết rằng:

  • Tội lỗi dẫn đến sự chết thuộc linh và sự chết thuộc thể.
  • Ân điển cứu rỗi của Đức Chúa Trời ban cho loài người sự tái sinh thuộc linh và sự tái sinh thuộc thể.
  • Những ai tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời thì lập tức được tái sinh tâm thần và linh hồn, còn thể xác sẽ được tái sinh hoặc được biến hóa trong ngày Đức Chúa Jesus Christ trở lại để đem Hội Thánh vào trong thiên đàng.

II Cô-rinh-tô 5:17 dạy rằng: “Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới.” Từ ngữ “người được dựng nên mới” trong nguyên ngữ của Thánh Kinh là “tạo vật mới,” nghĩa là một vật được Thiên Chúa làm cho mới lại. Sự Thiên Chúa làm cho một người ở trong Đấng Christ thành ra mới được Đức Chúa Jesus Christ gọi là “sự sinh ra từ trên cao” (Giăng 3:3) mà các bản dịch Thánh Kinh thường dịch là “sự tái sinh” hoặc “được sinh lại.”

Sự tái sinh là hành động của Thiên Chúa qua thân vị Đức Thánh Linh [1]. Một người thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ, và bằng lòng sống theo Lời Chúa, xưng nhận ra bằng lời nói (Rô-ma 10:10), thì lập tức người ấy được Đức Chúa Jesus Christ dùng máu của Ngài rửa cho sạch tội (Khải Huyền 1:6), được Đức Chúa Trời tha tội, và bản ngã, tức linh hồn, cùng thân thể thiêng liêng của người ấy, tức tâm thần, được Đức Thánh Linh tái sinh.

Nhờ tâm thần được tái sinh mà một người được thông công trở lại với Thiên Chúa, được nhận thức ngày càng sâu nhiệm về Thiên Chúa và mới có thể thờ phượng Thiên Chúa một cách đẹp ý Ngài (Giăng 4:23-24). Nhờ linh hồn được tái sinh mà một người có được năng lực để sống theo Lời Chúa: “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà yêu Chúa là Đức Chúa Trời”“yêu kẻ lân cận như mình” (Mác 12:30-31).

Các Quan Điểm Sai Lầm về Tâm Thần

Có hai quan điểm sai lầm về tâm thần dẫn đến sự hiểu biết không đúng về bản thể, bản chất, và bản tính của loài người như đã được bày tỏ trong Thánh Kinh.

Quan điểm thứ nhất cho rằng tâm thần với linh hồn là một, nói cách khác, quan điểm này cho rằng linh hồn tức là tâm thần và tâm thần tức là linh hồn, là bản ngã vô hình của một người. Trong bài kế tiếp, trình bày về ý nghĩa của những câu Thánh Kinh liên quan đến tâm thần, chúng ta sẽ thấy rõ quan điểm này không đúng với lẽ thật được bày tỏ trong Thánh Kinh.

Quan điểm thứ hai cho rằng tâm thần tức là sự sống hay sức sống ở trong thân thể xác thịt, người Giê-hô-va Chứng Nhân gọi là “sinh hoạt khí.” Đây là sự áp dụng ý nghĩa của một từ ngữ không đúng theo văn mạch. Như đã nói, cả hai từ ngữ “rûach” và “pneuma” trong Thánh Kinh, cùng được dịch sang tiếng anh là “spirit,” vừa có nghĩa là “hơi thở” để chỉ về sự sống đang vận hành trong một thân thể xác thịt, vừa có nghĩa là “tâm thần” để chỉ về bản thể thiêng liêng của loài người; nếu chỉ dựa vào một ý nghĩa để giải kinh thì sẽ dẫn đến sự sai lầm nghiêm trọng.

Kết Luận

Loài người là một vật sống do Thiên Chúa dựng nên cách lạ lùng theo hình Ngài và giống như Ngài trong thế giới thuộc thể lẫn thế giới thuộc linh. Vì thế, loài người có thân thể vật chất lẫn thân thể thiêng liêng. Thân thể thiêng liêng của loài người được gọi là tâm thần. Thân thể xác thịt nhận thức và sinh hoạt trong thế giới vật chất như thế nào thì tâm thần cũng nhận thức và sinh hoạt trong thế giới thuộc linh như thế ấy. Tội lỗi khiến cho tâm thần bị phân rẽ khỏi Thiên Chúa, bị Ma Quỷ dẫn dụ thông công với thế giới của tà linh và thờ phượng tà linh. Sự phân rẽ của tâm thần ra khỏi Thiên Chúa tức là sự chết thuộc linh.

Khi một người thật lòng ăn năn tội, tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ thì tâm thần được tái sinh, mối tương giao với Thiên Chúa được phục hồi. Nhờ đó, loài người có năng lực sống theo Lời Chúa và hiểu biết Thiên Chúa càng hơn, có thể thờ phượng Thiên Chúa theo như ý muốn của Thiên Chúa.

Mọi lẽ thật cần biết về tâm thần đã được Thiên Chúa giải bày trong Thánh Kinh. Tất cả những quan điểm thần học và giáo lý về tâm thần mà không đúng theo sự dạy dỗ của Thánh Kinh đều là tà giáo, ra từ Sa-tan để dẫn loài người xa rời lẽ thật của Lời Chúa.

Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Jesus Christ chúng ta đến! Đấng đã gọi anh em là Đấng thành tín, chính Ngài sẽ làm việc đó” (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23-24).

Huỳnh Christian Timothy
27.10.2012

Ghi Chú

[1] Xem các bài viết về sự tái sinh tại đây: http://thanhoc.timhieutinlanh.net/node/264

http://thanhoc.timhieutinlanh.net/node/265

[A] Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Quý bạn có thể đọc trên mạng: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

[B] Dùng các nối mạng dưới đây để tra xem ý nghĩa trong Anh ngữ và nghe cách phát âm của một từ ngữ Hê-bơ-rơ trên Internet:

[C] Dùng các nối mạng dưới đây để tra xem ý nghĩa trong Anh ngữ và nghe cách phát âm của một từ ngữ Hy-lạp trên Internet:


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Đọc Tiếp →
3,477 views

Loài Người (02): Linh Hồn

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?3so7k1kv4rok3fx

Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/1017

Dẫn Nhập

Danh từ “linh hồn” trong tiếng Việt chỉ về bản ngã của loài người, được cho là phần thiêng liêng vô hình, vẫn tồn tại sau sự chết của thể xác. Hầu hết các dân tộc khác cũng tin như vậy. Mặc dù quan niệm về linh hồn của mỗi dân tộc hoặc mỗi tín ngưỡng, tôn giáo có những điểm khác nhau; nhưng hầu như có một điểm chung, là tin rằng, sau khi thể xác chết đi, linh hồn sẽ nhận lãnh sự thưởng phạt cho mỗi việc một người đã làm ra, trong lúc linh hồn còn ở trong thân thể xác thịt. Triết lý của Phật Giáo dầu phủ nhận linh hồn nhưng vẫn tin rằng, tùy theo những việc làm thiện hay ác trong khi còn sống, mà một người sau khi chết sẽ tái sinh vào những cảnh đời tốt xấu khác nhau. Sự tái sinh và chuyển kiếp đó, được Phật Giáo gọi là luân hồi trong vòng sinh tử, và cho rằng, có thể kéo dài đến hằng hà sa số kiếp (nhiều như cát trên bờ sông Hằng ở Ấn-độ).

