3,595 views 3,094 views 3,471 views 3,289 views

Rô-ma_012 Quản Gia của Lời Đức Chúa Trời & Sự Công Bình của Thiên Chúa

Huỳnh Christian Timothy 19.01.2013 Rô-ma 3:1-8 1 Vậy, sự trổi hơn của dân Do-thái là gì? Hay là: có điều ích lợi gì của sự cắt bì? 2 Ích lợi nhiều đủ mọi bề. Thật vậy! trước hết, bởi vì … Đọc Tiếp →

2,502 views

Rô-ma_011 Tiêu Chuẩn Đức Chúa Trời Định Tội Dân Chúa

Roma_011 Tiêu Chuẩn Đức Chúa Trời Định Tội Dân Chúa
Rô-ma 2:17-29

Bấm vào nối mạng dưới đây để xem Rô-ma 2, Bản Dịch Ngôi Lời:
http://ngoiloi.thanhkinhvietngu.net/node/56

Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/1000

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?bdrda4yt5j92fho

Huỳnh Christian Timothy
25.08.2012

Dẫn Nhập

Luật pháp của Thiên Chúa là tiêu chuẩn cho mọi ý nghĩ, lời nói, và việc làm của nhân loại. Luật pháp của Thiên Chúa đã được ghi chép trong lòng người. Riêng đối với dân I-sơ-ra-ên, luật pháp của Thiên Chúa còn được chính Thiên Chúa và các tiên tri của Ngài phán ra thành tiếng, viết ra thành chữ, và được các tôi tớ của Ngài rao giảng từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Tuy nhiên, lịch sử của dân I-sơ-ra-ên cho thấy dân tộc này thường xuyên phản nghịch Thiên Chúa, vi phạm luật pháp của Ngài. Có thể nói, dân I-sơ-ra-ên tiêu biểu cho sự kiện loài người dầu có thật lòng tin nhận Thiên Chúa, nhưng không thể tự mình sống đúng theo tiêu chuẩn của Thiên Chúa. Một người chỉ có thể sống theo tiêu chuẩn của Thiên Chúa khi được Ngài ban cho năng lực của Ngài.

Sau khi các điều răn và luật pháp của Thiên Chúa được ban hành chưa được bao lâu thì hai con trai của A-rôn, là Na-đáp và A-bi-hu, trong địa vị thầy tế lễ đã bị Thiên Chúa thiêu chết vì không tuân theo luật pháp về việc dâng hương lên Thiên Chúa (Lê-vi Ký 10:1-2). Sự kiện này tiêu biểu cho tình trạng: sự phạm tội bắt nguồn từ chính những người gần với Lời Chúa và có nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa cho con dân Chúa; và tội lỗi bắt đầu từ sự thờ phượng Chúa, hầu việc Chúa không đúng theo Lời Chúa.

Hơn 700 năm sau khi Mười Điều Răn và luật pháp được Thiên Chúa ban cho dân I-sơ-ra-ên qua chữ viết, chính Thiên Chúa đã phán về dân I-sơ-ra-ên như sau:

Chúa có phán rằng: Vì dân nầy chỉ lấy miệng tới gần Ta, lấy môi miệng tôn Ta, mà lòng chúng nó thì cách xa Ta lắm; sự chúng nó kính sợ Ta chẳng qua là điều răn của loài người, bởi loài người dạy cho”(Ê-sai 29:13).

Sau đó, hơn 700 năm nữa, khi Thiên Chúa Ngôi Con nhập thế làm người, Ngài đã lập lại lời phán như trên (Ma-thi-ơ 15:8-9; Mác 7:6-7).

Nhìn vào Hội Thánh ngày nay, chúng ta thấy rõ: sự phạm tội bắt nguồn từ chính những người gần với Lời Chúa và có nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa cho con dân Chúa; và tội lỗi bắt đầu từ sự thờ phượng Chúa, hầu việc Chúa không đúng theo Lời Chúa. Ngày nay, có những thứ “lửa lạ” tức là lòng nhiệt tình vì các “phong trào” do loài người lập ra thay vì sự cảm thúc của Đức Thánh Linh, được dùng để “dâng hương,” tức là sự tôn vinh, ca ngợi lên Thiên Chúa. Có những thứ “lạ” (nghĩa là không được dạy trong Thánh Kinh) như “nói tiếng lạ,” “áo lễ lạ,” “kinh cầu lạ,” “thánh lễ lạ,” “bí tích lạ” được dùng trong sự thờ phượng Thiên Chúa. Có những thứ “giáo lý lạ” được giảng dạy trong Hội Thánh, như: phải học và thi đậu giáo lý căn bản mới được làm báp-tem, phải tốt nghiệp trường Thánh Kinh hoặc thần học mới được “phong chức” cho chăm sóc và giảng dạy trong Hội Thánh, phải được “phong chức” mới được làm báp-tem cho người mới tin Chúa và cử hành Tiệc Thánh cho Hội Thánh. Trên hết là có những “tên lạ” được đặt cho Hội Thánh của Chúa!

Lời phán của Thiên Chúa qua Tiên Tri Ê-sai, được ghi lại trong Ê-sai 29:13 hoàn toàn đúng với Hội Thánh của Chúa ngày nay. Trong bài này, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa thực dụng cho Hội Thánh qua Rô-ma 2:17-29. Vì thế, mỗi khi đọc đến từ ngữ “người Do-thái” chúng ta hãy đổi thành “Cơ-đốc nhân” và mỗi khi đọc đến từ ngữ “cắt bì” chúng ta hãy đổi thành “báp-tem.”


Rô-ma 2:17 Ngươi hãy xem: ngươi xưng là người Do-thái; ngươi dựa trên luật pháp và ngươi khoe mình trong Thiên Chúa;

Rô-ma 2:18 ngươi hiểu biết ý muốn Ngài và ngươi thử nghiệm những sự tuyệt hảo, là những sự được dạy từ luật pháp.

Ngươi hãy xem: Phao-lô đang viết thư cho Hội Thánh tại Rô-ma là một Hội Thánh bao gồm phần lớn những người không thuộc dân tộc Do-thái [1], nhưng ông đột nhiên chuyển giọng như là ông đang viết cho một người Do-thái. Điều này không có nghĩa là Phao-lô muốn nói bóng gió đến một người Do-thái nào trong Hội Thánh tại Rô-ma, nhưng Đức Thánh Linh đã dùng ông để phán thẳng với tất cả những người Do-thái nào tự hào là tuyển dân của Thiên Chúa, có luật pháp của Thiên Chúa và hiểu biết luật pháp của Thiên Chúa. Ngày nay, chúng ta có thể áp dụng cho tất cả những ai xưng mình là tín đồ của Đấng Christ, có Lời Chúa, là Thánh Kinh, và hiểu biết Thánh Kinh. “Ngươi hãy xem” có nghĩa là: “Ngươi hãy nhìn lại chính mình ngươi!”

Ngươi xưng là người Do-thái: Ngươi xưng ngươi thuộc về tuyển dân của Thiên Chúa, có giao ước với Thiên Chúa. Áp dụng cho Cơ-đốc nhân: Ngươi xưng ngươi là tín đồ của Đấng Christ, ở trong giao ước mới của Đấng Christ.

Ngươi dựa trên luật pháp và ngươi khoe mình trong Thiên Chúa: Ngươi khoe ngươi có luật pháp của Thiên Chúa và cẩn thận vâng giữ các luật pháp, đến nổi, ngươi còn tự đặt ra thêm cho mình nhiều luật lệ để giữ cho luật pháp của Thiên Chúa không bị vi phạm. Áp dụng cho Cơ-đốc nhân: Ngươi khoe ngươi có Lời Chúa, tốt nghiệp từ các trường Thánh Kinh và thần học với nhiều bằng cấp, học vị cao trọng.

Ngươi hiểu biết ý muốn Ngài và ngươi thử nghiệm những sự tuyệt hảo, là những sự được dạy từ luật pháp: Ngươi xưng là ngươi hiểu biết ý muốn của Thiên Chúa và ngươi đã chứng nghiệm được những điều luật pháp dạy dỗ là tốt lành trọn vẹn. Từ ngữ “thử nghiệm” trong nguyên ngữ có nghĩa là: “thử thách để tìm ra phẩm chất thật” như khi người thợ bạc dùng lửa để thử phẩm chất của vàng hoặc bạc. Áp dụng cho Cơ-đốc nhân: Ngươi xưng là ngươi hiểu biết ý muốn của Thiên Chúa và chứng nghiệm được những sự dạy dỗ tốt lành từ Thánh Kinh.


Rô-ma 2:19 Ngươi tự tin rằng: ngươi vừa là người dẫn đường cho những kẻ mù, vừa là ánh sáng của những kẻ ở trong sự tối tăm;

Rô-ma 2:20 người quở trách của những kẻ ngu; giáo sư của những kẻ tầm thường, có hình thức của sự tri thức và của lẽ thật trong luật pháp.

Ngươi tự tin rằng: ngươi vừa là người dẫn đường cho những kẻ mù, vừa là ánh sáng của những kẻ ở trong sự tối tăm: Tự ngươi tin rằng: đối với những ai không thể nào hiểu được Lời Chúa thì chỉ cần nghe theo ngươi và những ai muốn hiểu Lời Chúa thì phải học nơi ngươi. Ý nghĩa này áp dụng chung cho những người Do-thái chuộng luật pháp theo hình thức và những Cơ-đốc nhân chuộng các ý tưởng thần học hơn là lẽ thật của Lời Chúa. Sự kiêu ngạo về trí thức của luật pháp và thần học đã làm cho những người ấy tự tin và tự xưng mình là ánh sáng của thế gian.

Người quở trách của những kẻ ngu; giáo sư của những kẻ tầm thường, có hình thức của sự tri thức và của lẽ thật trong luật pháp: Ngươi tự cho mình khôn ngoan hơn người khác, gọi họ là những kẻ ngu, vì họ không thông thạo về luật pháp hoặc thần học như ngươi, và ngươi tự cho mình có quyền quở trách họ. Ngươi tự xưng ngươi là giáo sư của những người muốn học biết Lời Chúa. Ngươi tự xưng ngươi có các hệ thống giải thích luật pháp hoặc Thánh Kinh.


Rô-ma 2:21 Vậy, là kẻ dạy người khác mà ngươi không dạy chính mình, là kẻ giảng chớ trộm cắp mà ngươi trộm cắp,

Rô-ma 2:22 là kẻ nói chớ phạm tội ngoại tình mà ngươi phạm tội ngoại tình, là kẻ gớm ghét thần tượng mà ngươi cướp bàn thờ của thần tượng.

Trong thực tế, những kẻ lên mình kiêu ngạo về tri thức luật pháp hoặc thần học đều là những kẻ giả hình, mượn danh Chúa và Lời Chúa làm phương tiện để thu đạt danh, lợi, quyền, và ngay cả sắc dục. Nguyên cả đoạn 23 của sách Ma-thi-ơ đã ghi lại những lời Đức Chúa Jesus Christ phán thẳng về những người Pha-ri-si trong dân I-sơ-ra-ên. Hơn 30 năm sau đó, qua thư II Phi-e-rơ đoạn 2, Đức Thánh Linh lại phán về những giáo sư giả trong Hội Thánh. Nội dung của hai đoạn Thánh Kinh này vẫn có thể áp dụng một cách trọn vẹn cho hàng ngũ lãnh đạo tôn giáo trong các giáo hội mang danh Chúa ngày nay. Chúng ta hãy cùng nhau đọc lại một vài câu trong hai đoạn Thánh Kinh nói trên:

Ma-thi-ơ 23:
“2 Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si đều ngồi trên ngôi của Môi-se.
3 Vậy, hãy làm và giữ theo mọi điều họ đã bảo các ngươi; nhưng đừng bắt chước việc làm của họ, vì họ nói mà không làm.

4 Bọn ấy buộc những gánh nặng khó chịu, để trên vai người ta, còn mình thì không muốn động ngón tay vào.
5 Họ làm việc gì cũng cố để cho người ta thấy, mang cái thẻ bài da cho rộng, xủ cái tua áo cho dài;
6 ưa ngồi đầu trong đám tiệc, thích ngôi cao nhất trong nhà hội;
7 muốn người ta chào mình giữa chợ, và ưng người ta gọi mình bằng thầy!
13 Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đóng nước thiên đàng trước mặt người ta; các ngươi không vào đó bao giờ, mà có ai muốn vào, thì lại ngăn trở.
14 Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi làm bộ đọc lời cầu nguyện cho dài mà nuốt nhà đờn bà góa; vì cớ đó, các ngươi sẽ bị đoán phạt nặng hơn.

15 Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đi khắp dưới nước trên bộ để khuyên một người vào đạo mình; và khi đã khuyên được rồi, thì các ngươi làm cho họ trở nên người địa ngục gấp hai các ngươi.
23 Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi nộp một phần mười bạc hà, hồi hương, và rau cần, mà bỏ điều hệ trọng hơn hết trong luật pháp, là sự công bình, thương xót và trung tín; đó là những điều các ngươi phải làm, mà cũng không nên bỏ sót những điều kia.
24 Hỡi kẻ mù dẫn đường, các ngươi lọc con ruồi nhỏ mà nuốt con lạc đà!
25 Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi rửa bề ngoài chén và mâm, nhưng ở trong thì đầy dẫy sự ăn cướp cùng sự quá độ.
26 Hỡi người Pha-ri-si mù kia, trước hết phải lau bề trong chén và mâm, hầu cho bề ngoài cũng được sạch sẽ.
27 Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi giống như mồ mả tô trắng bề ngoài cho đẹp, mà bề trong thì đầy xương người chết và mọi thứ dơ dáy.

28 Các ngươi cũng vậy, bề ngoài ra dáng công bình, nhưng ở trong thì chan chứa sự giả hình và tội lỗi.”

II Phi-e-rơ 2:
“1 Dầu vậy, trong dân chúng cũng đã có tiên tri giả, và cũng sẽ có giáo sư giả trong anh em; họ sẽ truyền những đạo dối làm hại, chối Chúa đã chuộc mình, tự mình chuốc lấy sự hủy phá thình lình.
2 Có nhiều kẻ sẽ theo họ trong những sự buông tuồng, và đạo thật vì cớ họ sẽ bị gièm pha.
3 Họ sẽ bởi lòng tham mình, lấy lời dối trá khoét anh em; nhưng sự kêu án nghịch cùng họ đã nghị định từ lâu nay, và sự hư mất của họ chẳng ngủ.
12 Nhưng chúng nó cũng như con vật không biết chi, sanh ra chỉ làm thú vật để bị bắt mà làm thịt, hay chê bai điều mình không biết, rồi chết đi như con vật, dường ấy chúng nó lãnh lấy tiền công về tội ác mình.

13 Chúng nó lấy sự chơi bời giữa ban ngày làm sung sướng, là người xấu xa ô uế, ưa thích sự dối trá mình đang khi ăn tiệc với anh em;
14 cặp mắt chúng nó đầy sự gian dâm, chúng nó phạm tội không bao giờ chán, dỗ dành những người không vững lòng, chúng nó có lòng quen thói tham dục: ấy là những con cái đáng rủa sả.
17 Ấy là những suối không nước, những đám mây bị luồng gió mạnh đưa đi và sự tối tăm mờ mịt đã để dành cho chúng nó.
18 Chúng nó dùng những lời văn hoa hư đản, đem những điều ham muốn của xác thịt và điều gian dâm mà dỗ dành những kẻ mới vừa tránh khỏi các người theo đường lầm lạc;
19 chúng nó hứa sự tự do cho người, mà chính mình thì làm tôi mọi sự hư nát; vì có sự chi đã thắng hơn người, thì người là tôi mọi sự đó.
20 Vả, chúng nó bởi sự nhận biết Chúa và Đấng Giải Cứu chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ,
mà đã thoát khỏi sự ô uế của thế gian, rồi lại mắc phải và suy phục những sự đó, thì số phận sau cùng của chúng nó trở xấu hơn lúc đầu.
21 Chúng nó đã biết đường công bình, rồi lại lui đi về lời răn thánh đã truyền cho mình, thế thì thà rằng không biết là hơn.
22 Đã xảy đến cho chúng nó như lời tục ngữ rằng: Chó liếm lại đồ nó đã mửa, heo đã rửa sạch rồi, lại lăn lóc trong vũng bùn.”

