494 views 2,276 views 2,589 views

Loài Người (12): Thảo Luận Thần Học

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống và in ra bài viết này: http://www.mediafire.com/download/7w3j9h3meo6c454/LoaiNguoi_12_ThaoLuanThanHoc.pdf Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống mp3 bài này: http://www.timhieutinlanh.net/?p=3068 Huỳnh Christian Timothy Kính thưa Hội Thánh, Gần đây, … Đọc Tiếp →

2,811 views 8,119 views

Loài Người (09): Được Dựng Nên Mới Trong Đấng Christ

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?z06j6dejif6mt1q

Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe audio và tải xuống mp3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/1107

Huỳnh Christian Timothy

Dẫn Nhập

Qua Thánh Kinh, chúng ta đã biết: loài người là một thực thể do Thiên Chúa sáng tạo, gọi là linh hồn. Linh hồn được Thiên Chúa ban cho một thân thể thiêng liêng, gọi là tâm thần, ra từ hơi sống của Thiên Chúa, cùng một thân thể vật chất, gọi là xác thịt, ra từ bụi của đất.

Thiên Chúa dựng nên loài người như hình Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa để làm con của Đức Chúa Trời. Loài người sẽ còn lại đời đời trong hai địa vị và hai tình trạng khác nhau. Địa vị làm con của Đức Chúa Trời cho đến đời đời hoặc địa vị bị hư mất đời đời. Tình trạng sống đời đời hoặc tinh trạng chết đời đời. Sự còn lại đời đời trong mối tương giao mật thiết với Thiên Chúa, trong sự tin cậy, vâng phục, thờ phượng Thiên Chúa, và ngày càng hiểu biết Thiên Chúa càng hơn, được gọi là sự sống đời đời. Sự còn lại đời đời trong tình trạng bị phân rẽ khỏi Thiên Chúa vì không tin cậy, không vâng phục Thiên Chúa, và bị mất đi sự tương giao với Thiên Chúa lẫn sự hiểu biết Thiên Chúa càng hơn, được gọi là sự chết đời đời.

Từ khi loài người phạm tội thì loài người ở trong tình trạng bị chết đời đời. Tuy nhiên, vì Thiên Chúa là tình yêu, cho nên, Ngài đã ban cho loài người sự cứu rỗi ra khỏi sự chết đời đời. Hễ ai thật lòng ăn năn, từ bỏ tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời qua sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ, thì lập tức người ấy được Đức Chúa Trời tha tội, được Đức Chúa Jesus Christ dùng chính huyết Ngài, rửa cho sạch tội, và được Đức Thánh Linh dùng quyền năng của Thiên Chúa tái sinh người ấy thành một người mới, ở trong Đức Chúa Jesus Christ.

Được tái sinh hay được dựng nên mới ở trong Đức Chúa Jesus Christ có nghĩa gì? Trong bài này, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa đó qua các lẽ thật của Thánh Kinh.

Được Dựng Nên Mới Là Lẽ Thật của Thánh Kinh

Trước hết, chúng ta cần ghi nhớ các điều sau đây:

  • Mỗi một người được sinh ra trong thế gian đều là một tội nhân, nghĩa là kẻ làm trái luật pháp của Đức Chúa Trời:

“ … Chẳng có người công chính, dù một người cũng không. Chẳng có người hiểu biết. Chẳng có người tìm kiếm Đức Chúa Trời.” (Rô-ma 3:10-11)

Vì họ đều đã phạm tội và họ đang bị thiếu hụt sự vinh quang của Đức Chúa Trời.” (Rô-ma 3:23)

Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp.”  (I Giăng 3:4)

  • Mỗi một tội nhân đương nhiên ở trong địa vị bị hư mất đời đời và ở trong tình trạng bị chết đời đời:

Vì công giá của tội lỗi là sự chết.” (Rô-ma 6:23)

Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của quyền phép Ngài.” (II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9)

Bất cứ kẻ nào không tìm thấy được chép trong Sách Sự Sống thì bị ném vào hồ lửa.” (Khải Huyền 20:15)

  • Dầu là một người tội lỗi xấu xa gian ác đến thế nào đi nữa vẫn được Đức Chúa Trời yêu thương và Ngài muốn cho người ấy tiếp nhận sự cứu rỗi của Ngài:

Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật.” (I Ti-mô-thê 2:4)

Đức Giê-hô-va phán: Bây giờ hãy đến, cho chúng ta biện luận cùng nhau. Dầu tội các ngươi như hồng điều, sẽ trở nên trắng như tuyết; dầu đỏ như son, sẽ trở nên trắng như lông chiên.” (Ê-sai 1:18)

Nếu kẻ dữ xây bỏ sự dữ mình đã phạm, nếu nó làm theo luật pháp và hiệp với lẽ thật, thì nó sẽ cứu linh hồn mình cho được sống. Vì nó suy xét và xây bỏ mọi sự phạm pháp mình đã làm, chắc thật nó sẽ sống và không chết đâu.” (Ê-xê-chi-ên 18:27-28)

Khi một người thật lòng ăn năn, chịu từ bỏ tội, sẵn sàng tôn kính và làm theo các điều răn của Đức Chúa Trời, tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ thì:

  • lập tức mọi tội lỗi của người ấy được Đức Chúa Trời tha thứ (Ê-sai 1:18);
  • người ấy được Đức Chúa Jesus Christ rửa sạch khỏi mọi tội lỗi: “Nhưng, nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao thông cùng nhau; và huyết của Đức Chúa Jesus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta” (I Giăng 1:7);
  • người ấy được Đức Thánh Linh tái sinh thành một người mới ở trong Đức Chúa Jesus Christ (Giăng 3:5-8).

Được dựng nên mới có nghĩa là được sống lại từ trong sự chết. Như chúng ta đã nhiều lần học biết qua Thánh Kinh: Sự sống là sự kết hợp trong thánh ý của Thiên Chúa. Sự chết là sự bị phân rẽ vì ý riêng của kẻ chống nghịch Chúa. Sự phân rẽ của linh hồn và tâm thần ra khỏi thân thể xác thịt là sự chết của thể xác. Sự phân rẽ của một người ra khỏi Thiên Chúa là sự chết thuộc linh. Một người được dựng nên mới là một người được tương giao trở lại với Thiên Chúa, được kết hợp với Thiên Chúa trong Đức Chúa Jesus Christ, cho nên, sự được dựng nên mới chính là sự được sống trở lại. Từ trong sự chết, một người được tái sinh bởi Đức Thánh Linh thành một người mới. Trong nguyên ngữ của Thánh Kinh là được sinh ra từ trên cao. Vì thế được dựng nên mới là việc mà Đức Chúa Trời làm cho chúng ta. Sự dựng nên mới này xảy ra trong hai giai đoạn, giai đoạn thuộc linh và giai đoạn thuộc thể.

Giai đoạn tái sinh thuộc linh bao gồm linh hồn và thân thể thiêng liêng của linh hồn là tâm thần. Linh hồn được Đức Chúa Trời tha tội, được Đức Chúa Jesus Christ rửa sạch tội, được Đức Thánh Linh đổ đầy năng lực của Đức Chúa Trời, là Thánh Linh. Tâm thần được tương giao với Thiên Chúa, được Đức Thánh Linh ngự vào và ghi chép luật pháp của Đức Chúa Trời trong lương tâm đã được rửa sạch. Từ đó, tâm thần có thể giao tiếp với Thiên Chúa và nhận thức về Thiên Chúa ngày càng hơn. Linh hồn nhận lãnh tình yêu, sự công bình, và sự thánh khiết của Thiên Chúa để có thể yêu như Thiên Chúa yêu, công bình như Thiên Chúa công bình, và thánh khiết như Thiên Chúa thánh khiết. Tất cả những bản tính cũ của một linh hồn tội lỗi, điển hình là: kiêu ngạo, tham lam, ích kỷ, ganh ghét, thù hận, độc ác, dối trá, không thương xót, ưa thích tà dâm… đều qua đi hết. Linh hồn được đổi mới trong một tâm thần được sống lại (được sống lại có nghĩa là được tương giao trở lại với Thiên Chúa), được ban cho chính năng lực của Thiên Chúa, gọi là Thánh Linh, để có thể hoàn toàn làm chủ và cai trị thân thể xác thịt chưa được tái sinh. Thánh Kinh nói về sự tái sinh thuộc linh như sau:

Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới.” (II Cô-rinh-tô 5:17)

… người mới, tức là người đã được dựng nên giống như Thiên Chúa, trong sự công bình và sự thánh sạch của lẽ thật.” (Ê-phê-sô 4:24)

Đối với Hội Thánh của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jesus Christ, giai đoạn tái sinh thuộc thể sẽ xảy ra trong ngày Đức Chúa Jesus Christ trở lại để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian, mở đầu cho sự phán xét toàn thế gian trước khi Đức Chúa Jesus Christ thiết lập Vương Quốc Ngàn Năm của Ngài trong thế gian. Trong ngày đó, vào giờ đó:

  • thân thể xác thịt đã chết của những ai đã trung tín sống theo Lời Chúa, sẽ được sống lại từ bụi đất;
  • thân thể xác thịt đang sống của những ai đang trung tín sống theo Lời Chúa, sẽ được biến hóa trong nháy mắt.

Thân thể xác thịt được sống lại hay được biến hóa của những người sống theo Lời Chúa chính là thân thể được tái sinh. Thân thể xác thịt được tái sinh vẫn bao gồm các nguyên tố của vật chất nhưng có quyền trên các định luật vật chất như thân thể phục sinh của Đức Chúa Jesus Christ. Khi đó, thân thể xác thịt sẽ không còn những ham muốn tội lỗi và mỗi con dân Chúa, sẽ trở nên trọn vẹn như Cha của chúng ta ở trên trời là trọn vẹn (Ma-thi-ơ 5:46).

Giai đoạn tái sinh thuộc thể của mỗi thánh đồ sẽ khác nhau, ai có thứ tự riêng của người ấy, như I Cô-rinh-tô 15:23 đã nói rõ: “nhưng mỗi người theo thứ tự riêng của mình: Đấng Christ là trái đầu mùa; rồi tới ngày Đấng Christ đến, những kẻ thuộc về Ngài sẽ sống lại.”

Điều Kiện Để Được Dựng Nên Mới

Sự được dựng nên mới, đồng nghĩa với sự được tái sinh chỉ dành riêng cho những ai đã được cứu rỗi. Vì thế, điều kiện duy nhất để một người được dựng nên mới là người ấy phải là người đã được cứu rỗi ra khỏi tội lỗi và hậu quả của tội lỗi.

Muốn được cứu rỗi ra khỏi tội lỗi và hậu quả của tội lỗi thì một người PHẢI:

  • Công nhận mình là một tội nhân, tức là một người đang sống trái nghịch luật pháp của Đức Chúa Trời, và bằng lòng chấm dứt nếp sống trái nghịch luật pháp của Chúa. Thánh Kinh gọi đó là “ăn năn tội:” “Vậy, các ngươi hãy ăn năn và trở lại, đặng cho tội lỗi mình được xóa đi.” (Công Vụ Các Sứ Đồ 3:19)
  • Tin nhận rằng Đức Chúa Jesus Christ đã chết trên thập tự giá, gánh thay hình phạt của tội lỗi cho toàn thể nhân loại, và Ngài đã sống lại từ trong sự chết để ban sự sống lại cho tất cả những ai ăn năn tội và tin nhận sự cứu chuộc của Ngài: “Ấy chính Ngài làm của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa.” (I Giăng 2:2)
  • Công khai xưng nhận đức tin của mình nơi Đức Chúa Jesus Christ qua lời nói: “Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jesus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu; vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi.” (Rô-ma 10:9-10)

Một người dù thật lòng tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ nhưng nếu không ăn năn từ bỏ tội thì không thể được cứu rỗi. Nếu một người tin Chúa nhưng vẫn sống trong tội mà được cứu khỏi hình phạt của tội lỗi thì có khác gì sự chết của Đức Chúa Jesus Christ trở thành giấy phép cho loài người được tự do phạm tội? Hơn nữa, được cứu rỗi trước hết là được cứu ra khỏi quyền lực của tội lỗi, nghĩa là sức mạnh của tội lỗi không còn có thể khống chế người đã được cứu, khiến cho người ấy phạm tội, nghịch lại ý muốn của người ấy.

Một người dù thật lòng ăn năn tội và tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ nhưng nếu không chịu xưng nhận đức tin của mình thì cũng không được cứu rỗi. Bởi lòng ăn năn tội và đức tin thì người ấy được Đức Chúa Trời tha tội, tức là được Đức Chúa Trời xưng là công chính, nhưng nếu người ấy không xưng nhận Đấng Christ thì người ấy sẽ không được Đấng Christ làm cho sạch tội. Một người chưa được sạch tội thì vẫn còn ở dưới quyền lực của tội lỗi, sẽ trở lại phạm tội, sống trong tội và cuối cùng bị trở lại trong địa vị bị hư mất đời đời.

Hình thức xưng nhận đức tin được thể hiện qua lời cầu nguyện tin nhận Chúa và qua sự chịu báp-tem trong danh của Thiên Chúa Ba Ngôi. Vì thế một người cần và nên chịu báp-tem liền sau khi tin nhận Chúa sớm chừng nào tốt chừng nấy. Thánh Kinh luôn luôn dạy rằng, một người thật lòng tin nhận Chúa thì lập tức chịu báp-tem. Trường hợp điển hình là người lính La-mã quản ngục tại thành Phi-líp, xứ Ma-xê-đoan và gia đình ông ta, chịu báp-tem ngay trong đêm họ tin nhận Chúa: “Trong ban đêm, chính giờ đó, người đề lao đem hai người ra rửa các thương tích cho; rồi tức thì người và mọi kẻ thuộc về mình đều chịu phép báp-tem” (Công Vụ Các Sứ Đồ 16:33). Lẽ thật này của Thánh Kinh đánh tan sự ngụy biện của một số tổ chức tôn giáo dạy rằng: Các trường hợp làm báp-tem lập tức cho người tin Chúa mà không qua giai đoạn học giáo lý như được ghi chép trong Thánh Kinh là các trường hợp dành riêng cho những người Do-thái đã hiểu biết Thánh Kinh rồi. Bởi vì, người lính La-mã canh giữ nhà tù và gia đình ông không phải là dân Do-thái có hiểu biết về Thánh Kinh và Đức Chúa Trời. Ngoài ra, nếu học giáo lý là điều kiện phải có trước khi một người được làm báp-tem thì chính những người theo Do-thái giáo cần phải học giáo lý hơn ai hết. Bởi vì, họ cần phải học biết rằng nhờ ân điển, bởi đức tin mà họ được cứu chứ không phải nhờ họ gắng sức vâng giữ các điều răn và luật pháp. Nếu học giáo lý là điều kiện phải có trước khi một người được làm báp-tem thì Đức Chúa Jesus Christ đã dạy như vậy. Nhưng chính Đức Chúa Jesus Christ đã dạy rằng phải làm báp-tem cho người tin Chúa rồi mới dạy giáo lý cho họ, và mệnh lệnh này được áp dụng cho “muôn dân:” “Vậy, hãy đi khiến cho muôn dân trở nên môn đồ, trong danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh hãy làm phép báp-tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà Ta đã truyền cho các ngươi…” (Ma-thi-ơ 28:19-20).

Bản Tính của Người Được Dựng Nên Mới

Người được dựng nên mới là người được Thiên Chúa phục hồi bản tính giống như bản tính của A-đam khi ông chưa phạm tội, và còn được chính Đức Thánh Linh ngự trong thân thể xác thịt chưa tái sinh để giúp người ấy sống thánh khiết theo Lời Chúa. Người được dựng nên mới vẫn còn sống trong thân thể xác thịt ra từ A-đam cho đến khi thân thể xác thịt chết đi và được tái sinh hoặc cho đến khi thân thể xác thịt được biến hóa thành thân thể vinh hiển như thân thể xác thịt phục sinh của Đức Chúa Jesus Christ. Nhưng người được dựng nên mới là người có thân thể thiêng liêng, là tâm thần, được sinh ra trong Đức Chúa Jesus Christ, giống như Đức Chúa Jesus Christ.

Từ khi A-đam phạm tội, sự chết cầm quyền trên ông và trên dòng dõi loài người ra từ ông. Vì thế, mỗi một người được sinh ra trong thế gian là sinh ra trong tội lỗi và trong địa vị bị hư mất đời đời. Khi một linh hồn thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ, và xưng nhận đức tin của mình, thì lập tức linh hồn ấy và thân thể thiêng liêng, là tâm thần, được sinh ra từ Đấng Christ. Lần thứ nhất, chúng ta được sinh ra bởi A-đam như thế nào, thì lần thứ nhì, chúng ta được sinh ra bởi Đấng Christ như thể ấy. Chúng ta nhận được thần linh của sự sống lại và sự sống từ nơi Đấng Christ, khiến cho tâm thần của chúng ta được trở lại tương giao với Thiên Chúa và chúng ta một lần nữa trở thành linh hồn sống, tức là được thoát khỏi sự bị phân rẽ đời đời khỏi Thiên Chúa.

Sáng Thế Ký 2:7 chép: “Giê-hô-va Thiên Chúa bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh.”

Giăng 20:22 chép: “Ngài phán lời đó xong, Ngài thổi hơi và phán với họ: "Các ngươi hãy nhận lãnh Thánh Linh.”

Hành động thổi hơi của Đức Chúa Jesus Christ trên các môn đồ là hành động ban sự sống lại và sự sống của chính Ngài cho các môn đồ, đồng thời Đức Thánh Linh khiến cho họ được dự phần trong bản tính của Đức Chúa Trời, trở nên giống như Đức Chúa Trời trong sự công bình và thánh sạch của lẽ thật (Ê-phê-sô 4:24). Đó cũng chính là ý nghĩa của mệnh đề “được dựng nên mới trong Đấng Christ!”

Người được dựng nên mới trong Đấng Christ có được sự sống lại và sự sống của Đấng Christ; và sự sống đó được tiếp tục bởi Lời của Thiên Chúa: “Đức Chúa Jesus đáp: Có lời chép rằng: Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Thiên Chúa” (Ma-thi-ơ 4:4); và bởi đức tin vào trong Lời của Đức Chúa Trời: “Người công bình của Ta sẽ cậy đức tin mà sống, Nhưng nếu lui đi thì linh hồn Ta chẳng lấy làm đẹp chút nào” (Hê-bơ-rơ 10:38, đối chiếu Rô-ma 1:17).

Dù một người có Lời Chúa, thậm chí, thuộc lòng toàn bộ Thánh Kinh, nhưng không có đức tin vào Lời Chúa thì không thể lớn lên trong thuộc linh. Có đức tin vào Lời Chúa tức là làm theo Lời Chúa dạy. Thực tế là ngày nay, nhiều con dân Chúa hoàn toàn tin nhận Thánh Kinh là Lời của Đức Chúa Trời nhưng họ không sống theo Lời Chúa. Họ ngang nhiên vi phạm điều răn của Chúa qua sự không tôn kính ngày Sa-bát hoặc là họ vẫn lo lắng về đời này và ham muốn tiền bạc, của cải, sự tà dâm, không có lòng tha thứ… là những điều Lời Chúa ngăn cấm.

Người được dựng nên mới được Đức Chúa Trời giao cho các việc lành để làm ngay trong lúc còn ở trong thân thể xác thịt này, khiến thân thể xác thịt trở thành công cụ làm ra những sự công bình cho Đức Chúa Trời:

Rô-ma 6:12-13 “Vậy, chớ để tội lỗi cai trị trong xác hay chết của anh em, và chớ chiều theo tư dục nó. Chớ nộp chi thể mình cho tội lỗi, như là đồ dùng gian ác, nhưng hãy phó chính mình anh em cho Đức Chúa Trời, dường như đã chết mà nay trở nên sống, và dâng chi thể mình cho Đức Chúa Trời như là đồ dùng về sự công bình.”

Ê-phê-sô 2:10 “Vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đấng Christ Jesus để làm những việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo.”

II Ti-mô-thê 3:17 “… người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành.”

Nhiệm Vụ của Người Được Dựng Nên Mới

Những việc lành và công bình mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho những người được dựng nên mới được thể hiện qua ba nhiệm vụ: vua, thầy tế lễ, và tiên tri.

1. Nhiệm vụ vua: “Đấng yêu thương chúng ta: đã rửa sạch tội lỗi chúng ta trong máu Ngài, đã lập chúng ta làm những vua và những thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời Ngài và Cha Ngài…”(Khải Huyền 1:6)! Trong nhiệm vụ vua, một ngày kia Hội Thánh của Chúa sẽ đồng trị với Chúa, nhưng trong hiện tại, đang khi còn ở trong thân thể xác thịt này thì:

  • Người được dựng nên mới quản trị tội lỗi: “Nếu ngươi làm lành, há chẳng ngước mặt lên sao? Còn như chẳng làm lành, thì tội lỗi rình đợi trước cửa, thèm ngươi lắm; nhưng ngươi phải quản trị nó.” (Sáng Thế Ký 4:7)
  • Người được dựng nên mới cai trị thân thể xác thịt mình, bắt nó phải phục: “Song tôi đãi thân thể mình cách nghiêm khắc, bắt nó phải phục, e rằng sau khi tôi đã giảng dạy kẻ khác, mà chính mình phải bị bỏ chăng.” (I Cô-rinh-tô 9:27)
  • Người được dựng nên mới đoán xét kẻ có tội mà không chịu ăn năn ở trong Hội Thánh. Đức Thánh Linh, qua Sứ Đồ Phao-lô giao cho con dân Chúa: “Vì chưng có phải tôi nên đoán xét kẻ ở ngoài sao? Há chẳng phải anh em nên đoán xét những người ở trong sao? Còn như kẻ ở ngoài, thì Đức Chúa Trời sẽ đoán xét họ. Hãy trừ bỏ kẻ gian ác khỏi anh em” (I Cô-rinh-tô 5:12-13). Đức Chúa Jesus Christ trực tiếp truyền lệnh cho con dân Chúa: “Nếu anh em ngươi phạm tội cùng ngươi, thì hãy trách người khi chỉ có ngươi với một mình người; như người nghe lời, thì ngươi được anh em lại. Ví bằng không nghe, hãy mời một hai người đi với ngươi, hầu cứ lời hai ba người làm chứng mà mọi việc được chắc chắn. Nếu người không chịu nghe các người đó, thì hãy cáo cùng Hội Thánh, lại nếu người không chịu nghe Hội Thánh, thì hãy coi người như kẻ ngoại và kẻ thâu thuế vậy.” (Ma-thi-ơ 18:15-17)

2. Nhiệm vụ thầy tế lễ:“Đấng yêu thương chúng ta: đã rửa sạch tội lỗi chúng ta trong máu Ngài, đã lập chúng ta làm những vua và những thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời Ngài và Cha Ngài…” (Khải Huyền 1:6)! Trong nhiệm vụ thầy tế lễ:

  • Người được dựng nên mới thờ phượng Đức Chúa Trời bằng tâm thần và lẽ thật: “Nhưng giờ đến và bây giờ là lúc những người thờ phượng thật: sẽ thờ phượng Cha trong tâm thần và lẽ thật. Vì Cha tìm kiếm những người thờ phượng Ngài như vậy. Đức Chúa Trời là Thần. Những người thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong tâm thần và lẽ thật.” (Giăng 4:23-24)
  • Người được dựng nên mới dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh lên Đức Chúa Trời: “Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em.” (Rô-ma 12:1)
  • Người được dựng nên mới cầu thay cho mọi người: “Trong tâm thần, thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin. Hãy dùng sự bền đổ trọn vẹn mà tỉnh thức về điều đó, và cầu nguyện cho hết thảy các thánh đồ” (Ê-phê-sô 6:18). “Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người” (I Ti-mô-thê 2:1).

3. Nhiệm vụ tiên tri:Đây không phải là chức vụ tiên tri trong Hội Thánh mà là nhiệm vụ rao giảng Tin Lành của Chúa, khiến muôn dân trở nên môn đồ Chúa, dạy cho họ vâng giữ Lời Chúa, và rao truyền sự chết của Chúa cho tới khi Chúa đến:

  • Ngài phán cùng các sứ đồ rằng: Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người.”(Mác 16:15)
  • Vậy, hãy đi khiến cho muôn dân trở nên môn đồ, trong danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh hãy làm phép báp-tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà Ta đã truyền cho các ngươi…” (Ma-thi-ơ 28:19-20)
  • Ấy vậy, mỗi lần anh em ăn bánh nầy, uống chén nầy, thì rao sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến.” (I Cô-rinh-tô 11:26)

Thẩm Quyền, Năng Lực, và Phương Tiện của Người Được Dựng Nên Mới

Thẩm quyền để một người được dựng nên mới sống một đời sống mới thánh khiết theo Lời Chúa, và làm trọn những việc lành đã được Đức Chúa Trời giao phó, chính là danh của Đức Chúa Jesus Christ. Năng lực của một người được dựng nên mới chính là Thánh Linh của Đức Chúa Trời, và phương tiện hầu việc Chúa của họ chính là các ân tứ của Đức Thánh Linh.