Quan niệm hay tín ngưỡng sai lầm về linh hồn dẫn đến những sự mê tín, dị đoan, cúng thờ người chết hoặc thông linh với người chết (cầu hồn); đồng thời dẫn đến việc xem thường mạng sống của người khác và của chính mình. Thí dụ: Người tin vào thuyết luân hồi sẽ dễ dàng chọn sự tự tử để tránh khỏi những hoàn cảnh quá đau khổ ngay trước mắt, hy vọng có thể làm lại cuộc đời trong một kiếp khác. Người tin vào thuyết luân hồi cũng có thể dững dưng trước sự bất hạnh của những người khác, vì cho rằng những người đó đang chịu khổ để đền bù cho những việc ác mà họ đã làm trong các kiếp trước. Nếu cứu giúp họ, thì sẽ làm cản trở việc đền tội của họ, khiến cho họ chậm tái sinh vào một kiếp sống tốt hơn.

Điều quan trọng, là nếu một người không có sự hiểu biết đúng về linh hồn và ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời, thì người ấy sẽ bị hư mất đời đời trong hỏa ngục. Chắc chắn là Sa-tan dự phần đắc lực trong việc tạo ra các triết lý và tôn giáo giảng dạy sai lầm về linh hồn.

Thánh Kinh gọi mỗi vật sống có hơi thở là một sanh linh, nghĩa là các loài thú và loài người đều là những linh hồn sống. Tuy nhiên, xác thịt của loài thú khác với xác thịt của loài người như thế nào, thì linh hồn loài thú cũng khác với linh hồn loài người như thế ấy. Trước khi đi vào chi tiết những gì Thánh Kinh dạy về linh hồn loài người, chúng ta cần tìm hiểu ý nghĩa của từ ngữ “linh hồn” được dùng trong Thánh Kinh.

Ý Nghĩa của Từ Ngữ Linh Hồn Trong Thánh Kinh

Chúng ta đã biết, ngoại trừ khoảng 250 câu được viết bằng tiếng A-ra-mai [1], phần còn lại củaThánh Kinh được viết bằng hai ngôn ngữ cổ. Cựu Ước được viết bằng tiếng Hê-bơ-rơ và Tân Ước được viết bằng tiếng Hy-lạp. Từ ngữ “linh hồn” trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là “nephesh,” /né-phit-sh/, H5315. Trong nguyên ngữ Hy-lạp là “psuchē,” /xu-khê/, G5590. Cả hai từ ngữ này đều mang nhiều nghĩa khác nhau, tùy theo văn mạch:

1. Khi đi kèm với tính từ “sống” có thể dịch là “sanh linh” hoặc “linh hồn sống để gọi chung linh hồn và thể xác:”

Thiên Chúa lại phán rằng: Nước phải sanh các sanh linh cho nhiều, và các loài chim phải bay trên mặt đất trong khoảng không trên trời” (Sáng Thế Ký 1:20).

Thiên Chúa sáng tạo các loài cá lớn, các sanh linh nhờ nước mà sanh nhiều ra, tùy theo loại, và các loài chim hay bay, tùy theo loại. Thiên Chúa thấy điều đó là tốt lành” (Sáng Thế Ký 1:21).

Thiên Chúa lại phán rằng: Đất phải sanh các sanh linh tùy theo loại, tức súc vật, côn trùng, và thú rừng, đều tùy theo loại; thì có như vậy” (Sáng Thế Ký 1:24).

Giê-hô-va Thiên Chúa bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh(Sáng Thế Ký 2:7).

Xem thêm: Sáng Thế Ký 2:19; 9:10, 12, 15-16 (Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012 [A]).

Qua những câu Thánh Kinh trên đây, chúng ta thấy các loài sinh vật trong nước, các loài súc vật, côn trùng, thú rừng, và loài người đều được gọi là hồn sống hoặc sanh linh. Thánh Kinh Việt ngữ Bản Dịch Truyền Thống dùng danh từ “vật sống” trong các câu Sáng Thế Ký 1:20, 21, 24; 9:10, 12 và dùng nhóm chữ “các loài xác thịt có sự sống” trong các câu Sáng Thế Ký 9:15-16 cho loài vật và chỉ dùng danh từ “sanh linh” cho loài người trong Sáng Thế Ký 2:7. Phân biệt như vậy là không đúng; bởi vì, trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ Thánh Kinh chỉ dùng chung một danh từ ghép “chay,” /khai/, H2416 (sống) “nephesh,” /né-phit-sh/, H5315 (linh hồn) cho cả các loài vật và loài người. Thánh Kinh Việt ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012 đã sửa chữa lỗi này [A].

2. Có thể dịch là “mạng sống,” “sự sống:”

sanh mạng của xác thịt ở trong máu; Ta đã cho các ngươi máu rưới trên bàn thờ đặng làm lễ chuộc tội cho linh hồn của các ngươi; vì nhờ máu mà chuộc tội cho linh hồn” (Lê-vi Ký 17:11).

Giô-na-than kết giao ước cùng Đa-vít, bởi vì yêu mến người như mạng sống mình” (I Sa-mu-ên 18:3).

Đức Chúa Jesus bèn phán cùng môn đồ rằng: Ấy vậy, Ta nói cùng các ngươi, đừng vì sự sống mình mà lo đồ ăn, cũng đừng vì thân thể mình mà lo đồ mặc” (Lu-ca 12:22).

Xem thêm: Lê-vi Ký 17:14; II Sa-mu-ên 14:7; E-xơ-tê 8:11; Công Vụ Các Sứ Đồ 20:10.

3. Có thể dịch là “linh hồn” để chỉ về phần vô hình thuộc linh, tức bản ngã của loài người:

Vì Chúa sẽ chẳng bỏ linh hồn tôi trong âm phủ, Cũng không để người thánh Chúa thấy sự hư nát” (Thi Thiên 16:10).

Đừng sợ kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn; nhưng thà sợ Đấng làm cho mất được linh hồn và thân thể trong địa ngục” (Ma-thi-ơ 10:28).

Khi Ngài tháo dấu ấn thứ năm, tôi thấy dưới bàn thờ có linh hồn những kẻ đã bị giết vì Lời của Đức Chúa Trời và vì chứng cớ mà họ đã giữ lấy” (Khải Huyền 6:9).