Họ đúng là: kẻ dạy người khác mà không dạy chính mình, là kẻ giảng chớ trộm cắp mà lại trộm cắp, là kẻ nói chớ phạm tội ngoại tình mà lại phạm tội ngoại tình, là kẻ gớm ghét thần tượng mà lại cướp bàn thờ của thần tượng. Ngày nay, biết bao nhiêu người lên tiếng đả phá các thần tượng nhưng chính họ đã đem các thói tục thờ lạy thần tượng vào trong sự thờ phượng Chúa, họ đã đem danh của nữ tà thần Easter để gọi ngày kỷ niệm Chúa phục sinh [2], họ đã mang các bộ áo lễ bắt nguồn từ áo lễ của các thầy tế lễ ngoại giáo vào trong Hội Thánh mà suốt bốn trăm năm đầu lịch sử của Hội Thánh không hề có [3].


Rô-ma 2:23 Ngươi là kẻ khoe mình trong luật pháp, mà bởi sự vi phạm luật pháp, ngươi làm nhục Đức Chúa Trời.

Rô-ma 2:24 Vì danh của Đức Chúa Trời, bởi các ngươi bị xúc phạm trong các dân tộc, như đã được chép.

Ngày xưa trong dân I-sơ-ra-ên và ngày nay trong Hội Thánh, có những kẻ khoe mình ở trong Lời Chúa, thông biết Lời Chúa, làm thầy giảng dạy cho người khác về Lời Chúa, nhưng chính họ là những kẻ sống nghịch lại Lời Chúa và dạy cho người khác cũng sống nghịch lại Lời Chúa. Nếp sống tội lỗi của họ nhiều khi còn tệ hại hơn người không tin Chúa, khiến cho danh của Đức Chúa Trời bị xúc phạm trong các dân tộc.

Ngày nay sự vi phạm luật pháp phổ biến nhất trong Hội Thánh Chúa là sự vi phạm điều răn thứ tư. Chẳng những vi phạm mà người ta còn lập ra những tư tưởng thần học bảo vệ cho sự hủy bỏ điều răn thứ tư và chụp mũ cho những ai vâng giữ trọn vẹn Mười Điều Răn của Chúa là theo tà giáo.

Như đã được chép: Có hai nơi trong Cựu Ước nói đến việc danh của Thiên Chúa vì dân I-sơ-ra-ên mà bị xúc phạm giữa các dân tộc:

Đức Giê-hô-va phán: Bây giờ, Ta làm gì đây? Vì dân Ta đã bị đày đi nhưng không [4]. Đức Giê-hô-va phán: Những kẻ cai trị nó cất tiếng van la cả ngày, nói phạm đến danh Ta không thôi.”(Ê-sai 52:5).

Ê-xê-chi-ên 36:
“18 Ta đã rải cơn thạnh nộ của Ta trên chúng nó, vì cớ huyết mà chúng nó đã làm đổ ra trên đất, và vì chúng nó đã làm ô uế đất ấy bởi thần tượng mình.
19 Ta đã làm tan tác chúng nó trong các dân, và chúng nó đã bị rải ra trong nhiều nước; Ta đã xét đoán chúng nó theo đường lối và việc làm.
20 Khi chúng nó đã tới trong các nước mà chúng nó đã đi đến, thì chúng nó đã phạm danh thánh Ta, đến nỗi người ta nói về chúng nó rằng: Ấy là dân của Đức Giê-hô-va; chúng nó đã ra đi từ đất Ngài!
21 Nhưng Ta tiếc danh thánh của Ta mà nhà I-sơ-ra-ên đã phạm trong các dân tộc, là nơi nhà ấy đã đi đến.
22 Vậy nên hãy nói cùng nhà I-sơ-ra-ên rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi nhà I-sơ-ra-ên, ấy chẳng phải vì cớ các ngươi mà Ta làm cách ấy, nhưng vì cớ danh thánh Ta mà các ngươi đã phạm trong các dân, là nơi các ngươi đã đi đến.
23 Ta sẽ làm nên thánh danh lớn của Ta, là danh đã bị phạm trong các dân, giữa các dân đó các ngươi đã phạm danh ấy. Chúa Giê-hô-va phán: Như vậy các dân tộc sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va, khi trước mắt chúng nó Ta sẽ được tỏ ra thánh bởi các ngươi.”


Rô-ma 2:25 Thật vậy, sự cắt bì có ích nếu ngươi vâng giữ luật pháp; nhưng nếu ngươi là kẻ vi phạm luật pháp, thì sự cắt bì của ngươi trở nên sự không cắt bì.

Rô-ma 2:26 Vậy, nếu kẻ không cắt bì vâng giữ những sự công chính của luật pháp, thì sự không cắt bì của người ấy sẽ không được kể là sự cắt bì sao?

Trong Giao Ước Cũ, dấu hiệu kết ước giữa loài người với Đức Chúa Trời là sự cắt bì. Một người chịu cắt bì là một người cam kết tôn thờ chỉ một Thiên Chúa Giê-hô-va và vâng giữ trọn vẹn các điều răn, luật pháp của Ngài. Dầu cho người đó không có huyết thống I-sơ-ra-ên, nhưng chịu cắt bì để kết ước với Thiên Chúa thì cũng được dự phần trong giao ước như một người I-sơ-ra-ên. Sự cắt bì của xác thịt bên ngoài tiêu biểu cho sự cắt bỏ mầm tội của con người bên trong. Giao Ước Cũ đòi hỏi loài người phải vâng giữ các điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời để được phước; khi phạm tội thì phải bị hình phạt và phải dâng sinh tế chuộc tội.

Tuy nhiên, không ai có thể giữ trọn các điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời, cho nên, Đức Chúa Jesus Christ đã thay cho loài người kết một giao ước mới với Đức Chúa Trời. Giao Ước Mới không hủy bỏ Giao Ước Cũ mà thêm các điều kiện giúp cho Giao Ước Cũ được hoàn thành cách trọn vẹn. Đó là lý do Đức Chúa Jesus Christ phán: “Các ngươi đừng tưởng Ta đến đặng hủy phá luật pháp hay là lời tiên tri; Ta đến, không phải để phá, song để làm cho trọn” (Ma-thi-ơ 5:17). Trong Giao Ước Mới mọi hình phạt dành cho tội nhân đều do Đức Chúa Jesus Christ gánh thay, và Đức Thánh Linh ban cho người tin nhận Giao Ước Mới Thánh Linh của Đức Chúa Trời để người ấy có năng lực của Đức Chúa Trời mà vâng giữ trọn vẹn các điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời.

Trong Giao Ước Mới, dấu hiệu kết ước giữa loài người với Đức Chúa Trời là sự chịu báp-tem. Từ ngữ báp-tem có nghĩa là nhúng chìm vào trong một chất lõng, như: nhúng chìm vào trong nước để được rửa sạch, nhúng chìm vào trong dầu ô-li-ve để được chữa lành, nhúng chìm vào trong thuốc nhuộm để thay đổi tính chất. Sự chịu báp-tem tiêu biểu cho sự cùng chết và cùng sống lại của người tin nhận giao ước với Đức Chúa Jesus Christ. Chết là chết đi con người cũ tội lỗi, sống lại là sống lại một con người mới trong Đấng Christ với đầy dẫy Thánh Linh của Đức Chúa Trời, không còn sống trong tội mà sống trong sự thánh khiết của Lời Chúa.

Chính vì sự cắt bì và sự chịu báp-tem là hình thức được thực hiện trên con người bên ngoài để tiêu biểu cho sự thay đổi của con người bên trong, cho nên, những ai chịu cắt bì hoặc chịu báp-tem mà không sống theo Lời Chúa thì sự cắt bì của họ trong Giao Ước Cũ hoặc sự báp-tem của họ trong Giao Ước Mới là vô ích. Ngược lại, nếu một người không có hoặc chưa có cơ hội để thực hiện sự cắt bì hay sự báp-tem bên ngoài mà con người bên trong hoàn toàn tin cậy, đầu phục Chúa, sống theo Lời Chúa, thì trước mặt Đức Chúa Trời họ là những kẻ đã ở trong giao ước của Ngài. Chính vì thế mà một trong hai tên trộm bị đóng đinh bên cạnh Chúa đã được cứu rỗi, dù anh ta không còn cơ hội được báp-tem bằng nước (Lu-ca 23:43), và gia đình của sĩ quan Cọt-nay đã được Chúa báp-tem bằng Thánh Linh trước khi họ được báp-tem bằng nước (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:44-48).

Chúng ta đã biết: “mọi người đều đã phạm tội” nghĩa là không ai có thể giữ trọn luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng tại sao Phao-lô lại viết: “Vậy, nếu kẻ không cắt bì vâng giữ những sự công chính của luật pháp, thì sự không cắt bì của người ấy sẽ không được kể là sự cắt bì sao?” Ý nghĩa của sự “vâng giữ những sự công chính của luật pháp” được nói đến ở đây áp dụng cho sự kiện: một người nhờ vào sự chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ để được tha tội và làm cho sạch tội, rồi dựa vào Thánh Linh của Đức Chúa Trời để sống công chính và thánh khiết theo Lời Chúa. Người đó, dầu không cắt bì trên thân thể xác thịt bên ngoài nhưng đối với Đức Chúa Trời người đó đã hoàn toàn được cắt bì con người bên trong. Vì thế, mọi tín đồ chân thật của Đấng Christ, nhờ năng lực của Thánh Linh mà vâng giữ các điều răn và luật pháp của Thiên Chúa được gọi là những thánh đồ, sống đúng theo cả Cựu Ước lẫn Tân Ước.


Rô-ma 2:27 Và, theo lẽ tự nhiên, kẻ không cắt bì mà làm trọn luật pháp, sẽ phán xét ngươi, là kẻ bởi chữ viết và sự chịu cắt bì mà vi phạm luật pháp.

Rô-ma 2:28 Vì không phải kẻ tỏ ra người Do-thái là người Do-thái, cũng vậy, không phải kẻ tỏ ra sự cắt bì trong xác thịt là người cắt bì;

Rô-ma 2:29 nhưng là kẻ bên trong là người Do-thái, và là sự cắt bì của tấm lòng trong tâm thần, không phải chữ viết. Sự khen ngợi của kẻ ấy chẳng bởi loài người nhưng bởi Đức Chúa Trời.

Một ngày kia, những người dân ngoại không chịu cắt bì nhưng tin nhận Giao Ước Mới, thuộc về Hội Thánh của Đức Chúa Trời, và sống đời sống vâng giữ luật pháp của Đức Chúa Trời sẽ phán xét những người I-sơ-ra-ên chịu cắt bì mà không vâng giữ luật pháp.

Tuyển dân I-sơ-ra-ên là hình bóng cho Hội Thánh của Chúa về sự những người được tuyển chọn của Đức Chúa Trời. Từ ngữ “Do-thái” được dùng trong Rô-ma 2:28 và 29 có nghĩa là: “tuyển dân của Đức Chúa Trời.” Bất cứ ai, thuộc dân tộc nào, nếu thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ, và sống theo Lời Chúa đều là những người mà bên trong là người Do-thái, là “tuyển dân của Đức Chúa Trời.” Dầu cho thân thể xác thịt của họ không có dấu cắt bì đi chăng nữa, nhưng tâm thần của họ đã thật sự được cắt khỏi bản chất tội lỗi và họ là những thánh đồ của Đức Chúa Jesus Christ. Sự được sinh ra trong dòng dõi Do-thái và chịu cắt bì theo văn tự quy định của luật pháp không bao giờ khiến cho một người thật sự là người Do-thái.

Một ngày kia, chính Đức Chúa Trời sẽ khen ngợi những người Do-thái thật và ban cho họ những mão vinh hiển đời đời.

Trong những ngày cuối cùng, trước khi Đức Chúa Jesus Christ đến để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian, số con dân Chúa bội Đạo, tức là không sống theo Lời Chúa sẽ càng gia tăng:

Mặc ai dùng cách nào, cũng đừng để họ lừa dối mình. Vì phải có sự bỏ đạo đến trước, và có người tội ác, con của sự hư mất hiện ra”(II Tê-sa-lô-ni-ca 2:3).

…Song khi Con Người đến, há sẽ thấy đức tin trên mặt đất chăng?”(Lu-ca 18:8).

Số của các Christ giả và tiên tri giả nổi lên, làm ra nhiều dấu kỳ, phép lạ lớn cũng sẽ thêm nhiều:

Vì nhiều christ giả và tiên tri giả sẽ dấy lên, làm những dấu lớn, phép lạ, nếu có thể được thì họ cũng đến dỗ dành chính những người được chọn” (Ma-thi-ơ 24:24).

Hiện nay, cả hai thành phần đó chiếm đa số trong hơn hai tỉ người mang danh là con dân Chúa, (theo thống kê của năm 2012) [5]. Hội Thánh của Chúa sẽ vô cùng bận rộn trong ngày phán xét!

Kết Luận

Tiêu chuẩn Đức Chúa Trời sẽ dùng để định tội con dân Chúa và những kẻ mạo làm con dân Chúa, bất kể họ là người I-sơ-ra-ên hay là người thuộc các dân tộc khác, là Thánh Kinh. Phương cách để định tội là đối chiếu những việc làm của họ với Thánh Kinh. Quyền phán xét những kẻ biết Lời Chúa mà sống nghịch lại Lời Chúa sẽ được giao vào trong tay của Hội Thánh, tức là những người sống theo Lời Chúa, như Rô-ma 2:27 đã khẳng định.

Một người được ban cho địa vị con dân Chúa khi họ ăn năn tội và tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Trong địa vị được làm con dân Chúa, họ được ban cho Thánh Linh của Đức Chúa Trời, được tiêu biểu bằng các ta-lâng hay các nén bạc, để làm mọi việc lành, tức là sống theo Lời Ngài, tức là vâng giữ các điều răn của Ngài. Nếu họ không sống theo Lời Chúa, họ sẽ bị phán xét.

Một người không thật lòng tin nhận Chúa, trà trộn vào trong Hội Thánh để thủ lợi vật chất, đương nhiên không có Thánh Linh và không thể sống theo Thánh Kinh, nhưng cũng vẫn bị phán xét theo Thánh Kinh, vì họ biết Thánh Kinh, thậm chí còn có bằng cấp, học vị về sự học hỏi, nghiên cứu Thánh Kinh.

Sự phán xét của Đức Chúa Trời luôn luôn là công chính. Thánh Kinh cho biết, kẻ biết Lời Chúa mà phạm tội thì sẽ bị hình phạt nặng hơn kẻ không biết Lời Chúa mà phạm tội (Ma-thi-ơ 23:14; Lu-ca 20:47).

 

Ghi Chú: Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.net www.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

[1] Rất có thể Hội Thánh tại Rô-ma được hình thành bởi một số người Rô-ma gốc Do-thái, trong số 3,000 người tin Chúa trong ngày Lễ Ngũ Tuần năm thứ 30, sau khi họ được chứng kiến khoảng 120 môn đồ của Chúa nói các thứ ngoại ngữ tôn vinh Chúa và nghe Sứ Đồ Phi-e-rơ giảng Tin lành (Công Vụ Các Sứ Đồ 2).

[2] “Huyền Thoại về Easter,” Huỳnh Christian Timothy: http://timhieutinlanh.net/node/519

[3] “History of Choir Robes:” http://www.academicapparel.com/choir/

[4] Bản Truyền Thống dịch là: Đức Giê-hô-va phán: Bây giờ, Ta làm gì đây? Vì dân Ta đã vô cớ bị đày đi. Đức Giê-hô-va phán: Những kẻ cai trị nó cất tiếng van la cả ngày, nói phạm đến danh Ta không thôi;”khiến cho sai ý. So sánh với bản Anh ngữ: “So then what is to Me here, declares Jehovah? For My people is taken for nothing; those ruling howl, declares Jehovah. And My name is continually despised, every day” (Literal Translation of the Holy Bible). Nguyên cớ dân Giu-đa bị lưu đày là vì phạm điều răn của Chúa, nhưng dân Ba-by-lôn đã không phải trả một giá nào để bắt dân Giu-đa làm nô lệ. Vì thế, khi Thiên Chúa đem dân Giu-đa về lại quê hương của họ cũng sẽ không phải trả một giá nào.