  • Trong danh của Đức Chúa Jesus Christ người được dựng nên mới có quyền trên Ma Quỷ: “Trong danh Ta họ sẽ đuổi quỷ” (Mác 16:17). Ngoài sự nhân danh Chúa đuổi quỷ cho người bị quỷ nhập, khi đối diện với sự cám dỗ của Ma Quỷ, người được dựng nên mới chỉ cần nhân danh Đức Chúa Jesus Christ để đuổi quỷ, quỷ sẽ bỏ đi và sự cám dỗ sẽ không còn. “Vậy hãy phục Đức Chúa Trời; hãy chống trả Ma Quỷ, thì nó sẽ lánh xa anh em” (Gia-cơ 4:7).
  • Người được dựng nên mới làm được mọi sự bởi sức toàn năng của Đấng Christ “Qua Đấng Christ là Đấng ban thêm sức cho tôi, tôi làm được mọi sự.” (Phi-líp 4:13)
  • Người được dựng nên mới có đủ các thứ ơn từ Đức Chúa Trời để làm trọn mọi việc lành: “Đức Chúa Trời có quyền ban cho anh em đủ mọi thứ ơn đầy dẫy, hầu cho anh em hằng đủ điều cần dùng trong mọi sự, lại còn có rời rộng nữa để làm các thứ việc lành.” (II Cô-rinh-tô 9:8)
  • Người được dựng nên mới nhận đủ các thứ phước thiêng liêng từ Đức Chúa Trời: “Tôn vinh Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, Ngài đã xuống phước cho chúng ta trong Đấng Christ đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời” (Ê-phê-sô 1:3). Nên nhớ, người được dựng nên mới có thể thiếu một số phước vật chất để cùng dự phần chịu khổ với Đấng Christ trong các cơn hoạn nạn, thử thách, nhưng chắc chắn là có đủ các ơn phước thiêng liêng của Đức Chúa Trời.
  • Người được dựng nên mới dùng các thứ tiếng mới để nói: “Họ sẽ nói những thứ tiếng mới” (Mác 16:17), tức là họ đổi mới cách nói, lời nói trong những ngôn ngữ mà họ biết. Họ không còn nói năng hung dữ, thô tục, dối trá, giả ngộ tầm phào hay nói chuyện huyễn. Đây không phải là ân tứ nói ngoại ngữ, vì ân tứ nói ngoại ngữ như được thể hiện trong Công Vụ Các Sứ Đồ 2, chỉ được Đức Thánh Linh ban cho một số người, không phải cho tất cả con dân Chúa. Thứ tiếng mới của người được dựng nên mới là ngôn ngữ thể hiện sự yêu thương, công bình, và thánh khiết của Thiên Chúa, có ơn cho và giúp ích cho kẻ nghe đến.
  • Người được dựng nên mới thể hiện bông trái của Đức Thánh Linh: “Nhưng trái của Đấng Thần Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ” (Ga-la-ti 5:22).
  • Người được dựng nên mới được Đức Thánh Linh ban cho các ân tứ để gây dựng Hội Thánh của Chúa: “Vả, có các sự ban cho khác nhau, nhưng chỉ bởi cùng Đấng Thần Linh. Có các chức vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có các việc làm khác nhau, nhưng chỉ có một Thiên Chúa, là Đấng làm mọi việc trong mọi người. Đấng Thần Linh tỏ ra trong mỗi một người, cho ai nấy đều được sự ích chung.” (I Cô-rinh-tô 12:4-7)

Được Dựng Nên Mới Để Có Cơ Hội Tiếp Nhận Sự Sống Đời Đời

Như chúng ta đã học biết: Sự sống đời đời tức là sự nhận biết Đức Chúa Cha và Đức Chúa Jesus Christ, ngày càng hơn cho đến mãi mãi (Giăng 17:3). Một người được dựng nên mới là một người được phục hồi địa vị công chính, thánh khiết, được ban cho năng lực của Thiên Chúa, là Thánh Linh, để người ấy có thể sống một đời sống vâng theo Lời Chúa để nhận sự sống đời đời.

Chúng ta nên nhớ, sự cứu rỗi ra khỏi tội lỗi và hậu quả của tội lỗi là sự ban cho nhưng không của Đức Chúa Trời, nghĩa là chúng ta không cần phải làm gì hết mà chỉ cần ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Ngài. Nhưng sự sống đời đời là công giá hay phần thưởng để trả cho những ai sau khi được cứu rỗi thì hết lòng vâng theo Lời Chúa. Sự vâng lời đó được thể hiện bằng hành động, qua việc làm theo Lời dạy của Chúa.

Để nhận lãnh sự sống đời đời chúng ta phải:

  • Giữ các điều răn của Đức Chúa Trời: “Nầy, có một người đến hỏi Ngài rằng: Theo thầy, tôi phải làm việc lành chi cho được sự sống đời đời? Đức Chúa Jesus đáp rằng: Sao ngươi hỏi ta về việc lành? Chỉ có một Đấng lành mà thôi. Nếu ngươi muốn vào sự sống, thì phải giữ các điều răn.” (Ma-thi-ơ 19:16-17)
  • Vì danh của Đức Chúa Jesus Christ mà bỏ anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng, nhà cửa, tức là hết lòng làm theo Lời Chúa cho dù có phải hy sinh quan hệ ruột thịt, tình cảm, tài sản… “Hễ ai vì danh Ta mà bỏ anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng, nhà cửa, thì người ấy sẽ lãnh bội phần hơn, và được hưởng sự sống đời đời” (Ma-thi-ơ 19:29). “Đoạn, Ngài phán cùng mọi người rằng: Nếu ai muốn theo Ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo Ta” (Lu-ca 9:23).
  • Tin Đức Chúa Jesus Christ, tức là tiếp nhận sự cứu rỗi của Ngài và làm theo như Ngài đã làm, tức là vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời: “Như Môi-se treo con rắn lên ở nơi đồng vắng thể nào, thì Con Người cũng phải bị treo lên thể ấy; hầu cho, hễ ai tin nơi Ngài không bị hư mất, mà được sự sống đời đời. Vì Ðức Chúa Trời yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin nơi Con ấy không bị hư mất, mà được sự sống đời đời.” (Giăng 3:14-16). “Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm” (I Giăng 2:6)
  • Nghe sự phán dạy của Đức Chúa Jesus Christ mà tin Đức Chúa Trời: “Thật vậy, thật vậy, Ta nói với các ngươi rằng, ai nghe lời Ta mà tin Đấng đã sai Ta, thì được sự sống đời đời và không vào sự phán xét, nhưng ra khỏi sự chết, mà vào sự sống.” (Giăng 5:24)
  • Bền lòng làm lành: “Thật vậy, những ai bởi sự bền lòng làm lành, tìm kiếm sự vinh quang, sự tôn trọng, và sự chẳng hề chết, thì được sự sống đời đời” (Rô-ma 2:7). Làm lành là làm những việc tốt lành mà Đức Chúa Trời đã sắn sẵn cho những người được dựng nên mới trong Đức Chúa Jesus Christ: “Vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đấng Christ Jesus để làm những việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo” (Ê-phê-sô 2:10), không phải làm lành theo tiêu chuẩn và ý muốn của thế gian. Điển hình là việc cùng với những tổ chức ngoại giáo làm những công tác cứu trợ, từ thiện dưới danh nghĩa các tôn giáo của họ, vinh danh các thần tượng của họ. Ngay cả việc đứng chung với các chức sắc của ngoại giáo để cầu nguyện cho hòa bình của thế giới, của quốc gia dân tộc, thường được gọi là sự cầu nguyện của liên tôn (liên tôn là viết tắt của “liên hiệp các tôn giáo” – Nên nhớ Đạo Chúa không phải là một tôn giáo) con dân Chúa cũng không tham dự. Thánh Kinh dạy: “Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin.” Cùng làm việc từ thiện với các tổ chức ngoại giáo là mang ách chung với họ để hầu việc các thần tượng của họ.
  • Lấy sự nên thánh làm kết quả của đời sống mới trong Chúa để đạt đến mục đích cuối cùng là sự sống đời đời: “Nhưng bây giờ đã được buông tha khỏi tội lỗi và trở nên tôi mọi của Đức Chúa Trời rồi, thì anh em được lấy sự nên thánh làm kết quả, và sự sống đời đời làm cuối cùng.” (Rô-ma 6:22)
  • Phải gieo cho Đức Thánh Linh, tức là làm mọi việc bởi sự dẫn dắt và ban ơn của Đức Thánh Linh: “Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; song kẻ gieo cho Đấng Thần Linh, sẽ bởi Đấng Thần Linh mà gặt sự sống đời đời” (Ga-la-ti 6:8). Cho dù một người nhân danh Chúa để nói tiên tri, đuổi quỷ, và làm phép lạ nhưng nếu không bởi sự dẫn dắt và ban ơn của Đức Thánh Linh mà chỉ làm theo ý muốn và năng lực của xác thịt hoặc của tà linh, thì đối với Đức Chúa Jesus Christ, người ấy chỉ là kẻ gian ác mà Ngài không hề biết đến (Ma-thi-ơ 7:21-23).
  • Đứng vững trong đức tin nơi Chúa và Lời Chúa, đánh trận tốt lành để thắng xác thịt và các tà linh: “Hãy vì đức tin mà đánh trận tốt lành, bắt lấy sự sống đời đời, là sự mà con đã được gọi đến, và vì đó mà con đã làm chứng tốt lành trước mặt nhiều người chứng kiến” (I Ti-mô-thê 6:12).
  • Trung tín vâng phục Chúa, giữ vững đức tin cho đến chết: “Hãy trung tín cho đến chết và Ta sẽ ban cho ngươi mão sự sống.” (Khải Huyền 2:10).

Người Được Dựng Nên Mới Vẫn Có Thể Lui Đi Trong Đức Tin
và Bị Hư Mất Đời Đời

Thánh Kinh đã cảnh cáo con dân Chúa một cách rõ ràng: Người đã được dựng nên mới, nếu không bền lòng làm lành, không đứng vững trong đức tin, không trung tín với Chúa cho đến chết, trái lại, trở về sống trong tội lỗi, thỏa mãn những sự ưa muốn của xác thịt, thì sẽ bị h

Đọc Tiếp →
6,942 views

Tóm Lược Lịch Sử Loài Người và Những Ứng Nghiệm của Các Lời Tiên Tri Trong Thánh Kinh

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?u9qccb42b2d1fsq

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
Trích từ Tác Phẩm “Kỳ Tận Thế”

Trong chương này, chúng tôi tổng hợp các dữ kiện trong Thánh Kinh, đối chiếu với các chi tiết của thế giới sử để trình bày biên niên sử loài người từ khi sáng thế cho đến khi dân I-sơ-ra-ên được hình thành, và biên niên sử của dân I-sơ-ra-ên từ khi được hình thành cho đến hiện tại. Dân I-sơ-ra-ên đã được Thiên Chúa chọn để hoàn thành chương trình và ý muốn của Ngài dành cho nhân loại. Dân I-sơ-ra-ên, vì thế, đã trở nên “chiếc đồng hồ lịch sử của nhân loại,” nghĩa là, nhìn vào dân I-sơ-ra-ên sẽ biết được khi nào thì kỳ tận thế sẽ đến.

Từ khi dân I-sơ-ra-ên chối bỏ Đức Chúa Jesus Christ là Cứu Chúa của nhân loại, tức là chối bỏ sự cứu rỗi của Thiên Chúa, thì Thiên Chúa tạm ngưng chương trình của Ngài đối với dân I-sơ-ra-ên và tiến hành sự cứu rỗi trong các dân tộc khác. Sứ Đồ Phao-lô đã tiên tri từ hơn 1900 năm trước:“Vả, hỡi anh em, tôi không muốn anh em chẳng biết sự mầu nhiệm nầy, e anh em tự cho mình khôn ngoan chăng: ấy là một phần dân I-sơ-ra-ên đã sa vào sự cứng lòng, cho đến chừng nào số dân ngoại nhập vào được đầy đủ; vậy thì, cả dân I-sơ-ra-ên sẽ được cứu, như có chép rằng: Đấng Giải cứu sẽ đến từ Si-ôn, cất sự vô đạo ra khỏi Gia-cốp; Ấy là sự giao ước mà Ta sẽ lập với họ, khi Ta xóa tội lỗi họ rồi” (Rô-ma 11:24-27).

Khi số người trong các dân tộc khác chịu tin nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa được đủ số thì cả dân I-sơ-ra-ên sẽ tiếp nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa. Chúng ta không biết con số dân ngoại tiếp nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa lên đến bao nhiêu thì gọi là “đủ số,” vì đó là một huyền nhiệm của Thiên Chúa. Nhưng chúng ta biết thời điểm “dân ngoại nhập vào được đầy đủ” con số những người tin nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa đã gần. Bởi vì, ngày 14 tháng 5 năm 1948, Thiên Chúa đã tiếp tục trở lại chương trình của Ngài đối với dân I-sơ-ra-ên. Trong một ngày, Thiên Chúa đã dựng lại Quốc Gia I-sơ-ra-ên trong một bối cảnh lịch sử tưởng chừng như đó là việc không thể xảy ra: “Ai đã hề nghe một sự thể nầy? Ai đã hề thấy sự gì giống như vậy? Nước há dễ sanh ra trong một ngày, dân tộc há dễ sanh ra trong một chặp? Mà Si-ôn mới vừa nằm nơi, đã sanh con cái” (Ê-sai 66:8). (Si-ôn là tên ngọn núi nơi Thủ Đô Giê-ru-sa-lem được xây dựng.) Đó là lời tiên tri về sự tái lập quốc I-sơ-ra-ên được chính Thiên Chúa tiên tri từ hơn 2700 năm trước, (Ê-sai được Thiên Chúa sai làm tiên tri cho dân I-sơ-ra-ên vào khoảng năm 767 TCN). Chiếc đồng hồ báo giờ kết thúc lịch sử tự trị đầy tội lỗi của toàn thể của nhân loại đã bắt đầu chạy lại sau hơn 1900 năm tạm thời đứng yên! Những chi tiết lịch sử trong chương này sẽ giúp quý bạn đọc thấy được sự chính xác tuyệt vời của các lời tiên tri trong Thánh Kinh.

Có ba loại lịch được dùng trong biên niên sử dưới đây. Thứ nhất là Lịch Julian (Julian Calendar). Thứ nhì là Lịch Do-thái (Hebrew Calendar). Thứ ba là Lịch Gregorian.

  • Lịch Julian: Được cải thiện từ một loại lịch của người La-mã và được Hoàng Đế Julius của La-mã đưa vào sử dụng từ năm 46 TCN. Châu Âu thời cổ dùng lịch này cho đến khi Lịch Gregorian được dùng và thông dụng khắp nơi như ngày nay. Trong biên niên sử này, các dữ kiện lịch sử trước năm 1583 được đánh dấu bằng Lịch Julian.
  • Lịch Do-thái: Được thiết lập vào khoảng năm 359 TCN. Lịch Do-thái bắt đầu với ngày 1 tháng Tishri (tháng 7) năm 1, nhằm thứ hai, ngày 7 tháng 10 năm 3761 TCN của Lịch Julian.
  • Lịch Gregorian: Còn được gọi là Tây Lịch, do Giáo Hoàng Gregory XIII của Công Giáo La-mã ra sắc lệnh ngày 24 tháng 2 năm 1582, đưa vào sử dụng. Ngày nay, Lịch Gregorian đã trở thành một thứ lịch quốc tế, được tất cả các quốc gia trên thế giới sử dụng. Trong biên niên sử này, các dữ kiện lịch sử từ năm 1583 được đánh dấu bằng Lịch Gregorian.

Trong sách này, thuật ngữ “Trước Công Nguyên” viết tắt là “TCN” được dùng để chỉ những năm trước năm 1 của Lịch Julian hoặc Lịch Gregorian. Để đơn giản, chúng tôi sẽ không dùng thuật ngữ “Công Nguyên,” viết tắt là “CN” đàng sau những năm từ năm 1 trở đi.

Giáo Hội Công Giáo cho rằng năm 1 Lịch Gregorian (tương đương năm 1 Lịch Julian) là năm sinh của Chúa nên gọi những năm từ năm 1 trở đi là “Trong Năm của Chúa,” trong tiếng La-tin là “Anno Domini,” viết tắt là AD. Những năm trước đó, được giới Cơ-đốc Giáo gọi là “Before Christ” trong tiếng Anh, viết tắt là BC, và khởi đếm từ 1 BC. Giữa năm 1 AD và năm 1 BC không có năm 0. Vì thế, từ năm 2 BC đến năm 2 AD là khoảng thời gian dài 2 năm. Hay nói cách khác, năm 1 AD cũng chính là năm 1 BC. Tuy nhiên, năm 1 không phải là năm Chúa giáng sinh, mà Chúa giáng sinh khoảng sáu năm trước đó, vào năm 7 BC. Vì sự tính sai đó mà cách dùng AD và BC trở thành vô nghĩa. Thay vào đó, cách dùng “Công Nguyên” (“Common Era” viết tắt là CE) và “Trước Công Nguyên” (“Before Common Era” viết tắt là BCE) hợp lý hơn. Công (common) là chung, Nguyên (era) là bắt đầu một thời đại. Công Nguyên là thời đại mà nhân loại bắt đầu dùng chung một thứ lịch.

Chúng tôi sử dụng nhu liệu hoán chuyển lịch từ website: http://www.abdicate.net/cal.aspx

Năm Julian: 4114 TCN

Thiên Chúa sáng tạo các tầng trời và đất cùng muôn vật trong các tầng trời và đất: “Ban đầu, Thiên Chúa sáng tạo các tầng trời và đất.” (Sáng Thế Ký 1:1)

Công trình sáng tạo kéo dài trong sáu ngày, ngày thứ bảy được Thiên Chúa ban phước và làm thành ngày yên nghỉ, tạo thành chu kỳ một tuần lễ bảy ngày: “Thiên Chúa thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ sáu” (Sáng Thế Ký 1:31). “Ngày thứ bảy, Thiên Chúa làm xong các công việc Ngài đã làm, và ngày thứ bảy, Ngài nghỉ các công việc Ngài đã làm. Rồi, Ngài ban phước cho ngày thứ bảy, đặt là ngày thánh; vì trong ngày đó, Ngài nghỉ các công việc đã sáng tạo và đã làm xong rồi.” (Sáng Thế Ký 2:2-3)

Thiên Chúa dựng nên loài người và ban cho loài người một thân thể bằng vật chất: “Giê-hô-va Thiên Chúa bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh.” (Sáng Thế Ký 2:7)

Năm Julian: 3984 TCN

A-đam sinh ra Sết: “Vả, A-đam được một trăm ba mươi tuổi, sanh một con trai giống như hình tượng mình, đặt tên là Sết.” (Sáng Thế Ký 5:3)

Năm Julian: 3879 TCN

Sết sinh ra Ê-nót: “Sết được một trăm năm tuổi, sanh Ê-nót.” (Sáng Thế Ký 5:6)

Năm Julian: 3789 TCN

Ê-nót sinh ra Kê-nan: “Ê-nót được chín mươi tuổi, sanh Kê-nan.” (Sáng Thế Ký 5:9)

Năm Do-thái: 1
Năm Julian: 3761 TCN

Lịch Do-thái bắt đầu với ngày 1 tháng Tishri (tháng 7) năm 1, nhằm thứ hai ngày 7 tháng 10 năm 3761 TCN của Lịch Julian.

Năm Do-thái: 42
Năm Julian: 3719 TCN

Kê-nan sinh ra Ma-ha-la-le: “Kê-nan được bảy mươi tuổi, sanh Ma-ha-la-le.” (Sáng Thế Ký 5:12)

Năm Do-thái: 107
Năm Julian: 3654 TCN

Ma-ha-la-le sinh ra Giê-rệt: “Ma-ha-la-le được sáu mươi lăm tuổi, sanh Giê-rệt.” (Sáng Thế Ký 5:15)

Năm Do-thái: 269
Năm Julian: 3492 TCN

Giê-rệt sinh ra Hê-nóc: “Giê-rệt được một trăm sáu mươi hai tuổi, sanh Hê-nóc.” (Sáng Thế Ký 5:18)

Năm Do-thái: 334
Năm Julian: 3427 TCN

Hê-nóc sinh ra Mê-tu-sê-la: “Hê-nóc được sáu mươi lăm tuổi, sanh Mê-tu-sê-la.” (Sáng Thế Ký 5:21)

Năm Do-thái: 521
Năm Julian: 3240 TCN

Mê-tu-sê-la sinh ra Lê-méc: “Mê-tu-sê-la được một trăm tám mươi bảy tuổi, sanh Lê-méc.” (Sáng Thế Ký 5:25)

Năm Do-thái: 577
Năm Julian: 3184 TCN

A-đam qua đời: “Vậy, A-đam hưởng thọ được chín trăm ba mươi tuổi, rồi qua đời.” (Sáng Thế Ký 5:5)

Năm Do-thái: 634
Năm Julian: 3127 TCN

Hê-nóc được Thiên Chúa cất ra khỏi thế gian:
“Vậy Hê-nóc hưởng thọ được ba trăm sáu mươi lăm tuổi. Hê-nóc đồng đi cùng Thiên Chúa, rồi mất biệt, bởi vì Thiên Chúa tiếp người đi.” (Sáng Thế Ký 5:23-24)

Bởi đức tin, Hê-nóc được cất lên và không hề thấy sự chết; người ta không thấy người nữa, vì Đức Chúa Trời đã tiếp người lên. Bởi chưng trước khi được tiếp lên, người đã được chứng rằng mình ở vừa lòng Đức Chúa Trời rồi.”(Hê-bơ-rơ 11:5)

Hê-nóc tiêu biểu cho sự kiện: Hội Thánh của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jesus Christ , bao gồm những người trung tín đồng đi với Chúa, tức là hết lòng sống theo Lời Chúa, là Thánh Kinh, cũng sẽ được Đức Chúa Trời đem ra khỏi thế gian trước bảy năm đại nạn của kỳ tận thế. Khải Huyền 3:10 khẳng định: “Vì ngươi đã giữ lời của sự nhẫn nại Ta, Ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách là giờ sẽ đến trên mọi người trong thế gian để thử nghiệm những kẻ ở trên đất.”

Năm Do-thái: 703
Năm Julian: 3058 TCN

Lê-méc sinh ra Nô-ê: “Lê-méc được một trăm tám mươi hai tuổi, sanh một trai, đặt tên là Nô-ê, mà nói rằng: Đứa nầy sẽ an ủy lòng ta về công việc và về sự nhọc nhằn mà đất bắt tay ta phải làm, là đất Đức Giê-hô-va đã rủa sả.” (Sáng Thế Ký 5:28-29)

Năm Do-thái: 1205
Năm Julian: 2556 TCN

Nô-ê sinh ra Sem. Sáng Thế Ký 5:32 chép: “Còn Nô-ê, khi đến năm trăm tuổi, sanh Sem, Cham, và Gia-phết;” là nói một cách tổng quát rằng, khi Nô-ê được 500 tuổi thì ông bắt đầu sinh con, rồi liệt kê tên ba người con của ông. Điều đó không có nghĩa là khi Nô-ê được 500 tuổi thì cùng một lúc sinh được ba người con. Sáng Thế Ký 11:10 cho biết, hai năm sau cơn nước lụt, Sem mới được 100 tuổi, trong khi đó, cơn nước lụt xảy ra lúc Nô-ê được 600 tuổi (Sáng Thế Ký 7:6). Vậy, Sem phải được sinh ra khi Nô-ê được 502 tuổi [1].

Năm Do-thái: 1303
Năm Julian: 2458 TCN

Mê-tu-sê-la qua đời: “Vậy, Mê-tu-sê-la hưởng thọ được chín trăm sáu mươi chín tuổi, rồi qua đời.” (Sáng Thế Ký 5:27)

Nô-ê được 600 tuổi. Vào ngày 17 tháng tháng 2, Cơn Lụt Lớn xảy ra hủy diệt mọi sinh vật trên đất, trừ gia đình Nô-ê tám người và các loài sinh vật đã vào trong một chiếc tàu lớn do Thiên Chúa sai ông đóng nên: “Nhằm năm sáu trăm của đời Nô-ê, tháng hai, ngày mười bảy, chánh ngày đó, các nguồn của vực lớn nổ ra, và các đập trên trời mở xuống; mưa sa trên mặt đất trọn bốn mươi ngày và bốn mươi đêm. Lại cũng trong một ngày đó, Nô-ê với vợ, ba con trai: Sem, Cham và Gia-phết, cùng ba dâu mình đồng vào tàu.” (Sáng Thế Ký 7:11-13)

Nô-ê tiêu biểu cho sự kiện: Trong bảy năm đại nạn của kỳ tận thế, là lúc Hội Thánh của Chúa đã được cất ra khỏi thế gian, sẽ có nhiều người tin Chúa được cứu khỏi các tai nạn. Sau cơn đại nạn, họ sẽ trở thành những công dân của vương quốc Ngàn Năm Bình An trên đất, cai trị bởi Đức Chúa Jesus Christ và Hội Thánh của Ngài. Từ nơi họ, loài người sẽ tiếp tục được sinh ra trong suốt một ngàn năm để làm đầy đất.