Xem thêm: Phục Truyền Luật Lệ Ký 11:13; Thi Thiên 30:3; 84:2; 139:14; Ê-sai 26:9; 53:10; Ma-thi-ơ 11:29; 16:26; 22:37; Lu-ca 1:46; Lu-ca 21:19; Công Vụ Các Sứ Đồ 2:27; 4:32; 14:2, 22; II Cô-rinh-tô 5:3-4; Ê-phê-sô 6:6; Phi-líp 1:27; I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23; Hê-bơ-rơ 4:12; 6:19; 10:39; 12:3; I Phi-e-rơ 2:11; III Giăng 2; Khải Huyền 20:4.

Ngoài nghĩa rộng là “sinh mạng” hay “sự sống,” từ ngữ linh hồn khi được dùng cho loài người có ý nói đến một thực thể gọi là loài người, được Thiên Chúa sáng tạo cách đặc biệt. Linh hồn chính là loài người. Hai câu dưới đây đều có cùng một nghĩa như nhau:

(1) A-đam có một thân thể xác thịt ra từ bụi đất và một thân thể thiêng liêng, gọi là tâm thần, ra từ hơi thở sống của Thiên Chúa.

(2) Linh hồn A-đam có một thân thể xác thịt ra từ bụi đất và một thân thể thiêng liêng, gọi là tâm thần, ra từ hơi thở sống của Thiên Chúa.

Không phải A-đam có linh hồn, có thân thể xác thịt, và có thân thể thiêng liêng, mà là A-đam chính là một linh hồn; linh hồn đó có một thân thể xác thịt và một thân thể thiêng liêng. Trong Thánh Kinh chúng ta vẫn thường gặp cách dùng chữ “linh hồn của tôi.” Tuy nhiên, ý nghĩa của nhóm chữ đó không có nghĩa là “tôi có một linh hồn;” mà có nghĩa là “mạng sống của tôi” hoặc “trong nơi sâu kín của bản ngã tôi.”

Khi Đức Chúa Jesus Christ phán: “Linh hồn Ta buồn bực cho đến chết!” (Ma-thi-ơ 26:38) là Ngài muốn nói rằng, sự buồn bực thấm sâu vào tận nơi sâu kín của bản ngã Ngài, tức là sự buồn bực bao phủ mọi suy tư, tình cảm, và ý chí của Chúa.

Nguồn Gốc của Linh Hồn

Linh hồn loài người lần đầu tiên xuất hiện chỉ có một, do sự sáng tạo của Thiên Chúa. Thánh Kinh chép rằng:

Sáng Thế Ký 2:7“Giê-hô-va Thiên Chúa nắn loài người từ bụi của đất, thổi hơi thở sống vào lỗ mũi, thì loài người trở nên một linh hồn sống” (Dịch Sát Nghĩa).

Sự so sánh sau đây dù không hoàn hảo, nhưng phần nào giúp cho chúng ta có thể hiểu về sự hình thành của linh hồn:

Điện lực từ máy phát điện, qua dây dẫn điện, vào trong bóng đèn điện, làm cho tim đèn được đốt nóng và phát ra ánh sáng. Nếu vì một lý do gì, dây dẫn điện bị cắt hoặc bóng điện bị vỡ thì ánh sáng không còn phát ra, nhưng ánh sáng đã phát ra trước đó thì vẫn còn lại và đi mãi vào không gian với tốc độ 300,000 km một giây đồng hồ.

Hơi thở sống của Thiên Chúa được thổi vào trong hình thể nắn từ bụi đất, khiến cho hình thể bụi đất biến thành hình thể xác thịt, cùng lúc, hơi sống của Thiên Chúa biến thành hình thể thiêng liêng, tức là tâm thần ở trong xác thịt. Khi thân thể thiêng liêng và thân thể xác thịt hòa nhập thì linh hồn lập tức phát sinh. Một khi đã phát sinh thì linh hồn còn lại cho đến đời đời với một trong hai trạng thái: (1) trạng thái sống là được tương giao đời đời với Thiên Chúa hoặc (2) trạng thái chết là bị tội lỗi phân cách đời đời khỏi Thiên Chúa.

Linh hồn A-đam được sáng tạo trực tiếp bởi Thiên Chúa. Linh hồn Ê-va được Thiên Chúa làm nên từ linh hồn A-đam. Còn lại, linh hồn mỗi người trong thế gian được sinh ra bởi cha mẹ của mình. Sau khi A-đam và Ê-va phạm tội thì mỗi người được sinh ra trong thế gian đều nhận sự di truyền của tội lỗi. Vì thế, mỗi linh hồn sau A-đam và Ê-va, đều mang bản tính tội lỗi và mỗi linh hồn đương nhiên ở trong địa vị hư mất, tức là bị phân rẽ đời đời khỏi Thiên Chúa. Điều này ngoại trừ linh hồn của Đức Chúa Jesus mà chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu trong bài “Thần Tính và Nhân Tính của Đức Chúa Jesus Christ.”

Khi Đức Chúa Jesus Christ hoàn thành công cuộc cứu chuộc nhân loại trên thập tự giá thì mọi tội lỗi của loài người được tha:

  • Tội lỗi và sự chết đời đời truyền từ A-đam đương nhiên được tha thứ, vì thế Đức Chúa Jesus Christ phán: “…Vương Quốc của Đức Chúa Trời thuộc về những kẻ giống như con trẻ” (Ma-thi-ơ 19:14; Mác 10:14; Lu-ca 18:16). Nghĩa là trẻ con, nếu qua đời trước khi tự mình phạm tội, thì đương nhiên được vào Vương Quốc của Đức Chúa Trời.
  • Riêng tội lỗi do mỗi linh hồn tự làm ra thì mỗi linh hồn phải ăn năn, xưng nhận, và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ, mới được Ngài tha tội và làm cho sạch tội.

Có hai lý thuyết thần học sai lầm về nguồn gốc của linh hồn như sau:

1. Thuyết Sáng Tạo: Thuyết này cho rằng, mỗi khi có sự đậu thai thì Thiên Chúa sáng tạo một linh hồn và linh hồn ấy lập tức kết hợp với thân thể xác thịt. Linh hồn mới được sáng tạo thì vô tội nhưng khi kết hợp với thể xác thì lập tức bị nhiễm tội từ thể xác.

Lý thuyết này có những sai lầm nghịch lại với lẽ thật của Thánh Kinh:

a) Thiên Chúa đã ngưng sự sáng tạo vào cuối ngày thứ sáu của công cuộc sáng thế, không thể có chuyện Thiên Chúa sáng tạo thêm một điều gì.

b) Thiên Chúa là công chính, Ngài không thể sáng tạo một linh hồn vô tội, đem kết hợp với một thân thể xác thịt tội lỗi, khiến cho linh hồn đó thành ra có tội.

c) Tội lỗi do linh hồn điều khiển thân thể xác thịt làm ra, không phải do thân thể xác thịt lây nhiễm cho linh hồn.

2. Thuyết Tiền Thực Hữu: Thuyết này cho rằng linh hồn của loài người đã được Thiên Chúa dựng nên từ trước và chứa trong một nơi đặc biệt trên thiên đàng; khi có sự đậu thai thì linh hồn được Thiên Chúa sai nhập vào thân thể xác thịt.