[5] http://intentious.com/2011/12/20/christianity-rules-the-global-population-in-2011-2012/

 


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Đọc Tiếp →
2,318 views

Rô-ma_010 Tiêu Chuẩn Đức Chúa Trời Định Tội Dân Ngoại

Roma_010 Tiêu Chuẩn Đức Chúa Trời Định Tội Dân Ngoại
Rô-ma 2:12-16

Huỳnh Christian Timothy
18.08.2012

Bấm vào đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?te2fmfu6vsm2d09

Bấm vào đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/997

12 Vì hễ ai không luật pháp mà phạm tội, thì họ sẽ không luật pháp mà hư mất. Hễ ai trong luật pháp mà phạm tội, thì họ sẽ bị phán xét bởi luật pháp –

13 Vì chẳng phải những kẻ nghe luật pháp là những người công chính trước Đức Chúa Trời, nhưng những kẻ làm theo luật pháp, thì họ sẽ được xưng là công chính.

14 Vì khi các dân tộc chẳng có luật pháp, tự nhiên làm những điều thuộc về luật pháp, thì những sự họ chẳng có luật pháp đó, họ tự làm nên luật pháp.

15 Những điều ấy chỉ ra rằng, công việc của luật pháp được ghi chép trong lòng của họ, làm chứng cho lương tâm của họ, trong khi những ý tưởng thì cáo buộc hoặc bênh vực lẫn nhau

16 – trong ngày mà Đức Chúa Trời bởi Đức Chúa Jesus Christ, sẽ phán xét những sự bí mật của loài người, y theo Tin Lành của tôi.

Dẫn Nhập

Trong bài trước, chúng ta đã học biết rằng, Đức Chúa Trời sẽ phán xét mỗi người tùy theo những việc họ làm, và Ngài sẽ thưởng phạt mỗi người một cách công chính, không hề thiên vị. Trong bài này, chúng ta sẽ học về tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời sẽ dùng để định tội dân ngoại, tức là những dân tộc không phải là dân I-sơ-ra-ên. Ngày nay, chúng ta có thể nói rằng, đây là tiêu chẩn mà Đức Chúa Trời sẽ dùng để định tội những ai không hề biết đến các sự dạy dỗ của Thánh Kinh, bất kể họ thuộc dân tộc nào. Tiêu chẩn này được trình bày trong Rô-ma 2:12-16.

Trước hết, chúng ta cần đặt hai câu 12 và 16 chung với nhau vì câu 16 tiếp nối ý tưởng của câu 12, còn từ câu 13 đến câu 15 được dùng để giải thích câu 12.


Rô-ma 2:12 Vì hễ ai không luật pháp mà phạm tội, thì họ sẽ không luật pháp mà hư mất. Hễ ai trong luật pháp mà phạm tội, thì họ sẽ bị phán xét bởi luật pháp –

Rô-ma 2:16 – trong ngày mà Đức Chúa Trời bởi Đức Chúa Jesus Christ, sẽ phán xét những sự bí mật của loài người, y theo Tin Lành của tôi.

Dân I-sơ-ra-ên là dân tộc được Đức Chúa Trời chọn làm nguồn phước cho các dân tộc khác, nghĩa là, qua dân I-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời ban phước cho mọi dân tộc.

  1. Qua dân I-sơ-ra-ên mà mọi dân tộc học biết về Thiên Chúa, các điều răn và luật pháp của Thiên Chúa, tình yêu, sự thánh khiết, và sự công chính của Thiên Chúa được chép thành văn tự.
  2. Qua dân I-sơ-ra-ên mà Thiên Chúa Ngôi Con đã nhập thế làm người, giải bày về Đức Chúa Trời cho nhân loại, hoàn tất công cuộc cứu chuộc nhân loại ra khỏi tội lỗi và hậu quả của tội lỗi.
  3. Qua dân I-sơ-ra-ên mà mọi dân tộc sẽ hưởng phước khi họ chúc phước cho dân I-sơ-ra-ên.

Trong địa vị là tuyển dân của Đức Chúa Trời, dân tộc I-sơ-ra-ên là dân tộc trực tiếp nghe sự phán dạy của Đức Chúa Trời, nhận lãnh các điều răn của Đức Chúa Trời do chính tay Ngài chép ra trên hai bảng đá, nhận lãnh luật pháp của Đức Chúa Trời do tôi tớ của Ngài là Môi-se ghi chép thành sách, và nhận lãnh các sự dạy dỗ khác của Đức Chúa Trời qua sự phán dạy và ghi chép của các tiên tri. Dân tộc I-sơ-ra-ên được gọi là dân tộc có luật pháp và sống trong luật pháp của Đức Chúa Trời. Các dân tộc khác được gọi là những dân tộc không có luật pháp.

Tuy nhiên, từ ngữ luật pháp được dùng trong cách nói “có luật pháp” và “không có luật pháp” chỉ có nghĩa giới hạn rằng: một người hay một dân tộc có hoặc không có luật pháp của Đức Chúa Trời được viết ra thành chữ. Điều đó không có nghĩa là người ấy hay dân tộc ấy không có tri thức về luật pháp của Đức Chúa Trời. Rô-ma 1:32 khẳng định: “Họ là những kẻ biết rõ sự phán quyết của Đức Chúa Trời cho những kẻ làm ra các sự ấy là đáng chết; thế mà, chẳng những họ tự làm, họ còn vui thú với những kẻ làm các sự ấy.” Thiên Chúa dựng nên loài người giống như Thiên Chúa, cho nên, loài người đương nhiên nhận biết những gì là yêu thương, thánh khiết, và công chính của Thiên Chúa, tức là các điều răn của Đức Chúa Trời. Loài người cũng ý thức được rằng, nếu sống nghịch lại sự yêu thương, thánh khiết, và công chính của Thiên Chúa thì sẽ bị hình phạt, đó là luật pháp của Đức Chúa Trời.

Thánh Kinh cho biết: “tiền công của tội lỗi là sự chết,” có nghĩa là mỗi một sự vi phạm điều răn của Đức Chúa Trời sẽ bị luật pháp của Đức Chúa Trời lên án chết. Từ ngữ “tiền công” nói đến công giá xứng đáng trả cho một người làm việc. Khi một người làm ra việc tội lỗi thì người ấy sẽ nhận được “sự chết” làm công giá xứng đáng cho việc làm tội của mình. “Sự chết” được Thánh Kinh định nghĩa là: “bị hư mất!” Từ ngữ “hư mất” trong Thánh Kinh không hề có nghĩa là bị “tiêu diệt” hay trở thành “không thực hữu,” mà ý nghĩa của nó là “bị hư hõng và lạc mất.” Một người bị hư mất hay một linh hồn bị hư mất có nghĩa là người ấy, linh hồn ấy, vì phạm tội mà bị xa cách Thiên Chúa và các ơn phước của Ngài. Nếu người ấy, linh hồn ấy vẫn tiếp tục không ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời thì sau khi thể xác chết đi, người ấy, linh hồn ấy sẽ bị hư mất đời đời trong hỏa ngục.

Vì hễ ai không luật pháp mà phạm tội, thì họ sẽ không luật pháp mà hư mất: Có nghĩa là người nào không có luật pháp của Đức Chúa Trời được viết ra thành chữ mà phạm điều răn của Đức Chúa Trời thì vẫn bị hư mất. Án phạt của họ không dựa trên luật pháp viết thành chữ, nhưng dựa trên luật pháp mà lương tâm của họ đã nhận biết, như Rô-ma 1:32 đã khẳng định: “Họ là những kẻ biết rõ sự phán quyết của Đức Chúa Trời cho những kẻ làm ra các sự ấy là đáng chết.”

Hễ ai trong luật pháp mà phạm tội, thì họ sẽ bị phán xét bởi luật pháp: Có nghĩa là người nào nhận biết luật pháp của Đức Chúa Trời đã viết thành chữ mà vẫn phạm tội thì tội lỗi của họ sẽ bị phán xét theo luật pháp. Điều này ứng dụng cho dân tộc I-sơ-ra-ên, nói riêng, và Hội Thánh của Chúa, nói chung. Dân tộc I-sơ-ra-ên đã đón nhận luật pháp của Chúa qua Cựu Ước, Hội Thánh đã đón nhận luật pháp của Chúa qua Tân Ước.

Trong Giao Ước Cũ, dân I-sơ-ra-ên có hai bảng đá do chính Đức Chúa Trời ghi chép Mười Điều Răn trên đó và cuốn sách luật pháp của Đức Chúa Trời do Môi-se ghi chép. Trong Giao Ước Mới, Hội Thánh, bao gồm mọi dân tộc, có Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời và toàn bộ luật pháp của Đức Chúa Trời được các tiên tri và các sứ đồ của Chúa ghi chép trong Thánh Kinh. Vì thế, những ai đã có luật pháp mà phạm tội thì sẽ bị phán xét bởi luật pháp.

Từ khi Đức Chúa Jesus Christ thiết lập Giao Ước Mới thì dân I-sơ-ra-ên và các dân ngoại được nhập chung làm một trong giao ước đó. Giao Ước Mới thay thế cho Giao Ước Cũ và giúp loài người làm trọn mọi điều Giao Ước Cũ đòi hỏi mà loài người không thể làm được; đó là giữ trọn các điều răn của Đức Chúa Trời và chịu hình phạt khi vi phạm. Trong Giao Ước Mới Đức Chúa Jesus Christ gánh thay mọi hình phạt cho sự vi phạm các điều răn của con dân Chúa và Đức Thánh Linh ban năng lực cho con dân Chúa giữ trọn các điều răn của Đức Chúa Trời. Giao Ước Mới thay thế Giao Ước Cũ trong ý nghĩa giúp cho mọi điều khoản trong Giao Ước Cũ có thể được thi hành một cách công chính chứ không có nghĩa là xóa bỏ mọi điều khoản trong Giao Ước Cũ. Lời của Đức Chúa Jesus Christ phán: “Các ngươi đừng tưởng Ta đến đặng hủy phá luật pháp hay là lời tiên tri; Ta đến, không phải để phá, song để làm cho trọn” (Ma-thi-ơ 5:17), và lời của Đức Thánh Linh, qua Phao-lô, phán: “Vậy, luật pháp đã bị hủy bỏ bởi đức tin hay sao? Chẳng phải vậy! nhưng chúng ta làm vững bền luật pháp” (Rô-ma 3:31), đã rõ ràng thiết lập sự kiện: con dân Chúa trong mọi thời đại, phải vâng giữ trọn vẹn luật pháp của Đức Chúa Trời.

Trong bài học trước, chúng ta đã học về hai ngày phán xét: Ngày phán xét trước thời kỳ Vương Quốc Ngàn Năm và ngày phán xét sau thời kỳ Vương Quốc Ngàn Năm.

Ngày phán xét trước thời kỳ Vương Quốc Ngàn Năm sẽ xảy ra trong thời kỳ Đại Nạn và kéo dài trong suốt ba năm rưởi cuối của bảy năm đại nạn. Khi đó, Rương Giao Ước có chứa hai bảng đá ghi chép Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời sẽ được hiện ra trên trời: “Rồi, đền thờ của Đức Chúa Trời mở ra ở trên trời. Rương Giao Ước trong đền thờ của Ngài được thấy. Có những chớp nhoáng, những âm thanh và những sấm vang, cùng động đất và mưa đá lớn” (Khải Huyền 11:19). Điều đó cho thấy, dù có luật pháp hay không có luật pháp, thì tiêu chuẩn phán xét của Đức Chúa Trời cho mọi dân tộc vẫn dựa trên Mười Điều Răn mà Ngài đã ban cho nhân loại qua dân tộc I-sơ-ra-ên. Hễ ai vi phạm điều răn của Chúa thì bị hư mất.

Ngày phán xét sau thời kỳ Vương Quốc Ngàn Năm còn gọi là sự phán xét chung cuộc hay sự phán xét đời đời (Hê-bơ-rơ 6:2). Trời đất sẽ trốn khỏi trước mặt Thiên Chúa, thân thể xác thịt của những người bị hư mất sẽ được gọi sống lại và kết hợp với linh hồn của họ, ra trước tòa phán xét của Đức Chúa Jesus Christ. Trong cuộc phán xét đó, những cuốn sách ghi chép từng tội lỗi của mỗi người sẽ được mở ra và Đức Chúa Jesus Christ sẽ dựa vào đó mà tuyên án mỗi tội nhân. Sau cùng, mọi tội nhân cùng với sự chết và âm phủ sẽ bị ném vào hồ lửa và ở lại đó cho đến đời đời, Khải Huyền 20:11-15:

11 Rồi, tôi thấy một ngai trắng, lớn và Đấng ngự trên ngai. Đất và trời trốn khỏi mặt Ngài, chẳng còn thấy chỗ của chúng nữa.

12 Tôi thấy những kẻ chết, nhỏ lẫn lớn, đứng trước Đức Chúa Trời. Có những sách mở ra. Lại có một sách khác là Sách Sự Sống được mở ra. Những kẻ chết bị phán xét tùy theo những việc họ đã làm và đã được ghi lại trong những sách ấy.

13 Biển đã giao lại những kẻ chết trong nó. Sự chết và âm phủ cũng đã giao lại những kẻ chết trong chúng. Mỗi người bị phán xét tùy theo những việc họ đã làm.

14 Sự chết và âm phủ bị ném vào hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai.

15 Bất cứ kẻ nào không tìm thấy được chép trong Sách Sự Sống thì bị ném vào hồ lửa.”

Cũng trong ngày phán xét chung cuộc đó, những sự bí mật của loài người sẽ bị phơi bày và bị phán xét trước mặt Đức Chúa Jesus Christ.

Bên cạnh hai ngày phán xét những kẻ bị hư mất kể trên thì trong suốt thời kỳ ân điển, Đức Chúa Jesus Christ tiến hành công cuộc phán xét Hội Thánh, là nhà của Đức Chúa Trời. I Phi-e-rơ 4:17 chép: “Vì thời kỳ đã đến, là khi sự phán xét sẽ khởi từ nhà Đức Chúa Trời…” Sự phán xét khởi từ nhà của Đức Chúa Trời đã mở đầu với sự phán xét A-na-nia và Sa-phi-ra, được ghi lại trong Công Vụ Các Sứ Đồ 5:1-11. Chính vì sự phán xét trong nhà của Đức Chúa Trời đã bắt đầu mà: “trong anh em có nhiều kẻ tật nguyền, đau ốm, và có lắm kẻ ngủ” vì dự Tiệc Thánh của Chúa cách không xứng đáng (I Cô-rinh-tô 11:30). Không bao lâu nữa, sẽ có nhiều “anh chị em” bị bỏ lại trong ngày Chúa xuất hiện giữa chốn không trung để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian.


Rô-ma 2:13 Vì chẳng phải những kẻ nghe luật pháp là những người công chính trước Đức Chúa Trời, nhưng những kẻ làm theo luật pháp, thì họ sẽ được xưng là công chính.

Chúng ta có thể diễn ý câu trên như sau: Chẳng phải những kẻ đọc Thánh Kinh, nghe giảng Thánh Kinh, thậm chí, chính mình giảng dạy Thánh Kinh cho người khác là những người công chính trước Đức Chúa Trời, nhưng chỉ có những ai làm theo lời dạy của Thánh Kinh thì sẽ được Đức Chúa Trời xưng nhận họ là công chính.

Theo định nghĩa của Thánh Kinh, người công chính không phải là người không phạm tội nhưng là người phạm tội mà biết ăn năn, xưng tội, từ bỏ tội, và tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ. Đó là một người làm theo Thánh Kinh.