Năm Do-thái: 1304
Năm Julian: 2457 TCN

Ngày 1 tháng 1 năm thứ 601 của đời Nô-ê, nước lụt lui đi, mặt đất khô lại: “Nhằm năm sáu trăm một của đời Nô-ê, ngày mồng một, tháng Giêng, nước đã giựt bày mặt đất khô; Nô-ê bèn giở mui tàu mà nhìn; nầy, mặt đất đã se.” (Sáng Thế Ký 8:13)

Đến ngày 27 tháng 2 thì mặt đất hoàn toàn khô hẵn. Thiên Chúa phán truyền cho gia đình Nô-ê và các loài sinh vật ra khỏi tàu: “Đến tháng hai, ngày hai mươi bảy, đất đã khô rồi. Thiên Chúa bèn phán cùng Nô-ê rằng: Hãy ra khỏi tàu, ngươi, vợ các con và các dâu ngươi. Hãy thả ra với ngươi mọi vật sống của các xác thịt đã ở cùng ngươi: nào chim, nào thú, nào côn trùng bò trên đất, hầu cho chúng nó sanh sản, và thêm nhiều trên mặt đất” (Sáng Thế Ký 8:14-19).

Năm Do-thái: 1305
Năm Julian: 2456 TCN

Sem sinh ra A-bác-sát: “Đây là dòng dõi của Sem: Cách hai năm, sau cơn nước lụt, Sem được một trăm tuổi, sanh A-bác-sát” (Sáng Thế Ký 11:10).

Năm Do-thái: 1340
Năm Julian: 2421 TCN

A-bác-sát sinh ra Sê-lách: “A-bác-sát được ba mươi lăm tuổi, sanh Sê-lách.” (Sáng Thế Ký 11:12)

Năm Do-thái: 1370
Năm Julian: 2391 TCN

Sê-lách sinh ra Hê-be: “Sê-lách được ba mươi tuổi, sanh Hê-be.” (Sáng Thế Ký 11:14)

Năm Do-thái: 1404
Năm Julian: 2357 TCN

Hê-be sinh ra Bê-léc: “Hê-be được ba mươi bốn tuổi, sanh Bê-léc.” (Sáng Thế Ký 11:16)

Bê-léc có nghĩa là “chia.” Sáng Thế Ký 10:25 cho biết trong đời Bê-léc đất được chia ra. Sự chia đất này có thể là sự đất tách rời thành các đại lục như chúng ta biết ngày hôm nay. Cũng có thể là sự phân tán các dân tộc và định biên giới cho họ:

Sáng Thế Ký 10:32 “Ấy là các họ hàng của ba con trai Nô-ê tùy theo đời và dân tộc của họ; lại cũng do nơi họ mà các dân chia ra trên mặt đất sau cơn nước lụt.”

Sáng Thế Ký 11:8-9 “Rồi, từ đó Đức Giê-hô-va làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ thôi công việc xây cất thành. Bởi cớ đó đặt tên thành là Ba-bên, vì nơi đó Đức Giê-hô-va làm lộn xộn tiếng nói của cả thế gian, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất.”

Phục Truyền Luật Lệ Ký 32:8 “Khi Đấng Chí Cao phân phát sản nghiệp cho muôn dân, phân rẽ những con cái A-đam, thì Ngài định bờ cõi của các dân.”

Công Vụ Các Sứ Đồ 17:26-27 “Ngài đã làm cho muôn dân sanh ra bởi chỉ một người, và khiến ở khắp trên mặt đất, định trước thì giờ đời người ta cùng giới hạn chỗ ở, hầu cho tìm kiếm Chúa, và hết sức rờ tìm cho được, dẫu Ngài chẳng ở xa mỗi một người trong chúng ta.”

Năm Do-thái: 1434
Năm Julian: 2327 TCN

Bê-léc sinh ra Rê-hu: “Bê-léc được ba mươi tuổi, sanh Rê-hu.” (Sáng Thế Ký 11:18)

Năm Do-thái: 1466
Năm Julian: 2295 TCN

Rê-hu sinh ra Sê-rúc: “Rê-hu được ba mươi hai tuổi, sanh Sê-rúc.” (Sáng Thế Ký 11:20)

Năm Do-thái: 1496
Năm Julian: 2265 TCN

Sê-rúc sinh ra Na-cô: “Sê-rúc được ba mươi tuổi, sanh Na-cô.” (Sáng Thế Ký 11:22)

Năm Do-thái: 1525
Năm Julian: 2236 TCN

Na-cô sinh ra Tha-rê: “Na-cô được hai mươi chín tuổi, sanh Tha-rê.” (Sáng Thế Ký 11:24)

Năm Do-thái: 1595
Năm Julian: 2166 TCN

Tha-rê sinh ra Áp-ram: “Còn Tha-rê được bảy mươi tuổi, sanh Áp-ram, Na-cô và Ha-ran.” (Sáng Thế Ký 11:26)

Năm Do-thái: 1605
Năm Julian: 2156 TCN

Sa-rai, vợ của Áp-ram được sinh ra. Chiết tính theo chi tiết trong Sáng Thế Ký 17:17, cho biết, lúc Áp-ram được 100 tuổi thì Sa-ra được 90 tuổi.

Năm Do-thái: 1653
Năm Julian: 2108 TCN

Nô-ê qua đời lúc Áp-ram được 58 tuổi:“Sau khi lụt, Nô-ê còn sống ba trăm năm mươi năm. Vậy, Nô-ê hưởng thọ được chín trăm năm mươi tuổi, rồi qua đời.” (Sáng Thế Ký 9:28-29

Năm Do-thái: 1670
Năm Julian: 2091 TCN

Áp-ram lúc 75 tuổi, cùng với cháu mình là Lót, rời Cha-ran, theo tiếng gọi của Thiên Chúa: “Vả, Đức Giê-hô-va có phán cùng Áp-ram rằng: Ngươi hãy ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho. Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước cho ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước. Rồi Áp-ram đi, theo như lời Đức Giê-hô-va đã phán dạy; Lót đồng đi với người. Khi Áp-ram ra khỏi Cha-ran, tuổi người được bảy mươi lăm. Áp-ram dẫn Sa-rai, vợ mình, Lót, cháu mình, cả gia tài đã thâu góp, và các đầy tớ đã được tại Cha-ran, từ đó ra, để đi đến xứ Ca-na-an; rồi, chúng đều đến xứ Ca-na-an.” (Sáng Thế Ký 12:1-5)

Năm Do-thái: 1680
Năm Julian: 2081 TCN

Áp-ram lấy A-ga, nữ nô lệ người Ai-cập của Sa-rai, làm vợ thứ: “Sau khi Áp-ram đã trú ngụ mười năm tại xứ Ca-na-an, Sa-rai, vợ người, bắt A-ga, là con đòi Ê-díp-tô mình, đưa cho chồng làm hầu. Người lại cùng con đòi, thì nàng thọ thai. Khi con đòi thấy mình thọ thai, thì khinh bỉ bà chủ mình.” (Sáng Thế Ký 16:3-4)

Năm Do-thái: 1681
Năm Julian: 2080 TCN

Ích-ma-ên, con trai của Áp-ram và A-ga được sinh ra “Vả lại, khi A-ga sanh Ích-ma-ên cho Áp-ram, thì Áp-ram đã được tám mươi sáu tuổi.” (Sáng Thế Ký 16:16)

Năm Do-thái: 1694
Năm Julian: 2067 TCN

Áp-ram được Thiên Chúa đổi tên thành Áp-ra-ham, lúc ông được 99 tuổi: “Khi Áp-ram được chín mươi chín tuổi, thì Đức Giê-hô-va hiện đến cùng người và phán rằng: Ta là Thiên Chúa toàn năng; ngươi hãy đi ở trước mặt Ta làm một người trọn vẹn… Thiên hạ chẳng còn gọi ngươi là Áp-ram nữa, nhưng tên ngươi là Áp-ra-ham, vì Ta đặt ngươi làm tổ phụ của nhiều dân tộc” (Sáng Thế Ký 17:1, 5). Áp-ra-ham có nghĩa là “cha của nhiều dân tộc.”

Vợ của Áp-ra-ham được đổi tên từ Sa-rai thành Sa-ra:“Thiên Chúa phán cùng Áp-ra-ham rằng: còn Sa-rai, vợ ngươi, chớ gọi là Sa-rai nữa; nhưng Sa-ra là tên người đó” (Sáng Thế Ký 17:15). Sa-ra có nghĩa là “công chúa.”

Thiên Chúa hứa với Áp-ra-ham, qua năm sau, Sa-ra sẽ sinh một con trai, đặt tên là I-sác mà Ngài sẽ lập giao ước đời đời cùng dòng dõi của I-sác, (sau này là dân I-sơ-ra-ên): “Thiên Chúa bèn phán rằng: Thật vậy, Sa-ra vợ ngươi, sẽ sanh một con trai, rồi ngươi đặt tên là I-sác. Ta sẽ lập giao ước cùng nó, để làm giao ước đời đời cho dòng dõi của nó.” (Sáng Thế Ký 17:19)

Thiên Chúa hứa với Áp-ra-ham, Ích-ma-ên sẽ trở nên tổ phụ của 12 chi tộc, (sau này là dân Ả-rập): “Ta cũng nhậm lời ngươi xin cho Ích-ma-ên. Nầy, ta ban phước cho người, sẽ làm cho người sanh sản và thêm nhiều quá-bội; người sẽ là tổ phụ của mười hai vị công-hầu, và ta làm cho người thành một dân lớn.” (Sáng Thế Ký 17:20)

Thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ bị Thiên Chúa hủy diệt vì tội lỗi của cư dân: “Đoạn, Đức Giê-hô-va giáng mưa diêm sanh và lửa từ nơi Ngài trên trời sa xuống Sô-đôm và Gô-mô-rơ, hủy diệt hai thành nầy, cả đồng bằng, hết thảy dân sự cùng các cây cỏ ở nơi đất đó.” (Sáng Thế Ký 19:24-25)

Năm Do-thái: 1700
Năm Julian: 2061 TCN

I-sác thôi bú, A-ga và Ích-ma-ên bị đuổi ra khỏi gia đình Áp-ra-ham: “Áp-ra-ham dậy sớm, lấy bánh và một bầu nước, đưa cho A-ga; để các món đó trên vai nàng, và giao đứa trai cho nàng, rồi đuổi đi. Nàng ra đi, đi dông dài trong đồng vắng Bê-e-sê-ba.” (Sáng Thế Ký 21:14)

Năm Do-thái: 1732
Năm Julian: 2029 TCN

Sa-ra qua đời: “Sa-ra hưởng thọ được một trăm hai mươi bảy tuổi. Ấy là bao nhiêu năm của đời Sa-ra.” (Sáng Thế Ký 23:1)

Năm Do-thái: 1735
Năm Julian: 2026 TCN

I-sác kết hôn cùng Rê-bê-ca: “Vả, khi I-sác được bốn mươi tuổi, thì cưới Rê-bê-ca, con gái của Bê-tu-ên và em gái của La-ban, đều là dân A-ram, ở tại xứ Pha-đan-a-ram.” (Sáng Thế Ký 25:20)

Năm Do-thái: 1755
Năm Julian: 2006 TCN

I-sác sinh ra Ê-sau và Gia-cốp: “Đứa ra trước đỏ hồng, lông cùng mình như một áo tơi lông; đặt tên là Ê-sau. Kế em nó lại ra sau, tay nắm lấy gót Ê-sau; nên đặt tên là Gia-cốp. Khi sanh hai đứa con nầy thì I-sác đã được sáu mươi tuổi.” (Sáng Thế Ký 25:25-26)

Năm Do-thái: 1795
Năm Julian: 1966 TCN

Ê-sau kết hôn với Giu-đít: “Khi Ê-sau được bốn mươi tuổi, cưới Giu-đít, con gái của Bê -e-ri, người Hê-tít; và Bách-mát, con gái của Ê-lôn, cũng người Hê-tít.” (Sáng Thế Ký 26:34)

Năm Do-thái: 1875
Năm Julian: 1886 TCN

I-sác qua đời: “I-sác hưởng thọ được một trăm tám mươi tuổi.” (Sáng Thế Ký 35:28)

Năm Do-thái: 1885
Năm Julian: 1876 TCN

Gia-cốp di cư đến Ai-cập: “Đoạn, Giô-sép dẫn Gia-cốp, cha mình, đến yết-kiến Pha-ra-ôn. Gia-cốp chúc phước cho Pha-ra-ôn. Pha-ra-ôn hỏi Gia-cốp rằng: Ngươi hưởng thọ được bao nhiêu tuổi? Gia-cốp tâu rằng: Những năm tôi sống ở đời phiêu lưu hết thảy là một trăm ba mươi năm; các năm của đời tôi lấy làm ngắn-ngủi và lại nhọc nhằn, chẳng bằng những năm bình sanh của tổ phụ tôi khi người ở phiêu lưu đó.” (Sáng Thế Ký 47:7-9)

Năm Do-thái: 1902
Năm Julian: 1859 TCN

Gia-cốp qua đời: “Gia-cốp kiều ngụ trong xứ Ê-díp-tô được mười bảy năm, hưởng thọ được một trăm bốn mươi bảy tuổi.” (Sáng Thế Ký 47:28)

Năm Do-thái: 2315
Năm Julian: 1446 TCN

Dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ A-cập: “Vả, thì kiều ngụ của dân I-sơ-ra-ên tại xứ Ê-díp-tô được bốn trăm ba mươi năm. Khi mãn bốn trăm ba mươi năm rồi, thì, cũng trong ngày đó, các quân đội của Đức Giê-hô-va ra khỏi xứ Ê-díp-tô.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:40-41)

Thì kiều ngụ của dân I-sơ-ra-ên bắt đầu vào năm sáng thế 2238, khi Gia-cốp và các con trai mình di cư đến Ai-cập.

Dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai-cập vào thứ năm, ngày 15 tháng Nissan năm 2315 Lịch Do-thái, nhằm thứ năm, ngày 26 tháng 3 năm 1446 TCN Lịch Julian: “Ngày rằm tháng giêng, tức ngày sau lễ Vượt-qua, dân I-sơ-ra-ên ra đi từ Ram-se, cách dạn dĩ, có mắt của hết thảy người Ê-díp-tô thấy.” (Dân Số Ký 33:3).

Dựa vào I Các Vua 6:1 và dữ kiện lịch sử về việc Vua Sa-lô-môn lên ngôi năm 970 TCN mà chúng ta tính ra được năm dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai-cập nhằm năm 1446 TCN: “Xảy ra năm bốn trăm tám mươi, sau khi dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô, là năm thứ tư của Sa-lô-môn trị vì trên I-sơ-ra-ên, nhằm tháng Xíp, nghĩa là tháng thứ hai, thì người cất đền của Đức Giê-hô-va.”

Vua Sa-lô-môn lên ngôi năm 970 TCN tương đương với năm thứ 2791 Lịch Do-thái. Vậy, lấy năm thứ tư của đời vua Sa-lô-môn, tức là năm 2795 Lịch Do-thái trừ đi 480 năm, chúng ta sẽ có năm 2315 Lịch Do-thái, tương đương với năm 1446 Lịch Julian.

Như vậy, theo Thánh Kinh chúng ta có thể thiết lập được: từ khi A-đam được dựng nên cho đến khi Dân I-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập là 2668 năm. Chúng ta đi từ dữ kiện lịch sử năm lên ngôi của Vua Sa-lô-môn là năm 970 TCN Lịch Julian và I Các Vua 6:1 để tính ra năm 1446 Lịch Julian tương đương với năm 2668 Lịch Sáng Thế. Theo lịch sử, năm 1 của Lịch Do-thái tương đương với năm 3761 TCN của Lịch Julian, nên chúng ta biết dân I-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập vào năm 2315 Lịch Do-thái.

Chúng ta thấy: Ngày dân I-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập là đúng 430 năm kể từ khi Gia-cốp, tổ phụ của dân I-sơ-ra-ên di cư đến Ai-cập mà cũng đúng 480 năm nếu tính đến đời thứ tư của Vua Sa-lô-môn. Như vậy, dữ kiện lịch sử đã chứng minh lẽ thật của Thánh Kinh như đã ghi rõ trong Xuất Ê-díp-tô Ký 12:40-41 và I Các Vua 6:1.

Có một điểm trùng hợp quan trọng:Ngày Lễ Vượt Qua đầu tiên do chính Thiên Chúa thiết lập vào thứ tư, ngày 14 tháng Nissan năm 2315 Lịch Do-thái, nhằm thứ tư, ngày 25 tháng 3 năm 1446 TCN Lịch Julian. Đức Chúa Jesus Christ, Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng cất tội lỗi của thế gian, chết trên thập tự giá vào ngày Lễ Vượt Qua, thứ tư, ngày 14 tháng Nissan năm 3787 Lịch Do-thái, nhằm thứ tư, ngày 9 tháng 4 năm 27 Lịch Julian, làm ứng nghiệm ý nghĩa thuộc linh của Lễ Vượt Qua.

Trong vài bài giảng của chúng tôi, khi nói đến ngày Lễ Vượt Qua đầu tiên, chúng tôi đã nghĩ rằng, ngày 14 tháng Nissan là ngày Sa-bát. Sự suy nghĩ đó dựa trên Xuất Ê-díp-tô Ký 12:2: “Tháng nầy định làm tháng đầu cho các ngươi, tức là tháng Giêng trong quanh năm;” cho rằng, ngày mùng một của tháng Giêng phải là ngày thứ nhất (chủ nhật), và như vậy, các ngày 7, 14, 21, và 28 của tháng Giêng sẽ đương nhiên là ngày Sa-bát. Tuy nhiên, có lẽ Thiên Chúa đã phán với Môi-se nhằm ngày thứ năm trong tuần, và như vậy, ngày thứ nhất của tháng Giêng mới mà Thiên Chúa thiết lập cho dân I-sơ-ra-ên chính là ngày thứ năm, để bảo tồn sự chính xác của ngày Sa-bát từ khi sáng thế, dẫn đến ngày 14 tháng Nissan (tháng Giêng) của Lễ Vượt Qua đầu tiên là một ngày thứ tư. Sự kiện trùng lập của ngày Lễ Vượt Qua đầu tiên và ngày chết của Đức Chúa Jesus Christ cùng là thứ tư ngày 14 tháng Nissan là một dấu chứng mạnh mẽ cho giả thuyết lời phán của Thiên Chúa trong Xuất Ê-díp-tô Ký 12 với Môi-se nhằm ngày thứ năm trong tuần lễ.

Năm Do-thái: 2355
Năm Julian: 1406 TCN

Dân I-sơ-ra-ên tiến vào đất hứa Ca-na-an nhằm ngày 10 tháng Nissan năm 2355 Lịch Do-thái, và toàn thể dân sự chịu lễ cắt bì: “Ngày mồng mười tháng giêng, dân sự đi lên khỏi sông Giô-đanh, và đóng trại tại Ghinh-ganh, ở cuối phía đông Giê-ri-cô.” (Giô-suê 4:19)

Sau đó, dân I-sơ-ra-ên giữ Lễ Vượt Qua vào ngày 14 tháng Nissan năm 2355 Lịch Do-thái, kết thúc 40 năm bị Thiên Chúa đoán phạt phải lang thang trong hoang mạc. Qua ngày 15 tháng Nissan thì họ ăn thổ sản của xứ và ma-na không còn ban xuống từ trời cho họ nữa: “Dân I-sơ-ra-ên đóng trại tại Ghinh-ganh trong đồng bằng Giê-ri-cô, và giữ lễ Vượt qua nhằm ngày mười bốn tháng này, vào lối chiều tối. Ngày sau lễ Vượt qua, chánh này đó, dân sự ăn thổ sản của xứ, bánh không men, và hột rang. Ngày mà chúng đã ăn lúa mì của xứ, thì đến sáng mai ma-na hết; vậy, dân I-sơ-ra-ên không có ma-na nữa, nhưng trong năm đó ăn những thổ sản của Ca-na-an.” (Giô-suê 5:10-12)

Năm Do-thái: 2711
Năm Julian: 1050 TCN

Vua Sau-lơ lên ngôi, cai trị 40 năm [2].

Năm Do-thái: 2751
Năm Julian: 1010 TCN

Vua Đa-vít lên ngôi, cai trị 40 năm [2].

Năm Do-thái: 2791
Năm Julian: 970 TCN

Vua Sa-lô-môn lên ngôi, cai trị 40 năm [2].

Năm Do-thái: 2795
Năm Julian: 966 TCN

Đền thờ của Thiên Chúa, còn gọi là Đền Thờ Thứ Nhất, được Vua Sa-lô-môn khởi công xây cất: “Xảy ra năm bốn trăm tám mươi, sau khi dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô, là năm thứ tư của Sa-lô-môn trị vì trên I-sơ-ra-ên, nhằm tháng Xíp, nghĩa là tháng thứ hai, thì người cất đền của Đức Giê-hô-va.” (I Các Vua 6:1)

Năm Do-thái: 3039
Năm Julian: 722 TCN

Vương Quốc Israel bị hủy diệt bởi Đế Quốc A-si-ri (II Các Vua 17).

Năm Do-thái: 3174
Năm Julian: 587 TCN

Vương Quốc Giu-đa bị hủy diệt bởi Đế Quốc Ba-by-lôn (II Các Vua 24 và 25).

Thành Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ Thứ Nhất bị hủy diệt bởi Vua Nê-bu-cát-nết-xa của Đế Quốc Ba-by-lôn vào ngày 29 tháng 7 năm 587 TCN [3].

Năm Do-thái: 3223
Năm Julian: 538 TCN

Vua Si-ru của Vương Quốc Phe-rơ-sơ (I-ran ngày nay) xâm chiếm Ba-by-lôn và ra chiếu chỉ cho phép dân I-sơ-ra-ên được quay về, xây dựng lại tường thành Giê-ru-sa-lem và đền thờ: “Năm thứ nhất đời Si-ru, vua Phe-rơ-sơ trị vì, Đức Giê-hô-a muốn làm cho ứng nghiệm lời Ngài đã cậy miệng Giê-rê-mi mà phán ra, bèn cảm động lòng Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, rao truyền trong khắp nước mình, và cũng ra chiếu chỉ, mà rằng: Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, nói như vầy: Giê-hô-va Thiên Chúa đã ban cho ta các nước thế gian, và biểu ta xây cất cho Ngài một cái đền ở tại Giê-ru-sa-lem trong xứ Giu-đa. Trong các ngươi, phàm ai thuộc về dân sự Ngài, hãy trở lên Giê-ru-sa-lem; nguyện Giê-hô-va Thiên Chúa của người ấy ở cùng người!” (II Sử Ký 36:22-23)

Có 49,897 người I-sơ-ra-ên quay về Giê-ru-sa-lem xây dựng lại đền thờ [4].

Năm Do-thái: 3246
Năm Julian: 515 TCN

Đền thờ Thiên Chúa được hoàn tất, còn gọi là Đền Thờ Thứ Nhì: “Ngày thứ ba tháng A-đa, nhằm năm thứ sáu đời vua Đa-ri-út, cái đền nầy được xây cất xong.” (Ê-xơ-ra 6:15)

Năm Do-thái: 3304
Năm Julian: 457 TCN

Ngày 1 tháng Nissan năm 3304 Lịch Do-thái,nhằm ngày 26 tháng 3 năm 457 TCN Lịch Julian, E-xơ-ra từ Ba-by-lôn khởi hành về lại Giê-ru-sa-lem để thiết lập lại việc thờ phượng Thiên Chúa theo chiếu chỉ của Vua Ạt-ta-xét-xe, Vương Quốc Phe-rơ-sơ (E-xơ-ra 7:9).

Theo Đa-ni-ên 9:24-26, Đức Chúa Jesus Christ sẽ bị giết vào cuối của tuần thứ 69 trong 70 tuần Thiên Chúa đã định cho dân I-sơ-ra-ên kể từ ngày Vua Ạt-ta-xét-xe ra chiếu chỉ cho E-xơ-ra. Mỗi một tuần tương đương 7 năm: “Có bảy mươi tuần lễ định trên dân ngươi và thành thánh ngươi, đặng ngăn sự phạm phép, trừ tội lỗi, làm sạch sự gian ác, và đem sự công bình đời đời vào, đặng đặt ấn tín nơi sự hiện thấy và lời tiên tri, và xức dầu cho nơi rất thánh. Ngươi khá biết và hiểu rằng từ khi ra lịnh tu bổ và xây lại Giê-ru-sa-lem, cho đến Đấng chịu xức dầu, tức là vua, thì được bảy tuần lễ và sáu mươi hai tuần lễ; thành đó sẽ được xây lại, có đường phố và hào, trong kỳ khó khăn. Sau sáu mươi hai tuần lễ đó, Đấng chịu xức dầu sẽ bị trừ đi, và sẽ không có chi hết. Có dân của vua hầu đến sẽ hủy phá thành và nơi thánh; cuối cùng nó sẽ như bị nước lụt ngập, có sự tranh chiến cho đến cuối cùng; những sự hoang vu đã định.”

Như vậy, từ khi Vua Ạt-ta-xét-xe ra chiếu chỉ cho E-xơ-tê vào ngày 1 tháng Nissan năm 3304 Lịch Do-thái, cho đến khi Đức Chúa Jesus Christ, (Christ có nghĩa là Đấng chịu xức dầu) bị giết vào ngày 14 tháng Nissan năm 3787 Lịch Do-thái, là 69 tuần lễ, tương đương 483 năm. Ứng nghiệm lời tiên tri trong Đa-ni-ên 9:24-26.