Lý thuyết này không giải thích được, vì sao một linh hồn vô tội lại chịu án phạt chung của A-đam như Rô-ma 5:19 đã chép: “Vì, như bởi sự không vâng phục của một người mà mọi người khác đều thành ra kẻ có tội.”

Mọi người khác thành ra kẻ có tội như A-đam vì được sinh ra từ A-đam và nhận sự di truyền của tội lỗi từ A-đam. Một người tức là một linh hồn ở trong thân thể thiêng liêng là tâm thần và ở trong thân thể vật chất là xác thịt. Một người được sinh ra tức là một linh hồn được sinh ra trong một thân thể thiêng liêng và một thân thể vật chất, nhận lãnh sự di truyền về thuộc thể cũng như thuộc linh từ cha mẹ.

Hê-bơ-rơ 7:10 cho biết, cháu đời thứ tư của Áp-ra-ham, là Lê-vi, đã thực hữu cùng Áp-ra-ham khi Áp-ra-ham giao tiếp với Thầy Tế Lễ Mên-chi-xê-đéc hàng trăm năm trước khi Lê-vi được sinh ra: “vì lúc Mên-chi-xê-đéc đi đón tiên tổ, thì Lê-vi còn ở trong lòng tổ phụ.” Nói cách khác, toàn thể nhân loại đã cùng một lúc được Thiên Chúa sáng tạo trong A-đam.

Đặc Tính của Linh Hồn

Đặc tính của linh hồn chính là các bản tính của loài người, đó là:

  • Loài người biết suy tư
  • Loài người biết cảm xúc
  • Loài người biết quyết định

Linh hồn nhờ thân thể vật chất là xác thịt mà nhận thức được thế giới vật chất, nhờ thân thể thiêng liêng là tâm thần mà nhận thức được thế giới thuộc linh. Sau khi có nhận thức thì linh hồn suy tư để phân tích, đánh giá, và hệ thống các sự nhận thức của mình. Sự suy tư đem đến trí thức và cảm xúc. Rồi, linh hồn dựa trên trí thức và cảm xúc để đưa ra những quyết định, gọi là ý chí.

  • Kết quả thứ nhất của suy tư được gọi là trí hay trí thức, là sự phân biệt đúng hay sai và đánh giá mọi sự.
  • Kết quả thứ nhì của suy tư được gọi là lòng hay tấm lòng, là sự cảm xúc đối với mọi sự.
  • Sự quyết định được gọi là ý hay ý chí, là thái độ đối với mọi sự. Ý chí có thể hoàn toàn dựa trên trí thức hoặc hoàn toàn dựa trên cảm xúc hoặc được quân bình giữa trí thức và cảm xúc.

Thánh Kinh có những lúc dùng các chữ trí, lòng, và ý để nói đến ba phương diện của linh hồn. Khi chúng ta gặp những chữ này đi chung với từ ngữ linh hồn trong một câu Thánh Kinh thì từ ngữ linh hồn chỉ có nghĩa là “mạng sống” hoặc “sự sống.” Chúng ta hãy cùng nhau xem xét những câu Thánh Kinh được liệt kê dưới đây:

Phục Truyền Luật Lệ Ký 11:13 “Vậy, nếu các ngươi chăm chỉ nghe các điều răn ta truyền cho các ngươi ngày nay, hết linh hồn, hết ý kính mến Giê-hô-va Thiên Chúa ngươi, và phục sự Ngài…”

Câu trên do Môi-se nói cùng dân I-sơ-ra-ên, có nghĩa là: Nếu các ngươi cẩn thận lắng nghe các điều răn của Thiên Chúa mà ta đang truyền lại cho các ngươi, rồi sẵn sàng hy sinh mạng sống mình trong sự quyết định yêu kính Giê-hô-va Thiên Chúa của các ngươi và phục sự Ngài…

Mác 12:30 “Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà yêu Chúa là Đức Chúa Trời ngươi.”

Câu trên là lời Đức Chúa Jesus Christ trích dẫn từ Phục Truyền Luật Lệ Ký 11:13, có thêm hai từ ngữ: “hết lòng” và “hết sức.” Câu phán của Chúa có nghĩa là: Ngươi hãy dành hết mọi tình cảm, sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình, trong mọi nhận thức và suy tư của mình, bằng hết cả sức mạnh của thân thể mình mà yêu kính Giê-hô-va là Thiên Chúa của ngươi.

Sự Nhiễm Tội của Linh Hồn

Ngoại trừ linh hồn A-đam và linh hồn Ê-va được sáng tạo và dựng nên hoàn toàn vô tội, cho đến khi họ tự ý phạm tội, mỗi linh hồn đều nhiễm tội từ cha mình.

Khi một thai nhi hình thành trong lòng mẹ, thì tâm thần và linh hồn từ người cha kết hợp với chất liệu xác thịt từ người mẹ, sinh ra một linh hồn và một tâm thần mới trong một thân thể xác thịt mới. Ngay trong khoảnh khắc vừa thực hữu đó, linh hồn đã mang luôn bản chất tội di truyền từ cha. Thánh Kinh chép:

Thi Thiên 51:5 “Kìa, tôi sanh ra trong sự gian ác, mẹ tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi.”

Sanh ra trong sự gian ác là sanh ra trong hậu quả của tội lỗi. Hoài thai trong tội lỗi là thai nhi được tạo thành trong môi trường bị lây nhiễm tội.

Vì được sinh ra trong hậu quả của tội lỗi mà mỗi một người được sinh ra phải chịu đau khổ và chịu chết. Chết thuộc thể lẫn chất thuộc linh. Chết thuộc thể vì thể xác bị hậu quả của tội lỗi làm cho già yếu, phải phân rẽ khỏi linh hồn. Chết thuộc linh vì hậu quả của tội lỗi khiến cho tâm thần và linh hồn bị phân rẽ khỏi Thiên Chúa.

Thánh Kinh cũng dạy rõ:

Rô-ma 5:12 “Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội.”

Vì được hoài thai trong tội lỗi mà mỗi người một người được sinh ra đã mang bản chất tội, khi lớn lên đương nhiên suy nghĩ tội, nói tội, và làm tội. Điều đó tương tự như loài rắn độc khi sinh ra đã mang bản chất có nọc độc, lúc còn bé thì nọc độc chưa phát triển nhưng khi trưởng thành thì nọc độc tự nhiên kết thành.

Bản chất tội luôn luôn đối nghịch với tiêu chuẩn thánh khiết mà Đức Chúa Trời đã đặt để trong lương tâm của một người. Nếu một người không tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời thì bản chất tội sẽ dần dần làm cho lương tâm của người ấy bị chai lỳ, không còn ngay thẳng.

Thuyết Linh Hồn Ngủ

Thuyết linh hồn ngủ cho rằng, sau khi một người chết về phần thể xác thì linh hồn cũng ngưng hoạt động, không còn ý thức. Thuyết này dựa trên các câu Thánh Kinh sau đây để cho rằng khi thể xác chết thì linh hồn ngủ, mà đã ngủ thì không còn ý thức:

I Cô-rinh-tô 15:20 “Nhưng bây giờ, Đấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, Ngài là trái đầu mùa của những kẻ ngủ.”