Luật pháp là sự diễn giải các điều răn của Đức Chúa Trời qua văn tự và đã được đúc kết trong Thánh Kinh. Toàn bộ Thánh Kinh là luật pháp của Đức Chúa Trời vì Thánh Kinh nói cho mọi người biết tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời và hình phạt dành cho sự vi phạm tiêu chuẩn của Ngài. Nói cách khác, Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời là mục đích cho mọi ý nghĩ, lời nói và việc làm của loài người. Bất cứ một ý nghĩ, lời nói hay việc làm nào không đúng với Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời là tội lỗi. Không phải ngẫu nhiên mà từ ngữ “tội lỗi” trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh có nghĩa đen là “trật mục tiêu.” Là con dân Chúa chúng ta phải chăm nhìn vào Mười Điều Răn của Chúa để sống sao cho mỗi ý nghĩ, lời nói, và việc làm của chúng ta không sai trật với Mười Điều Răn. Chúng ta không giữ Mười Điều Răn để được cứu rỗi nhưng vì chúng ta đã được cứu rỗi ra khỏi sự vi phạm Mười Điều Răn nên chúng ta không còn vi phạm Mười Điều Răn nữa. Nói cách khác, chúng ta từng bị hư mất vì chúng ta vi phạm Mười Điều Răn, dù biết luật pháp hay không biết luật pháp. Nay, chúng ta đã được Đức Chúa Jesus Christ cứu khỏi sự hư mất và được Đức Thánh Linh ban Thánh Linh cho chúng ta, được hiểu biết mọi điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời, thì chúng ta phải sống một đời sống không còn vi phạm Mười Điều Răn nữa. Nếu chúng ta có lỡ vi phạm thì phải lập tức ăn năn và xưng tội để Chúa tha thứ chúng ta và làm cho chúng ta được sạch tội. Cả hai việc: sống theo Mười Điều Răn và xưng tội khi lỡ phạm Mười Điều Răn, là những việc lành mà chúng ta cần phải bền lòng làm để được Đức Chúa Trời ban cho sự sống đời đời (Rô-ma 2:7).

Hầu hết con dân Chúa ngày nay vi phạm điều răn thứ tư về việc “hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh.” Sự vâng giữ điều răn thứ tư bao gồm sự không lao động kiếm sống hoặc làm những việc phục vụ tiện nghi đời sống trong ngày Sa-bát, mà dành thì giờ cho thân xác được nghỉ ngơi, rao giảng Lời Chúa, thăm viếng, chăm sóc và cứu giúp những người bất hạnh, nhóm họp với các anh chị em trong Chúa để thông công với nhau, để cùng nhau thờ phượng Chúa, và để tương giao với Chúa qua sự cầu nguyện và đọc Thánh Kinh. Đó là sự nhóm họp mà Chúa truyền cho con dân của Ngài không được bỏ qua: “Ai nấy hãy coi sóc nhau để khuyên giục về lòng yêu thương và việc tốt lành; chớ bỏ qua sự nhóm lại như mấy kẻ quen làm, nhưng phải khuyên bảo nhau, và hễ anh em thấy ngày ấy hầu gần chừng nào, thì càng phải làm như vậy chừng nấy. Vì nếu chúng ta đã nhận biết lẽ thật rồi, mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có tế lễ chuộc tội nữa” (Hê-bơ-rơ 10:24-26).

Trong Vương Quốc Ngàn Năm, muôn dân trên đất, không riêng gì dân I-sơ-ra-ên, sẽ đến đền thờ được xây dựng lại tại Giê-ru-sa-lem để thờ phượng Chúa trong ngày Sa-bát:

Các người dân ngoại về cùng Đức Giê-hô-va, đặng hầu việc Ngài, đặng yêu mến danh Đức Giê-hô-va, đặng làm tôi tớ Ngài; tức là hết thảy những kẻ giữ ngày Sa-bát cho khỏi ô uế, và cầm vững lời giao ước Ta” (Ê-sai 56:6)

Đức Giê-hô-va phán: Từ ngày trăng mới nầy đến ngày trăng mới khác, từ ngày Sa-bát nọ đến ngày Sa-bát kia, mọi xác thịt sẽ đến thờ lạy trước mặt Ta”(Ê-sai 66:23).

Những ngày Sa-bát và ngày trăng mới, dân sự của đất sẽ thờ lạy trước mặt Đức Giê-hô-va nơi lối vào hiên cửa ấy“ (Ê-xê-chi-ên 46:3)

Vậy thì tại sao ngày nay Hội Thánh có thể hủy bỏ sự giữ ngày Sa-bát và hủy bỏ sự thờ phượng Chúa trong ngày Sa-bát? Nếu chúng ta chỉ vi phạm điều răn thứ tư thì chúng ta cũng đáng tội như đã vi phạm toàn bộ Mười Điều Răn. Gia-cơ 2:10 chép: “Vì người nào giữ trọn luật pháp, mà phạm một điều răn, thì cũng đáng tội như đã phạm hết thảy.” Đứng trước sự dạy dỗ của Thánh Kinh và sự dạy dỗ của các nhà thần học, một người khôn ngoan phải chọn sự dạy dỗ của Thánh Kinh. Nếu Thánh Kinh đã dạy rõ: con dân Chúa phải giữ ngày Sa-bát của Đức Giê-hô-va trong thời Cựu Ước và trong thời Vương Quốc Ngàn Năm, đồng thời không một nơi nào trong Thánh Kinh dạy rằng con dân Chúa trong thời Tân Ước không cần phải giữ ngày Sa-bát, thì chúng ta nên giữ ngày Sa-bát hay chúng ta nghe theo các nhà thần học mà không vâng giữ ngày Sa-bát? Nếu sự vâng giữ ngày Sa-bát là việc làm đẹp lòng Thiên Chúa trong thời Cựu Ước lẫn thời Vương Quốc Ngàn Năm, tức trong quá khứ và trong tương lai, thì tại sao ngày hôm nay, trong hiện tại, con dân Chúa không vâng giữ ngày Sa-bát? Không lẽ việc vâng giữ ngày Sa-bát trong hiện tại là không đẹp lòng Thiên Chúa?

Rô-ma 2:13 là một câu mà chúng ta cần phải lắng lòng để suy ngẫm: “Vì chẳng phải những kẻ nghe luật pháp là những người công chính trước Đức Chúa Trời, nhưng những kẻ làm theo luật pháp, thì họ sẽ được xưng là công chính.”


Rô-ma 2:14 Vì khi các dân tộc chẳng có luật pháp, tự nhiên làm những điều thuộc về luật pháp, thì những sự họ chẳng có luật pháp đó, họ tự làm nên luật pháp.

Rô-ma 2:15 Những điều ấy chỉ ra rằng, công việc của luật pháp được ghi chép trong lòng của họ, làm chứng cho lương tâm của họ, trong khi những ý tưởng thì cáo buộc hoặc bênh vực lẫn nhau

Hai câu Rô-ma 2:14 và 15 giải thích vì sao những dân tộc không có luật pháp của Đức Chúa Trời viết thành chữ đều bị hư mất khi họ phạm tội. Chúng ta nhớ lại vào buổi đầu sáng thế, Thiên Chúa chỉ ban hành qua lời nói một cấm lệnh cho loài người, đó là: không được ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác (Sáng Thế Ký 2:17). Lúc bấy giờ không có luật pháp viết thành chữ nhưng lời phán của Thiên Chúa chính là luật pháp. Trong câu phán của Thiên Chúa bao gồm điều răn và luật pháp:

  • Nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến:”là điều răn.
  • Vì một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết:”là luật pháp.

Loài người đã vi phạm cấm lệnh của Thiên Chúa và đã bị hư mất. Điều răn là ý muốn của Thiên Chúa và luật pháp là hình phạt dành cho sự vi phạm ý muốn của Thiên Chúa. Mặc dù đến khi dân I-sơ-ra-ên được Thiên Chúa đem ra khỏi xứ Ai-cập thì Thiên Chúa mới ban hành các điều răn và luật pháp của Ngài qua hình thức chữ viết, nhưng ngay từ ban đầu, Thiên Chúa đã khiến cho loài người nhận biết các điều răn và luật pháp của Ngài: “Bởi vì sự hiểu biết về Đức Chúa Trời đã được chiếu ra trong họ. Vì Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho họ những sự không thấy được của Ngài, qua sự sáng tạo thế gian là sự được thấy rõ ràng, để họ bởi những vật được làm ra mà nhận biết cả năng lực và thần tính đời đời của Ngài; cho nên, họ không thể chữa mình” (Rô-ma 1:19-20). Vì thế, trong lòng những dân tộc không có luật pháp viết thành chữ của Thiên Chúa, họ vẫn nhận biết luật pháp của Ngài. Chính vì thế mà họ tự nhiên làm theo những điều thuộc về luật pháp.

Phần lớn những tiêu chuẩn luân lý, đạo đức, và luật pháp trong mọi xã hội loài người, đều ra từ Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời. Nhưng vì loài người không thờ phượng Đức Chúa Trời nên họ đã khiến cho những điều tốt lành thuộc về luật pháp của Ngài bị biến dạng, trở nên hư hoại, nghịch lại Thiên Chúa. Thí dụ: nhiều dân tộc đã biến sự tôn kính cha mẹ thành ra sự thờ phượng cha mẹ; nhiều nhà cầm quyền đã biến sự vâng phục kẻ cầm quyền thành ra sự thờ phượng lãnh tụ. Sự kiện loài người thiết lập những tiêu chuẩn luân lý, đạo đức, và luật pháp phù hợp với luật pháp của Đức Chúa Trời chứng minh rằng, luật pháp của Đức Chúa Trời đã được ghi chép trong lòng họ.

Chính luật pháp của Đức Chúa Trời ở trong lòng người làm chứng cho lương tâm của một người. Luật pháp của Chúa làm chứng thuận cho lương tâm của một người khi người ấy làm theo những việc luật pháp dạy; và làm chứng nghịch cho lương tâm của một người khi người ấy làm nghịch lại những việc luật pháp dạy. Lương tâm tức là tri thức về Thiên Chúa trong tâm thần của một người.

Luật pháp là Lời Chúa đã được ghi chép trong mỗi người. Lời Chúa là Lời Sống cho nên luật pháp lên tiếng trong tâm thần của chúng ta đối với mỗi việc chúng ta làm. Trước sự làm chứng thuận hay nghịch của luật pháp mà linh hồn của chúng ta sẽ lý luận, tức là phát sinh ra các tư tưởng, và các tư tưởng đó cáo buộc những tư tưởng tội lỗi, bênh vực những tư tưởng yêu thương, thánh khiết, và công chính theo luật pháp của Thiên Chúa. Nói cách khác, trước khi Đức Chúa Trời phán xét chúng ta thì luật pháp của Ngài trong lương tâm của chúng ta đã phán xét từng ý nghĩ, lời nói và việc làm của chúng ta. Vì thế, trong ngày phán xét chung cuộc, không ai có thể bào chữa cho những việc làm tội lỗi của mình.

Trong Tin Lành về sự cứu rỗi Đức Chúa Trời ban cho nhân loại đã bao hàm tin dữ về sự phán xét những ai không chịu tiếp nhận Tin Lành. Vì mọi người đều đã phạm tội , cho nên, mọi người đang ở trong sự hư mất. Hễ ai chịu tiếp nhận Tin Lành thì được thoát khỏi sự hư mất, vào trong sự sống đời đời; hễ ai không chịu tiếp nhận Tin Lành thì ở lại trong sự hư mất đời đời. Đó là Tin Lành chân thật mà Phao-lô rao giảng.

Kết Luận

Có được luật pháp của Đức Chúa Trời viết thành chữ hay không, không phải là lý do để một người bào chữa cho những việc làm tội lỗi của mình. Tiền công của tội lỗi là sự chết, tức là bị hư mất trong hỏa ngục, bị đời đời xa cách Thiên Chúa. Thiên Chúa sẽ phán xét tất cả những việc làm tội lỗi của mỗi người một cách công chính, dựa trên luật pháp mà Ngài đã đặt để trong lương tâm của mỗi người.

Con dân của Chúa, tức là những người đã tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, đã học biết về các điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời, nếu không làm theo Lời Chúa thì sẽ bị phán xét theo luật pháp.

 

Ghi Chú:Bấm vào các từ ngữ Hy-lạp để nghe phát âm. Bấm vào các mã số Strong (bắt đầu bằng H) để xem định nghĩa trong tiếng Anh. Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.net www.tt2012.thanhkinhvietngu.net.


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Đọc Tiếp →
3,204 views

Rô-ma_009 Sự Phán Xét của Đức Chúa Trời

Roma_009 Sự Phán Xét của Đức Chúa Trời
Rô-ma 2:1-11

Huỳnh Christian Timothy
11.08.2012

Bấm vào đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?wcxhw5dtcjlmdv1

Bấm vào đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/994
 

1 Vậy, hỡi người kia, hễ ai phán xét thì không thể chữa mình; vì trong sự đó, chính ngươi cáo buộc mình, bởi ngươi phán xét kẻ khác mà phạm những sự bị phán xét.

2 Nhưng chúng ta biết rằng, sự phán xét của Đức Chúa Trời là theo như lẽ thật, nghịch cùng những kẻ phạm những việc như vậy.

3 Và, hỡi người kia, kẻ phán xét những kẻ vi phạm những việc mà ngươi cũng làm, nghĩ rằng ngươi sẽ thoát khỏi sự phán xét của Đức Chúa Trời sao?

4 Hay là ngươi xem thường sự giàu có của lòng nhân từ, chịu đựng, và nhẫn nại của Ngài, mà không nhận biết lòng nhân từ của Đức Chúa Trời dẫn ngươi đến sự cải hối?

5 Nhưng, theo như sự cứng cỏi và lòng không cải hối của ngươi, ngươi tự dồn chứa cho chính mình sự thịnh nộ trong ngày thịnh nộ và phơi bày sự phán xét công chính của Đức Chúa Trời,

6 Đấng sẽ trả cho mỗi người tùy theo những việc làm của họ.

7 Thật vậy, những ai bởi sự bền lòng làm lành, tìm kiếm sự vinh quang, sự tôn trọng, và sự chẳng hề chết, thì được sự sống đời đời.

8 Nhưng cơn giận và sự thịnh nộ thật dành cho những ai bởi lòng toan tính và không vâng phục lẽ thật mà vâng phục sự không công bình.

9 Sự hoạn nạn và khốn khổ trên mỗi linh hồn của người làm việc dữ, thuộc về dân Do-thái trước và thuộc về cả dân Hy-lạp.

10 Nhưng sự vinh quang, sự tôn trọng, và sự bình an cho mỗi người làm việc lành, cho dân Do-thái trước và cho cả dân Hy-lạp.

11 Vì trước Đức Chúa Trời, Ngài không thiên vị.

 

Dẫn Nhập

Trong bài số 007, “Hậu Quả của Sự Chối Bỏ Đức Chúa Trời,” chúng ta đã học rằng: Mỗi việc làm của chúng ta đều mang lại kết quả về sau. Trong bài này, chúng ta sẽ cùng nhau học về sự phán xét của Đức Chúa Trời dành cho những việc làm của loài người.

Từ ngữ “phán xét” có nghĩa là “phân biệt đúng sai,” với mục đích: quở trách, sửa phạt hoặc khen thưởng. Sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với mỗi việc làm của loài người là để sửa phạt hoặc khen thưởng, là sự tỏ ra bản tính thánh khiết và công bình của Ngài. Vì Đức Chúa Trời là thánh khiết nên Ngài chỉ có thể chấp nhận việc lành và Ngài phải lên án tội lỗi. Vì Đức Chúa Trời là công bình nên Ngài phải ban thưởng cho việc lành và hình phạt tội lỗi. Đối với những ai tiếp nhận sự yêu thương của Đức Chúa Trời, ở trong sự cứu rỗi của Ngài, thì họ không còn chịu phán xét về những việc làm tội lỗi của họ, vì Đức Chúa Jesus Christ đã gánh lấy sự phán xét cho mọi tội lỗi của họ. Nếu họ trung tín làm trọn những việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho họ thì họ sẽ nhận được phần thưởng từ Đức Chúa Jesus Christ.

Để mở đầu chương hai của thư Rô-ma, Phao-lô khẳng định rằng, Đức Chúa Trời sẽ phán xét một cách công chính, không thiên vị một người nào, một dân tộc nào.


Rô-ma 2:1 Vậy, hỡi người kia, hễ ai phán xét thì không thể chữa mình; vì trong sự đó, chính ngươi cáo buộc mình, bởi ngươi phán xét kẻ khác mà phạm những sự bị phán xét.

Rô-ma 2:2 Nhưng chúng ta biết rằng, sự phán xét của Đức Chúa Trời là theo như lẽ thật, nghịch cùng những kẻ phạm những việc như vậy.

Từ ngữ “Hỡi người kia” được Phao-lô dùng trong 2:1 để gọi một cách giả định bất cứ một người nào làm công việc phán xét người khác mà cũng phạm những tội mà mình phán xét. Tuy nhiên, theo văn mạch thì Phao-lô có ý nói đến một người Do-thái, là người vốn có sự hiểu biết về các điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời. Phao-lô nhắc cho một người như vậy nhớ rằng: “hễ ai phán xét thì không thể chữa mình.” Lý do là: người phán xét cũng phạm những sự mà người ấy lên tiếng phán xét, như vậy, trong khi lên tiếng phán xét những sự ấy thì người ấy đang lên tiếng phán xét chính mình, là một trong những kẻ làm ra những sự bị phán xét.