Năm Do-thái: 3328
Năm Julian: 433 TCN

Ma-la-chi, tiên tri cuối cùng của Thời Cựu Ước [5].

Năm Do-thái: 3755
Năm Julian: 7 TCN

Đức Chúa Jesus giáng sinh tại Bết-lê-hem, xứ Giu-đa: “Lúc ấy, Sê-sa Au-gút-tơ ra chiếu chỉ phải lập sổ dân trong cả thiên hạ. Việc lập sổ dân nầy là trước hết, và nhằm khi Qui-ri-ni-u làm quan tổng đốc xứ Sy-ri. Ai nấy đều đến thành mình khai tên vào sổ. Vì Giô-sép là dòng dõi nhà Đa-vít, cho nên cũng từ thành Na-xa-rét, xứ Ga-li-lê, lên thành Đa-vít, gọi là Bết-lê-hem, xứ Giu-đê, để khai vào sổ tên mình và tên Ma-ri, là người đã hứa gả cho mình đương có thai. Đang khi hai người ở nơi đó, thì ngày sanh đẻ c

Đọc Tiếp → 2,834 views

Loài Người (08): Xác Thịt

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?c8ggbjr9bz5srof

Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống mp3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/1104

Huỳnh Christian Timothy

Dẫn Nhập

Thiên Chúa sáng tạo loài người là một linh hồn sống, nhưng Ngài làm ra thân thể vật chất của loài người từ vật liệu đã có sẵn là bụi của đất. Sáng Thế Ký 2:7 ghi lại rõ ràng cách thức Thiên Chúa tạo nên hình thể vật chất của loài người. Thiên Chúa đã lấy bụi của đất nắn nên hình người: Giê-hô-va Thiên Chúa nắn loài người từ bụi của đất, thổi hơi thở sống vào lỗ mũi, thì loài người trở nên một linh hồn sống.” Khi hình thể vật chất của loài người chưa có sự sống vận hành bên trong thì nó chỉ là một hình tượng bằng bụi của đất; nhưng khi sự sống vào trong hình thể bụi đất đó, thì nó trở thành xác thịt. Nếu vì một lý do gì đó mà sự sống ra khỏi thân thể xác thịt thì thân thể xác thịt sẽ trở về bụi đất: “ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn, cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi” (Sáng Thế Ký 3:19). ”Hơi thở tắt đi, loài người bèn trở về bụi đất…” (Thi Thiên 146:4).

Sáng Thế Ký 2:19 cho biết Thiên Chúa cũng dùng bụi của đất để làm nên hình thể vật chất của các loài thú: “Giê-hô-va Thiên Chúa lấy đất nắn nên các loài thú đồng, các loài chim trời, rồi dẫn đến trước mặt A-đam đặng thử xem người đặt tên chúng nó làm sao, hầu cho tên nào A-đam đặt cho mỗi sanh linh, đều thành tên riêng cho nó.” Tuy nhiên, Thánh Kinh cho biết có sự khác biệt giữa xác thịt của loài người và loài thú: “Mọi xác thịt chẳng phải là đồng một xác thịt; nhưng xác thịt loài người khác, xác thịt loài thú khác, loài chim khác, loài cá khác” (I Cô-rinh-tô 15:39).

A-đam

Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ, từ ngữ “'âdâm,” H120, là một danh từ gọi chung loài người hoặc gọi một người, không phân biệt giống tính. Nghĩa đen của từ ngữ này là “đỏ” hoặc “đỏ như đất.” Lần đầu tiên từ ngữ này xuất hiện trong Thánh Kinh là do chính Thiên Chúa dùng, khi Ngài phán: ”Chúng Ta hãy làm ra loài người ('âdâm) như hình Chúng Ta, giống như Chúng Ta…” (Sáng Thế Ký 1:26).

Nghĩa thứ hai của “'âdâm,” được ký số Strong là H121, cùng là một danh từ như H120 nhưng được dùng làm tên riêng để gọi người đầu tiên do Thiên Chúa dựng nên. Trong các bản dịch Thánh Kinh, từ ngữ này được phiên âm thành A-đam.

Nói cách khác, cùng một cách viết, cùng một phát âm nhưng danh từ “A-đam” có hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất là “loài người” hoặc “người” và nghĩa thứ hai là “đỏ,” tên riêng của người đầu tiên được Thiên Chúa dựng nên.

Những Nguyên Tố Từ Bụi Đất Tạo Nên Xác Thịt Loài Người

Thánh Kinh chỉ nói một cách ngắn gọn, Thiên Chúa dùng bụi của đất làm nên hình thể vật chất của loài người. Tuy nhiên, khi được phân tích bởi khoa học, chúng ta biết trung bình, khoảng 70% thân thể xác thịt của loài người là nước. Còn xét về khối lượng thì:

  • Khoảng 99% là tổng hợp của sáu nguyên tố hóa học: oxygen, carbon, hydrogen, nitrogen, calcium, and phosphorus.
  • Khoảng 0.85% là tổng hợp của năm nguyên tố hóa học: potassium, sulfur, sodium, chlorine, và magnesium
  • Khoảng 0.15% là tổng hợp của các nguyên tố hóa học khác cần thiết cho sự sống hoặc có hại cho sự sống. Những nguyên tố có hại cho sự sống là do cơ thể loài người hấp thụ qua không khí hoặc thực phẩm.

Tất cả những nguyên tố hóa học tạo thành thân thể xác thịt của loài người đều ra từ đất. Khi linh hồn và tâm thần ra khỏi thân thể xác thịt thì xác thịt sẽ phân rã thành bụi đất.

Xác Thịt hay Chết và Xác Thịt Không Chết

Mục đích của Thiên Chúa khi dựng nên thân thể xác thịt của loài người là để cho thân thể đó có khả năng tồn tại mãi mãi trong tình trạng nguyên thỉ, như khi vừa được Ngài tạo dựng. Điều đó dễ hiểu, bởi vì Ngài là Thiên Chúa toàn năng và chính Ngài đã phán rằng, công trình sáng tạo của Ngài là “rất tốt lành“ (Sáng Thế Ký 1:36). Không phải chỉ là “tốt lành” mà là “rất tốt lành,” nghĩa là vô cùng thánh thiện, toàn hảo, xinh đẹp. Chính chữ “tốt lành” này được Thánh Kinh dùng để nói đến bản tính “thiện” của Thiên Chúa.

Thi Thiên 86:5 “Chúa ôi! Chúa là thiện, sẵn tha thứ cho, ban sự thương xót dư dật cho những người kêu cầu cùng Chúa.”

Thi Thiên 135:3“Hãy tôn vinh Đức Giê-hô-va, vì Đức Giê-hô-va là thiện; Khá hát tôn vinh danh Ngài, vì ấy là vui.”

Dựa vào Lời Chúa, chúng ta hiểu rằng, lúc ban đầu, khi chưa phạm tội thì loài người không cần che thân bằng quần áo. Chính là vì thân thể xác thịt của loài người được dựng nên giống như hình Thiên Chúa với sự vinh quang bao phủ. Chỉ khi loài người phạm tội, sự vinh quang đó bị mất đi, thì loài người mới cần đến quần áo để che thân. Rô-ma 3:23 cho chúng ta biết lẽ thật này: “Vì họ đều đã phạm tội và họ đang bị thiếu hụt sự vinh quang của Đức Chúa Trời.” Chúng ta thật sự không biết tình trạng của loài người, của thế gian cùng muôn vật trong thế gian như thế nào, trước khi tội lỗi vào trong thế gian. Chúng ta chỉ biết chính Thiên Chúa phán rằng, “các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành!”

Trong tình trạng nguyên thỉ “rất tốt lành” đó, thân thể xác thịt của loài người có thể luôn luôn ở trong trạng thái “rất tốt lành” hoặc có thể trở nên “bị hư hoại và tan rã trở về cùng bụi đất.” Đó là sự chọn lựa của loài người. Nếu loài người chọn tin cậy và vâng phục Thiên Chúa thì loài người sẽ mãi mãi được tương giao với Thiên Chúa, hiểu biết Thiên Chúa ngày càng hơn, và không bao giờ kinh nghiệm sự đau khổ, cũng không bao giờ có tri thức về sự ác. Nếu loài người chọn hành động theo ý riêng, nghịch lại ý của Thiên Chúa, tức là loài người không tin cậy, không vâng phục Thiên Chúa, thì loài người sẽ bị cắt đứt quyền tương giao với Thiên Chúa, và nhận lấy hậu quả đương nhiên là sự đau khổ vì bị phân rẽ khỏi Thiên Chúa. Điều kinh khủng nhất là từ chính sự không tin cậy, không vâng phục Thiên Chúa đó, loài người kinh nghiệm sự ác mà không sao kiềm chế được sự ác và mọi hậu quả của sự ác. Sự ác chính là sự chống nghịch Thiên Chúa. Thiên Chúa là “thiện,” cho nên, tất cả những gì chống nghịch lại Thiên Chúa đều là “ác.” Một trong những hậu quả của sự ác mà loài người đã làm, là sự vinh quang của Thiên Chúa rời khỏi thân thể xác thịt của loài người, và thân thể xác thịt đó phải bị hư hoại, cuối cùng bị phân rẽ với tâm thần và linh hồn, bị tan rã, trở về cùng bụi đất, mà chúng ta gọi là cái chết của thân thể xác thịt.

Thiên Chúa đã đặt loài người trước hai sự chọn lựa đó để loài người hành sử quyền tự do mà Ngài đã ban cho họ. Không có sự chọn lựa thì không có tự do. Không có tự do thì không có tình yêu chân thật. Cây sự sống và cây biết điều thiện điều ác tiêu biểu cho điều mà loài người sẽ quyết định chọn lựa: Tin cậy và vâng phục Thiên Chúa hoặc không tin cậy và không vâng phục Thiên Chúa [1]. Nếu loài người chọn ăn trái của cây sự sống thì chứng tỏ rằng, loài người muốn được sống, và sống có nghĩa là tin cậy, vâng phục Thiên Chúa, được tương giao với và nhận biết Thiên Chúa ngày càng hơn. Nếu loài người chọn ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác thì chứng tỏ rằng, loài người không tin cậy, không vâng phục Thiên Chúa, không tin Lời phán của Thiên Chúa, rằng ăn trái của cây đó thì sẽ bị chết. Chết tức là bị phân rẽ khỏi Thiên Chúa và thân thể xác thịt bị phân rẽ với tâm thần cùng linh hồn, mà tan rã, trở về cùng bụi đất. Tổ phụ của loài người là A-đam và Ê-va đã chọn sự không tin cậy, không vâng phục Thiên Chúa, đem tội lỗi và hậu quả của tội lỗi là đau khổ và sự chết vào trong thế gian. Từ đó, không những loài người mà muôn vật được đặt dưới quyền cai trị của loài người, đều bị án phạt trực tiếp của tội lỗi, là đau khổ và sự chết.

Giả sử như, thay vì loài người chọn ăn trái cây biết điều thiện điều ác, mà chọn ăn trái cây sự sống, thì điều gì sẽ xảy ra? Thiên Chúa sẽ vui lòng về đức tin của loài người. Cây biết điều thiện và điều ác, tức là cây sự chết, sẽ được dẹp đi (có thể là sẽ bị ném vào hỏa ngục là nơi dùng để hình phạt các thiên sứ phạm tội, như sau này sự chết và âm phủ sẽ bị ném vào hỏa ngục – Khải Huyền 20:14). Loài người sẽ mãi mãi sống trong hạnh phúc bên Thiên Chúa, ngày càng hiểu biết Thiên Chúa càng hơn, mà Thánh Kinh gọi đó là sự sống đời đời (Giăng 17:3). Chắc chắn, loài người sẽ không bao giờ kinh nghiệm đau khổ và sự chết, như Khải Huyền 21:4 minh chứng về một thế giới không có tội lỗi.

Có một lý luận thần học cho rằng, chính Thiên Chúa muốn cho loài người kinh nghiệm tội lỗi và sự chết để loài người có thể nhận thức sự thánh khiết và sự sống! Đó là một sự ngụy biện đến từ Sa-tan để gạt loài người phạm thêm tội đổ trách nhiệm loài người phạm tội cho Thiên Chúa và bào chữa cho nếp sống tội của loài người. Một người không cần biết mùi thối để vui hưởng mùi thơm như thế nào thì một người cũng không cần biết đau khổ để vui hưởng hạnh phúc. Một người không cần phải bị đui mù để có thể vui hưởng hạnh phúc mà ánh sáng mang đến như thế nào thì một người cũng không cần phải kinh nghiệm sự chết để vui hưởng hạnh phúc của sự sống.

Trong sự công bình và thánh khiết của Thiên Chúa thì Ngài có thể để mặc cho loài người hư mất trong tội lỗi và cuối cùng tất cả đều bị giam đời đời trong hỏa ngục. Nhưng Thiên Chúa là tình yêu nên Ngài đã ban cho loài người “cơ hội thứ hai.” Cơ hội thứ hai Thiên Chúa ban cho loài người trong sự lựa chọn tin cậy và vâng phục Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa hay lựa chọn sống theo ý riêng của mình, nghịch lại Thiên Chúa, được ban cho tất cả mọi người:

  • Đối với A-đam và Ê-va cùng những người được sinh ra trước thời Mười Điều Răn được ban hành qua dân I-sơ-ra-ên: Mỗi người phải ăn năn tội và sống theo tiêu chuẩn luật pháp Thiên Chúa đã đặt để trong lương tâm mình, tin cậy và tôn thờ Thiên Chúa. Nhờ đó, khi Đức Chúa Jesus Christ chết chuộc tội cho toàn thể nhân loại, họ sẽ được hưởng sự tha tội và làm cho sạch tội, thân thể xác thịt được sống lại trong vinh quang và được phục hồi địa vị làm con của Đức Chúa Trời.
  • Đối với dân I-sơ-ra-ên cùng các dân tộc nhận biết Mười Điều Răn qua dân I-sơ-ra-ên, cho đến khi Đấng Christ chịu chết: Mỗi người phải ăn năn tội và sống theo tiêu chuẩn luật pháp Thiên Chúa đã ban hành qua chữ viết, tin cậy vào ơn cứu chuộc của Thiên Chúa được thể hiện qua hình thức dâng sinh tế chuộc tội, và chỉ một lòng tôn thờ Thiên Chúa. Nhờ đó, khi Đức Chúa Jesus Christ chết chuộc tội cho toàn thể nhân loại, họ sẽ được hưởng sự tha tội và làm cho sạch tội, thân thể xác thịt được sống lại trong vinh quang và được phục hồi địa vị làm con của Đức Chúa Trời.
  • Đối với các dân tộc đồng thời với dân I-sơ-ra-ên nhưng chưa được biết về Mười Điều Răn, cho đến khi Đấng Christ chịu chết: Mỗi người phải ăn năn tội và sống theo tiêu chuẩn luật pháp Thiên Chúa đã đặt để trong lương tâm mình, tin cậy và tôn thờ Thiên Chúa. Nhờ đó, khi Đức Chúa Jesus Christ chết chuộc tội cho toàn thể nhân loại, họ sẽ được hưởng sự tha tội và làm cho sạch tội, thân thể xác thịt được sống lại trong vinh quang và được phục hồi địa vị làm con của Đức Chúa Trời.
  • Đối với mọi dân tộc, bao gồm dân I-sơ-ra-ên kể từ khi Đấng Christ chịu chết cho đến khi kết thúc thời kỳ Vương Quốc Ngàn Năm: Mỗi người phải ăn năn tội, tin cậy vào sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ trên thập tự giá, sống theo tiêu chuẩn luật pháp Thiên Chúa đã ghi chép cách mới vào trong lương tâm mình và giải bày qua Thánh Kinh, một lòng tin cậy và tôn thờ Thiên Chúa. Nhờ đó, họ sẽ được hưởng sự tha tội và làm cho sạch tội, thân thể xác thịt được sống lại trong vinh quang và được phục hồi địa vị làm con của Đức Chúa Trời.
  • Đối với mọi dân tộc, kể từ khi Đấng Christ chịu chết cho đến khi mở đầu của kỳ đại nạn mà họ không có cơ hội nghe biết về Tin Lành: Mỗi người phải ăn năn tội và sống theo tiêu chuẩn luật pháp Thiên Chúa đã đặt để trong lương tâm mình, tin cậy và tôn thờ Thiên Chúa. Nhờ đó, họ sẽ được hưởng sự tha tội và làm cho sạch tội bởi sự chết của Đức Chúa Jesus Christ, thân thể xác thịt được sống lại trong vinh quang và được phục hồi địa vị làm con của Đức Chúa Trời. Riêng trong kỳ đại nạn, mọi dân tộc, mọi tiếng nói đều sẽ được nghe giảng Tin Lành bởi thiên sứ của Chúa và 144,000 chứng nhân người I-sơ-ra-ên. Tất cả những ai muốn được cứu chuộc thì phải ăn năn tội, tin nhận Tin Lành, và sẵn sàng chịu chết vì danh của Đức Chúa Jesus Christ.

Tất cả những ai thật lòng ăn năn tội, tin cậy và vâng phục Thiên Chúa, dù ở trong thời đại nào, thuộc về dân tộc nào cũng đều được gọi chung là các thánh đồ của Thiên Chúa. Thánh đồ là người được Đức Chúa Trời tha tội, xưng là công chính, được Đức Chúa Jesus Christ làm cho sạch tội, và được Đức Thánh Linh thánh hóa, biệt riêng ra làm con cái của Đức Chúa Trời. Mọi thánh đồ của Thiên Chúa sẽ được phục hồi địa vị làm con của Đức Chúa Trời, được trở lại tương giao với Thiên Chúa và hiểu biết Thiên Chúa ngày càng hơn cho đến mãi mãi. Thân thể xác thịt của họ sẽ theo thứ tự mà được phục sinh thành một thân thể xác thịt không hề chết, tức là không bao giờ còn kinh nghiệm những sự đau yếu, bệnh tật, già yếu và bị phân rã thành bụi đất. Chẳng những vậy, thân thể ấy còn có thể điều khiển và vượt trên các định luật vật lý, như thân thể phục sinh của Đức Chúa Jesus Christ.

Những Sự Ưa Muốn của Xác Thịt

Trong hiện tại, thân thể xác thịt đang chết có những điều ưa muốn mà xác thịt kinh nghiệm được trong thế giới vật chất. Một phần nào trong những sự ưa muốn đó là nhu cầu sinh lý và tâm lý chính đáng, như: đói cần phải được ăn, khát cần phải được uống, mệt mõi, cần phải được nghỉ ngơi, đau buồn cần được than khóc và được an ủi, vui mừng cần được reo cười và ca hát… kể cả nhu cầu về sự được thỏa mãn cao điểm vui thú trong tình vợ chồng là quan hệ tình dục. Tự mỗi nhu cầu và ham muốn là điều tự nhiên Thiên Chúa đặt để trong chúng ta, không có gì sai trái hay tội lỗi. Tuy nhiên, cách thức và mục đích mà chúng ta đáp ứng những điều ưa muốn chính đáng của xác thịt có thể sai trái và là tội lỗi.

Thánh Kinh dạy chúng ta: “chớ hề làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt” (Ga-la-ti 5:16). Điều đó có nghĩa là chúng ta chỉ được thỏa mãn các nhu cầu chính đáng của xác thịt bằng những phương cách chính đáng, tức là những phương cách không vi phạm tiêu chuẩn công bình và thánh khiết của Thiên Chúa, như đã được bày tỏ trong Thánh Kinh. Vì thế, có những lúc chúng ta phải bỏ mặc nhu cầu chính đáng của xác thịt để không phạm tội nghịch cùng Thiên Chúa. Thí dụ, chúng ta đang đói, cần phải được ăn no, nhưng chúng ta không thể đánh cắp thức ăn của người khác để ăn cho no lòng. Thậm chí, nếu chúng ta và một người khác nữa cùng đang đói thì chúng ta phải chia xẻ thức ăn hoặc nhường thức ăn của chính mình cho người khác, vì tình yêu thương. Thánh Kinh dạy: “Chẳng ai có tình yêu nào lớn hơn là một người phó sự sống mình cho các bạn hữu mình” (Giăng 15:13). Và: “Ấy vậy, hễ điều chi mà các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì cũng hãy làm điều đó cho họ, vì ấy là luật pháp và lời tiên tri” (Ma-thi-ơ 7:12; Lu-ca 6:31).

Người không có Chúa làm chủ chỉ có thể sống theo bản năng ích kỷ của tội lỗi, chỉ biết làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt bằng bất cứ phương cách nào. Chẳng những vậy, còn lạm dụng các chức năng Thiên Chúa ban cho, điển hình là sự phạm tội tà dâm. Bản năng tính dục và nhu cầu quan hệ tình dục của vợ chồng là điều Thiên Chúa ban cho và thiết lập cho loài người. Mục đích của bản năng tính dục là để loài người sinh sản làm cho đầy dẫy đất. Mục đích của nhu cầu quan hệ tình dục giữa vợ chồng vừa để phục vụ cho sự sinh sản vừa để loài người vui hưởng hạnh phúc được kết hợp trong tình yêu nam nữ. Khi loài người bị băng hoại bởi tội lỗi thì loài người đã biến nhu cầu quan hệ tình dục thành thú vui riêng của mỗi người, theo ý muốn riêng của mình, bất chấp đến sự cảm nhận của đối phương, và gạt bỏ trách nhiệm sinh sản kèm theo bản năng tính dục. Vì thế, xảy ra các tội ngoại tình, tà dâm, mua bán tình dục, cưỡng bách tình dục, ngừa thai và phá thai. Ngày nay, trên khắp thế giới, những dịch vụ kiếm lợi qua sự khiêu gợi tình dục dưới mọi hình thức đã trở thành những thương vụ có số lời khổng lồ, tính chất đạo đức của xã hội đã băng hoại đến mức tận cùng khi sự ngừa thai và phá thai được công nhận bởi hầu hết các quốc gia, sự đồng tính luyến ái được ngay chính các tổ chức tôn giáo mang danh Chúa chấp nhận.

Công Cụ của Sự Công Bình Hoặc Công Cụ của Tội Lỗi

Mục đích đời đời của Thiên Chúa khi Ngài ban cho loài người một thân thể xác thịt là để loài người dùng thân thể xác thịt đó tôn vinh Ngài, bằng cách:

  • Tiếp nhận Ngài để Ngài ngự trong thân thể xác thịt của mình, nhờ đó loài người có được sự tương giao mật thiết với Thiên Chúa và có thể thờ phượng Thiên Chúa trong thân thể mình và qua thân thể mình.
  • Mãi mãi dâng thân thể xác thịt mình làm của lễ sống và thánh lên Thiên Chúa.
  • Dùng chính thân thể xác thịt mình làm ra những việc công bình mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho mình trong thế giới vật chất này, bao gồm việc cai trị thế giới vật chất này.

Tuy nhiên, khi loài người phạm tội thì thân thể xác thịt của loài người bị nô lệ cho tội lỗi và cũng là nô lệ cho Sa-tan vì Sa-tan có quyền điều khiển những kẻ không thuộc về Thiên Chúa. Thực tế, Thánh Kinh gọi tất cả những ai nói dối là con cái của Ma Quỷ vì Ma Quỷ là cha của sự nói dối (Giăng 8:34). Từ đó, thay vì thờ phượng Thiên Chúa thì loài người thờ phượng Ma Quỷ qua các thần tượng, thậm chí qua các vật do tay mình làm nên theo hình tượng của các tà thần, loài người, côn trùng, điểu thú… và thay vì làm ra những sự công bình, thánh khiết thì loài người làm ra những sự gian ác, bất công, ô uế… đến nỗi tự làm nhục thân thể của chính mình và lẫn nhau (Rô-ma 1:18-32).

Không phải loài người không ý thức tình trạng băng hoại của mình và sự ô uế của xác thịt mình. Nhưng loài người không thể nào tự mình kiềm chế được những sự ưa muốn tội lỗi của xác thịt, nghịch lại tiêu chuẩn công bình và thánh khiết của Thiên Chúa. Thánh Kinh dạy rất rõ như sau, trong Rô-ma 7:14-24:

14 Vả, chúng ta biết luật pháp là thiêng liêng; nhưng tôi là tánh xác thịt đã bị bán cho tội lỗi.

15 Vì tôi không hiểu điều mình làm: tôi chẳng làm điều mình muốn, nhưng làm điều mình ghét.

16 Song nếu tôi làm điều mình chẳng muốn, thì bởi đó nhận biết luật pháp là tốt lành.

17 Bấy giờ chẳng phải tôi làm điều đó nữa, nhưng ấy là tội lỗi ở trong tôi.

18 Vả, tôi biết điều lành chẳng ở trong tôi đâu, nghĩa là trong xác thịt tôi, bởi tôi có ý muốn làm điều lành, nhưng không có quyền làm trọn;

19 vì tôi không làm điều lành mình muốn, nhưng làm điều dữ mình không muốn.