I Tê-sa-lô-ni-ca 4:14-15 “Hỡi anh em, chúng tôi chẳng muốn anh em không biết về phần người đã ngủ, hầu cho anh em chớ buồn rầu như người khác không có sự trông cậy. Vì nếu chúng ta tin Đức Chúa Jesus đã chết và sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những kẻ ngủ trong Đức Chúa Jesus cùng đến với Ngài.”

Tuy nhiên, chữ “ngủ” trong các câu Thánh Kinh nói trên chỉ về phần thân thể xác thịt, không phải chỉ về linh hồn. Nhiều nơi trong Thánh Kinh cho chúng ta biết, linh hồn có thể tồn tại độc lập với thân thể xác thịt và vẫn có sự nhận thức. Trước hết là câu chuyện về người giàu và người ăn mày do chính Đức Chúa Jesus Christ kể, được ghi lại trong Lu-ca 16:19-31:

19 Có một người giàu mặc áo tía và áo bằng vải gai mịn, hằng ngày ăn ở rất là sung sướng.

20 Lại có một người nghèo, tên là La-xa-rơ, nằm ngoài cửa người giàu đó, mình đầy những ghẻ.

21 Người ước ao được ăn những đồ ở trên bàn người giàu rớt xuống; cũng có chó đến liếm ghẻ người.

22 Vả, người nghèo chết, thiên sứ đem để vào lòng Áp-ra-ham; người giàu cũng chết, người ta đem chôn.

23 Người giàu ở nơi âm phủ đang bị đau đớn, ngước mắt lên, xa thấy Áp-ra-ham, và La-xa-rơ trong lòng người;

24 bèn kêu lên rằng: Hỡi Áp-ra-ham tổ tôi, xin thương lấy tôi, sai La-xa-rơ nhúng đầu ngón tay vào nước đặng làm cho mát lưỡi tôi; vì tôi bị khổ trong lửa nầy quá đỗi.

25 Nhưng Áp-ra-ham trả lời rằng: Con ơi, hãy nhớ lúc ngươi còn sống đã được hưởng những sự lành của mình rồi, còn La-xa-rơ phải những sự dữ; bây giờ, nó ở đây được yên ủi, còn ngươi phải bị khổ hình.

26 Vả lại, có một vực sâu ở giữa chúng ta với ngươi, đến nỗi ai muốn từ đây qua đó không được, mà muốn từ đó qua đây cũng không được.

27 Người giàu nói rằng: Tổ tôi ơi! vậy thì xin sai La-xa-rơ đến nhà cha tôi,

28 vì tôi có năm anh em, đặng người làm chứng cho họ về những điều nầy, kẻo họ cũng xuống nơi đau đớn nầy chăng.

29 Áp-ra-ham trả lời rằng: Chúng nó đã có Môi-se và các đấng tiên tri; chúng nó phải nghe lời các đấng ấy!

30 Người giàu nói rằng: Thưa Áp-ra-ham tổ tôi, không phải vậy đâu; nhưng nếu có kẻ chết sống lại đến cùng họ, thì họ sẽ ăn năn.

31 Song Áp-ra-ham rằng: Nếu không nghe Môi-se và các đấng tiên tri, thì dầu có ai từ kẻ chết sống lại, chúng nó cũng chẳng tin vậy.

Chúng ta cần chú ý điều này: Câu chuyện kể trên không phải là một ngụ ngôn hay thí dụ, mà là một câu chuyện có thật. Chúa kể cho các môn đồ của Ngài một sự thật về số phận của hai người sau khi chết. Bởi vì, trong tất cả các ngụ ngôn và thí dụ của Chúa, Ngài không hề đặt tên cho các nhân vật. Nếu Chúa đặt tên cho một nhân vật nào đó trong các thí dụ hoặc ngụ ngôn của Ngài, thì Ma Quỷ sẽ có lý do để tuyên bố rằng, Chúa nói dối, bởi vì, không hề có một người tên đó làm ra những việc như vậy. Thánh Kinh cho biết “trong miệng Ngài không thấy có chút chi dối trá” (I Phi-e-rơ 2:22).

Kế tiếp là sự kiện Môi-se và Ê-li cùng hiện ra trên núi hóa hình với Chúa và trò chuyện với Chúa về sự chết của Ngài, được ghi lại trong Ma-thi-ơ 17:1-3; Mác 9:2-4; Lu-ca 9:30-31. Tiên Tri Ê-li đang còn sống được cất lên trời trong một cơn gió lốc (II Các Vua 2:1, 11) nhưng Môi-se là người đã chết và xác của ông đã được thiên sứ trưởng tranh dành với Ma Quỷ để chôn cất (Phục Truyền Luật Lệ Ký 34:6; Giu-đe 9). Trong sự kiện hai người hiện ra trên núi hóa hình và trò chuyện với Đức Chúa Jesus Christ về sự chết của Ngài, chúng ta thấy rõ là Môi-se có ý thức. Có giả thuyết cho rằng lúc bấy giờ thân thể xác thịt của Môi-se đã được phục sinh, tuy nhiên, Thánh Kinh dạy rõ, Đức Chúa Jesus Christ là trái đầu mùa của sự sống lại, cho nên không thể có chuyện Môi-se được sống lại trong một thân thể vinh quang trước Chúa:

I Cô-rinh-tô 15:20 “Nhưng bây giờ, Đấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, Ngài là trái đầu mùa của những kẻ ngủ.”

I Cô-rinh-tô 15:23 “Nhưng mỗi người theo thứ tự riêng của mình: Đấng Christ là trái đầu mùa; rồi tới ngày Đấng Christ đến, những kẻ thuộc về Ngài sẽ sống lại.”

Trước khi thân thể xác thịt của Đức Chúa Jesus Christ sống lại từ trong sự chết một cách vinh quang thì đã có nhiều người đã từ kẻ chết sống lại. Điển hình là vài ngày trước khi Đức Chúa Jesus Christ chịu chết thì Ngài đã khiến cho La-xa-rơ đã chết bốn ngày được sống lại (Giăng 11); và khi Ngài trút hơi thở cuối cùng trên thập tự giá thì có nhiều thánh đồ qua đời trước đó đã được sống lại (Ma-thi-ơ 27:52). Tuy nhiên, những sự sống lại đó không phải là sống lại trong một thân thể vinh quang không còn phải chết nữa, như sự sống lại của Đức Chúa Jesus Christ. Vì thế, Đức Chúa Jesus Christ là trái đầu mùa của sự sống lại cho những ai ở trong Ngài, để họ cũng được sống lại trong một thân thể siêu vật chất và không hề trải qua sự chết nữa, như chính thân thể phục sinh của Ngài. Gọi là thân thể siêu vật chất vì thân thể đó vẫn được hình thành từ vật chất nhưng không còn bị giới hạn bởi những định luật vật lý thông thường.