Điều này không phải chỉ xảy ra giữa quan tòa và tội nhân mà là xảy ra thường xuyên trong cuộc sống của chúng ta. Mỗi khi chúng ta lên án một hành động tội lỗi mà chúng ta cũng làm ra hành động ấy, là chúng ta đang lên án chính mình. Nhiều khi chúng ta không nhớ hoặc không ý thức rằng, mình cũng phạm cùng một tội mà mình đang phán xét. Câu chuyện những người Do-thái lên án một người đàn bà phạm tội ngoại tình được ghi lại trong sách Giăng, chương 8, là một điển hình. Đám đông vây chung quanh người đàn bà có tội, mong chờ Đức Chúa Jesus sẽ kết tội bà để họ ném đá bà; nhưng khi Chúa phán: “Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhứt ném đá vào người,” thì lương tâm của họ bắt đầu cáo trách họ, vì không một người nào trong số họ chưa từng phạm tội ngoại tình. Thánh Kinh ghi tiếp: “Những người nghe bị cáo trách bởi lương tâm, thì kế nhau mà bỏ đi, những người có tuổi đi trước; còn lại một mình Đức Chúa Jesus với người đàn bà…” (Giăng 8:9). Đức Chúa Jesus là một người vô tội và cũng là Đấng có quyền định tội mọi tội nhân, nhưng Ngài cũng không định tội người đàn bà phạm tội ngoại tình, vì ngày phán xét chưa đến.

Điều đó không có nghĩa là chúng ta không được nói đến tội lỗi của một người. Việc khẳng định một hành động là tội lỗi, dựa trên Lời Chúa, để xác định một người là tội nhân, khác với việc định tội người phạm tội. Hội Thánh của Chúa có thẩm quyền Chúa ban để định tội những con dân Chúa phạm tội mà không ăn năn. Điều đó cũng không có nghĩa là những tòa án của thế gian không có quyền định tội những tội nhân. Các nhà cầm quyền do Chúa thiết lập trong thế gian để khen thưởng những người làm lành và sửa phạt những kẻ làm dữ (Rô-ma 13:1-7). Vì thế, họ có thẩm quyền Chúa ban để định tội những kẻ phạm tội và sửa phạt những kẻ đó trong đời này. Riêng Đức Chúa Jesus Christ sẽ là quan tòa định tội mọi tội nhân, tùy theo mỗi việc làm của họ, trong ngày Đức Chúa Trời sẽ phán xét nhân loại.

Từ ngữ “chúng ta” được dùng trong 2:2, có ý bao gồm tất cả mọi người. Mọi người trong thế gian này đều biết chắc rằng: sự phán xét của Đức Chúa Trời là theo như lẽ thật. Đức Chúa Trời dựa trên lẽ thật là các điều răn và luật pháp của Ngài để định tội nhân loại, tức là, Ngài xem xét mọi việc làm của loài người để lên án bất cứ việc làm nào trái nghịch với các điều răn và luật pháp của Ngài. Sự phán xét của Đức Chúa Trời nghịch lại tội nhân, nghĩa là, sự phán xét đó sẽ đem lại án phạt cho tội nhân.


Rô-ma 2:3 Và, hỡi người kia, kẻ phán xét những kẻ vi phạm những việc mà ngươi cũng làm, nghĩ rằng ngươi sẽ thoát khỏi sự phán xét của Đức Chúa Trời sao?

Rô-ma 2:4 Hay là ngươi xem thường sự giàu có của lòng nhân từ, chịu đựng, và nhẫn nại của Ngài, mà không nhận biết lòng nhân từ của Đức Chúa Trời dẫn ngươi đến sự cải hối?

Phao-lô đặt ra hai trường hợp của người phán xét người khác mà mình cũng phạm những việc mình phán xét.

  • Trường hợp thứ nhất: họ nghĩ rằng Đức Chúa Trời sẽ không phán xét họ. Có lẽ, họ nghĩ rằng mình thuộc dòng dõi của Áp-ra-ham, có giao ước với Đức Chúa Trời, cho nên, Đức Chúa Trời sẽ bỏ qua mọi vi phạm của họ. Ngày nay, trong Hội Thánh có nhiều con dân Chúa lên án những người không tin Chúa về sự vi phạm các điều răn của Đức Chúa Trời, nhưng chính họ cũng vi phạm các điều răn của Chúa mỗi ngày, mà họ không nghĩ rằng Chúa sẽ phán xét họ y như Chúa sẽ phán xét những người không tin Chúa. Phần lớn con dân Chúa bị tiêm nhiễm các tà thuyết “tin Chúa một lần được cứu vĩnh viễn” và “con dân Chúa không cần vâng giữ Mười Điều Răn” hoặc “con dân Chúa không cần giữ ngày Sa-bát (điều răn thứ tư).”
  • Trường hợp thứ nhì: họ biết Đức Chúa Trời sẽ phán xét họ nhưng họ chưa chịu ăn năn, vì nghĩ rằng, cơ hội ăn năn vẫn còn dài. Phao-lô gọi đó là thái độ xem thường sự giàu có của lòng nhân từ, chịu đựng, và nhẫn nại”của Đức Chúa Trời, không nhận biết rằng: lòng nhân từ của Đức Chúa Trời dẫn tội nhân đến sự cải hối, chứ không phải là một thứ “giấy cho phép phạm tội” trong một thời gian. Bất cứ ai đã biết rằng Đức Chúa Trời sẽ phán xét sự phạm tội của họ mà họ vẫn có ý định sẽ sống trong tội thêm một thời gian nữa, rồi mới cải hối, thì họ đã xem thường sự giàu có của lòng nhân từ, chịu đựng, và nhẫn nại của Đức Chúa Trời.

Rô-ma 2:5 Nhưng, theo như sự cứng cỏi và lòng không cải hối của ngươi, ngươi tự dồn chứa cho chính mình sự thịnh nộ trong ngày thịnh nộ và phơi bày sự phán xét công chính của Đức Chúa Trời,

Rô-ma 2:6 Đấng sẽ trả cho mỗi người tùy theo những việc làm của họ.

Thánh Kinh khẳng định Đức Chúa Trời không phải là Đấng chấp nhận sự xem thường của loài người:

Chớ hề dối mình; Thiên Chúa không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy. Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; song kẻ gieo cho Đấng Thần Linh, sẽ bởi Đấng Thần Linh mà gặt sự sống đời đời”(Ga-la-ti 6:7-8).

Những ai làm ra những điều chống nghịch lại các điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ bị hư mất đời đời trong hỏa ngục, nếu họ không cải hối và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ. Những ai đã cải hối và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ, đã được tha tội, được sạch tội, được nhận lãnh Thánh Linh, mà quay về với nếp sống tội lỗi thì họ cũng sẽ bị hư mất đời đời trong hỏa ngục (Hê-bơ-rơ 6:4-8).

Số phận của người đã tin nhận Chúa mà vẫn sống trong tội sẽ không khác với số phận của người không tin nhận Chúa. Hay nói cách khác, người tuyên xưng rằng mình đã tin nhận Chúa mà vẫn sống trong tội là một người không thật sự tin nhận Chúa, vì tin nhận Chúa tức là sống theo lời dạy của Ngài. Dĩ nhiên, có trường hợp những người lúc đầu thật lòng tin nhận Chúa và đức tin tăng trưởng cho đến khi phải đối diện với thử thách, hoạn nạn, bắt bớ vì danh Chúa, thì họ chối Chúa. Cũng có trường hợp những người lúc đầu thật lòng tin nhận Chúa, nhưng rồi đức tin của họ bị lòng ham mến sự giàu sang hoặc sự lo lắng về đời này làm cho chết đi (Lu-ca 8:13-14).

Riêng Rô-ma 2:5 nói đến sự kiện những người đã biết rằng Đức Chúa Trời sẽ phán xét tội lỗi mà xem thường cơ hội Chúa chờ đợi họ ăn năn, vẫn tiếp tục sống trong tội, thì họ đang dồn chứa sự thịnh nộ của Đức Chúa Trời cho chính họ trong ngày phán xét. Từ ngữ “thịnh nộ” trong nguyên ngữ Hy-lạp khác với từ ngữ “giận.” Trong khi từ ngữ “giận” chỉ về cảm giác bất mãn, khó chịu nhưng chưa thể hiện thành hành động, thì từ ngữ “thịnh nộ” nói đến hành động quyết liệt do sự giận đưa tới. Dồn chứa sự thịnh nộ có nghĩa là thu gom tất cả những hành động phát sinh từ những cơn giận. Ngày thịnh nộ là ngày mà cơn giận của Đức Chúa Trời thể hiện qua hành động trên những tội nhân. Ngày thịnh nộ sẽ đến trên toàn thế gian vào kỳ tận thế, tức là thời đại nạn, và ngày thịnh nộ sẽ đến trên toàn thể những người bị hư mất trong ngày phán xét chung cuộc. Cả hai ngày thịnh nộ đều đã được tiên tri trong sách Khải Huyền.

Trong ngày thịnh nộ, sự công chính của Đức Chúa Trời được bày tỏ qua sự hình phạt tội lỗi. Sự hình phạt tội lỗi sẽ tương xứng với mỗi việc làm tội lỗi của từng người.


Rô-ma 2:7 Thật vậy, những ai bởi sự bền lòng làm lành, tìm kiếm sự vinh quang, sự tôn trọng, và sự chẳng hề chết, thì được sự sống đời đời.

Rô-ma 2:8 Nhưng cơn giận và sự thịnh nộ thật dành cho những ai bởi lòng toan tính và không vâng phục lẽ thật mà vâng phục sự không công bình.

Sự phán xét của Đức Chúa Trời không chỉ dành riêng cho những kẻ phạm tội, mà còn để khen thưởng những người làm ra những việc lành. Sự làm lành được khen thưởng là sự bền lòng làm những việc lành mà “Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo” (Ê-phê-sô 2:10). Từ ngữ “bền lòng” trong nguyên ngữ Hy-lạp có nghĩa là: “liên tục nhẫn nại.” Mục đích của sự làm lành là tìm kiếm sự vinh quang, sự tôn trọng, và sự chẳng hề chết, tức là tìm kiếm tình yêu, sự thánh khiết, và sự công chính của Đức Chúa Trời cùng chính mình Ngài. Phần thưởng ban cho những người bền lòng làm lành là: sự sống đời đời.

Chỉ có những ai đã được tha tội, được làm cho sạch tội, được ban cho Thánh Linh, tức là đã được dựng nên mới trong Đức Chúa Jesus Christ, và hết lòng vâng phục Chúa, mới có thể làm ra những việc lành. Những ai đã được dựng nên mới nhưng không hết lòng vâng phục Chúa, thì sẽ chỉ làm ra những việc dữ mà thôi.

Tại đây, chúng ta còn thấy rõ lẽ thật này: Sự sống đời đời không phải là sự ban cho vô điều kiện mà là phần thưởng dành riêng cho những ai bền lòng trong sự làm lành. Chúng ta được cứu rỗi để làm những việc lành mà “Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo;” không phải chúng ta được cứu rỗi để tiếp tục sống trong tội lỗi, tiếp tục vi phạm các điều răn của Đức Chúa Trời. Ngay cả trong sự cứu rỗi của chúng ta cũng có điều kiện, đó là: chúng ta phải có lòng ăn năn, muốn từ bỏ tội lỗi và chỉ tin nhận sự cứu rỗi trong Đức Chúa Jesus Christ. Để có sự cứu rỗi, chúng ta chỉ cần ăn năn tội và tin nhận điều Đức Chúa Jesus Christ đã làm cho chúng ta, vì thế, Thánh Kinh chép: “Ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu.” Để có sự sống đời đời, chúng ta phải bền lòng làm những việc lành mà “Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo.” Nhiều nơi trong Thánh Kinh dạy cho chúng ta biết, chúng ta nhận được sự sống đời đời bởi sự thể hiện đức tin của chúng ta nơi Chúa qua các việc làm đẹp ý Chúa:

Nầy, có một người đến hỏi Ngài rằng: Theo thầy, tôi phải làm việc lành chi cho được sự sống đời đời? Đức Chúa Jesus đáp rằng: Sao ngươi hỏi Ta về việc lành? Chỉ có một Đấng lành mà thôi. Nếu ngươi muốn vào sự sống, thì phải giữ các điều răn(Ma-thi-ơ 19:17).

Hễ ai vì danh Ta mà bỏ anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng, nhà cửa, thì người ấy sẽ lãnh bội phần hơn, và được hưởng sự sống đời đời” (Ma-thi-ơ 19:29).

Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; song kẻ gieo cho Đấng Thần Linh, sẽ bởi Đấng Thần Linh mà gặt sự sống đời đời”(Ga-la-ti 6:8).

Hãy vì đức tin mà đánh trận tốt lành, bắt lấy sự sống đời đời, là sự mà con đã được gọi đến, và vì đó mà con đã làm chứng tốt lành trước mặt nhiều người chứng kiến”(I Ti-mô-thê 6:12).

Hãy giữ mình trong sự yêu mến Thiên Chúa, và trông đợi sự thương xót của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta cho được sự sống đời đời”(Giu-đe 1:21).

Đối với những kẻ có lòng toan tính và không vâng phục lẽ thật, trái lại vâng phục sự không công bình, thì Đức Chúa Trời sẽ ban cho họ cơn giận và sự thịnh nộ của Ngài. Lòng toan tính được nói đến ở đây là sự tính toán sắp đặt và gắng sức hành động sao cho Đạo và đời, bề nào cũng có lợi, bất kể là việc làm đó có đẹp lòng Chúa hay không. Lòng không vâng phục lẽ thật là lòng không chịu làm theo Lời Chúa dạy trong Thánh Kinh. Lòng vâng phục sự không công bình là lòng vâng phục tội lỗi, vì “mọi sự không công bình đều là tội” (I Giăng 5:17).


Rô-ma 2:9 Sự hoạn nạn và khốn khổ trên mỗi linh hồn của người làm việc dữ, thuộc về dân Do-thái trước và thuộc về cả dân Hy-lạp.

Rô-ma 2:10 Nhưng sự vinh quang, sự tôn trọng, và sự bình an cho mỗi người làm việc lành, cho dân Do-thái trước và cho cả dân Hy-lạp.

Hình phạt và phần thưởng từ Đức Chúa Trời, trong đời này hay trong đời sau, đều theo thứ tự đã định sẵn: Trước là thưởng hoặc phạt người Do-thái, kế tiếp là thưởng hoặc phạt dân ngoại. Ngay cả sự rao giảng về Tin Lành cứu rỗi cũng vậy: “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất” (Công Vụ Các Sứ Đồ 1:8).

Mệnh đề: “Sự hoạn nạn và khốn khổ trên mỗi linh hồn của người làm việc dữ,” có ý nhấn mạnh đến sự kiện hình phạt dành cho tội lỗi không phải chỉ trên thân thể xác thịt, mà còn trên chính linh hồn của mỗi một tội nhân.

Hình phạt dành cho kẻ làm dữ bao gồm: sự hoạn nạn và sự khốn khổ. Nói như vậy không phải sự hoạn nạn và sự khốn khổ không đến với con dân Chúa. Điều khác biệt là: Đối với kẻ làm dữ thì sự hoạn nạn và sự khốn khổ là hình phạt đến từ Đức Chúa Trời hoặc trực tiếp từ nơi Ngài như trong thời đại nạn hoặc qua các nhà cầm quyền do Chúa lập nên hoặc qua những kẻ làm ác. Đối với con dân Chúa thì đó là sự Chúa cho phép xảy ra để rèn luyện chúng ta và để chúng ta được dự phần trong sự thương khó của Ngài.