20 Ví bằng tôi làm điều mình không muốn, ấy chẳng phải là tôi làm điều đó nữa, nhưng là tội lỗi ở trong tôi vậy.

21 Vậy tôi thấy có luật nầy trong tôi: khi tôi muốn làm điều lành, thì điều dữ dính dấp theo tôi.

22 Vì theo người bề trong, tôi vẫn lấy luật pháp Đức Chúa Trời làm đẹp lòng;

23 nhưng tôi cảm biết trong chi thể mình có một luật khác giao chiến với luật trong trí mình, bắt mình phải làm phu tù cho luật của tội lỗi, tức là luật ở trong chi thể tôi vậy.

24 Khốn nạn cho tôi! Ai sẽ cứu tôi thoát khỏi thân thể hay chết nầy?

Đó là tình trạng tuyệt vọng về thân thể xác thịt của mỗi một người được sinh ra trong thế gian này. Tuy nhiên, tình yêu của Đức Chúa Trời đã đem đến cho loài người sự cứu chuộc ra khỏi hậu quả và quyền lực của tội lỗi, bởi sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ. Để trả lời cho tiếng kêu: “Khốn nạn cho tôi! Ai sẽ cứu tôi thoát khỏi thân thể hay chết nầy?” Rô-ma 7:25 chép: “Cảm tạ Đức Chúa Trời, nhờ Đức Chúa Jesus Christ, là Chúa chúng ta!” Nhờ Đức Chúa Jesus Christ đã chết chuộc tôi cho chúng ta mà chúng ta được Đức Chúa Trời tha tội, được Đức Chúa Jesus Christ làm cho sạch tội bởi huyết thánh của Ngài, và được Đức Thánh Linh tái sinh, ban cho Thánh Linh để có quyền năng từ Thiên Chúa, sống một đời sống đắc thắng mọi cám dỗ và tội lỗi, bắt thân thể xác thịt phải chịu phục tiêu chuẩn công bình và thánh khiết của Thiên Chúa.

Câu kết sau đây trong Rô-ma 7:25 cho chúng ta thấy: Thân thể thiêng liêng của chúng ta là tâm thần nhận biết luật pháp của Đức Chúa Trời và công nhận sự công bình, thánh khiết của luật pháp. Nhưng thân thể xác thịt của chúng ta lại phục dưới quyền lực của tội lỗi mà cứ làm ra tội: “Bởi vì, chính mình tôi lấy trí khôn phục luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng lấy xác thịt phục luật pháp của tội lỗi.”

Kết Luận

Cảm tạ sự nhân từ và thương xót của Thiên Chúa. Trong khi loài người băng hoại, chết mất trong tội lỗi, tự làm nhục chính thân thể xác thịt của mình do Thiên Chúa dựng nên giống như hình Ngài, thì Thiên Chúa đã ban cho loài người sự cứu rỗi trong Đức Chúa Jesus Christ. Chỉ có những ai thật lòng ăn năn, từ bỏ tội, tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ và hết lòng sống theo Lời Chúa là Thánh Kinh, mới có thể thoát khỏi hậu quả và quyền lực của tội lỗi đang bắt phục thân thể xác thịt của họ. Họ sẽ được ban cho Thánh Linh của Thiên Chúa để có quyền cai trị thân thể xác thịt của mình, bắt nó phải phục. Mỗi ngày Đức Thánh Linh sẽ tiến hành công cuộc thánh hóa họ từ tâm thần, linh hồn, cho đến thân thể xác thịt, để họ sống đẹp lòng Thiên Chúa và thân thể xác thịt của họ sẽ được biến hóa (hoặc sống lại) trong ngày Đức Chúa Jesus Christ hiện ra, để đem họ vào trong Vương Quốc Đời Đời của Ngài.

Mỗi một con dân chân thật của Thiên Chúa đều có thể cùng đồng thanh với Sứ Đồ Phao-lô để nói lên những lời sau đây: “Song tôi đãi thân thể mình cách nghiêm khắc, bắt nó phải phục, e rằng sau khi tôi đã giảng dạy kẻ khác, mà chính mình phải bị bỏ chăng” (I Cô-rinh-tô 9:27). Và: “Qua Đấng Christ là Đấng ban thêm sức cho tôi, tôi làm được mọi sự” (Phi-líp 4:13).

Huỳnh Christian Timothy
22.12.2012

Ghi Chú

[1] Nghe thêm các bài giảng về “Cây Sự Sống và Cây Biết Điều Thiện Điều Ác” tại đây:
http://timhieutinlanh.net/taxonomy/term/136

[A] Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Quý bạn có thể đọc trên mạng: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.
 


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Đọc Tiếp →
4,111 views

Loài Người (07): Như Hình Thiên Chúa, Giống Như Thiên Chúa

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?0vqtvcuxrcu7tvx

Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/1076

Huỳnh Christian Timothy

Dẫn Nhập

Trong sáu bài trước, chúng ta đã nói về nguồn gốc của loài người: loài người được Thiên Chúa sáng tạo; người là một linh hồn ở trong một thân thể thiêng liêng là tâm thần và ở trong một thân thể vật chất là xác thịt. Chúng ta cũng đã tìm hiểu ý nghĩa của những câu Thánh Kinh liên quan đến tâm thần. Trong bài này, chúng ta sẽ tìm hiểu về sự kiện Đức Chúa Trời sáng tạo loài người như hình Ngài và giống như Ngài. Dưới đây là các câu Thánh Kinh làm nền tảng [A]:

Thiên Chúa phán rằng: Chúng Ta hãy làm ra loài người như hình Chúng Ta, giống như Chúng Ta, đặng cai trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, khắp cả đất, và mỗi loài bò sát bò trên mặt đất. Thiên Chúa đã sáng tạo loài người như hình Ngài; Ngài đã sáng tạo loài người như hình Thiên Chúa; Ngài đã sáng tạo họ, nam và nữ. (Sáng Thế Ký 1:26-27)

Đây là sách về dòng dõi của A-đam. Ngày mà Thiên Chúa sáng tạo loài người thì Ngài đã làm ra loài người giống như Thiên Chúa.” (Sáng Thế Ký 5:1)

Như Hình Thiên Chúa và Giống Như Thiên Chúa

Trước hết, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa của mệnh đề “như hình Chúng Ta, giống như Chúng Ta.” Đây là lời tuyên bố rất rõ ràng của Thiên Chúa về hình thể, bản chất và bản tính của loài người mà Ngài sẽ sáng tạo. “Như hình chúng ta” nói đến hình thể của loài người sẽ giống như hình thể của Thiên Chúa; còn “giống như chúng ta” nói đến bản chất và bản tính của loài người sẽ giống như bản chất và bản tính của Thiên Chúa. Vậy, chúng ta hãy tìm xem Thánh Kinh nói gì về hình thể, bản chất và bản tính của Thiên Chúa.

1. Hình thể của Thiên Chúa: Thiên Chúa có hình thể thiêng liêng là “thần” và hình thể vật chất là “xác thịt.” Thánh Kinh cho chúng ta biết:

Lại cũng có hình thể thuộc về trời, hình thể thuộc về đất, nhưng vinh quang của hình thể thuộc về trời với vinh quang của hình thể thuộc về đất thì khác nhau.”(I Cô-rinh-tô 15:40)

Hình thể vật chất của Thiên Chúa chính là thân thể xác thịt của Đức Chúa Con, khi Ngài nhập thế làm người, mang tên Jesus. Hình thể thiêng liêng của Thiên Chúa thì con mắt xác thịt của chúng ta không thể thấy được, nhưng con mắt thiêng liêng của chúng ta có thể thấy được. Trong các khải tượng Thiên Chúa ban cho con dân của Ngài thì con dân của Ngài có thể nhìn thấy hình thể thiêng liêng của Thiên Chúa.

Tiên Tri Ê-sai nhìn thấy Chúa ngồi trên ngôi cao sang: “Về năm vua Ô-xia băng, tôi thấy Chúa ngồi trên ngôi cao sang, vạt áo của Ngài đầy dẫy đền thờ. Những sê-ra-phin đứng bên trên Ngài; mỗi sê-ra-phin có sáu cánh, hai cái che mặt, hai cái che chơn và hai cái dùng để bay. Các sê-ra-phin cùng nhau kêu lên rằng: Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Đức Giê-hô-va vạn quân! Khắp đất đầy dẫy sự vinh quang Ngài!” (Ê-sai 6:1-3)

Tiên Tri Đa-ni-ên nhìn thấy Thiên Chúa Ngôi Cha: “Ta nhìn xem cho đến chừng các ngôi đã đặt, và có Đấng Thượng Cổ ngồi ở trên. Áo Ngài trắng như tuyết, và tóc trên đầu Ngài như lông chiên sạch. Ngôi Ngài là những ngọn lửa, và các bánh xe là lửa hừng” (Đa-ni-ên 7:9)

Kế tiếp, Đa-ni-ên nhìn thấy Thiên Chúa Ngôi Con trong hình thể của một con người: “Ta lại nhìn xem trong những sự hiện thấy ban đêm, nầy, có ai giống như con người, đến với những đám mây trời; người đến cùng Đấng Thượng Cổ và họ đem người đến trước mặt Ngài.” (Đa-ni-ên 7:13)

Chấp Sự Ê-tiên, trước khi tử Đạo, nhìn thấy Đức Chúa Con đứng bên hữu Đức Chúa Cha: “Nhưng người, được đầy dẫy Thánh Linh, mắt ngó chăm lên trời, thấy sự vinh quang của Thiên Chúa, và Đức Chúa Jesus đứng bên hữu Đức Chúa Trời; thì người nói rằng: Kìa, ta thấy các từng trời mở ra, và Con người đứng bên hữu Đức Chúa Trời.” (Công Vụ Các Sứ Đồ 7:55-56)

Giăng 1:18 nói đến sự kiện, ngoài Đức Chúa Con ra thì chưa hề có ai nhìn thấy Đức Chúa Cha: “Chẳng ai từng thấy Đức Chúa Trời, chỉ Con Một ở trong lòng Cha: là Đấng đã giải bày Cha.” Tuy nhiên, động từ thấy “ὁράω,” G3708, phát âm quốc tế /horaō/, phát âm tiếng Việt [hơ-rá-ô], được dùng trong câu này và trong Giăng 14:7, 9 có nghĩa đen là nhìn thấy bằng con mắt xác thịt và nghĩa bóng là sự nhận thức, hiểu biết trong tâm trí. Dựa vào văn mạch của Giăng 1:18 và 14:7, 9 chúng ta biết từ ngữ “thấy” được dùng trong các câu này với nghĩa bóng, để chỉ sự hiểu biết về Đức Chúa Cha. Ý nghĩa của các câu Thánh Kinh đó như sau:

“Chẳng ai từng hiểu biết về Đức Chúa Trời, chỉ Con Một ở trong lòng Cha: là Đấng đã giải bày Cha.” (Giăng 1:18)

“Nếu các ngươi đã biết Ta, thì các ngươi cũng đã biết Cha Ta; và từ nay, các ngươi biết Ngài và các ngươi vẫn hiểu biết về Ngài.” (Giăng 14:7)

“Đức Chúa Jesus phán với người: Hỡi Phi-líp, Ta ở cùng các ngươi đã lâu thay, mà ngươi chưa biết Ta! Ai đã hiểu biết về Ta, tức là đã hiểu biết về Cha. Sao ngươi lại nói rằng, xin chỉ Cha cho chúng tôi?” (Giăng 14:9)

2. Bản chất của Thiên Chúa: Bản chất thân thể thiêng liêng của Thiên Chúa là thần (spirit) và bản chất thân thể vật chất của Thiên Chúa là xác thịt, bụi của đất (matter).

Trước nguyên ủy, hằng có Ngôi Lời. Ngôi Lời hằng ở cùng Đức Chúa Trời; và Ngôi Lời hằng là Thiên Chúa… Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, đóng trại giữa chúng ta. Chúng ta đã ngắm xem sự vinh quang của Ngài: là vinh quang của Con Một đến từ nơi Cha, đầy ơn và lẽ thật.”(Giăng 1:1, 14)

Đức Chúa Trời là Thần. Những người thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong tâm thần và lẽ thật.”(Giăng 4:24)

3. Bản tính của Thiên Chúa: Bản tính của Thiên Chúa là yêu thương, thánh khiết, và công chính.

Vậy, khi Thiên Chúa phán rằng, Ngài sẽ làm ra loài người như hình Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa, thì Ngài có ý nói rằng, loài người sẽ:

  • mang hình thể thiêng liêng giống như hình thể thiêng liêng của Thiên Chúa; mang hình thể vật chất giống như hình thể vật chất của Thiên Chúa;
  • có bản chất thiêng liêng (tâm thần) và bản chất vật chất (xác thịt);
  • có bản tính yêu thương, thánh khiết, và công chính.

Dù chúng ta không nhìn thấy tâm thần, tức thân thể thiêng liêng của mình, nhưng chúng ta nhận thức được nó. Và vì cớ chúng ta nhận thức được tâm thần mà chúng ta ý thức bản tính yêu thương, thánh khiết, và công chính mà Thiên Chúa đã dựng nên trong chúng ta. Bản tính nguyên thỉ đó đã bị băng hoại sau khi loài người phạm tội; nhưng hễ ai thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ, thì được Đức Thánh Linh tái sinh, tức là tâm thần và linh hồn được dựng nên mới, với bản tính giống như Thiên Chúa. Ê-phê-sô 4:24 cho biết, những người được dựng nên mới là những người: “…mặc lấy người mới, tức là người đã được dựng nên giống như Thiên Chúa, trong sự công bình và sự thánh sạch của lẽ thật.”

Bản tính giống như Thiên Chúa có nghĩa là yêu những gì Thiên Chúa yêu, ghét những gì Thiên Chúa ghét và làm những gì Thiên Chúa làm. Khi loài người bị băng hoại bởi tội lỗi thì loài người không có khả năng hành động theo tiêu chuẩn yêu thương, thánh khiết, và công chính của Thiên Chúa. Nhưng hễ ai đã được dựng nên mới trong Đức Chúa Jesus Christ, thì người ấy có năng lực của chính Thiên Chúa để sống theo tiêu chuẩn của Ngài. Vấn đề là, người đã được dựng nên mới có biết tận dụng ân điển Thiên Chúa đã ban cho mình để sống một đời sống mới trong Chúa, hay không.

Hầu hết các nhà thần học cho rằng, loài người được dựng nên như hình Thiên Chúa chỉ có ý nghĩa thuộc linh, và họ nhấn mạnh sự giống về bản tính của Thiên Chúa mà không bàn đến hình thể. Đối với họ, nói rằng Thiên Chúa có hình thể và loài người được dựng nên theo hình thể của Thiên Chúa là điều họ không thể chấp nhận. Quan điểm của các nhà thần học chỉ là ý kiến của loài người, còn Thánh Kinh là Lời của Đức Chúa Trời. Lời Chúa đã nhấn mạnh rằng, loài người được dựng nên như hình thể của Ngài và giống như bản tính của Ngài. Lời của Chúa cũng cho chúng ta biết Thiên Chúa là thần nhưng khi Ngài nhập thế làm người thì Ngài được sinh ra bởi xác thịt và có thân thể xác thịt bằng vật chất. Lời Chúa ba lần nói đến sự Thiên Chúa dựng nên loài người như hình Ngài, với ý nghĩa là một hình thể nhìn thấy được:

Thiên Chúa phán rằng: Chúng Ta hãy làm ra loài người như hình Chúng Ta, giống như Chúng Ta, đặng cai trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, khắp cả đất, và mỗi loài bò sát bò trên mặt đất. Thiên Chúa đã sáng tạo loài người như hình Ngài; Ngài đã sáng tạo loài người như hình Thiên Chúa; Ngài đã sáng tạo họ, nam và nữ.” (Sáng Thế Ký 1:26-27)

Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ, từ ngữ được dịch là hình trong Sáng Thế Ký 1:26-27 là “צלם,” H6754, phiên âm quốc tế /tselem/, phiên âm Việt ngữ [xé-lem] và có nghĩa là: hình dáng, hình tượng. Còn từ ngữ được dịch là giống, trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là “דּמוּת,” H1823, phiên âm quốc tế /demûth/, phiên âm Việt ngữ [đe-mú-th] và có nghĩa là: giống như, tương tự.

Điều thú vị là trong Sáng Thế Ký 5:3, Thánh Kinh dùng đúng hai từ ngữ này để nói đến sự kiện A-đam sinh ra Sết nhưhình ông và giống như ông:

Vả, A-đam được một trăm ba mươi tuổi, sanh một con trai như hình mình, giống như mình, đặt tên là Sết.”

So sánh với Bản Dịch King James:

Gen 1:26-27 “And God said, Let us make man in our image, after our likeness: and let them have dominion over the fish of the sea, and over the fowl of the air, and over the cattle, and over all the earth, and over every creeping thing that creepeth upon the earth. So God created man in his own image, in the image of God created he him; male and female created he them.”

Gen 5:3 “And Adam lived an hundred and thirty years, and begat a son in his own likeness, after his image; and called his name Seth.”

Theo Thánh Kinh, Thiên Chúa Ngôi Con nhập thế làm người khoảng 4,000 năm sau khi loài người được dựng nên, nhưng chúng ta có thể hiểu rằng, hình ảnh mà Thiên Chúa chọn để thể hiện khi Ngài đi vào thế giới vật chất đã có trong tâm trí của Thiên Chúa từ trước, và Ngài đã dựng nên thân thể vật chất của loài người theo hình ảnh ấy. Rất có thể, công cuộc sáng tạo loài Người đã diễn tiến như sau: Thiên Chúa Ngôi Cha truyền lệnh, “Chúng Ta hãy làm ra loài người như hình Chúng Ta, giống như Chúng Ta;” Thiên Chúa Ngôi Con xuất hiện trong thế giới vật chất với một hình thể vật chất, rồi Ngài gom bụi của đất để làm nên một hình thể giống như hình thể vật chất của Ngài; kế tiếp, Thiên Chúa Ngôi Thánh Linh thổi hơi thở sống của Ngài vào hình thể đó, và loài người xuất hiện. Chúng ta có thể yên tâm, dựa vào Lời Chúa để tin rằng, tâm thần và xác thịt của loài người được dựng nên như hình thể thần và hình thể xác thịt của Thiên Chúa, còn linh hồn tức bản ngã của chúng ta, thì có bản tính giống như bản tính của Thiên Chúa. Bản ngã của Thiên Chúa cũng được Thánh Kinh gọi là linh hồn (Hê-bơ-rơ 10:38).

Thân Thể “Siêu Vật Chất”

Chúng ta đã biết, sự chết thứ nhất của loài người bao gồm sự chết thuộc linh lẫn sự chết thuộc thể. Sự chết thuộc linh là sự tâm thần, linh hồn bị tội lỗi làm cho ngăn cách với Thiên Chúa, mất đi sự tương giao với Ngài. Sự chết thuộc thể là thân thể vật chất bị băng hoại, rồi cuối cùng bị phân rẽ với tâm thần và linh hồn, tan rã thành bụi đất. Thánh Kinh gọi chung sự chết thuộc linh và thuộc thể đó là sự chết thứ nhất. Tưởng cũng nên nhắc lại về sự chết thứ hai tại đây. Sự chết thứ hai cũng bao gồm thuộc thể lẫn thuộc linh, sẽ xảy ra trong ngày phán xét chung cuộc, là khi thân thể xác thịt của những người không thuộc về Chúa được gọi sống lại, chịu kết án và bị ném vào trong hồ lửa. Trong hồ lửa đó, mỗi linh hồn không thuộc về Chúa sẽ ở trong thân thể xác thịt, chịu khổ đời đời vì bị phân rẽ khỏi mặt Chúa và bị phân rẽ khỏi sự vinh quang của năng lực Ngài (II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9). Vì bị phân rẽ khỏi mặt Chúa nên không thể kêu cầu cùng Chúa. Vì bị phân rẽ khỏi sự vinh quang của năng lực Ngài nên không còn cơ hội hưởng năng lực cứu rỗi của Tin Lành, cho dù lúc bấy giờ, họ thật lòng ăn năn tội và tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ. Vì thế, Thánh Kinh dạy rằng: “Kìa, hiện nay là thì thuận tiện; kìa, hiện nay là ngày cứu rỗi” (II Cô-rinh-tô 6:2)! Hiện nay, có nghĩa là lúc chúng ta còn sống trong thân thể xác thịt này.

Khi một người thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời qua sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ, thì người ấy lập tức được Đức Thánh Linh tái sinh tâm thần và linh hồn, được phục hòa mối tương giao với Thiên Chúa, được phục hồi địa vị làm con thừa kế (con được hưởng cơ nghiệp) của Đức Chúa Trời. Điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời được Đức Thánh Linh chép vào trong lương tâm mới của người được tái sinh (Hê-bơ-rơ 8:10; 10:16); năng lực của Đức Thánh Linh tuôn tràn trong tâm thần của người được tái sinh để giúp cho người ấy hiểu biết mọi lẽ thật của Lời Chúa và có năng lực sống theo Lời Chúa. Riêng phần thân thể vật chất thì chưa được tái sinh nhưng vẫn được Đức Thánh Linh thánh hóa để làm đồ dùng về sự công bình của Đức Chúa Trời (Rô-ma 6:13). Thân thể vật chất của người thuộc về Chúa sẽ được tái sinh trong ngày Đức Chúa Jesus Christ đến để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian trước kỳ tận thế.

Khi đó, thân thể vật chất đang sống sẽ được biến hóa, thân thể vật chất đã trở về cùng bụi đất sẽ được phục sinh. Dù sống lại hay được biến hóa đang khi còn sống thì thân thể vật chất được tái sinh của người tin Chúa sẽ kết hợp với thân thể thiêng liêng là tâm thần, trở thành một thân thể siêu vật chất, có thể sinh hoạt trong thế giới vật chất lẫn thế giới thuộc linh, như thân thể phục sinh của Đức Chúa Jesus Christ. Sự kết hợp mầu nhiệm đó chúng ta không thể nào hiểu được cho đến khi chúng ta bước vào trong cõi đời đời, mặt đối mặt với Thiên Chúa (I Cô-rinh-tô 13:12).

Điều quan trọng chúng ta cần ghi nhớ, dù là thân thể vật chất được tái sinh thành thân thể siêu vật chất, thì thân thể đó của chúng ta cũng vẫn giống như hình thể của Thiên Chúa, tức là giống như hình thể của thân thể phục sinh của Đức Chúa Jesus Christ. Cá nhân chúng tôi tin rằng, khi thân thể vật chất được tái sinh thì linh hồn, tâm thần và xác thịt của những người trong Chúa sẽ kết hợp cách lạ lùng, bất khả phân ly, vì sự chết, tức là sự phân rẽ, không còn có quyền trên những ai thuộc về Chúa. Hơn nữa, sự chết cũng sẽ bị ném vào hỏa ngục trong ngày phán xét chung cuộc (Khải Huyền 20:14).

Như” và “Giống” hoàn toàn khác với “Là”

Sự kiện loài người được Thiên Chúa sáng tạo như hình thể của Ngài và giống như bản tính của Ngài hoàn toàn khác với sự kiện loài người là Thiên Chúa hoặc loài người trở nên hay trở thành Thiên Chúa. Ngày nay, có một số giáo phái Ân Tứ và Ngũ Tuần dạy rằng, khi một người được Thiên Chúa tái sinh thì người đó trở nên Thiên Chúa, gọi là những “Thiên Chúa con” hay những “Đức Chúa Trời con.” Giáo lý đó hoàn toàn không có trong Thánh Kinh và hoàn toàn vô lý. Bởi vì, không ai có thể trở thành Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng tự có, muôn loài vạn vật đều do Thiên Chúa dựng nên thì không thể có một loài thọ tạo nào trở thành Thiên Chúa. Ngay cả cách nói “trở thành” Thiên Chúa đã là vô lý. Thiên Chúa là Đấng tự có thì làm sao có ai hay vật gì “trở thành” Thiên Chúa?

Một giáo lý khác dạy rằng, loài người ra từ Thiên Chúa nên có cùng bản thể với Thiên Chúa. Giáo lý này cũng không đúng với Thánh Kinh và ảnh hưởng bởi Ấn Giáo. Chỉ có Đức Chúa Jesus được gọi là Con Độc Sinh của Đức Chúa Trời, nghĩa là: “con duy nhất được Đức Chúa Trời sinh ra,” hàm ý: “con có cùng bản thể Thiên Chúa với Đức Chúa Trời.” Dù thân thể thiêng liêng của loài người được dựng nên khi Thiên Chúa thổi hơi sống của Ngài vào thân thể vật chất của loài người, nhưng loài người không phải là Thiên Chúa, vì Thiên Chúa không hề dùng bản thể của Ngài để tạo nên loài người. Nếu loài người có cùng bản thể với Thiên Chúa thì loài người cũng là Thiên Chúa và có các thần tính của Thiên Chúa: tự hữu, toàn năng, toàn tại, toàn tri, toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ.