Cuối cùng, Khải Huyền 6:9-11 cho biết linh hồn của những người tử đạo ở dưới bàn thờ trong thiên đàng và kêu cầu sự báo thù của Đức Chúa Trời về những kẻ bách hại họ. Những linh hồn này có ý thức và còn được ban cho áo dài trắng (có thể hiểu là sự vinh hiển phát ra từ thân thể thiêng liêng của họ):

9 Khi Ngài tháo dấu ấn thứ năm, tôi thấy dưới bàn thờ có hồn những kẻ đã bị giết vì Lời của Đức Chúa Trời và vì chứng cớ mà họ đã giữ lấy.

10 Họ kêu lớn tiếng rằng: "Lạy Chúa, Đấng Thánh và Chân Thật! Ngài không phán xét và báo trả cư dân trên đất về máu của chúng tôi cho đến khi nào?"

11 Mỗi người trong họ được ban cho áo dài trắng và có lời phán với họ rằng, hãy yên nghỉ thêm một thời gian ngắn cho đến khi những tôi tớ đồng công với họ cũng là anh em với họ sẽ bị giết như họ, được đủ số.

Thuyết linh hồn ngủ hoàn toàn không đúng với lẽ thật được trình bày trong Thánh Kinh. Hai giáo phái lớn tin nhận thuyết linh hồn ngủ là Cơ-đốc Phục Lâm và Chứng Nhân Giê-hô-va.

Sự Vĩnh Cửu của Linh Hồn

Cơ-đốc Phục Lâm và Chứng Nhân Giê-hô-va cũng không tin vào sự vĩnh cửu của linh hồn. Họ tin rằng chỉ những ai ở trong sự cứu rỗi, được ban cho sự sống đời đời thì mới còn lại đời đời; những ai không ở trong sự cứu rỗi thì sẽ bị hình phạt trong hỏa ngục về tội lỗi của mỗi người cho đến khi hình phạt được hoàn tất thì những linh hồn bị hư mất đó sẽ tan biến thành hư không, nghĩa là không tồn tại, không ý thức.

Tuy nhiên, Thánh Kinh cho biết Thiên Chúa đã đặt sự đời đời ở trong loài người, nghĩa là, loài người sẽ tồn tại đời đời:

Truyền Đạo 3:11 “…Ngài khiến cho sự đời đời ở nơi lòng loài người.”

Như đã trình bày trên đây, chữ “lòng” được Thánh Kinh dùng để nói về phương diện cảm xúc của linh hồn. Thiên Chúa khiến cho sự đời đời ở nơi lòng loài người có nghĩa là, tất cả mọi cảm xúc của linh hồn loài người sẽ diễn tiến cho đến đời đời. Sự chết của thân thể xác thịt không làm cho linh hồn thôi cảm xúc. Trong câu chuyện người giàu và người ăn mày tên La-xa-rơ chúng ta thấy rõ linh hồn của người giàu vẫn:

  • Có ký ức, ông ta còn nhớ rằng mình có năm anh em đang còn sống trong xác thịt.
  • Có tình cảm, ông ta không muốn cho các anh em của mình phải chịu cùng cảnh ngộ như mình.
  • Có nhận thức và cảm giác, ông ta biết nóng và biết khổ, cũng biết suy luận rằng, nếu La-xa-rơ sống lại và đến nhà cha của ông để làm chứng cho năm anh em của ông thì có thể họ sẽ không bị vào nơi khổ hình sau khi chết.
  • Có ý chí, ông ta biết nài nỉ, van xin Áp-ra-ham.

Khải Huyền 20:10 nói rõ, Ma Quỷ, tức là Sa-tan (một thiên sứ trưởng phản nghịch Thiên Chúa), Anti-Christ và tiên tri giả của Anti-Christ (loài người), sẽ chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời:

Ma Quỷ là kẻ lừa dối chúng bị ném vào hồ lửa và lưu hoàng, nơi có con thú và tiên tri giả. Chúng sẽ bị đau khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời.”

Nếu linh hồn loài người không tồn tại cho đến đời đời thì làm sao Anti-Christ và tiên tri giả của hắn có thể ”sẽ bị đau khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời?”

Sự chết thứ hai hay sự chết đời đời chỉ có nghĩa là sự bị phân rẽ đời đời khỏi Đức Chúa Trời, chứ không có nghĩa là thôi thực hữu, ngưng tồn tại. Mọi sự do Thiên Chúa dựng nên đều sẽ tồn tại đời đời trong các trạng thái khác nhau ở mỗi thời kỳ khác nhau, không một sự gì có thể tan biến trở thành hư không; vì Thiên Chúa là Đấng đời đời, mọi sự ra từ Ngài hoặc được sáng tạo bởi Ngài phải còn lại đời đời. Trong mọi sự do Thiên Chúa sáng tạo, linh hồn và thân thể loài người là cao quý hơn hết, cao quý hơn cả các thiên sứ, vì được sáng tạo như hình Thiên Chúa, giống như Thiên Chúa, để làm con Thiên Chúa và cùng đồng trị với Thiên Chúa cho đến đời đời.

Kết Luận

Qua Thánh Kinh chúng ta học biết được những lẽ thật về linh hồn, bao gồm: nguồn gốc và mục đích của linh hồn, địa vị của linh hồn trước mặt Thiên Chúa, nhu cầu và trách nhiệm của linh hồn.

Linh hồn chính là bản ngã của mỗi người, là một thực thể do Thiên Chúa dựng nên để làm con của Thiên Chúa và vui sống đời đời trong vương quốc của Ngài. Linh hồn loài người đầu tiên, là A-đam, do Thiên Chúa sáng tạo trực tiếp. Linh hồn thứ nhì, là Ê-va, do Thiên Chúa làm ra từ linh hồn A-đam. Từ đó trở đi, mỗi linh hồn được sinh ra bởi cha và mẹ của mình.

Từ sau khi A-đam và Ê-va phạm tội, thì mỗi linh hồn được sinh ra đều nhiễm tội từ cha khiến cho mỗi người được sinh ra đều mang bản chất tội và chỉ có thể làm ra tội.

Đức Chúa Trời đã ban cho loài người sự cứu rỗi ra khỏi tội lỗi và hậu quả của tội lỗi, qua sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ. Linh hồn nào ăn năn tội, tin nhận sự sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ thì sẽ được tái sinh thành một linh hồn mới, và được Đức Chúa Trời ban cho cơ hội cùng năng lực sống theo ý muốn của Thiên Chúa. Linh hồn nào không ăn năn tội và không tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ thì sẽ ở lại trong địa vị bị hư mất đời đời.

II Cô-rinh-tô 5:17 “Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới.”

Bị hư mất có nghĩa là bị “xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của quyền phép Ngài” (II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9). Trong khi còn sống trong thân thể xác thịt, ngay trong đời sống hiện tại này, một linh hồn bị hư mất vẫn được Đức Chúa Trời ban cho cơ hội được cứu rỗi ra khỏi địa vị hư mất.