  • Hoạn nạn và khốn khổ là sự thử thách đức tin:“Hỡi anh em, hãy coi sự thử thách trăm bề thoạt đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn, vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sanh ra sự nhịn nhục. Nhưng sự nhịn nhục phải làm trọn việc nó, hầu cho chính mình anh em cũng trọn lành toàn vẹn, không thiếu thốn chút nào” (Gia-cơ 1:2-4)
  • Hoạn nạn và khốn khổ là sự dự phần trong sự thương khó của Đức Chúa Jesus Christ:“Vì nhơn cớ lương tâm đối với Thiên Chúa, mà chịu khốn nạn trong khi bị oan ức, ấy là một ơn phước. Vả, mình làm điều ác, bị đánh mà hay nhịn chịu, thì có đáng khoe gì: Nhưng nếu anh em làm lành, mà nhịn chịu sự khốn khó, ấy là một ơn phước trước mặt Thiên Chúa. anh em đã được kêu gọi đến sự đó, vì Đấng Christ cũng đã chịu khổ cho anh em, để lại cho anh em một gương, hầu cho anh em noi dấu chơn Ngài; Ngài chưa hề phạm tội, trong miệng Ngài không thấy có chút chi dối trá; Ngài bị rủa mà chẳng rủa lại, chịu nạn mà không hề ngăm dọa, nhưng cứ phó mình cho Đấng xử đoán công bình” (I Phi-e-rơ 2:19-23).
  • Hoạn nạn và khốn khổ là cơ hội được phước: Hỡi kẻ rất yêu dấu, khi anh em bị trong lò lửa thử thách, chớ lấy làm lạ như mình gặp một việc khác thường. Nhưng anh em có phần trong sự thương khó của Đấng Christ bao nhiêu, thì hãy vui mừng bấy nhiêu, hầu cho đến ngày vinh quang của Ngài hiện ra, thì anh em cũng được vui mừng nhảy nhót. Ví bằng anh em vì cớ danh Đấng Christ chịu sỉ nhục, thì anh em có phước; vì Đức Linh của Đức Chúa Trời và của sự vinh quang đậu trên anh em”(I Phi-e-rơ 4:12-14).

Phần thưởng dành cho mỗi người làm lành bao gồm: sự vinh quang, sự tôn trọng, và sự bình an. Sự vinh quang, sự tôn trọng, và sự bình an của con dân Chúa không nhất thiết phải thuộc về thế giới vật chất và theo tiêu chuẩn của thế gian. Trước thế gian, con dân Chúa có thể bị tù đày, bị đánh đập, bị sỉ nhục, và bị giết chết cách đau thương; nhưng trước Thiên Chúa, trước Hội Thánh, trước các thiên sứ và trước Ma Quỷ, con dân Chúa có sự vinh quang, sự tôn trọng, sự bình an ngay trong đời này, trong mọi cảnh ngộ, và còn mãi cho đến đời đời mà thế gian không thể có được và cũng không thể hiểu được.

Những kẻ làm dữ cũng có khi nhận được sự vinh quang, sự tôn trọng, và sự bình an trong đời này, do Sa-tan ban cho, để dẫn dụ họ vào trong sự hư mất đời đời. Thi Thiên 73 nói đến trường hợp đó:

Vì trong cơn chết chúng nó chẳng bị đau đớn; sức lực của chúng nó vẫn đầy đủ. Chúng nó chẳng bị nạn khổ như người khác, cũng không bị tai họa như người đời… Kìa là những kẻ ác, chúng nó bình an vô sự luôn luôn, nên của cải chúng nó thêm lên”(Thi Thiên 73:4-5 và 12).

Nhưng cũng chính Thi Thiên 73 giải đáp cho sự khó hiểu này:

Khi tôi suy gẫm để hiểu biết điều ấy, bèn thấy là việc cực nhọc quá cho tôi, cho đến khi tôi vào nơi thánh của Thiên Chúa, suy nghiệm về sự cuối cùng của chúng nó. Chúa thật đặt chúng nó tại nơi trơn trợt, khiến cho chúng nó hư nát”(Thi Thiên 73:16-18).


Rô-ma 2:11 Vì trước Đức Chúa Trời, Ngài không thiên vị.

Mệnh đề: “trước Đức Chúa Trời” hàm ý: mọi sự Đức Chúa Trời làm ra, bao gồm: sự ban ơn, sự khen thưởng, và sự hình phạt. Mệnh đề; “Ngài không thiên vị” hàm ý: Đức Chúa Trời luôn luôn công chính trong mọi sự, vì đó là bản tính của Ngài. Ngài không hề thiên vị một ai hay bất cứ điều gì. Chính vì sự không thiên vị đó mà hình phạt dành cho những kẻ đã tin nhận Chúa sẽ nặng hơn, so với những kẻ không tin nhận Chúa. Điều đó trái ngược với sự hiểu lầm của nhiều người, họ tưởng rằng, vì họ đã tuyên xưng đức tin vào sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, cho nên, dù cho có một vài tội lỗi nào đó mà họ không từ bỏ, thì họ vẫn được vào Vương Quốc của Đức Chúa Trời. Sự công chính của Đức Chúa Trời đòi hỏi Ngài phải hình phạt mọi kẻ không ăn năn tội như nhau.

Kết Luận

Đức Chúa Trời sẽ phán xét mỗi người tùy theo mỗi việc làm: việc làm lành cũng như việc làm dữ. Sự phán xét của Đức Chúa Trời để khen thưởng và hình phạt sẽ xảy ra cho dân Do-thái, rồi đến các dân ngoại. Tuy nhiên, sự phán xét của Ngài là công chính, không hề có sự thiên vị. Sự phán xét của Đức Chúa Trời sẽ xảy ra trong đời này vào kỳ tận thế trong bảy năm đại nạn, và sẽ xảy ra trong đời sau trước khi trời mới đất mới được thành lập.

 

Ghi Chú: Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.net www.tt2012.thanhkinhvietngu.net.


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Đọc Tiếp →
2,318 views

Rô-ma_008 Bản Chất của Tội Nhân

Roma_008 Bản Chất của Tội Nhân

Huỳnh Christian Timothy
04.08.2012

Bấm vào đây để download bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?6d7q18a777lmm3h

Bấm vào đây để nghe và download MP3 bài này:
http://timhieutinlanh.net/node/990
 

29 Họ đầy dẫy mọi sự không công bình: tà dâm, độc ác, tham lam, hung dữ; chan chứa sự ganh tỵ, tội giết người, cãi lẫy, lường gạt, thói tật xấu; là những kẻ gièm chê,

30 hay nói xấu, thù ghét Thiên Chúa; là những kẻ xấc xược, kiêu ngạo; là những kẻ khoe khoang; là những kẻ phát minh ra những sự dữ: không vâng lời cha mẹ,

31 thiếu hiểu biết, phạm giao ước, không có tình nghĩa tự nhiên, không đáng tin, không có lòng thương xót.

32 Họ là những kẻ biết rõ sự phán quyết của Đức Chúa Trời cho những kẻ làm ra các sự ấy là đáng chết; thế mà chẳng những họ tự làm, họ còn vui thú với những kẻ làm các sự ấy.

 

Dẫn Nhập

Mặc dù Rô-ma 1:18-32 nói về tội lỗi của dân ngoại, tức là những dân không trực tiếp nhận lãnh các điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời qua chữ viết như dân I-sơ-ra-ên, nhưng sự mô tả về bản chất của tội nhân trong các câu 1:29-32, thì đúng với toàn thể nhân loại trong mọi thời đại. Thật vậy, dù cho một người được sinh ra trong một gia đình tin kính Chúa, lớn lên, sốt sắng và hết lòng trong mọi sinh hoạt của Hội Thánh, thậm chí, trở thành trưởng lão (bao gồm người chăn, người dạy Lời Chúa) hay giám mục trong Hội Thánh, nhưng nếu vẫn sống trong tội, thì bản chất của người ấy đúng như sự mô tả của Rô-ma 1:29-32.

Có thể, với những người không tin nhận Chúa thì bản chất tội lỗi hiện rõ trong nếp sống của họ, nhưng với những người tự xưng là con dân của Chúa mà vẫn sống trong tội, thì bản chất tội lỗi của họ phần nào được che dấu dưới các hình thức gọi là “hầu việc Chúa,” các bằng cấp thần học, các chức vụ trong Hội Thánh, và nhất là các thái độ, lời nói, cử chỉ giả hình. Thánh Kinh gọi chung những kẻ như vậy là: cỏ lùng, dê, sói đội lốt chiên, kẻ chăn thuê, tôi tớ bất trung, kẻ trộm, giáo sư giả, và tiên tri giả!

Bản Chất của Tội Nhân

  • Họ đầy dẫy mọi sự không công bình: tà dâm, độc ác, tham lam, hung dữ.
  • Họ chan chứa sự ganh tỵ, tội giết người, cãi lẫy, lường gạt, thói tật xấu.
  • Họ là những kẻ gièm chê, hay nói xấu, thù ghét Thiên Chúa.
  • Họ là những kẻ xấc xược, kiêu ngạo.
  • Họ là những kẻ khoe khoang.
  • Họ là những kẻ phát minh ra những sự dữ: không vâng lời cha mẹ, thiếu hiểu biết, phạm giao ước, không có tình nghĩa tự nhiên, không đáng tin, không có lòng thương xót.
  • Họ là những kẻ biết rõ sự phán quyết của Đức Chúa Trời cho những kẻ làm ra các sự ấy là đáng chết; thế mà, chẳng những họ tự làm, họ còn vui thú với những kẻ làm các sự ấy.

Họ Đầy Dẫy Mọi Sự Không Công Bình

Trước hết, tội nhân là một người đánh mất nhân phẩm mà Thiên Chúa đã ban cho mình. Nhân phẩm tức là phẩm chất cao quý của loài người, là sự giống như Thiên Chúa trong sự yêu thương, thánh khiết, và công chính, mà Thiên Chúa đã đặt vào trong loài người khi Ngài dựng nên loài người. Để có thể bảo tồn nhân phẩm, loài người cần liên tục kết nối với Thiên Chúa trong tâm thần.

Sự phạm tội của loài người nghịch lại chính Thiên Chúa và sự thánh khiết của Ngài, cho nên, sự thông công giữa loài người và Thiên Chúa bị cắt đứt, dẫn đến sự chết của tâm thần. Tâm thần chết là tâm thần bị phân rẽ với Thiên Chúa, không còn nhận được sự sống từ Thiên Chúa và Thánh Linh của Ngài. Tâm thần chết dẫn đến sự chết của linh hồn. Sự chết của linh hồn là sự băng hoại của nhân phẩm, mọi sự tốt đẹp Thiên Chúa ban cho loài người trở thành biến dạng, hư hoại, sinh ra những ham muốn trái nghịch với Thiên Chúa, dẫn đến muôn vàn tội lỗi. Linh hồn chết dẫn đến sự thể xác không thể làm điều lành mà chỉ có thể làm điều dữ; theo thời gian, thể xác bị tàn tạ, rồi chết, trở về với bụi đất. Sự chết của thể xác chấm dứt sự phạm tội.

Vì thế, trong tội nhân không còn nhân phẩm, tức là những sự yêu thương, công bình, và thánh khiết từ Thiên Chúa, mà chỉ có đầy dẫy mọi sự nghịch lại Thiên Chúa, gọi chung là những sự không công bình. Rô-ma 1:29-32 liệt kê những sự đó.

I Giăng 5:17 chép: “Mọi sự không công bình đều là tội…” Vì thế, “Họ đầy dẫy mọi sự không công bình” có nghĩa là: “Họ đầy dẫy tội lỗi.” Có nhiều hình thức tội lỗi khác nhau và mức độ nghiêm trọng của sự phạm tội cũng khác nhau. Hình phạt dành cho tội lỗi sẽ tùy theo mỗi việc làm tội lỗi, và Đức Chúa Trời có những cuốn sách để ghi chép mọi tội lỗi của mỗi người (Khải Huyền 20:12).

Tà Dâm, Độc Ác, Tham Lam, Hung Dữ

Tà dâm bao gồm tà dâm thuộc linh lẫn tà dâm thuộc thể. Khi một người thờ lạy thần tượng thay vì thờ lạy Thiên Chúa thì người ấy phạm tội tà dâm thuộc linh. Đối với những người đã tin nhận Thiên Chúa, được ở trong địa vị con dân của Thiên Chúa, mà thờ lạy thần tượng, thì họ phạm tội ngoại tình thuộc linh. Tà dâm thuộc thể là bất cứ ý nghĩ, lời nói, hành động nào liên quan đến tình dục mà không đúng theo tiêu chuẩn thánh khiết của Lời Chúa.

Điều chúng ta cần để ý ở đây, đó là Phao-lô liệt kê tội tà dâm đứng đầu; vì tội tà dâm thuộc linh là nguồn gốc của mọi tội lỗi. Trước khi bà Ê-va phạm tội không vâng theo điều răn của Chúa thì bà đã phạm tội tôn thờ chính mình thay vì tôn thờ Thiên Chúa; bà chọn làm theo ý muốn riêng của mình thay vì vâng phục Thiên Chúa. Về phần ông A-đam, có lẽ ông đã phạm tội xem vợ là đáng tôn hơn Chúa trước khi ông phạm tội nghịch lại điều răn của Thiên Chúa.

Tội tà dâm thể hiện bản tính chỉ sống cho mình, làm theo ý thích của mình, bất kể hậu quả, dẫn đến sự độc ác, nghĩa là sẵn sàng làm ra những việc tổn hại đến người khác, miễn sao có thể thỏa mãn được những sự ham muốn của xác thịt mình. Từ ngữ “độc ác” trong nguyên ngữ Hy-lạp có nghĩa là: “vô đạo đức; có tính ác trong ham muốn và mục đích; muốn hãm hại người khác.” Tiếp theo là lòng tham lam, muốn chiếm đoạt những gì mình ưa thích, càng nhiều càng tốt, bằng mọi cách. Sự hung dữ nói lên thái độ và cử chỉ độc ác thể hiện trong cuộc sống của tội nhân.

Ganh Tỵ, Giết Người, Cãi Lẫy, Lường Gạt, Thói Tật Xấu

Từ ngữ chan chứa trong nguyên ngữ Hy-lạp có nghĩa là: “đầy, không còn chỗ để chứa thêm.” Lòng của người có tội chứa đầy những sự ganh tỵ, tội giết người, cãi lẫy, lường gạt, và thói tật xấu. Ganh tỵ là cảm xúc khó chịu, bực tức, thù ghét, muốn làm hại người nào hơn mình. Giết người vừa có nghĩa đen là tiêu diệt mạng sống của một người, vừa có nghĩa bóng là lòng giận ghét một người. Cãi lẫy là sự tranh luận phát xuất từ lòng độc ác và tham lam. Lường gạt là dùng những sự dối trá để thu lợi từ người khác. Thói tật xấu bao gồm tất cả những thói quen vi phạm tiêu chuẩn yêu thương, công bình, và thánh khiết của Thiên Chúa. Nói chuyện tục tỉu, thô lỗ, chửi thề, nguyền rủa, bêu rếu người khác, ghiền thuốc lá, ghiền rượu, ghiền cờ bạc, ghiền mua vé số, trể hẹn, lười tắm rửa, lười làm việc, vv… đều là những thói tật xấu.

Gièm Chê, Hay Nói Xấu, Thù Ghét Thiên Chúa

Mỗi tội nhân còn là kẻ gièm chê, hay nói xấu, và thù ghét Thiên Chúa. Gièm chê là một thói xấu phát xuất từ lòng ganh tỵ và độc ác. Từ ngữ “gièm chê” trong nguyên ngữ Hy-lạp có nghĩa là: “lén lút nói những lời không tốt về người khác.” Sự gièm chê có thể dựa trên một sự kiện có thật hoặc hoàn toàn bịa đặt, nhưng mục đích của sự gièm chê là làm giảm đi giá trị của người bị nói. Lời gièm chê hoàn toàn khác với lời khuyên chân thành, dựa trên một sự kiện có thật, để giúp cho người được khuyên không bị kẻ xấu lường gạt. Người có thói gièm chê đương nhiên sẽ trở thành kẻ hay nói xấu. Từ ngữ “nói xấu” trong nguyên ngữ Hy-lạp có nghĩa là: “nói nghịch lại một người hoặc vu khống một người.” Mọi tội nhân đương nhiên là kẻ thù ghét Thiên Chúa, vì: (1) Các điều răn và luật pháp của Thiên Chúa lên án nếp sống tội lỗi của họ. (2) Chính những hành động làm nghịch lại các điều răn và luật pháp của Thiên Chúa là những hành động thù ghét Thiên Chúa. (3) Thiên Chúa không ban ơn, cũng không bênh vực họ mà còn phơi bày bản chất tội lỗi của họ và phán xét họ.