Và một giáo lý khác nữa, dạy rằng, vì Hội Thánh là thân thể của Đức Chúa Jesus Christ mà Đức Chúa Jesus Christ là Thiên Chúa, cho nên, Hội Thánh cũng là Thiên Chúa. Như đã nói ở trên, không hề có sự kiện ai đó hay vật gì đó “trở thành” Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng Tự Hữu, cho nên, hoặc là Thiên Chúa hoặc không phải là Thiên Chúa, không có chuyện từ chỗ không phải là Thiên Chúa mà “trở thành” Thiên Chúa. Hội Thánh do Đức Chúa Jesus Christ lập ra, Hội Thánh không tự có cho nên Hội Thánh không phải là Thiên Chúa. Ý nghĩa của mệnh đề “Hội Thánh là thân thể của Đức Chúa Jesus Christ” nói đến sự kiện Hội Thánh được kết hợp với Đấng Christ bằng tình yêu của Ngài, sự sống của Đấng Christ tuôn chảy trong Hội Thánh, sự vinh quang của Đấng Christ bao phủ Hội Thánh, và Hội Thánh vâng phục Đấng Christ để làm theo mọi ý muốn của Đấng Christ.

Sự hiệp một của Hội Thánh với Đấng Christ là sự hiệp một của đồng một tâm tình, đồng một sự sống, không phải là đồng một bản thể, đồng một thần tính. Thiên Chúa có thể trở nên loài người nhưng loài người không bao giờ trở thành Thiên Chúa.

Kết Luận

Loài người được Thiên Chúa dựng nên giống như hình thể thiêng liêng và hình thể vật chất của Thiên Chúa. Loài người được Thiên Chúa dựng nên với bản chất thần và bản chất xác thịt. Loài người được Thiên Chúa dựng nên với bản tính giống như Thiên Chúa trong sự công bình và thánh sạch của lẽ thật. Tuy nhiên, loài người không có cùng bản thể với Thiên Chúa, không là Thiên Chúa và sẽ không bao giờ trở thành Thiên Chúa.

Bốn điểm nêu trên được xác chứng bởi Thánh Kinh. Tất cả những tư tưởng thần học nào và những giáo lý nào giảng dạy nghịch lại bốn điểm trên đây, đều không dựa trên Thánh Kinh, con dân Chúa cần phải tránh xa.

 

Huỳnh Christian Timothy
24.11.2012

Ghi Chú

[A] Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Quý bạn có thể đọc trên mạng: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

[B] Dùng hai nối mạng dưới đây để tra xem ý nghĩa trong Anh ngữ và nghe cách phát âm của một từ ngữ Hê-bơ-rơ trên Internet:

[C] Dùng hai nối mạng dưới đây để tra xem ý nghĩa trong Anh ngữ và nghe cách phát âm của một từ ngữ Hy-lạp trên Internet:


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.

Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

 

Đọc Tiếp →
2,425 views

Loài Người (06): Một Số Câu Thánh Kinh Liên Quan đến Tâm Thần – Kỳ 3

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?jt43e69imneeaq7

Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/1066

Huỳnh Christian Timothy


I Cô-rinh-tô 14:2 “Vì người nào nói ngoại ngữ, thì không phải nói với người ta, bèn là với Đức Chúa Trời, bởi chẳng có ai hiểu (ấy là trong tâm thần mà người kia nói lời mầu nhiệm).”

Nói ngoại ngữ ở đây là nói ngoại ngữ bởi ơn Đức Thánh Linh ban cho. Chúng ta nên nhớ, I Cô-rinh-tô 14 là nói về sự nhóm họp thờ phượng Chúa trong Hội Thánh. Phần lớn Hội Thánh Cô-rinh-tô thời bấy giờ là những người nói tiếng Hy-lạp. Ngay cả những người Do-thái trong Hội Thánh, nếu có, cũng là những người sống xa quê hương và đã quen dùng tiếng Hy-lạp. Nếu trong sự nhóm lại, có tín đồ nào nói ngoại ngữ thì những người khác trong Hội Thánh sẽ không hiểu gì hết. Ngay chính người nói cũng không hiểu, vì sự nói đó phát xuất từ tâm thần. Phao-lô khuyên những tín đồ được ơn nói ngoại ngữ không nên thực hành ơn đó trong sự nhóm họp của Hội Thánh, trừ khi có người được ơn thông giải ngoại ngữ làm công việc thông giải. Dù vậy, mỗi buổi nhóm cũng chỉ hai hay ba người, theo thứ tự mà nói. Nếu không có người thông giải thì không được thực hành ơn nói ngoại ngữ trong Hội Thánh. Điều này ban gồm cả sự cầu nguyện bằng ngoại ngữ trong Hội Thánh. Câu nguyện, tức là “nói.” Sự nhóm họp của Hội Thánh là sự thờ phượng tập thể, không hề có chuyện một ai đó cầu nguyện riêng với Đức Chúa Trời trong sự nhóm họp của Hội Thánh. Phao-lô nói rất rõ: “Vì nếu tôi cầu nguyện bằng ngoại ngữ, thì tâm thần tôi cầu nguyện, nhưng trí khôn tôi lơ lửng. Vậy thì tôi sẽ làm thể nào? Tôi sẽ cầu nguyện theo tâm thần, nhưng cũng cầu nguyện bằng trí khôn. Tôi sẽ hát theo tâm thần, nhưng cũng hát bằng trí khôn. Bằng không, nếu ngươi chỉ lấy tâm thần mà chúc tạ, thì người tầm thường ngồi nghe, chẳng hiểu ngươi nói gì, thể nào họ theo lời chúc tạ mình mà đáp lại "A-men" được? Thật vậy, lời chúc tạ của ngươi vẫn tốt lành; song kẻ khác chẳng nhờ đó mà được gây dựng” (I Cô-rinh-tô 14:14-17).


I Cô-rinh-tô 14:32 “Tâm thần của các đấng tiên tri suy phục các đấng tiên tri.”

Câu này có nghĩa là thân thể thuộc linh của những người được Đức Chúa Trời ban cho chức vụ tiên tri chịu sự quản trị của linh hồn, tức là của chính người ấy. Dù cho thân thể thuộc linh của tiên tri nhận thức và nghe được, thấy được những điều Đức Chúa Trời mạc khải nhưng không có nghĩa là tiên tri mất đi quyền tự chủ tâm thần hoặc xác thịt của mình. Chữ “suy phục” trong nguyên ngữ Hy-lạp có nghĩa là “chịu sự cai trị.” Vì thế, tất cả các hiện tượng té ngã bất động hoặc cười, la, khóc, rú, co giật, lắc lư thân hình… không thể tự kiểm soát được là những hiện tượng đến từ tà linh, không phải đến từ Đức Thánh Linh.

Ý nghĩa thứ nhì, tâm thần của một tiên tri phải chịu dưới sự khảo sát của những tiên tri khác, để xem những điều người ấy công bố trong danh Chúa, có đúng với Thánh Kinh hay không.

Ý nghĩa thứ ba, tâm thần của một tiên tri phải vâng phục những sự dạy dỗ đúng theo Lời Chúa của các tiên tri khác.

Chúng ta cần ghi nhớ, nói tiên tri bao gồm nhưng không giới hạn trong sự nói về những việc sẽ xảy ra trong tương lai theo như Đức Chúa Trời đã mạc khải. Phần lớn, nói tiên tri là công bố Lời Chúa và rao giảng những ý nghĩa của Lời Chúa.


I Cô-rinh-tô 16:18 “Vì các người ấy đã làm cho yên lặng tâm thần của tôi và của anh em. Hãy biết quý trọng những người dường ấy.”

Trong nguyên ngữ Hy-lạp là “làm cho tâm thần của tôi và của anh em được yên nghỉ để được làm tươi tỉnh lại.” Phao-lô nói đến những người đã tiếp đãi, chăm sóc, hổ trợ, thăm viếng, an ủi ông trong mục vụ. Phần ông được yên tâm và bổ sức lại trong sự lao nhọc rao giảng Tin Lành và dạy dỗ Hội Thánh, phần Hội Thánh thì được yên tâm vì biết Phao-lô được nhiều người tiếp trợ.

Trong Hội Thánh có những người không hề được Chúa giao cho các chức vụ như liệt kê trong Ê-phê-sô 4:11 “Ấy chính Ngài đã cho một số người làm sứ đồ, một số làm tiên tri, một số làm người giảng Tin Lành, một số làm người chăn và người dạy;” nhưng họ đã hết lòng dự phần trong việc chăm sóc và tiếp trợ cho những người ở trong chức vụ. Lời Chúa phán về những người đó được ghi lại trong Ma-thi-ơ 10:41 như sau: “Ai rước một đấng tiên tri vì là tiên tri, thì sẽ lãnh phần thưởng của đấng tiên tri; ai rước một người công chính vì là công chính, thì sẽ lãnh phần thưởng của người công chính.”


II Cô-rinh-tô 7:1 “Hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, chúng ta đã có lời hứa dường ấy, thì hãy làm cho mình sạch khỏi mọi sự dơ bẩn phần xác thịt và phần tâm thần, lại lấy sự kính sợ Thiên Chúa mà làm cho trọn việc nên thánh của chúng ta.”

Lời hứa dường ấy là lời hứa của Đức Chúa Trời trong II Cô-rinh-tô 6:17-18 rằng: “Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ ra khỏi chúng nó, đừng đá động đến đồ ô uế, thì Ta sẽ tiếp nhận các ngươi: Ta sẽ làm Chúa các ngươi, Các ngươi làm con trai con gái Ta, Chúa Toàn năng phán như vậy.” Vì có lời hứa đó mà chúng ta phải làm cho cả thân thể xác thịt lẫn thân thể thiêng liêng của chúng ta được sạch bằng cách phân rẽ khỏi mọi sự ô uế thuộc thể lẫn thuộc linh. Chúng ta không thờ lạy hình tượng nhưng chúng ta cũng không đi vào những nơi có thờ lạy hình tượng và không đụng chạm đến hình tượng. Chúng ta không phạm tà dâm nhưng chúng ta cũng không đụng chạm đến những hình ảnh, sách báo khiêu dâm, nhất là tránh xa tất cả những trang web có quảng cáo về khiêu dâm. Một điều quan trọng nữa là chúng ta phải ra khỏi những tổ chức tôn giáo nào không giảng và sống theo Lời Chúa. Chúng ta có thể đến với họ để rao giảng lẽ thật của Lời Chúa nhưng chúng ta không dự phần trong các nghi thức thờ phượng Chúa trái nghịch Thánh Kinh của họ.

II Cô-rinh-tô 6:18 là câu duy nhất trong Thánh Kinh nói đến con trai và con gái của Đức Chúa Trời. Trong các nơi khác, Thánh Kinh dùng từ ngữ “con trai” của Đức Chúa Trời để gọi chung con dân Chúa, không phải hàm ý phân biệt nam nữ mà là chú trọng về quyền thừa kế, vì theo phong tục Trung Đông thời bấy giờ, chỉ có con trai mới được quyền thừa kế tài sản của cha mình. Riêng II Cô-rinh-tô 6:18 với nhóm chữ “con trai và con gái” là nói đến địa vị làm con của Đức Chúa Trời ngay trong lúc chúng ta còn ở trong thân thể xác thịt này.


II Cô-rinh-tô 7:13 “Ấy là điều đã yên ủi chúng tôi. Nhơn sự yên ủi đó chúng tôi lại được sự vui mừng càng lớn hơn nữa, khi thấy sự vui mừng của Tít; vì anh em thảy đều đã để cho tâm thần người được yên lặng.”

Tương tự như I Cô-rinh-tô 16:18, tâm thần được yên lặng là tâm thần được yên nghỉ để được làm tươi tỉnh lại.


Ga-la-ti 3:3 “Sao anh em ngu muội dường ấy? Sau khi đã khởi sự trong tâm thần, nay sao lại cậy xác thịt mà làm cho trọn?”

Khởi sự trong tâm thần là khi một người được nghe giảng Tin Lành thì người ấy khởi sự nhận thức Đức Chúa Trời và sự cứu rỗi của Ngài qua sự tác động của Đức Thánh Linh trong tâm thần.

Các tín đồ tại Ga-la-ti đã nhận được sự tái sinh và Đức Thánh Linh sau khi họ nghe Tin Lành và tin nhận Tin Lành, nay, nghe theo lời các giáo sư giả, họ chịu cắt bì vì tin rằng có chịu cắt bì thì mới được cứu rỗi. Điều đó có nghĩa là cậy vào việc làm theo luật pháp để được xưng công bình. Không ai có thể cậy việc làm theo luật pháp để được xưng công bình trước Đức Chúa Trời, vì không ai có thể giữ trọn luật pháp. Chỉ có đức tin vào sự chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ mới khiến cho một người được Đức Chúa Trời xưng là công bình. Sau khi đã được xưng công bình bởi đức tin thì một người cậy ơn Chúa để không còn vi phạm luật pháp của Chúa. Nếu có ai lỡ vi phạm thì bởi đức tin vào sự cứu chuộc của Đức Chúa Jesus Christ với lòng ăn năn, xưng tội thì Chúa sẽ tiếp tục tha thứ và làm cho người ấy được sạch tội (I Giăng 1:9).

Chúng ta cần phân biệt rõ: cậy luật pháp để được cứu rỗi và sau khi được cứu rỗi thì sống theo luật pháp là hai điều hoàn toàn khác nhau.


Ga-la-ti 6:18 “Hỡi anh em, nguyền xin ân điển của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta ở với tâm thần anh em! A-men.”

Phi-lê-môn 1:25 “Nguyện xin ân điển của Đức Chúa Jesus Christ ở với tâm thần anh em!”

Ân điển của Đức Chúa Jesus Christ là tất cả các ơn thuộc linh đến từ Ngài: ơn cứu chuộc, ơn tiếp tục làm cho chúng ta được sạch tội, ơn ban năng lực cho chúng ta để chúng ta có thể làm được mọi sự, v.v… (Phi-líp 4:13) và sự yêu thương cho đến đời đời của Ngài dành cho chúng ta (Giăng 13:1). Bởi tâm thần mà chúng ta nhận được ân điển của Đức Chúa Jesus Christ và ân điển ấy tiếp tục ở trong tâm thần của chúng ta, khiến cho chúng ta ngày càng giống Đấng Christ càng hơn (Rô-ma 8:29). Lời chúc của Phao-lô hàm ý: Tôi mong rằng tâm thần của các anh em luôn phát huy ân điển của Đấng Christ.


Ê-phê-sô 6:18 “Hãy nhờ Đức Thánh Linh, thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin. Hãy dùng sự bền đổ trọn vẹn mà tỉnh thức về điều đó, và cầu nguyện cho hết thảy các thánh đồ.” (Bản Dịch Truyền Thống)

Ê-phê-sô 6:18 “Trong tâm thần, thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin. Hãy dùng sự bền đổ trọn vẹn mà tỉnh thức về điều đó, và cầu nguyện cho hết thảy các thánh đồ.”

Cầu nguyện là một trong bảy thứ khí giới của Đức Chúa Trời ban cho con dân Chúa để chiến cự cùng Sa-tan. Các thứ khí giới đó được liệt kê trong Ê-phê-sô 6:14-18 như sau:

  1. Dây nịt lưng lẽ thật
  2. Áo giáp công bình
  3. Giày sẵn sàng của Tin Lành
  4. Thuẫn đức tin
  5. Mão cứu chuộc
  6. Gươm Đức Thánh Linh
  7. Sự cầu nguyện

Trong đó, năm vũ khí đầu giúp bảo vệ chúng ta, vũ khí thứ sáu giúp chúng ta tấn công Sa-tan, và vũ khí thứ bảy giúp chúng ta tiếp viện lẫn nhau.

Trong tâm thần, thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin,” có nghĩa là tất cả những sự cầu nguyện phải xuất phát từ tâm thần chứ không phải chỉ là một hình thức bên ngoài của thân thể xác thịt. Không ích lợi gì nếu chỉ là một sự hô hào nhóm họp cầu nguyện mà tâm thần thì không có sự cảm xúc nào hết. Sự cầu nguyện trong tâm thần phát xuất từ đức tin, tin rằng Chúa luôn luôn đáp lời cầu xin của chúng ta và dựa trên ý muốn của Đức Chúa Trời, được bày tỏ bởi Đức Thánh Linh trong tâm thần của chúng ta.


Phi-líp 1:27 “Duy anh em phải ăn ở một cách xứng đáng với Tin Lành của Đấng Christ, để hoặc khi đến thăm anh em, hoặc khi vắng mặt, tôi cũng biết rằng anh em đứng vững trong một tâm thần, đồng linh hồn chống cự vì đức tin của Tin Lành, phàm sự chẳng để cho kẻ thù nghịch ngăm dọa mình.”

Đứng vững trong một tâm thần,” có nghĩa là Hội Thánh cùng chung một sự nhận thức về Thiên Chúa và ý muốn của Thiên Chúa, dẫn đến một đức tin vững chắc; nhờ đó mà tà giáo không thể xâm nhập Hội Thánh. “Đồng linh hồn chống cự vì đức tin của Tin Lành,” có nghĩa là Hội Thánh cùng chung một sự sống trong Đấng Christ mà chống cự kẻ thù, bảo vệ đức tin vào trong Tin lành của Thiên Chúa. Nhóm chữ “đồng linh hồn” có thể dịch là “cùng một sự sống” hay “cùng một hơi thở,” nghĩa là, không một ai trong Hội Thánh vì quyền lợi hay sự an ninh riêng tư của mình.

Ngày nay, trong Hội Thánh có nhiều con dân Chúa chỉ biết sống riêng cho mình, không quan tâm đến gánh nặng của các anh chị em khác trong Hội Thánh. Những người như vậy, đã không “ăn ở một cách xứng đáng với Tin Lành của Đấng Christ!”

Ngày nay, nhiều tiên tri giả và giáo sư giả nổi lên, rao giảng đủ các thứ tà giáo, tìm đủ cách để phá vỡ đức tin của con dân Chúa vào trong Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ. Đó là các thứ:

  • “Tin lành phép lạ,” chủ trương chạy theo dấu kỳ phép lạ, điển hình là các phong trào Ân Tứ và Ngũ Tuần.
  • “Tin lành nói tiếng lạ,” chủ trương biết nói tiếng lạ thì mới được cứu rỗi, điển hình là giáo phái Ngũ Tuần Oneness.
  • “Tin lành thịnh vượng,” chủ trương con dân Chúa phải được khỏe mạnh và giàu sang về vật chất, điển hình là các phong trào Ân Tứ và Ngũ Tuần.
  • “Tin lành hội nhập,” chủ trương văn hóa dân tộc phải được đưa vào Thánh Kinh, thí dụ: sửa lời phán “Hỡi bà” của Đức Chúa Jesus Christ thành “Thưa mẹ!” cho phù hợp văn hóa Việt Nam. Hoặc chủ trương Tin Lành phải được rao giảng theo giá trị văn hóa của thời đại, thí dụ: không gọi đồng tính luyến ái là tội.
  • “Tin lành xã hội…” chủ trương tích cực thực hiện các công tác xã hội để qua đó từ từ giới thiệu Tin Lành cho người được cứu giúp.
  • Vv…

Phi-líp 3:3 “Vì, ấy chính chúng ta là những người chịu phép cắt bì, là những người thờ phượng Thiên Chúa trong tâm thần, vui mừng trong Đấng Christ Jesus, và không để lòng tin cậy trong xác thịt bao giờ.”

Thờ phượng Thiên Chúa trong tâm thần là sự thờ phượng xuất phát từ trong tâm thần, trước hết, bắt đầu bằng sự cắt bì trong tâm thần, tức là sự gớm ghét và phân rẽ với tội lỗi. Kế tiếp, là luôn tìm hiểu ý Chúa qua Thánh Kinh và hết lòng làm theo. Đây không phải là sự khổ sở ép mình tìm kiếm các luật lệ của Chúa để tuân thủ, mà là sự ưa thích tìm kiếm xem Chúa muốn gì để chúng ta vui mừng và hết lòng làm theo bởi lòng kính yêu Chúa.


Cô-lô-se 1:8 “Và đã tỏ ra cho chúng tôi biết lòng yêu thương mà anh em cảm chịu bởi Đức Thánh Linh.” (Bản Dịch Truyền Thống)

Cô-lô-se 1:8 “Và đã tỏ ra cho chúng tôi biết lòng yêu thương trong tâm thần của anh em.”

Tình cảm có thể phát xuất từ những cảm xúc của thân thể xác thịt và tình cảm cũng có thể phát xuất từ thân thể thiêng liêng là tâm thần. Chúng ta có thể yêu một người vì chúng ta giao tiếp, nhận thức người ấy qua thân thể xác thịt của chúng ta nhưng với Chúa thì chúng ta yêu Ngài, tin Ngài, và biết ơn Ngài hoàn toàn bởi sự giao tiếp và nhận thức qua tâm thần. Trong Hội Thánh, chúng ta yêu nhau qua sự giao tiếp và nhận thức bởi cả thân thể xác thịt lẫn thân thể thuộc linh. Tuy nhiên, có những trường hợp sự cảm xúc của thân thể xác thịt không giúp chúng ta yêu được một người, như trường hợp thân thể của người ấy bị tàn phá bởi đau ốm, tật bệnh, trở nên xấu xí và hôi hám, nhưng sự cảm xúc của tâm thần khiến cho chúng ta tha thiết yêu thương người ấy.

Con dân chân thật của Chúa yêu nhau bởi sự cảm xúc của tâm thần, nhận biết rằng mỗi người là một chi thể trong cùng một thân thể thiêng liêng của Đức Chúa Jesus Christ, và mỗi người có trách nhiệm liên đới với nhau.


I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23 “Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Jesus Christ chúng ta đến!”

Sự cứu rỗi và sự thánh hóa của chúng ta diễn tiến như sau: Xác thịt được nghe giảng Tin Lành, tâm thần được Đức Thánh Linh thần cảm cho hiểu được Tin Lành cứu rỗi của Đức Chúa Trời, linh hồn quyết định tiếp nhận sự cứu rỗi. Khi linh hồn tiếp nhận Tin Lành cứu rỗi thì Đấng Christ đem mọi tội lỗi ra khỏi thân thể xác thịt chúng ta, Đức Thánh Linh tái sinh tâm thần và linh hồn chúng ta. Từ đó:

  • Tâm thần chúng ta được tương giao với Ba Ngôi Thiên Chúa: được gọi Đức Chúa Cha là Cha, và được hưởng mọi cơ nghiệp của Ngài, được đồng cai trị với Đấng Christ – bắt đầu với sự cai trị thân thể xác thịt của chúng ta, được hiểu biết những điều sâu nhiệm của Thiên Chúa qua sự giảng dạy của Đức Thánh Linh.
  • Linh hồn chúng ta được nên một với Đức Chúa Jesus Christ và nhận lãnh sự sống từ chính Đức Chúa Jesus Christ.
  • Thân thể xác thịt được biệt riêng ra để làm những việc lành mà Đức Chúa Cha đã sắm sẵn cho chúng ta, trong danh của Đức Chúa Jesus Christ và trong năng lực của Đức Thánh Linh.

Vì thế, từ tâm thần, linh hồn cho đến xác thịt của chúng ta đều thuộc riêng về Thiên Chúa, sống trong Thiên Chúa, và sống cho Thiên Chúa. Nên thánh có nghĩa là biệt riêng ra cho Thiên Chúa và trở nên giống như Thiên Chúa.

Hiện nay, thân thể của chúng ta có thể già yếu, bệnh tật, hư hoại và thậm chí tan rã thành cát bụi, nhưng khi Đấng Christ đến thì thân thể của chúng ta sẽ được biến hóa, phục sinh thành thân thể siêu vật chất vinh quang và sống động cho đến đời đời.

Nếu chúng ta hoàn toàn nương cậy trên Lời Chúa và sức toàn năng của Đức Chúa Jesus Christ thì chắc chắn tâm thần, linh hồn và thể xác của chúng ta sẽ được Đức Chúa Trời giữ cho toàn vẹn, không chỗ trách được, trong ngày Đấng Christ hiện ra.


I Ti-mô-thê 3:9 “Nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin.”

Mặc dầu trong câu này không nói đến tâm thần, nhưng lương tâm là một chức năng của tâm thần, vì thế, chúng ta cũng nên tìm hiểu ý nghĩa của câu này, và dựa vào đó để hiểu rõ ý nghĩa của những câu Thánh Kinh có liên quan đến lương tâm.

Sự nhận thức của tâm thần về Thiên Chúa và thế giới thuộc linh được gọi là trực giác, tức là sự tự nhiên mà nhận biết, không qua học tập, không qua kinh nghiệm của thân thể xác thịt. Tất cả những gì tâm thần nhận biết về Thiên Chúa được lưu giữ trong lương tâm. Dựa trên những lẽ thật về Thiên Chúa được bày tỏ trong lương tâm mà đức tin vào Thiên Chúa phát sinh. Vì thế, hễ lương tâm luôn trong sạch bởi những lẽ thật của Thiên Chúa (mà chúng ta nhận lãnh qua sự đọc và suy ngẫm, cẩn thận làm theo Lời Chúa mỗi ngày) thì sự mầu nhiệm của đức tin luôn tồn tại. Khi lương tâm bị ô uế bởi những nhận thức sâu nhiệm về Sa-tan thì lẽ mầu nhiệm của đức tin sẽ bị mất đi. Khải Huyền 2:24 nói đến sự kiện tại Hội Thánh Thi-a-ti-rơ có những người tiếp nhận giáo lý của Giê-sa-bên và biết điều sâu hiểm của Sa-tan. Giáo lý của Giê-sa-bên là giáo lý dạy rằng, trong các giao dịch mua bán, con dân Chúa có thể tham dự những buổi tế lễ của ngoại giáo, ăn uống của cúng thần tượng và phạm tà dâm cùng các tế sư phục vụ trong các đền thờ tà thần.