Bị hư mất đời đời có nghĩa là đời đời bị “xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của quyền phép Ngài,” nghĩa là không còn cơ hội được cứu rỗi, chứ không có nghĩa là bị tan biến thành hư không, không còn thực hữu, không còn nhận thức và cảm xúc.

Sự chết của thân thể xác thịt không làm cho linh hồn thôi nhận thức và cảm xúc, vì thế thuyết linh hồn ngủ hoàn toàn sai nghịch với lẽ thật của Thánh Kinh.

Nguyện Đức Thánh Linh luôn giúp mỗi chúng ta nhận thức cách rõ ràng, bổn phận và trách nhiệm của từng linh hồn trước Đấng Tạo Hóa. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
20.10.2012

Ghi Chú

[1] Biblical Aramaic, một thứ tiếng gần giống như tiếng Hê-bơ-rơ cổ, được thông dụng tại xứ Ca-na-an trong thời Tân Ước. Những phân đoạn sau đây trong Thánh Kinh được viết bằng tiếng A-ra-mai:

  • E-xơ-ra 4:8–6:18 and 7:12–26
  • Đa-ni-ên 2:4b–7:28
  • Giê-rê-mi 10:11

[A] Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Quý bạn có thể đọc trên mạng: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

[B] Dùng các nối mạng dưới đây để tra xem ý nghĩa trong Anh ngữ và nghe cách phát âm của một từ ngữ Hê-bơ-rơ trên Internet:

10,645 views

Loài Người (01): Nguồn Gốc

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?z7rne50s37uf6sb

Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/1011

Dẫn Nhập

“Nhân chủng học” là môn học về loài người. Trong khoa học thì môn nhân chủng học dựa trên các tài liệu lịch sử, các kết quả khảo cổ, các thực nghiệm khoa học để tìm hiểu về sự hình thành và phát triển của loài người, sự khác biệt giữa các chủng tộc, và sự phân bố của loài người về mặt địa lý. Trong thần học thì môn nhân chủng học chỉ dựa trên Thánh Kinh để tìm hiểu về nguồn gốc và mục đích của loài người, sự quan hệ giữa loài người với Thiên Chúa, và phương diện tâm linh của loài người.

Nhân chủng học theo Thánh Kinh liên quan mật thiết với thần học theo Thánh Kinh. Loài người không thể nào hiểu biết đúng về chính mình cho đến khi nhận thức đúng về Đức Chúa Trời. Cảm tạ Đức Chúa Trời là sự nhận thức về Đức Chúa Trời đã được chính Ngài đặt để trong loài người, như Truyền Đạo 3:11 và Rô-ma 1:19-20 đã khẳng định:

…Ngài khiến cho sự đời đời ở nơi lòng loài người”(Truyền Đạo 3:11)…

Bởi vì sự hiểu biết về Đức Chúa Trời được chiếu ra trong họ. Vì Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho họ những sự không thấy được của Ngài, từ sự sáng tạo thế gian là những vật thọ tạo được nhận biết, mà thấy rõ ràng cả năng lực và thần tính đời đời của Ngài” (Rô-ma 1:19-20)…

Nhân chủng học theo Thánh Kinh bắt đầu ngay từ những trang đầu của Thánh Kinh với sự Thiên Chúa dựng nên loài người, đặt tên cho loài người, ban phước cho loài người, và giao cho loài người công việc cai trị toàn thế gian.

Nguồn Gốc của Loài Người

Mỗi dân tộc trên thế gian đều có ít nhất là một huyền thoại về nguồn gốc của dân tộc mình, nói riêng, và của loài người, nói chung. Huyền thoại hay truyền thuyết là những câu chuyện mà nội dung không chân thật, được kể từ đời này sang đời khác. Nội dung của huyền thoại hoặc là không có thật hoặc là không đúng với sự thật. Điển hình như dân tộc Việt Nam có huyền thoại “Con Rồng Cháu Tiên,” cho rằng dân tộc Việt là dòng giống ra từ sự kết hợp của một con rồng và một tiên nữ. Chúng ta có thể nói rằng, tất cả các huyền thoại về nguồn gốc của loài người đều là những sản phẩm của Sa-tan. Nội dung của các huyền thoại nhằm hạ nhục loài người bằng cách liên kết loài người với các tà thần hoặc thú vật, và khiến cho loài người quên đi lẽ thật, rằng họ được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh của Ngài, giống như Ngài, để làm con của Ngài (Lu-ca 3:38; Giăng 1:12; II Cô-rinh-tô 6:18).

Thánh Kinh bắt đầu với lời công bố về sự Thiên Chúa sáng tạo các tầng trời và đất cùng với muôn loài vạn vật trên trời và trên đất trong sáu ngày. Mỗi một ngày bao gồm buổi chiều và buổi mai, tức là một ngày 24 tiếng đồng hồ theo vòng quay của trái đất. Tuyệt điểm của công trình sáng tạo là sự Thiên Chúa dựng nên loài người theo hình ảnh của Ngài. Sách Sáng Thế Ký ghi lại hai lời tường thuật về sự Thiên Chúa dựng nên loài người. Lời tường thuật thứ nhất được ghi lại trong 1:26-29 có tính tổng quát. Lời tường thuật thứ nhì được ghi lại trong 2:7, 21-24 có tính chi tiết. Lời tường thuật thứ nhì nhằm bổ sung cho lời tường thuật thứ nhất. Trong Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống có những từ ngữ được dịch thoáng, không sát với ý nghĩa của nguyên ngữ Hê-bơ-rơ. Dưới đây là phần trích dẫn đã được dịch sát nghĩa của hai phân đoạn nói trên và Sáng Thế Ký 5:1-2:

Sáng Thế Ký 1:26-29

26 Thiên Chúa phán rằng: Chúng Ta hãy làm ra loài người như hình Chúng Ta, giống như Chúng Ta, đặng cai trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, khắp cả đất, và mỗi loài bò sát bò trên mặt đất.

27 Thiên Chúa đã sáng tạo loài người như hình Ngài; Ngài đã sáng tạo người như hình Thiên Chúa; Ngài đã sáng tạo họ, nam và nữ.

28 Thiên Chúa ban phước cho họ và phán cùng họ rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy cai trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời cùng các vật sống hành động trên mặt đất.

29 Thiên Chúa lại phán rằng: Nầy, Ta đã ban cho các ngươi mọi thứ cỏ gieo hột ở khắp trên mặt đất và mỗi loài cây mà trái của cây sinh ra hột; ấy sẽ là thức ăn cho các ngươi.

Sáng Thế Ký 2:7, 21-24

7 Giê-hô-va Thiên Chúa nắn loài người từ bụi của đất, thổi hơi thở sống vào lỗ mũi, thì loài người trở nên một linh hồn sống.

21 Giê-hô-va Thiên Chúa khiến một cơn ngủ mê đến trên A-đam và ông ngủ. Ngài lấy một phần hông của ông, rồi lấp thịt thế vào.

22 Phần hông mà Giê-hô-va Thiên Chúa đã lấy nơi loài người, Ngài dựng nên một người nữ và đưa đến cùng loài người.

23 A-đam nói rằng: Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi. Nàng sẽ được gọi là người nữ, vì nàng được lấy ra từ người nam.