Xấc Xược, Kiêu Ngạo, Khoe Khoang

Từ ngữ “xấc xược” trong nguyên ngữ Hy-lạp có nghĩa là: “lời nói, thái độ, cử chỉ hoặc hành động xúc phạm người khác, xem thường người khác.” Từ ngữ “kiêu ngạo” trong nguyên ngữ Hy-lạp có nghĩa là: “tỏ ra mình hơn người khác, khoe khoang vượt mức giá trị thật của mình.” Kẻ xấc xược, và kiêu ngạo thì đương nhiên là hay khoe khoang, vì khoe khoang là cách thức để bày tỏ sự xấc xược và kiêu ngạo. Tuy nhiên, trong nguyên ngữ Hy-lạp từ ngữ “khoe khoang” còn có nghĩa là: “khoe những điều mà thật ra mình không có.”

Là Những Kẻ Phát Minh Ra Những Sự Dữ

Một trong những bản chất đáng sợ nhất của những tội nhân, là lợi dụng sự thông minh Thiên Chúa ban cho loài người để phát minh ra những sự dữ. “Phát minh” bao gồm các nghĩa: “tìm kiếm, khám phá, sáng tạo.” Thật không có gì đáng sợ cho bằng phải sống trong thế giới của những người chỉ biết chuyên tâm để tìm kiếm, khám phá, và sáng tạo ra những sự dữ!

Những điều được liệt kê tiếp theo đó: “không vâng lời cha mẹ, thiếu hiểu biết, phạm giao ước, không có tình nghĩa tự nhiên, không đáng tin, không có lòng thương xót,” chính là những phương diện nổi bật trong những phát minh của những tội nhân.

Họ phát minh ra những sự dữ trước hết là để chống nghịch cha mẹ của họ. Trong thực tế của đời sống, có những người mà đối với cái nhìn của xã hội thì họ là những người con hiếu thảo, nhưng thật ra, họ đã phát minh ra những cách tinh tế để không vâng lời cha mẹ. Theo quan điểm của họ thì họ vô cùng khôn ngoan, nhưng trước mặt Chúa họ chỉ là những kẻ thiếu hiểu biết. Chỉ có những kẻ thiếu hiểu biết mới vận dụng sự thông minh Chúa ban để phát minh ra những sự dữ, nghịch lại các điều răn và luật pháp của Thiên Chúa. Vì thế, họ đã phạm giao ước giữa Thiên Chúa với loài người và sẵn sàng phạm các giao ước do họ thiết lập với nhau. Điều đó cho thấy họ là những người không có tình nghĩa tự nhiên, tức là, không có sự cảm xúc hợp với tiêu chuẩn yêu thương, công bình, và thánh khiết mà Thiên Chúa đã ban cho khi Ngài dựng nên loài người. Vì thế, họ không đáng tin và họ không có lòng thương xót.

Họ là Những Kẻ Biết Rõ Sự Phán Quyết của Đức Chúa Trời

Mỗi một tội nhân đều biết rõ sự phán quyết của Đức Chúa Trời dành cho những kẻ phạm những điều được nêu ra trên đây là đáng chết, tức là, họ biết rõ cái giá phải trả cho sự phạm tội. Thế nhưng, họ cứ tiếp tục phạm tội và vui thú với những kẻ cũng phạm tội như họ. Bản Dịch Truyền Thống dịch là: “chẳng những họ tự làm thôi đâu, lại còn ưng thuận cho kẻ khác phạm các điều ấy nữa.” Nguyên ngữ Hy-lạp chép là: “họ có sự vui thú trong những kẻ làm các sự ấy.” Ưng thuận cho kẻ khác phạm tội khác với vui thú trong sự phạm tội của kẻ khác. Chính vì họ vui thú trong sự phạm tội của kẻ khác mà họ đã bênh vực, khích lệ, giúp đỡ cho kẻ khác phạm tội. Biết bao nhiêu luật pháp đã được ban hành để bênh vực những nếp sống tội, biết bao nhiêu tiền bạc đã được dùng để quảng cáo cho những nếp sống tội! Thị trường giải trí tội lỗi lớn nhất trên thế giới ngày nay là các sản phẩm và dịch vụ khêu gợi tình dục. Riêng tại Mỹ, tổng số thu từ các dịch vụ và sản phẩm của loại “giải trí” này vào khoảng 13 tỷ đô-la một năm.

Kết Luận

Những kẻ chối bỏ sự hiểu biết về Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục quay cuồng trong thú vui của tội lỗi và ngày càng phát minh ra nhiều hình thức phạm tội, phương tiện phạm tội, bởi vì, đó là bản chất của tội nhân. Không ai có thể tự mình thoát ra khỏi quyền lực của tội lỗi. Chỉ có một phương cách duy nhất để thoát khỏi quyền lực của tội lỗi, là sự chết. Chúng ta có thể chết trong tội lỗi rồi chết đời đời hoặc chúng ta có thể chết trong Đấng Christ để được tái sinh, tức là được dựng nên mới trong Đấng Christ, và được ban cho cơ hội tiếp nhận sự sống đời đời. Để có thể chết trong Đấng Christ và được dựng nên mới, tội nhân phải ăn năn và tin nhận sự cứu rỗi của Đấng Christ. Ăn năn tức là muốn từ bỏ nếp sống tội. Tin nhận sự cứu rỗi của Đấng Christ tức là tin rằng Đức Chúa Jesus Christ là con của Đức Chúa Trời, đã nhập thế làm người, chịu chết trên thập tự giá để gánh thay án phạt của tội lỗi cho toàn thể nhân loại.

Với lòng ăn năn và đức tin chân thành, xưng nhận qua môi miệng, tội nhân lập tức được Đức Thánh Linh làm cho chết đi bản ngã tội lỗi và dựng nên một tâm thần mới, một bản ngã mới. Thánh Kinh gọi đó là sự kiện được sinh ra từ trên cao, được tái sinh. Con người mới đó được dựng nên giống như Đức Chúa Trời trong sự công bình và thánh sạch của lẽ thật; được ban cho năng lực của Đức Chúa Trời, tức là Thánh Linh, để có thể thắng mọi cám dỗ, mọi tội lỗi, và Ma Quỷ, để sống thánh khiết theo các điều răn và luật pháp của Thiên Chúa; và được ban cho cơ hội sống đời đời trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, Ngài muốn cho mọi người được cứu ra khỏi bản chất tội lỗi, hậu quả của tội lỗi và được hiểu biết về Ngài. Ngài đã ban cho loài người sự cứu rỗi. Mỗi tội nhân phải tự mình lựa chọn tiếp nhận hoặc chối bỏ sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.

 

Ghi Chú: Bấm vào các từ ngữ Hy-lạp để nghe phát âm. Bấm vào các mã số Strong (bắt đầu bằng H) để xem định nghĩa trong tiếng Anh. Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.net www.tt2012.thanhkinhvietngu.net.


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

 

 

Đọc Tiếp →
3,061 views

Rô-ma_007 Hậu Quả của Sự Chối Bỏ Đức Chúa Trời

Roma_007 Hậu Quả của Sự Chối Bỏ Đức Chúa Trời

Huỳnh Christian Timothy
28.07.2012

Bấm vào đây để download bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?0cpxtaen1db54tk

Bấm vào đây để nghe và download MP3 bài này:
http://timhieutinlanh.net/node/986
 

24 Vậy nên, Đức Chúa Trời đã bỏ mặc họ trong những sự ô uế theo lòng ham muốn của họ, mà họ tự làm nhục thân thể lẫn nhau,

25 Họ đã đổi sự chân thật của Đức Chúa Trời cho sự dối trá. Họ đã thờ phượng và hầu việc loài tạo vật thế cho Đấng Tạo Hóa, là Đấng đáng tôn vinh đời đời! A-men.

26 Vì vậy mà Đức Chúa Trời đã bỏ mặc họ cho những khát vọng của sự xấu hổ. Những phụ nữ của họ đã đổi sự quan hệ tính dục tự nhiên cho sự nghịch với tự nhiên.

27 Những người đàn ông cũng vậy, họ đã bỏ cách tự nhiên quan hệ tính dục của người đàn bà mà un đốt khát vọng của họ với lẫn nhau. Những người đàn ông với những người đàn ông, họ làm ra sự xấu hổ. Họ nhận lãnh trong chính họ sự báo ứng xứng đáng với lầm lỗi của họ.

28 Vì họ chẳng thử nghiệm để nắm giữ Đức Chúa Trời trong tri thức nên Đức Chúa Trời bỏ mặc họ cho tâm trí trụy lạc để làm ra những sự không xứng đáng.

Dẫn Nhập

Mỗi một việc làm của chúng ta đều mang lại kết quả về sau. Kết quả sẽ là tốt nếu chúng ta làm ra việc tốt và kết quả sẽ là xấu nếu chúng ta làm ra việc xấu. Phẩm chất tốt hay xấu là theo tiêu chuẩn của Thiên Chúa, chứ không theo tiêu chuẩn của chúng ta. Vì thế, có những điều loài người cho là tốt, nhưng lại là xấu theo tiêu chuẩn của Thiên Chúa. Thí dụ: việc dựng các đền, đình, chùa miếu, việc tạc và đúc các hình tượng được nhiều tôn giáo và nhiều người cho là tốt, là được phước, nhưng đối với Thiên Chúa, ai làm ra những sự đó là phạm tội trọng và bị Thiên Chúa rủa sả. Ngược lại, có những việc loài người cho là xấu, nhưng lại là tốt theo tiêu chuẩn của Thiên Chúa. Thí dụ: việc không vâng lời cha mẹ để làm ra những việc trái nghịch với điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời, như ăn đồ cúng hoặc kết hôn với người không tin Chúa.

Bên cạnh hình phạt là sự chết đời đời dành cho những ai vi phạm điều răn của Đức Chúa Trời, kẻ phạm tội còn phải gánh lấy hậu quả trước mắt từ sự phạm tội của mình. Hậu quả trước mắt từ sự phạm tội và hình phạt dành cho kẻ phạm tội là hai điều khác nhau. Rô-ma 1:24-28 nói đến hậu quả trước mắt xảy ra cho những người chối bỏ Đức Chúa Trời, sống theo tư dục của mình.


Rô-ma 1:24 Vậy nên, Đức Chúa Trời đã bỏ mặc họtrong những sự ô uế theo lòng ham muốn của họ, mà họ tự làm nhục thân thể lẫn nhau,

Đức Chúa Trời Đã Bỏ Mặc Họ

Từ ngữ “bỏ mặc” trong nguyên ngữ Thánh Kinh có nghĩa là: “giao vào trong tay của ai đó, trong một quyền lực nào đó” hoặc là “giao phó cho sự sửa phạt.” Đức Chúa Trời đã giao những kẻ chối bỏ Ngài vào trong quyền lực của tội lỗi, để cho họ đắm chìm trong hậu quả sự lựa chọn của họ, hầu cho, chính hậu quả đó sẽ khiến cho họ nhận thức sự sai lầm của họ.

Tội lỗi là những điều trái nghịch với tiêu chuẩn yêu thương, thánh khiết, và công chính của Đức Chúa Trời. Tội lỗi có sức hấp dẫn và đem lại cho người phạm tội những cảm giác vui thích tạm bợ, trước khi chất độc của nó hành hạ và hủy diệt nạn nhân. Sự hấp dẫn của tội lỗi được thể hiện rõ ngay trong lần đầu tiên tội lỗi chuẩn bị xâm nhập thế gian, qua sự kiện bà Ê-va bị cám dỗ để làm nghịch lại điều răn của Đức Chúa Trời:

Người nữ thấy trái của cây đó bộ ăn ngon, lại đẹp mắt và quý vì để mở trí khôn, bèn hái ăn, rồi trao cho chồng đứng gần mình, chồng cũng ăn nữa”(Sáng Thế Ký 3:6).

  1. Tội lỗi hấp dẫn xác thịt dẫn đến quyết định vi phạm điều răn của Đức Chúa Trời để làm theo sự ưa thích của xác thịt: ăn ngon.
  2. Tội lỗi hấp dẫn linh hồn dẫn đến quyết định vi phạm điều răn của Đức Chúa Trời để chiếm lấy những gì mình ưa thích: đẹp mắt.
  3. Tội lỗi hấp dẫn tâm thần dẫn đến quyết định vi phạm điều răn của Đức Chúa Trời để tự tôn vinh mình, tự nâng mình lên ngang bằng Đức Chúa Trời: mở trí khôn.

Tuy nhiên, hậu quả của sự phạm tội là sự đau khổ trước mắt và sự chết, mà sự chết là án phạt dành cho tội lỗi, bao gồm sự chết trong đời này cùng sự chết trong đời sau.

Sự đau khổ trước mắt do tội lỗi mang đến không chỉ tác động trên nạn nhân mà còn tác động ngay trên người phạm tội, từ thể xác đến tâm thần và linh hồn. Sự chết trong đời này khiến cho người phạm tội thoát khỏi quyền lực của tội lỗi, để không còn vi phạm điều răn của Đức Chúa Trời nữa. Sự chết trong đời sau khiến cho người phạm tội bị vĩnh viễn xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của năng lực Ngài; nghĩa là không bao giờ tội nhân còn được cơ hội cứu rỗi.

Lịch sử của loài người nhuộm đầy máu và nước mắt vì hậu quả của tội lỗi. Điều kinh khủng hơn hết là tội lỗi có tính di truyền và loài người không thể nào chống lại sức mạnh của nó. Loài người trở thành nô lệ trung thành của tội lỗi, luôn luôn làm theo sự sai khiến của tội lỗi, cho đến khi loài người hoàn toàn bị hủy diệt bởi tội lỗi, qua sự chết.

Đức Chúa Trời bỏ mặc những kẻ quyết định chối bỏ Ngài và sống trong tội lỗi, nghĩa là Ngài không cưỡng bách họ phải ngưng nếp sống tội lỗi, nhưng Ngài để cho chính sự đau khổ của nếp sống nô lệ cho tội lỗi khiến họ nhận thức rằng, họ đã lựa chọn sai sầm.

Những Sự Ô Uế Theo Lòng Ham Muốn của Họ

Từ ngữ “ô uế” trong nguyên ngữ Thánh Kinh, nghĩa đen nói về sự nhơ bẩn của thể xác cần phải được tắm rửa hoặc là những chứng tật bệnh trong thể xác cần phải được chữa lành, nghĩa bóng nói về sự ưa thích bất cứ điều gì, vật gì, người nào hơn là ưa thích Đức Chúa Trời. Bất cứ điều gì, vật gì hay người nào được một người ưa thích hơn Đức Chúa Trời thì điều ấy, vật ấy, người ấy biến thành thần tượng của người đó. Mọi thần tượng là ô uế và gớm ghiếc trước mặt Đức Chúa Trời. Mọi ý tưởng và hành động thờ lạy thần tượng cũng là ô uế và gớm ghiếc trước mặt Đức Chúa Trời. Loài người tội lỗi bị Đức Chúa Trời bỏ mặc cho họ đắm chìm trong những sự mà họ đã biến thành thần tượng của mình.

Tự Làm Nhục Thân Thể Lẫn Nhau

Hành động “tự làm nhục thân thể lẫn nhau” được giải thích trong câu 1:26 và 1:27. Khi loài người chối bỏ Đức Chúa Trời để sống theo những sự ham muốn bất chính của mình, thì họ không còn một tiêu chuẩn nào cho mọi ý tưởng và hành động của họ khác hơn là: “Tôi thích thì tôi làm! Tôi thích thì tôi chiếm lấy!” Vì thế, họ bất chấp hậu quả, hình phạt của tội lỗi, miễn sao họ có thể thỏa mãn sự ưa thích của họ là họ hành động. Đến nỗi, họ tự nguyện làm nhục thân thể lẫn nhau, tức là người này làm nhục thân thể của người kia với sự đồng ý của người kia, người kia làm nhục thân thể của người này với sự đồng ý của người này.


Rô-ma 1:25 Họ đã đổi sự chân thật của Đức Chúa Trời cho sự dối trá. Họ đã thờ phượng và hầu việc loài tạo vật thế cho Đấng Tạo Hóa, là Đấng đáng tôn vinh đời đời! A-men.