I Ti-mô-thê 3:16 “Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, đã được xưng nghĩa trong tâm thần, được các thiên sứ trông thấy, được giảng ra cho các dân ngoại, được tin cậy trong thế gian, được cất lên trong sự vinh hiển.”

Câu Thánh Kinh này nói về Đức Chúa Jesus Christ. Ngài là Thiên Chúa đã hiện ra trong xác thịt. Trong xác thịt đó, Ngài đã gánh lấy hình phạt cho tội lỗi của toàn thế gian, bị đánh, bị đóng đinh, bị rủa sả, và bị chết. Nhưng trong tâm thần Ngài được xưng là công chính, vì Ngài không hề phạm tội. Các thiên sứ, kể cả các thiên sứ phạm tội, đều trông thấy sự thương khó của Ngài trong thân thể xác thịt và trông thấy sự công chính của Ngài trong thân thể thiêng liêng. Ngài đã được giảng ra cho các dân tộc không cùng chủng tộc xác thịt với Ngài, trở thành nguồn trông cậy cho toàn thế gian. Sau khi làm tròn công cuộc cứu rỗi nhân loại, Ngài đã được cất lên trong sự vinh quang, và phục hồi thẩm quyền Thiên Chúa của Ngài.


II Ti-mô-thê 1:3 “Ta cảm tạ Đức Chúa Trời mà ta hầu việc bằng lương tâm thanh sạch như tổ tiên ta đã làm, cả ngày lẫn đêm ta ghi nhớ con không thôi trong khi cầu nguyện.”

Hầu việc Đức Chúa Trời bằng lương tâm thanh sạch là hầu việc Đức Chúa Trời trong tâm thần, theo như sự nhận thức đúng đắn của tâm thần về Đức Chúa Trời, là sự nhận thức không hề pha trộn các tư tưởng triết học, thần học, tâm lý học… của loài người. Ngày nay, biết bao nhiêu người hầu việc Đức Chúa Trời không bằng lương tâm thanh sạch, vì lương tâm của họ đã tiếp nhận đủ mọi quan điểm của loài người, đến nỗi họ đã xóa bỏ những lẽ thật của Lời Chúa trong lương tâm của họ.


II Ti-mô-thê 1:7 “Vì Đức Chúa Trời chẳng ban cho chúng ta tâm thần nhút nhát, bèn là tâm thần mạnh mẽ, có tình thương yêu và giè giữ.” (Bản Dịch Truyền Thống)

II Ti-mô-thê 1:7 “Vì Đức Chúa Trời chẳng ban cho chúng ta tâm thần của sự sợ hãi, nhưng của năng lực, của tình yêu, và của kỷ luật.”

Sự sợ hãi có thể đến với chúng ta qua sự nhận thức của thân thể xác thịt hoặc qua sự nhận thức của thân thể thiêng liêng, là tâm thần. Tâm thần của sự sợ hãi là tâm thần bị tà linh hù dọa và điều khiển. Hễ ai thuộc về Đức Chúa Trời thì Ngài tái sinh tâm thần của họ và ban cho năng lực của chính Ngài, là Thánh Linh, để họ có thể làm được mọi sự trong Đức Chúa Jesus Christ; tuôn đổ tình yêu của chính Ngài trong họ để họ có thể yêu Ngài và yêu người khác bằng tình yêu thiên thượng; đồng thời khiến họ trở nên giống như Ngài trong sự công bình và thánh sạch của lẽ thật (Ê-phê-sô 4:24) để họ biết giữ mình tiết độ trong mọi sự.


II Ti-mô-thê 4:22 “Nguyền xin Chúa ở cùng tâm thần con! Cầu xin ân điển ở cùng các anh em!”

Chúa ở cùng tâm thần chúng ta và ân điển của Đức Chúa Jesus Christ ở cùng tâm thần chúng ta là hai điều khác nhau. Ân điển của Đức Chúa Jesus Christ ở cùng tâm thần chúng ta, như đã nói ở trên, là tất cả những ơn đến từ Ngài (Ga-la-ti 6:18). Chúa ở cùng tâm thần chúng ta là sự hiện diện của tâm thần Đức Chúa Jesus Christ trong tâm thần của chúng ta. Chúng ta thường hay nói thân thể chúng ta là đền thờ của Đức Thánh Linh và Đức Thánh Linh ngự trong chúng ta; nhưng thực tế là, mỗi một con dân chân thật của Đức Chúa Trời đều có sự hiện diện của Ba Ngôi Thiên Chúa trong tâm thần mình. Đức Chúa Jesus Christ phán rõ ràng: “Nếu ai yêu Ta, thì giữ gìn lời Ta; Cha Ta sẽ yêu người, chúng ta sẽ đến với người và ở cùng người” (Giăng 14:23). Trước khi thăng thiên, Ngài cũng đã hứa với các môn đồ: “…Và nầy, Ta ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế. A-men!” (Ma-thi-ơ 28:20).


Tít 1:15 “Mọi sự là tinh sạch cho những người tinh sạch, nhưng, cho những kẻ dơ dáy và chẳng tin, thì không sự gì là tinh sạch cả; trái lại, tâm thần và lương tâm họ là dơ dáy nữa.”

Từ ngữ “tinh sạch” được dùng ở đây, có nghĩa là “được Đức Chúa Trời chấp nhận.” Một người t,inh sạch là một người được Đức Chúa Trời tha tội và làm cho sạch tội, sau khi người ấy thật lòng ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi trong Đức Chúa Jesus Christ. Một người đã được tinh sạch thì phải luôn luôn ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ để tiếp tục ở trong sự tinh sạch. Tội lỗi là sự vi phạm điều răn của Chúa, ăn năn tội tức là hối tiếc vì đã vi phạm điều răn của Chúa và quyết định sống theo Lời Chúa.

Mọi sự là tinh sạch cho những người tinh sạch,” có nghĩa là đối với những người đã được Đức Chúa Trời làm cho tinh sạch thì không có một sự gì có thể làm ô uế họ, ngoại trừ sự họ cố ý không vâng theo Lời Ngài.

Những kẻ dơ dáy tức là những người bị tội lỗi làm cho trở nên ô uế. Những người ô uế vẫn cứ ở trong sự ô uế cho đến khi họ thật lòng ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi trong Đức Chúa Jesus Christ. Đối với họ, không có một sự gì là tinh sạch, bởi vì, chính họ là nguồn của sự ô uế. Nước sạch đem rót vào trong một cái ly dơ bẩn thì cả ly và nước đều là dơ bẩn. Tâm thần dơ dáy là tâm thần tương giao với tà linh (I Cô-rinh-tô 10:20-21). Lương tâm dơ dáy là lương tâm không còn những tiêu chuẩn yêu thương, công bình, và thánh khiết của Thiên Chúa.


Hê-bơ-rơ 4:12 “Vì Lời Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi phân chia linh hồn, tâm thần, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng.”

Lời của Đức Chúa Trời được nói đến ở đây, tức là những gì được ghi chép trong Thánh Kinh, truyền lại cho chúng ta đến ngày nay. Thời Cựu Ước, Lời của Đức Chúa Trời phán qua các tiên tri. Thời Tân Ước, Lời của Đức Chúa Trời phán qua Đức Chúa Jesus Christ hoặc được Đức Thánh Linh thần cảm cho các môn đồ của Đức Chúa Jesus Christ ghi chép lại.

Lời của Đức Chúa Trời không phải chỉ là một thứ văn bản cổ xưa, chỉ có giá trị lịch sử, nhưng Lời của Đức Chúa Trời là Lời Sống và linh nghiệm. Từ ngữ sống nói đến sự phát triển và hành động, từ ngữ linh nghiệm nói đến kết quả ắt phải có của sự sống động. Gươm hai lưỡi nói đến ở đây là một dụng cụ để xẻ thịt, rất là sắc bén. Loài người là sự kết hợp chặt chẽ giữa tâm thần, linh hồn, và xác thịt; chỉ có sự chết mới có thể làm phân rẽ. Tuy nhiên, đang khi loài người còn sống trong thân thể xác thịt thì Lời Đức Chúa Trời có năng lực thấu vào bản thể của loài người, để phân chia tâm thần, linh hồn và các nơi sâu kín nhất của xác thịt, cùng lúc, xem xét các ý tưởng và dự tính của một người.


I Phi-e-rơ 1:22 “Các anh em đã làm sạch linh hồn mình bởi sự vâng phục lẽ thật trong tâm thần, đặng có lòng yêu thương anh em cách chân thật, nên hãy yêu nhau sốt sắng với tấm lòng tinh sạch.”

Chính Đức Chúa Jesus Christ dùng huyết của Ngài để rửa sạch mọi tội của chúng ta (Khải Huyền 1:6) nhưng mỗi chúng ta phải tiếp nhận sự rửa sạch đó bằng cách vâng theo Lời Chúa. Sự vâng theo lẽ thật, tức vâng theo Lời Chúa, phát xuất từ trong tâm thần, và bắt đầu với sự ăn năn tội, ghê tởm tội, quyết tâm tránh xa tội. Một linh hồn đã được sạch tội thì ngập tràn tình yêu của Thiên Chúa, nhờ đó mà con dân Chúa yêu nhau một cách chân thật và nồng thắm, với mọi cảm xúc hoàn toàn đến từ sự nhận thức của tâm thần.


I Phi-e-rơ 3:4 “Nhưng hãy tìm kiếm sự trang sức bề trong giấu ở trong lòng, tức là sự tinh sạch chẳng hư nát của tâm thần dịu dàng im lặng, ấy là giá quý trước mặt Đức Chúa Trời.”

Đây là lời khuyên về sự trang điểm dành cho các phụ nữ trong Hội Thánh. Sự trang sức bên ngoài giúp làm tăng vẻ đẹp của thân thể xác thịt thì sự trang sức bề trong giúp làm tăng vẻ đẹp của thân thể thiêng liêng. Sự tinh sạch chẳng hư nát là món trang sức quý của tâm thần. Như đã nói ở trên, sự tinh sạch có nghĩa là sự được Đức Chúa Trời chấp nhận. Sự tinh sạch chẳng hư nát là những sự thuộc linh được Đức Chúa Trời chấp nhận và còn lại mãi mãi. Khải Huyền 19:8 cho chúng ta biết áo vải mịn sáng láng, tinh sạch của mỗi thánh đồ chính là những việc làm công bình của họ. Ví thế, chúng ta có thể hiểu rằng, mỗi hành vi, cử chỉ trong nếp sống Đạo của chúng ta đúng theo Lời Chúa đều là những việc làm công bình và là những sự tinh sạch còn lại cho đến đời đời. Chính những điều đó là trang sức cho thân thể thiêng liêng của chúng ta.

Tâm thần dịu dàng và im lặng là tâm thần của những phụ nữ kính sợ Chúa và vâng phục chồng trong mọi sự, không cải trả chồng. Ê-phê-sô 5:22 dạy rằng, “Hỡi kẻ làm vợ, phải vâng phục chồng mình như vâng phục Chúa.” Vì là “vâng phục chồng như vâng phục Chúa,” cho nên, người làm vợ không thể cải lại chồng nếu lời nói của chồng không nghịch lại sự dạy dỗ của Lời Chúa. Điều đó không có nghĩa là người vợ không được nói lên ý kiến hay sở thích của mình. Thí dụ, chồng thích sơn phòng ngủ màu trắng nhưng vợ thích sơn phòng ngủ màu hồng. Vợ có thể nhỏ nhẹ nói lên ý thích của mình, nhưng nếu chồng vẫn giữ nguyên ý định sơn phòng ngủ màu trắng, thì vợ phải vui vẻ, vâng phục. Người chồng nào “yêu vợ mình, như Đấng Christ đã yêu Hội Thánh, phó chính mình vì Hội Thánh” (Ê-phê-sô 5:25), thì sẽ luôn chiều vợ để vợ được vui, miễn là những điều vợ muốn không nghịch lại Thánh Kinh.


Kết Luận

Qua Thánh Kinh, Đức Chúa Trời đã mạc khải cho chúng ta biết một cách rõ ràng về thân thể thiêng liêng của loài người là tâm thần. Chúng ta nhận thấy thân thể thiêng liêng cũng có đủ các giác quan như thân thể xác thịt để linh hồn, tức bản ngã của một người, có thể nhận thức và giao tiếp với thế giới thuộc linh. Có những việc làm được thể hiện bằng thân thể xác thịt trong thế giới vật chất thì cũng có những việc làm được thể hiện bởi thân thể thiêng liêng trong thế giới thuộc linh. Đời sống lý tưởng là đời sống dựa trên sự nhận thức và hành động của thân thể thuộc linh có sự tương giao mật thiết với Thiên Chúa.

Huỳnh Christian Timothy
10.11.2012

Ghi Chú

[A] Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Quý bạn có thể đọc trên mạng: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

[B] Dùng các nối mạng dưới đây để tra xem ý nghĩa trong Anh ngữ và nghe cách phát âm của một từ ngữ Hê-bơ-rơ trên Internet:

2,172 views

Loài Người (05): Một Số Câu Thánh Kinh Liên Quan đến Tâm Thần – Kỳ 2

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?x42mpl3u7agtkkc

Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/1047
 


Lu-ca 23:46 “Đức Chúa Jêsus bèn kêu lớn rằng: Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha! Ngài vừa nói xong thì tắt hơi.”(Bản Dịch Truyền Thống)

Lu-ca 23:46 “Đức Chúa Jesus bèn kêu lớn rằng: Hỡi Cha, tôi giao tâm thần tôi lại trong tay Cha! Ngài vừa nói xong thì tắt hơi.”

I Phi-e-rơ 3:18-19 “Vả, Đấng Christ cũng vì tội lỗi chịu chết một lần, là Đấng công bình thay cho kẻ không công bình, để dẫn chúng ta đến cùng Đức Chúa Trời; về phần xác thịt thì Ngài đã chịu chết, nhưng về phần linh hồn thì được sống. Ấy bởi đồng một linh hồn đó, Ngài đi giảng cho các linh hồn bị tù.” (Bản Dịch Truyền Thống)

I Phi-e-rơ 3:18-19 “Vả, Đấng Christ cũng vì tội lỗi chịu chết một lần, là Đấng công bình thay cho kẻ không công bình, để dẫn chúng ta đến cùng Đức Chúa Trời; về phần xác thịt thì Ngài đã chịu chết, nhưng tâm thần được sống. Bởi (tâm thần) đó, Ngài đã đi giảng cho các thần linh ở trong ngục.”

Bản Dịch Truyền Thống dịch từ ngữ “πνεῦμα,” G4151, phiên âm quốc tế /pneuma/, phiên âm Việt ngữ [niu-ma] thành “linh hồn” là không đúng. Đối với một người không có sự cứu rỗi, khi sự chết của thân thể xác thịt xảy ra thì: hơi thở ngưng vào thân thể xác thịt; tâm thần trở về cùng Thiên Chúa: “và bụi tro trở vào đất y như nguyên cũ, và tâm thần trở về nơi Thiên Chúa, là Đấng đã ban nó” (Truyền Đạo 12:7); linh hồn vào nơi âm phủ, chờ ngày thân thể xác thịt sống lại, để ra trước tòa phán xét của Đức Chúa Jesus Christ (Lu-ca 16:19-31).

Đối với người có sự cứu rỗi, khi sự chết của thân thể xác thịt xảy ra thì: hơi thở ngưng vào thân thể xác thịt; tâm thần và linh hồn được vào trong thiên đàng, ở cùng Đấng Christ, chờ ngày thân thể xác thịt được phục sinh thành thân thể siêu vật chất, vinh quang cho đến đời đời (Phi-líp 1:23).

Trước khi Đức Chúa Jesus Christ sống lại từ trong kẻ chết, những ai kính sợ và vâng phục Đức Chúa Trời, được gọi là các thánh đồ thời Cựu Ước. Đối với họ, khi thân thể xác thịt chết thì tâm thần về lại nơi Đức Chúa Trời, còn linh hồn thì vào trong Ba-ra-đi, nơi âm phủ, chờ Đấng Christ phá tan quyền lực của sự chết và mang họ vào trong thiên đàng với Ngài (Lu-ca 16:19-31; Ê-phê-sô 4:8-10).

Sự chết và sự sống lại của Đức Chúa Jesus Christ là một biến cố quan trọng vào bậc nhất trong lịch sử của loài người và trong chương trình đời đời của Đức Chúa Trời. Sự chết và sự sống lại của Đức Chúa Jesus Christ bao gồm những sự kiện sau đây:

  • Mặc dầu Đức Chúa Jesus Christ hoàn toàn vô tội nhưng vì Ngài gánh thay án phạt của tội lỗi cho toàn thể nhân loại, nên Ngài phải chịu đau khổ, chịu sỉ nhục, và chịu chết trong thân vị của một con người, mang tất cả mọi tội lỗi phản nghịch Thiên Chúa của loài người.
  • Từ khi bị bắt tại vườn Ghết-sê-ma-nê cho đến khi bị xét xử tại các tòa án, và cuối cùng là nhận án phạt trên thập tự giá, Đức Chúa Jesus Christ đã kinh nghiệm sự đau đớn của thể xác vì cớ tội lỗi, sự chết thuộc linh, tức là sự bị phân rẽ với Đức Chúa Trời vì cớ tội lỗi: “Đức Chúa Trời tôi ơi, Đức Chúa Trời tôi ơi, sao Ngài lìa bỏ tôi?” (Mác 15:34), và sự sỉ nhục của linh hồn vì cớ tội lỗi.
  • Khi Đức Chúa Jesus Christ chết, thân thể xác thịt bị phân rẽ khỏi tâm thần, là thân thể thiêng liêng, phân rẽ khỏi linh hồn là bản ngã loài người của Ngài.
  • Thân thể xác thịt của Ngài bị chôn trong lòng đất ba ngày ba đêm. Tâm thần loài người của Ngài trở về cùng Đức Chúa Cha. Linh hồn, tức bản ngã xác thịt loài người của Ngài phải vào trong âm phủ, chịu dưới quyền của sự chết.
  • Trong ba ngày ba đêm ở trong âm phủ, dù bị chế ngự bởi quyền lực của sự chết, tức là buộc phải phân rẽ với thân thể vật chất là xác thịt và thân thể thiêng liêng là tâm thần, nhưng Đức Chúa Jesus Christ ở trong nơi an lạc mà Đức Chúa Trời dành cho những kẻ kính sợ và vâng phục Ngài. Nơi đó được gọi là Ba-ra-đi, một danh từ ra từ tiếng Ba-tư (Iran), tương đương với danh từ “Ê-đen” trong tiếng Hê-bơ-rơ, và có nghĩa là vườn vui thỏa: “Đức Chúa Jesus đáp rằng: Quả thật, Ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với Ta trong nơi Ba-ra-đi” (Lu-ca 23:43). Chúng ta có thể hình dung ra rằng, trong suốt ba ngày ba đêm trong Ba-ra-đi, nơi âm phủ, các thánh đồ thời Cựu Ước đã được nghe Đức Chúa Jesus Christ giải thích ý nghĩa của Tin Lành, và hiểu rằng năng lực của Tin lành sẽ giải cứu họ khỏi hậu quả của tội lỗi và sự chết như thế nào.

Trong II Cô-rinh-tô 12:4, Phao-lô gọi tầng trời thứ ba là Ba-ra-đi. Trong Khải Huyền 2:7, Đức Thánh Linh cũng gọi nơi có cây sự sống là Ba-ra-đi. Vì thế, chúng ta có thể hiểu rằng, bất cứ nơi nào có sự hiện diện, chăm sóc và bảo vệ của Thiên Chúa, thì nơi đó là Ba-ra-đi. Trong Lu-ca 17:21, Đức Chúa Jesus Christ phán rằng, Vương Quốc của Đức Chúa Trời ở trong lòng những ai tin nhận Ngài, vì thế, mỗi một người thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ, và vâng theo lời dạy của Ngài, đều kinh nghiệm được Ba-ra-đi, tức trạng thái vui thỏa, trong tâm thần của mình, cho dù có phải trải qua bất cứ cảnh ngộ nào. Sự đó được ấn chứng bởi sự bình an của Đức Chúa Jesus Christ trong lòng mỗi con dân chân thật của Thiên Chúa: “Ta để sự bình an lại cho các ngươi. Ta ban sự bình an của Ta cho các ngươi. Ta ban cho các ngươi chẳng phải như thế gian ban cho. Lòng các ngươi chớ bối rối, cũng đừng sợ hãi” (Giăng 14:27).

  • Sau ba ngày ba đêm ở trong âm phủ thì Đức Chúa Trời đã ban lại tâm thần loài người cho Đức Chúa Jesus Christ; và trong tâm thần đó, Ngài công bố sự hoàn thành công cuộc cứu chuộc nhân loại cho các thiên sứ phạm tội bị giam giữ trong vực sâu nơi âm phủ: “Vả, Đấng Christ cũng vì tội lỗi chịu chết một lần, là Đấng công bình thay cho kẻ không công bình, để dẫn chúng ta đến cùng Đức Chúa Trời; về phần xác thịt thì Ngài đã chịu chết, nhưng tâm thần được sống. Bởi (tâm thần) đó, Ngài đã đi giảng cho các thần linh ở trong ngục, tức là kẻ bội nghịch thuở trước, về thời kỳ Nô-ê, khi Đức Chúa Trời nhịn nhục đã có lần chờ đợi cho chiếc tàu được đóng nên, trong đó chỉ có một số ít, là tám linh hồn được cứu qua nước” (I Phi-e-rơ 3:18-20). Những thần linh bị giam cầm trong vực sâu nơi âm phủ là những thiên sứ theo Sa-tan phản nghịch Thiên Chúa và đã tự ý nhập vào những người đàn ông thời Nô-ê để làm băng hoại dòng dõi của người nữ (xem sáng Thế Ký 6; Lu-ca 16:26, và II Phi-e-rơ 2:4). Nói cách khác, Đức Chúa Jesus Christ không xuất hiện trước các thiên sứ phạm tội trong tư cách của Thiên Chúa, mà Ngài xuất hiện trong tư cách của loài người, để cho họ nhận thấy rằng, những ai tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời thì thân thể thiêng liêng của những người ấy sẽ được sống.
  • Sau khi chịu chết đủ ba ngày ba đêm, làm ứng nghiệm lời tiên tri của chính Ngài (Ma-thi-ơ 12:40), Đức Chúa Jesus Christ đã phá tan quyền lực của sự chết, sống lại từ trong kẻ chết và dẫn tất cả các thánh đồ thời Cựu Ước ra khỏi âm phủ, vào trong thiên đàng với Ngài: “Vậy nên có chép rằng: Ngài đã lên nơi cao, dẫn muôn vàn kẻ phu tù, và ban các ơn cho loài người” (Ê-phê-sô 4:8).

Mệnh đề “giao tâm thần lại trong tay Cha” có nghĩa là, sau khi trút hơi thở cuối cùng trên thập tự giá, suốt ba ngày ba đêm linh hồn ở trong âm phủ thì thân thể thiêng liêng của con người Jesus, ở trong bàn tay của Đức Chúa Cha.

Trước khi thân thể vật chất của con người Jesus phục sinh thì thân thể thiêng liêng của con người Jesus, tức tâm thần, được Đức Chúa Cha ban lại cho Ngài, và chính trong tâm thần đó, Ngài công bố sự đắc thắng của Tin Lành trước các thiên sứ phạm tội. Lý do Ngài công bố sự chiến thắng của Tin Lành trước họ là vì, trong thời Nô-ê, họ đã cố tình làm băng hoại dòng dõi người nữ, mong rằng lời hứa và tiên tri của Thiên Chúa trong Sáng Thế Ký 3:15 sẽ không thể hiện thực. Nhưng nay, con người Jesus, dù thân thể xác thịt phải chịu chết nhưng tâm thần vẫn sống, và đang đứng trước họ, chứng minh rằng, gian kế của họ đã thất bại hoàn toàn.

Trước khi Đức Chúa Jesus Christ phục sinh thì tâm thần của các thánh đồ qua đời đều ở trong tay của Đức Chúa Cha, trong khi linh hồn của họ ở trong Ba-ra-đi, nơi âm phủ. Sau khi Đức Chúa Jesus Christ phục sinh thì tâm thần của các thánh đồ đều được tái sinh khi còn ở trong thân thể xác thịt, nên khi thân thể xác thịt chết thì linh hồn vẫn ở trong tâm thần, về bên Đấng Christ.

Công Vụ Các Sứ Đồ 7:59 ghi lại lời cầu nguyện của Chấp Sự Ê-tiên khi ông tử vì Đạo: “Chúng đang ném đá, thì Ê-tiên cầu nguyện rằng: Lạy Đức Chúa Jesus, xin tiếp lấy tâm thần tôi.” (Bản Dịch Truyền Thống dịch là “linh hồn”).Linh hồn của Ê-tiên phải ở trong tâm thần của ông và được Đức Chúa Jesus Christ tiếp lấy, thì ông mới “ở với Đấng Christ” trong khi thân thể xác thịt của ông ngủ trong bụi đất. Sứ Đồ Phao-lô khẳng định, thánh đồ của Chúa khi ra khỏi thân thể xác thịt là đi ở với Đấng Christ: “Tôi bị ép giữa hai bề muốn đi ở với Đấng Christ, là điều rất tốt hơn” (Phi-líp 1:21). Ý tưởng đó đã được Phao-lô giải thích rõ ràng trong II Cô-rinh-tô 5:6-8: “Vậy, chúng ta hằng đầy lòng tin cậy, và biết rằng khi chúng ta đang ở trong thân thể nầy thì cách xa Chúa vì chúng ta bước đi bởi đức tin, chớ chẳng phải bởi mắt thấy. Vậy tôi nói, chúng ta đầy lòng tin cậy, muốn lìa bỏ thân thể nầy đặng ở cùng Chúa thì hơn.”