24 Bởi vậy, người nam sẽ lìa cha mẹ mình mà kết hợp cùng vợ mình, và họ sẽ trở nên một thịt.

Sáng Thế Ký 5:1-2

1 Đây là sách về dòng dõi của A-đam. Ngày mà Thiên Chúa sáng tạo loài người thì Ngài đã làm ra loài người giống như Thiên Chúa.

2 Ngài đã sáng tạo họ, nam và nữ; ban phước cho họ, gọi họ là loài người trong ngày họ được sáng tạo.

Dựa trên sự mạc khải của Đức Chúa Trời qua ba phân đoạn Thánh Kinh trên đây mà chúng ta biết được rằng:

  • Thiên Chúa sáng tạo loài người như hình ảnh của Thiên Chúa và giống như Ngài.
  • Thiên Chúa sáng tạo loài người với hai giống tính: nam và nữ.
  • Thiên Chúa làm ra thân thể người nam từ bụi của đất và từ hơi thở sống của Ngài.
  • Thiên Chúa dựng nên thân thể người nữ từ xương và thịt của người nam.
  • Hôn nhân là sự kết hợp của một người nam và một người nữ cách mầu nhiệm đến nỗi hai người trở nên một thịt.
  • Thiên Chúa ban phước cho loài người và truyền cho họ phải sinh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất.
  • Thiên Chúa ban cho loài người quyền cai trị khắp cả đất và muôn loài trên đất.

Bảy điều cơ bản trên đây được các phân đoạn khác trong Thánh Kinh triển khai, giúp chúng ta có một cái nhìn toàn vẹn về loài người. Sự hiểu biết đúng về loài người giúp chúng ta hiểu rõ mối quan hệ giữa Thiên Chúa với loài người, hiểu rõ ý muốn cùng các việc làm của Thiên Chúa đối với loài người, và hiểu rõ mục đích của đời sống chúng ta trong thế giới hiện tại và trong thế giới sẽ đến.

Ý Nghĩa của Một Số Từ Ngữ Liên Quan Đến Sự Sáng Tạo

Trước khi đi sâu vào các chi tiết của bảy lẽ thật cơ bản nói trên, chúng ta cần xem xét ý nghĩa của một số từ ngữ liên quan đến sự sáng tạo được dùng trong Thánh Kinh.

1. Sáng tạo: Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là “bârâ',” H1254, phiên âm là /ba-ra/, có nghĩa là từ chỗ không có mà khiến cho có. Hành động sáng tạo hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và Ngài sáng tạo bằng lời phán hoặc hơi thở của Ngài. Ngài không cần có một chất liệu nào để sáng tạo. Từ sự hư không, tức là sự không có gì, Thiên Chúa chỉ cần phán một lời hoặc thổi ra một hơi thở thì vật liền xuất hiện theo ý muốn của Ngài, y theo thiết kế trong tâm trí của Ngài:

Bởi đức tin, chúng ta biết rằng thế gian đã được thiết lập bởi Lời Thiên Chúa, đến nỗi những vật bày ra đó đều chẳng phải từ vật thấy được mà đến(Hê-bơ-rơ 11:3).

Hành động sáng tạo của Thiên Chúa bao gồm ý muốn của Đức Chúa Cha, thiết kế của Đức Chúa Con, được hiện thực bởi năng lực của Đức Chúa Thánh Linh.

2. Làm ra: Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là “‛âśâh,” H6213, phiên âm là /hơ-sa/, có nghĩa là làm thành một vật gì đó từ một chất liệu đã có sẵn. Thân thể xác thịt của loài người được Thiên Chúa làm ra từ bụi của đất (Sáng Thế Ký 1:26).

3. Dựng nên: Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là “bânâh,” H1129, phiên âm là /ba-na/, có nghĩa là kết hợp các chất liệu và vật liệu đã có sẵn để xây dựng thành một vật mới, như người nữ được làm nên từ người nam (Sáng Thế Ký 2:22), như việc xây cất nhà cửa, đồn lũy, thành quách.

Thí dụ: Đất và nước là các chất liệu để làm ra gạch. Gạch là vật liệu được kết hợp với các chất liệu khác (như đá, gỗ, xi-măng, nước) hoặc các vật liệu khác như các khối bê-tông (được làm ra bởi cát, sỏi, sắt, xi-măng, và nước) để xây cất nhà cửa, đồn lũy, thành quách.

Khi nói Thiên Chúa sáng tạo loài người là nói đến sự kiện từ sự hư không Thiên Chúa đã khiến cho loài người xuất hiện trong một thể chất thiêng liêng gọi là linh hồn, cùng lúc Thiên Chúa mặc cho linh hồn một thân thể vật chất làm bằng bụi đất, gọi là xác thịt và một thân thể thiêng liêng làm bằng hơi thở thiêng liêng của Ngài, gọi là tâm thần. Linh hồn nhận thức và tương giao với Thiên Chúa, với thế giới thuộc linh qua tâm thần. Linh hồn nhận thức và tương giao với thế giới thuộc thể qua xác thịt.

Kết Luận

Nhân chủng học theo khoa học có những kết luận hoàn toàn khác xa với nhân chủng học theo Thánh Kinh. Khoa học cho rằng loài thú tiến hóa thành loài người qua một tiến trình dài hơn hai tỷ năm, còn Thánh Kinh cho biết loài người khác với loài vật và được Thiên Chúa tạo dựng một cách toàn hảo khoảng 6,000 năm trước. Khoa học không thể nói lên mục đích sự thực hữu của loài người và của muôn loài vạn vật, còn Thánh Kinh cho biết loài người được Thiên Chúa dựng nên để vui hưởng tình yêu và sự giàu có muôn mặt của Thiên Chúa, để đời đời cùng với Thiên Chúa cai trị muôn loài vạn vật do Thiên Chúa dựng nên.

Công nhận nguồn gốc của loài người ra từ Thiên Chúa, theo như chính Thiên Chúa đã mạc khải trong Thánh Kinh, dẫn đến sự nhận thức đúng giá trị của loài người, sự hiểu biết ý muốn cùng mục đích tốt lành của Thiên Chúa khi Ngài sáng tạo loài người. Sự nhận biết và thông hiểu đó giúp cho con dân Chúa tăng trưởng trong đức tin, trong sự thánh hóa bởi Lời Chúa, và trong sự trung tín sống theo ý muốn tốt lành của Ngài.

Huỳnh Christian Timothy
06.10.2012

Ghi Chú

[A] Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Quý bạn có thể đọc trên mạng: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

[B] Dùng hai nối mạng dưới đây để tra xem ý nghĩa trong Anh ngữ và nghe cách phát âm của một từ ngữ Hê-bơ-rơ trên Internet:

[C] Dùng hai nối mạng dưới đây để tra xem ý nghĩa trong Anh ngữ và nghe cách phát âm của một từ ngữ Hy-lạp trên Internet:


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

 

Đọc Tiếp →