Giăng 4:23-24“Nhưng giờ đến và bây giờ là lúc những người thờ phượng thật: sẽ thờ phượng Cha trong tâm thần và lẽ thật. Vì Cha tìm kiếm những người thờ phượng Ngài như vậy. Đức Chúa Trời là Thần. Những người thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong tâm thần và lẽ thật.”

Sự thờ phượng Đức Chúa Trời một cách chân thật không phải bởi các hình thức lễ nghi bên ngoài của thân thể vật chất xác thịt, mà là sự thờ phượng phát xuất từ tâm thần. Tâm thần chúng ta nhận biết Đức Chúa Trời cùng thánh ý của Ngài, tức là điều răn và luật pháp của Ngài. Sự nhận thức đó được ghi khắc trong tâm thần của chúng ta, gọi là lương tâm. Từ sự nhận thức thiêng liêng đó mà đức tin phát sinh. Vì đức tin mà chúng ta tôn kính và thờ phượng Đức Chúa Trời theo như lời phán dạy của Ngài. Lời Ngài là lẽ thật.

Tất cả những hình thức lễ nghi thờ phượng Đức Chúa Trời theo truyền thống của các tôn giáo do loài người dựng nên đều không phải là sự thờ phượng trong tâm thần và lẽ thật.


Giăng 12:27 “Hiện nay, linh hồn Ta phiền muộn. Ta sẽ nói gì? Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ nầy? Nhưng, vì sự này mà Ta đã đến trong giờ nầy!”

Bản Truyền Thống dịch từ ngữ “ψυχή,” G5590, phiên âm quốc tế /psuchē/, phiên âm Việt ngữ [xu-khê] thành “tâm thần” là không đúng. Khi Chúa phán: “Linh hồn Ta phiền muộn” là Ngài muốn bày tỏ rằng sự phiền muộn đó thấm sâu trong tận cùng bản thể loài người của Ngài, bao gồm cả tâm thần và thể xác. Lý do của sự phiền muộn là Ngài biết rõ: tâm thần, linh hồn, và thể xác của Ngài sắp trải qua sự chết!


Giăng 13:21 “Khi Đức Chúa Jesus đã phán như vậy rồi, thì tâm thần Ngài phiền muộn. Ngài làm chứng, phán rằng: Thật vậy, thật vậy, Ta nói với các ngươi, một người trong các ngươi sẽ phản Ta.”

Trong câu này, Chúa nhấn mạnh đến sự phiền muộn trong thân thể thiêng liêng của con người Jesus. Lý do phiền muộn là vì Ngài biết rõ một trong mười hai sứ đồ sẽ có một người phản nghịch Ngài và trở thành đứa con của sự hư mất! Sự nhận thức đó đến từ tâm thần, không phải đến từ xác thịt, vì thế, tâm thần Ngài phiền muộn.


Công Vụ Các Sứ Đồ 17:16 “Phao-lô đương đợi hai người tại thành A-thên, tâm thần ông tức giận, vì thấy khắp thành đầy những thần tượng.”

Sự tức giận của tâm thần khác với sự tức giận của xác thịt. Sự tức giận của xác thịt chỉ liên quan đến những gì trong thế giới vật chất, còn sự tức giận của tâm thần thì liên quan đến những gì trong thế giới thuộc linh. Tâm thần Phao-lô tức giận vì thấy sự thờ lạy hình tượng phát triển mạnh mẽ tại thành A-thên. Không phải tâm thần Phao-lô tức giận người dân A-thên thờ lạy đủ mọi thứ hình tượng và tà thần, mà tâm thần ông tức giận Sa-tan đã khiến cho cả thành A-thên trở thành hang ổ của nó.


Công Vụ Các Sứ Đồ 20:22 “Kìa, nay bị ràng buộc trong tâm thần, tôi đi đến thành Giê-ru-sa-lem, chẳng biết điều chi sẽ xảy đến cho tôi ở đó.”

Đối với người không ở trong Đấng Christ thì tâm thần bị ràng buộc tức là tâm thần bị khống chế bởi tà linh. Đối với người ở trong Đấng Christ thì tâm thần bị ràng buộc tức là tâm thần được Đức Thánh Linh thần cảm và thôi thúc làm theo thánh ý của Đức Chúa Trời. Phao-lô được Đức Thánh Linh cảm thúc ông phải đi đến thành Giê-ru-sa-lem, dầu ông chẳng biết điều gì sẽ xảy ra cho mình tại Giê-ru-sa-lem, chỉ biết rằng mình sẽ chịu khổ vì danh Chúa từ thành này sang thành khác (Công Vụ Các Sứ Đồ 20:23). Trên đường từ Ê-phê-sô đến Giê-ru-sa-lem, Phao-lô ghé lại thành Sê-sa-rê, tại đó, Tiên Tri A-ga-bút đến thăm Phao-lô, lấy dây lưng của Phao-lô trói chân tay mình, rồi nói cùng Phao-lô: “Này là lời Đức Thánh-Linh phán: Tại thành Giê-ru-sa-lem, dân Giu-đa sẽ trói người có dây lưng nầy như vậy, mà nộp trong tay người ngoại đạo” (Công Vụ Các Sứ Đồ 21:11).

Thấy vậy, Hội Thánh tại Sê-sa-rê ngăn cản Phao-lô, nài xin ông đừng đi tới Giê-ru-sa-lem. Tuy nhiên, Phao-lô đáp: “Anh em làm chi mà khóc lóc cho nao lòng tôi? Vì phần tôi sẵn lòng chẳng những để bị trói thôi, lại cũng sẵn lòng vì danh Đức Chúa Jesus chịu chết tại thành Giê-ru-sa-lem nữa” (Công Vụ Các Sứ Đồ 21:13). Vì thế, Hội Thánh đành để ông tiếp tục cuộc hành trình. Tại Giê-ru-sa-lem, Phao-lô đã bị những người Do-thái chống nghịch Đạo Chúa vu khống và bắt ông, mở đầu cho những năm tháng Phao-lô chịu lao tù vì danh Chúa.

Sự ràng buộc trong tâm thần bởi Đức Thánh Linh là sự Đức Thánh Linh bày tỏ mạnh mẽ ý muốn của Đức Chúa Trời cho chúng ta và chúng ta phải tuyệt đối vâng phục ý muốn của Chúa, cho dù phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Đôi khi, vì tình yêu thương mà những người thân yêu của chúng ta hoặc Hội Thánh có thể trở thành cớ cám dỗ chúng ta làm nghịch lại ý muốn của Đức Chúa Trời đã cảm thúc mạnh mẽ trong tâm thần của chúng ta.


Rô-ma 1:9 “Vì Đức Chúa Trời mà tôi hầu việc trong tâm thần bởi sự giảng Tin Lành của Con Ngài, là chứng nhân cho tôi, rằng tôi không ngừng nhắc đến các anh chị em.”

Như chúng ta đã học biết rằng, chúng ta phải thờ phượng Đức Chúa Trời trong tâm thần và lẽ thật, thì sự hầu việc Chúa của chúng ta cũng phải trong tâm thần và lẽ thật, bởi vì, trên một phương diện, hầu việc Chúa chính là thờ phượng Chúa. Trong câu nói này của Phao-lô, chúng ta biết ông hầu việc Đức Chúa Trời bằng sự rao giảng Tin Lành, và mặc dầu lời rao giảng của ông được thể hiện qua môi miệng của thân thể xác thịt, nhưng nguồn gốc của những lời rao giảng ấy là từ nơi sự nhận thức và đầu phục của tâm thần Phao-lô đối với Tin Lành của Đấng Christ.

Câu hỏi dành cho chúng ta: Khi chúng ta rao giảng Tin Lành của Đấng Christ, chúng ta rao giảng để lấy tiếng; hay rao giảng một cách máy móc theo thói quen; hay rao giảng trong sự mắc cở, ngại ngùng, sợ bị người ta chê cười; hay chúng ta rao giảng bởi tâm thần của chúng ta rung động trước sự vinh quang và năng lực của Tin Lành, và bởi lòng thương xót của chúng ta đối với những linh hồn đang hư mất?


Rô-ma 8:4-5 “Hầu cho sự công bình mà luật pháp buộc phải làm được trọn trong chúng ta, là kẻ chẳng noi theo xác thịt, nhưng noi theo tâm thần. Thật thế, kẻ sống theo xác thịt thì chăm những sự thuộc về xác thịt; còn kẻ sống theo tâm thần thì chăm những sự thuộc về tâm thần.”

Noi theo xác thịt hoặc sống theo xác thịt là nếp sống dựa trên mọi nhận thức và cảm xúc từ xác thịt. Noi theo tâm thần hoặc sống theo tâm thần là nếp sống dựa trên mọi nhận thức và cảm xúc từ tâm thần, qua mối tương giao mật thiết giữa chúng ta và Đức Chúa Trời. Người sống theo xác thịt thì tốn kém thời gian, công sức, tiền bạc vào những điều thuộc về xác thịt. Trái lại, người sống theo tâm thần thì dốc đổ thời gian, công sức, tiền bạc vào những điều thuộc về tâm thần, như đọc và suy ngẫm Lời Chúa, đọc các sách báo, bài viết về thuộc linh, nghe các bài giảng trình bày lẽ thật của Lời Chúa, nghe và hát thánh ca, dùng các nhạc cụ để tôn vinh Chúa, dâng hiến tiền bạc, của cải, công sức và thời gian vào những việc lành mà Chúa đã sắm sẵn cho mình làm. Nên nhớ là không phải bất cứ việc lành nào, mà phải là những việc lành Đức Chúa Trời đã sắm trước cho mình, như Ê-phê-sô 2:10 dạy. Mỗi người phải cầu xin Chúa bày tỏ cho mình biết những việc lành mà Chúa muốn mình làm.

Khi tôi viết đến đây thì đến giờ phải đi đón con tan học. Trên đường từ trường về nhà, tôi để cho cháu lớn lái xe (cháu có bằng tập lái xe được vài tháng), tôi ngồi bên cạnh và bấm nút radio để nghe nhạc. Đó là làn sóng phát thanh địa phương, chuyên phát thanh loại nhạc êm dịu, không lời. Một bản nhạc thật hay trổi lên, dù tôi không biết tên bản nhạc nhưng âm thanh và giai điệu thật là tuyệt vời, làm cho tôi nói với con tôi: “Âm nhạc thật là tuyệt vời. Bản nhạc này làm cho linh hồn ba được êm dịu.” Vừa khi nói ra lời đó, tôi ý thức rằng, qua thân thể xác thịt tôi nghe được một bản nhạc hay, nhưng chính tâm thần tôi thì dấy lên mối cảm kích Thiên Chúa đã ban cho loài người khả năng tạo ra âm nhạc và thưởng thức âm nhạc. Điều đó dẫn tôi đến một câu hỏi có liên quan đến bài viết này mà tôi đang viết. Câu hỏi được đặt ra là: Chúng ta đang sống cùng một lúc trong thế giới thuộc thể và thế giới thuộc linh. Thế giới thuộc thể thì rõ ràng hơn thế giới thuộc linh. Làm thế nào để chúng ta có thể sống trong thế giới thuộc thể nhưng noi theo thế giới thuộc linh? Câu trả lời là: tất cả những gì chúng ta nhận thức và thu đạt được trong thế giới thuộc thể phải luôn luôn được dựa vào những giá trị thuộc linh mà Thiên Chúa đã bày tỏ cho chúng ta qua Thánh Kinh để đánh giá và lựa chọn.

Không có gì sai khi thân thể xác thịt tôi nghe nhạc và linh hồn tôi cảm xúc âm nhạc, nhưng nếu chỉ có thế thì chưa đủ, mà tâm thần của tôi cũng phải có sự nhận thức thuộc linh trong khi lỗ tai xác thịt của tôi nghe nhạc. Tôi sẽ sai khi tôi nghe nhạc rồi say mê và thần tượng hóa người nhạc sĩ, hay ca sĩ; nhưng tôi sẽ đúng khi tôi nghe nhạc mà ý thức được đó là ơn phước Thiên Chúa ban cho loài người và lòng tôi tràn ngập sự cảm kích Ngài. Nghe một bản nhạc hay với lòng biết ơn Chúa khiến cho tôi vui thỏa từ thể xác đến tâm thần, tức là sự vui thỏa trọn vẹn của linh hồn.


Rô-ma 8:9 “Về phần anh em, nếu thật quả Thánh Linh Đức Chúa Trời ở trong mình, thì không sống theo xác thịt đâu, nhưng theo Thánh Linh; song nếu ai không có Thánh Linh của Đấng Christ, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài.” (Bản Dịch Truyền Thống)

Rô-ma 8:9 “Nhưng anh em không bởi xác thịt mà bởi tâm thần. Nếu vậy thì thần trí của Thiên Chúa ở trong anh em. Nếu ai không có thần trí của Đấng Christ, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài.”

Các chữ được dịch là “tâm thần” và “thần trí” trong câu này, đều cùng là một chữ “πνεῦμα,” G4151, /pneuma/ trong tiếng Hy-lạp, không có mạo từ đi trước và cũng không có tính từ “thánh” đi chung. Bản Dịch Truyền Thống thì dịch tất cả các chữ này thành “Thánh Linh” khiến cho ý nghĩa của câu văn không được rõ ràng.

Những linh hồn ở trong Chúa không sống theo sự nhận thức và ham muốn từ thân thể xác thịt nhưng sống theo sự nhận thức và ham muốn từ thân thể thiêng liêng. Sống như thế thì khuynh hướng hay tinh thần thuộc về Thiên Chúa sẽ ở trong chúng ta, là khuynh hướng hay tinh thần giống như của Đấng Christ. Ngược lại, ai không có khuynh hướng hay tinh thần ấy thì không phải là người thuộc về Đấng Christ.


Rô-ma 8:10 “Vậy nếu Đấng Christ ở trong anh em, thì thân thể chết nhơn cớ tội lỗi, mà tâm thần thì sống nhơn cớ sự công bình.”

Người thuộc về Đấng Christ thì sẽ giống như Đấng Christ, đó là thân thể chết vì tội lỗi nhưng tâm thần thì sống, tức là được tương giao với Thiên Chúa và còn lại mãi mãi. Lý do tâm thần sống là vì linh hồn được Đức Chúa Trời xưng là công bình khi linh hồn ăn năn tội và tin vào sự cứu chuộc của Đức Chúa Jesus Christ.

Hiện nay, thân thể của mỗi chúng ta đang chết vì hậu quả của tội lỗi, sẽ đến một lúc nó sẽ trở về cùng bụi đất. Tuy nhiên, trong một ý nghĩa rộng, thân thể chết vì tội lỗi là thân thể không còn làm ra tội: “Vì ai đã chết thì được thoát khỏi tội lỗi… Vậy, chớ để tội lỗi cai trị trong xác hay chết của anh em, và chớ chiều theo tư dục nó. Chớ nộp chi thể mình cho tội lỗi, như là đồ dùng gian ác, nhưng hãy phó chính mình anh em cho Đức Chúa Trời, dường như đã chết mà nay trở nên sống, và dâng chi thể mình cho Đức Chúa Trời như là đồ dùng về sự công bình.” (Rô-ma 6:7, 12-13).


Rô-ma 8:13 “Thật thế, nếu anh em sống theo xác thịt thì phải chết; song nếu bởi tâm thần, làm cho chết các việc của thân thể, thì anh em sẽ sống.”

Chúng ta nên nhớ là thư Rô-ma được Phao-lô viết cho những người đã tin Chúa, đã được tái sinh, mà ông gọi là anh em. Câu này có thể diễn ý như sau: “Điều này là lẽ thật: nếu người đã được tái sinh mà sống theo xác thịt thì sẽ chết đời đời; nhưng nếu bởi sự nhận thức và ý chí từ tâm thần mà giết chết các việc làm của thân thể, tức là không để cho thân thể phạm tội nữa, thì người ấy sẽ sống đời đời.”


Rô-ma 8:16 “Chính Đấng Thần Linh cùng với tâm thần chúng ta làm chứng rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa.”

Thánh Linh của Đức Chúa Trời ở trong chúng ta khiến chúng ta mở miệng gọi Đức Chúa Trời là “Cha,” (Ga-la-ti 4:6) làm ấn chứng cho sự chúng ta là con dân Thiên Chúa (Ê-phê-sô 1:13). Nhưng chính trong Đấng Thần Linh, là Thiên Chúa Ngôi Ba cũng có chứng cớ chúng ta là con dân của Thiên Chúa. Ấn chứng đó thể hiện qua lời của Ngài được ghi chép trong Thánh Kinh (Giăng 1:12; II Cô-rinh-tô 6:18). Chứng cớ trong chúng ta và chứng cớ trong Đức Thánh Linh chứng minh rằng, chúng ta thật là con cái của Đức Chúa Trời.


Rô-ma 12:2 “Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào.” (Bản Dịch Truyền Thống)

Rô-ma 12:2 “Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm trí mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào.”

Chữ “được dịch là “tâm thần” trong Bản Dịch Truyền Thống, thật ra là chữ “trí” trong nguyên ngữ của Thánh Kinh. Như chúng ta đã học qua bài 2, nói về linh hồn [1]: chữ trí được dùng để nói đến chức năng nhận thức, phân tích, suy luận và đánh giá mọi sự của linh hồn. Một tâm trí được đổi mới là một tâm trí nhờ sự tái sinh của tâm thần mà phục hồi mối tương giao với Thiên Chúa, nhận thức điều răn và luật pháp của Thiên Chúa được chép lại trong lương tâm. Từ đó, mọi chức năng của tâm trí đều dựa vào lương tâm đã được đổi mới. Phao-lô khuyên con dân Chúa hãy sống theo sự đổi mới trong tâm trí thay vì sống theo sự ưa thích cũ của xác thịt. Sự tái sinh, sự đổi mới do chính Đức Thánh Linh làm ra và Ngài cũng ban năng lực cho chúng ta để chúng ta có thể sống theo Lời Chúa, nhưng sự lựa chọn và hành động thuộc về chúng ta. Chính vì sự lựa chọn thuộc về chúng ta mà trong Rô-ma 12:1 Phao-lô đã nói là, ông khuyên con dân Chúa dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh lên Đức Chúa Trời.

Nói cách khác, sau khi chúng ta thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ thì chúng ta được tái sinh, được dựng nên mới, được Đức Thánh Linh ngự trong chúng ta và ban cho chúng ta Thánh Linh để chúng ta sống một đời sống mới trong địa vị làm con của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, nếu chúng ta chọn quay về sống trong tội thì chúng ta sẽ bị hư mất đời đời, không còn có tế lễ chuộc tội nữa:

Vì chưng những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Thánh Linh, Lời lành của Thiên Chúa, và năng lực của đời sau, nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường” (Hê-bơ-rơ 6:4-6).

Vì nếu chúng ta đã nhận biết lẽ thật rồi, mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có tế lễ chuộc tội nữa, nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi. Ai đã phạm luật pháp Môi-se, nếu có hai ba người làm chứng, thì chết đi không thương xót, huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi máu của giao ước, tức là máu mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Đấng Thần Linh của ân điển, thì anh em há chẳng tưởng rằng người ấy đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao?” (Hê-bơ-rơ 10:26-29)

Người công bình của Ta sẽ cậy đức tin mà sống, Nhưng nếu lui đi thì linh hồn Ta chẳng lấy làm đẹp chút nào. Về phần chúng ta, nào phải là kẻ lui đi cho hư mất đâu, bèn là kẻ giữ đức tin cho linh hồn được cứu rỗi.” (Hê-bơ-rơ 10:38-39)


I Cô-rinh-tô 2:11 “Vả, nếu không phải bởi tâm thần bên trong người, thì ai biết sự trong lòng người? Cũng một lẽ ấy, ngoại trừ Đấng Thần Linh của Đức Chúa Trời, thì chẳng ai biết những sự trong Đức Chúa Trời.”

Thân thể xác thịt chắc chắn là không nhận biết những tư tưởng của linh hồn nhưng tâm thần thì nhận biết được. Vì thế, mỗi khi linh hồn muốn chiều theo sự ưa muốn sai trái của xác thịt, phát sinh ra những ý nghĩ hoặc tình cảm hoặc ý định tội lỗi thì tâm thần lập tức lên án. Tương tự như vậy Đấng Thần Linh của Đức Chúa Trời biết hết mọi sự kín nhiệm của Đức Chúa Trời, vì thế Đấng Thần Linh cũng chính là Thiên Chúa, vì chỉ có Thiên Chúa mới biết hết mọi sự.


I Cô-rinh-tô 5:3-5 “Về phần tôi, thân dầu xa cách mà tâm thần ở tại đó, đã phán xét kẻ làm ra việc đó như là tôi đã có mặt. Trong danh của Đức Chúa Jesus Christ là Chúa chúng ta, các anh em nhóm họp cùng tâm thần tôi, với năng lực của Đức Chúa Jesus Christ phó người như thế cho Sa tan, để phần xác thịt bị hủy hoại, mà tâm thần có thể được cứu trong ngày Đức Chúa Jesus.”

Tâm thần sống hay tâm thần được cứu là tâm thần được kết hợp với linh hồn. Chúng ta đã biết, Đức Chúa Trời là Đấng ban tâm thần cho loài người và khi thể xác chết đi thì tâm thần về lại cùng Đức Chúa Trời. Đối với những người không có sự cứu rỗi thì sau khi thân thể xác thịt chết, họ vĩnh viễn mất phần tâm thần, vì thế, họ sẽ không còn cơ hội và phương tiện tương giao với Thiên Chúa. Đối với những người có sự cứu rỗi thì Đức Chúa Trời sẽ tái sinh tâm thần của họ ngay từ khi tâm thần còn ở trong xác thịt, và nếu họ trung tín sống theo Lời Chúa cho đến khi thân thể xác thịt chết, thì linh hồn vẫn được ở trong tâm thần, về cùng Đức Chúa Jesus Christ.

I Cô-rinh-tô 5:3-5 nói đến sự kiện trong Hội Thánh Cô-rinh-tô có người vui thú sống trong tội nên Phao-lô, dù không có mặt tại Hội Thánh trong thân thể xác thịt, nhưng tâm thần ông có mặt tại đó khi ông nhân danh Đức Chúa Jesus Christ để tuyên án người ấy. Lời tuyên án đó được công bố trong sự nhóm họp của Hội Thánh và có hiệu lực như là lời của Đức Chúa Jesus Christ.

Có một điểm quan trọng mà chúng ta cần lưu ý, Hội Thánh của Chúa là một trong Đức Chúa Jesus Christ, vì thế, dù thân thể vật chất của chúng ta xa cách nhau trong không gian nhưng tâm thần của chúng ta vẫn hiệp một trong sự nhóm họp trong danh Chúa ở bất cứ nơi nào. Chúng ta có thể hiện diện bên nhau trong tâm thần. Các anh chị em có thể nhận thức được điều này trong các buổi nhóm trên mạng của chúng ta hay khi chúng ta cùng cầu nguyện với nhau và cho nhau qua điện thoại. Hoặc khi chúng ta cùng hẹn nhau cầu nguyện chung vào một giờ nhất định nào đó.

Cô-lô-se 2:1-5 ghi lại lời tâm sự của Phao-lô về việc ông đã chiến đấu cho những tín đồ không thấy mặt ông về phần xác như thế nào, và ông kết luận:

Cô-lô-se 2:5 “Vì dẫu thân tôi xa cách, nhưng tâm thần tôi vẫn ở cùng anh em, thấy trong anh em có thứ tự hẳn hoi và đức tin vững vàng đến Đấng Christ, thì tôi mừng rỡ lắm.”

Phó người có tội cho Sa-tan có nghĩa là người ấy bị cắt ra khỏi sự thông công với Hội Thánh, khiến Sa-tan có quyền hành hại thân thể xác thịt của người ấy. Nguyên cớ của sự cắt đi mối thông công và phó người ấy cho Sa-tan không phải là vì ghét bỏ mà là một hình thức kỷ luật để giúp người ấy qua sự đau đớn của xác thịt, nhận ra sự nghiêm trọng của tội lỗi mình mà ăn năn, hầu cho tâm thần được cứu khỏi sự bị phân rẽ với linh hồn sau khi chết. II Cô-rinh-tô 7:10 chép: “Vì sự buồn rầu theo ý Thiên Chúa sanh ra sự hối cải, và sự hối cải dẫn đến sự cứu rỗi; về sự đó người ta chẳng hề hối tiếc, còn sự buồn rầu theo thế gian sanh ra sự chết.”

Dựa vào câu 5 chúng ta có thể hiểu rằng: nếu người ấy

Đọc Tiếp →
© 2017 - thanhoc.timhieutinlanh.net

Hit Counter provided by Business Card Holders