Họ Đã Đổi Sự Chân Thật của Đức Chúa Trời cho Sự Dối Trá

Sự chân thật của Đức Chúa Trời, trước hết, là sự thực hữu của Ngài, nghĩa là Đức Chúa Trời có thật; kế tiếp, là năng lực và thần tính của Ngài, như chúng ta đã học qua trong những câu trước. Sự chân thật của Đức Chúa Trời đã được chiếu ra trong loài người, được thể hiện qua muôn loài thọ tạo, và được giải bày trong các điều răn và luật pháp của Ngài. Sự dối trá là những ý tưởng, những sở thích của loài người, và những loài thọ tạo được loài người tôn làm Đức Chúa Trời.

Loài người chối bỏ sự chân thật của Đức Chúa Trời để tôn sự dối trá làm Đức Chúa Trời. Loài người thờ phượng và hầu việc chính mình cùng các loài thọ tạo khác thay vì thờ phượng Đức Chúa Trời. Loài người nhìn thấy muôn loại tạo vật, hiểu biết rằng có một Đức Chúa Trời, là Đấng Tạo Hóa, sáng tạo ra muôn loài, nhìn biết năng lực và thần tính của Ngài qua từng vật do Ngài sáng tạo, nhưng họ đã không tôn vinh, thờ phượng, và hầu việc Ngài.


Rô-ma 1:26 Vì vậy mà Đức Chúa Trời đã bỏ mặc họ cho những khát vọng của sự xấu hổ. Những phụ nữ của họ đã đổi sự quan hệ tính dục tự nhiên cho sự nghịch với tự nhiên.

Đức Chúa Trời Đã Bỏ Mặc Họ cho Những Khát Vọng của Sự Xấu Hổ

Một lần nữa, chúng ta bắt gặp nhóm chữ “Đức Chúa Trời đã bỏ mặc họ.” Đức Chúa Trời đã bỏ mặc những kẻ chối bỏ Ngài cho những khát vọng của sự xấu hổ. Trong nguyên ngữ của Thánh Kinh, từ ngữ “khát vọng” có nghĩa là: “sự ham muốn mãnh liệt,” mà cũng có nghĩa là: “sự ham muốn đem lại đau khổ.” Trong Rô-ma 1:26, từ ngữ này được dùng chung với tĩnh từ “xấu hổ” cho nên chúng ta hiểu rằng, nó mang nghĩa: “những ham muốn đem lại đau khổ và tủi nhục.” Tiếp theo, Thánh Kinh giải thích vì sao mà những khát vọng đó bị xem là “đem lại đau khổ và tủi nhục.”

Những Phụ Nữ của Họ Đã Đổi Sự Quan Hệ Tính Dục Tự Nhiên cho Sự Nghịch với Tự Nhiên

“Những phụ nữ của họ” là nói đến những phụ nữ trong số những kẻ chối bỏ sự hiểu biết về Đức Chúa Trời, chọn sống nếp sống nghịch lại với các điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời. Những phụ nữ đó đã “đổi sự quan hệ tính dục tự nhiên cho sự nghịch với tự nhiên” có nghĩa là, họ là những phụ nữ đồng tính luyến ái, phụ nữ cùng phụ nữ làm ra những hành động giao tình, thỏa mãn nhu cầu tính dục với lẫn nhau.


Rô-ma 1:27 Những người đàn ông cũng vậy, họ đã bỏ cách tự nhiên quan hệ tính dục của người đàn bà mà un đốt khát vọng của họ với lẫn nhau. Những người đàn ông với những người đàn ông, họ làm ra sự xấu hổ. Họ nhận lãnh trong chính họ sự báo ứng xứng đáng với lầm lỗi của họ.

Những Đàn Ông Cũng Vậy

Những đàn ông trong số những kẻ chối bỏ sự hiểu biết về Đức Chúa Trời, cũng chọn sống nếp sống đồng tính luyến ái, nghịch lại với các điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời. Thay vì giao tình với đàn bà, thì họ cuồng nhiệt, đàn ông giao tình cùng đàn ông.

Họ Nhận Lãnh Trong Chính Họ Sự Báo Ứng Xứng Đáng

Tất cả những người đàn bà và đàn ông đồng tính luyến ái đều phải nhận lãnh trong chính họ sự báo ứng xứng đáng với lầm lỗi của họ. Hành động quan hệ tính dục trái tự nhiên đem đến tật bệnh trong thân thể của họ, làm mất đi nhân phẩm của họ đến nỗi chính họ cũng phải khinh bỉ họ, và khiến cho tâm thần của họ trở nên rối loạn.

Ngày nay, những người đồng tính luyến ái cho rằng sự đồng tính luyến ái của họ là “bản năng tính dục tự nhiên.” Tất cả các giáo hội lớn, mang danh Chúa, ngoại trừ Giáo Hội Công Giáo, đều có những giáo phái ủng hộ sự đồng tính luyến ái và còn cho rằng đó là “ân tứ” được ban cho bởi Đức Chúa Trời. Họ công khai phong chức chăn bầy, phong chức giám mục cho những người đồng tính luyến ái, nam cũng như nữ. Sự kiện đó cho chúng ta thấy, sự bội đạo lớn, tức là sự chối bỏ thẩm quyền của Lời Chúa, đang xảy ra để báo hiệu cho ngày Chúa đến.


28 Vì họ chẳng thử nghiệm để nắm giữ Đức Chúa Trời trong tri thức nên Đức Chúa Trời bỏ mặc họ cho tâm trí trụy lạc để làm ra những sự không xứng đáng.

Một lần nữa, Thánh Kinh nhắc lại lý do vì sao Đức Chúa Trời bỏ mặc những kẻ chối bỏ Đức Chúa Trời trong sự phạm tội của họ. Với sự bày tỏ của Đức Chúa Trời về chính Ngài trong tâm trí của họ và qua muôn loài thọ tạo, lẽ ra họ phải chọn hành động thử nghiệm về những điều Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho họ, hầu cho Đức Chúa Trời hiện diện trong tri thức của họ, nhưng họ đã không chọn làm điều đó. Từ ngữ “thử nghiệm” trong nguyên ngữ của Thánh Kinh, có nghĩa là: “xem xét để xác định và chấp nhận giá trị thật.” Ngay cả khi họ chọn sống theo ý riêng và tôn thờ loài thọ tạo thay cho Đấng Tạo Hóa, họ cũng chẳng làm sự “thử nghiệm” để thấy sự hư không của nếp sống tội lỗi và của những hình tượng do tay người làm ra.

Vì họ không thử nghiệm để xác định và chấp nhận giá trị thật về Đức Chúa Trời, cho nên, trong tâm trí của họ không có sự hiện diện của Đức Chúa Trời, trong tri thức của họ không còn sự hiểu biết Đức Chúa Trời mà Ngài đã bày tỏ cho họ. Trái lại, tâm trí của họ trở nên bại hoại, không còn khả năng nhận thức tiêu chuẩn yêu thương, công bình và thánh khiết của Đức Chúa Trời, và từ đó, họ chỉ biết làm ra những sự không đúng với tiêu chuẩn của Ngài. Vì không “thử nghiệm” giá trị và năng lực của những hình tượng, mà họ mù quáng tôn chúng lên làm thần, để cầu xin chúng ban phúc cho họ và giải cứu họ khỏi các tai họa. Họ không nhận ra sự bất lực của những hình tượng: là vật do tay loài người làm ra, có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe, có mũi mà không ngữi, có miệng mà không nói, có tay mà không rờ rẫm, có chân mà không biết bước đi… (Thi Thiên 115:4-7).

Kết Luận

Sự phạm tội là tự do lựa chọn của loài người. Tội lỗi phát sinh khi loài người chọn chối bỏ sự hiểu biết về Đức Chúa Trời, không vâng theo các điều răn và luật pháp của Ngài, không tôn vinh, cảm tạ, và thờ phượng Ngài.

Dựa vào Lời Chúa trong Rô-ma 1:24-28, mà chúng ta có thể kết luận rằng: Những ai chối bỏ sự hiểu biết về Đức Chúa Trời, mà Ngài đã chiếu ra trong họ và thể hiện trong muôn loài thọ tạo, để sống theo những sự ham muốn của lòng họ, thì Đức Chúa Trời sẽ bỏ mặc họ trong hậu quả của tội lỗi. Không phải vì Đức Chúa Trời không yêu họ, để mặc cho họ đau khổ và chết mất, nhưng Đức Chúa Trời muốn rằng, sau khi kinh nghiệm những đau khổ và tủi nhục do tội lỗi mang đến, họ sẽ ăn năn mà tiếp nhận sự cứu rỗi của Ngài.

Tội lỗi dẫn đến những ham muốn trái tự nhiên về tính dục khiến cho người ta phạm đủ các hình thức tà dâm. Trong đó, nổi bật nhất là sự đồng tính luyến ái, là sự khiến cho đàn ông cuồng nhiệt tìm sự thỏa mãn tính dục bằng cách giao tình với đàn ông, đàn bà cũng tìm cách thỏa mãn nhu cầu tính dục bằng cách giao tình với đàn bà. Để rồi, mỗi người phải gánh chịu vào trong chính thân thể họ sự báo ứng xứng đáng cho việc làm tội lỗi của họ.

Đồng tính luyến ái không phải là bản tính tự nhiên, không phải là bệnh mà là tội lỗi. Các liệu pháp tâm lý không thể chữa trị đồng tính luyến ái, mà chỉ có sự cứu rỗi đến từ Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ mà thôi.


Ghi Chú: Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.net www.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Đọc Tiếp →
2,825 views

Rô-ma_006 Sự Hiểu Biết về Đức Chúa Trời Đã Được Tỏ Ra cho Dân Ngoại

Roma_006 Sự Hiểu Biết về Đức Chúa Trời Đã Được Tỏ Ra cho Dân Ngoại

Huỳnh Christian Timothy
21.07.2012

Bấm vào đây để download bài này:
http://www.mediafire.com/view/?1711fn11awgs196

Bấm vào đây để nghe và doanload MP3:
http://timhieutinlanh.net/node/985

Dẫn Nhập

Thư Rô-ma trình bày rất rõ ràng và chi tiết về bản chất tội lỗi, hành động tội lỗi, và hậu quả của tội lỗi. Ngay từ đoạn một, sau lời mở đầu, chào thăm các thánh đồ tại thành Rô-ma và công bố năng lực của Tin Lành Đấng Christ, Sứ Đồ Phao-lô đã đề cập ngay đến tội lỗi, làm tiền đề cho nhu cầu cần được cứu rỗi của loài người. Bởi vì, nếu không có tội lỗi thì không cần phải có sự cứu rỗi.

Phao-lô dành 15 câu trong 1:18-32 để nói về tội lỗi của các dân ngoại và 37 câu trong 2:1-3:8 để nói về tội lỗi của Dân Do-thái. Chúng ta thấy Phao-lô dùng nhiều lời để nói về tội lỗi của con dân Chúa hơn là nói về tội lỗi của những người chưa thuộc về Chúa. Đây cũng chính là hiện trạng trong thời đại của chúng ta. Nếu phải nói về tội lỗi thì sự phạm tội của con dân Chúa nhiều và nghiêm trọng hơn là sự phạm tội của những người chưa thuộc về Chúa.

Trong bài này, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu những điều Phao-lô trình bày về tội lỗi của các dân ngoại.

Cơn Giận của Thiên Chúa

Rô-ma 1:18 Nhưng cơn giận của Thiên Chúa từ trời tỏ ra nghịch cùng mọi sự không tin kính và không công bình của loài người, của những kẻ dùng sự không công bình mà cầm giữ lẽ thật.

Trước hết, Phao-lô nói đến “cơn giận của Thiên Chúa” thay vì nói đến “cơn giận của Đức Chúa Trời” như trong Ê-phê-sô 5:6. Bởi vì, trong Ê-phê-sô 5:6, Phao-lô nói đến cơn giận của Đức Chúa Cha tỏ ra cùng những con dân Chúa phạm tội; còn trong Rô-ma 1:18, Phao-lô nói đến cơn giận của Ba Ngôi Thiên Chúa đối với những hành động tội lỗi.

Trong nguyên ngữ Hy-lạp, danh từ Thiên Chúa được dùng ở đây không có mạo từ xác định đứng trước cho nên không chỉ về Đức Chúa Trời là Thiên Chúa Ngôi Cha, nhưng gồm chung Ba Ngôi Thiên Chúa. Vì thế, Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh đều tỏ ra cơn giận đối với những hành động tội lỗi do loài người làm ra. Chúng ta cần để ý đến điều này: Đức Chúa Trời yêu thương tội nhân nhưng Ba Ngôi Thiên Chúa giận “nghịch cùng mọi sự không tin kính và không công bình của loài người, của những kẻ dùng sự không công bình mà cầm giữ lẽ thật.”

Chữ “nhưng” ở đầu câu có liên quan đến hai câu 16 và 17; nghĩa là: Dù Thiên Chúa ban sự cứu rỗi cho nhân loại qua Đấng Christ “nhưng” cơn giận của Thiên Chúa vẫn tỏ ra nghịch cùng những hành động tội lỗi. Điều này trái ngược với niềm tin của một số người, họ tin rằng, Chúa là yêu thương, cho nên, không có chuyện Chúa sẽ giam những người không ăn năn tội, không tin nhận sự cứu rỗi đời đời trong hỏa ngục.

Chúng ta cũng cần chú ý đến sự kiện: “cơn giận của Thiên Chúa từ trời tỏ ra nghịch cùng mọi sự không tin kính và không công bình của loài người, của những kẻ dùng sự không công bình mà cầm giữ lẽ thật,” chứ không phải nghịch cùng những tội nhân. Cơn giận đó đến từ trời, tức là từ nơi Thiên Chúa ngự ở trong thiên đàng. Cơn giận đó thể hiện bằng cách Thiên Chúa để mặc cho tội nhân tự làm nhục thân thể mình trong những sự ham muốn tội lỗi, như đã chép trong 1:24.

“Không tin kính” là không kính sợ Thiên Chúa. “Không công bình” là trái nghịch các điều răn và luật pháp của Thiên Chúa. Lòng không tin kính dẫn đến tư tưởng, lời nói, và hành động không công bình, tức là tội lỗi. Thiên Chúa không ngoại trừ một tội lỗi nào, từ một lời nói dối, một ý tưởng tham lam, cho đến hành động giết người hoặc thờ lạy hình tượng, hễ là thái độ và hành động không tin kính và không công bình thì đều là đối tượng cho cơn giận của Thiên Chúa.

Những Kẻ Dùng Sự Không Công Bình mà Cầm Giữ Lẽ Thật

Rô-ma 1:18 Nhưng cơn giận của Thiên Chúa từ trời tỏ ra nghịch cùng mọi sự không tin kính và không công bình của loài người, của những kẻ dùng sự không công bình mà cầm giữ lẽ thật.

Có nhiều người không tin kính Thiên Chúa và làm ra những điều trái nghịch với điều răn và luật pháp của Thiên Chúa, nhưng trong số đó, lại có những kẻ cố tình làm ra những điều tội lỗi nhằm ngăn cản người khác biết đến lẽ thật, tức là biết đến Lời Chúa, biết đến Tin Lành cứu rỗi của Thiên Chúa. Hành động đó được gọi là “cầm giữ lẽ thật.” Cầm giữ lẽ thật có nghĩa là khiến cho lẽ thật không được bày tỏ và không được thi hành.

Các nhà cầm quyền trong thế gian lập ra những luật không công bình để cấm việc rao giảng Tin lành và phổ biến Thánh Kinh. Các tiên tri giả và giáo sư giả trà trộn trong Hội Thánh thì rao giảng tà giáo khiến cho con dân Chúa không nhìn thấy lẽ thật của Lời Chúa. Ngày nay, hầu hết trong các giáo hội mang danh Chúa, người ta vẫn dạy cho con dân Chúa bỏ đi điều răn thứ tư, hủy bỏ sự vâng giữ ngày Sa-bát. Hàng năm, người ta vẫn tổ chức Christmas, tức là tổ chức “Tế Đấng Christ” (chữ “mas” trong Christmas ra từ chữ “mass” có nghĩa là “giết một con sinh làm tế lễ) và cùng nhau nói: “Mery Christmas,” nghĩa là “Mừng Christ Bị Giết!” Hàng năm, người ta vẫn tổ chức Easter với bao nhiêu là tục lệ mê tín dị đoan đến từ ngoại giáo để mừng Chúa phục sinh. Việc Chúa phục sinh thì có liên quan gì đến Nữ Thần Easter của ngoại giáo? Tại sao lại gọi ngày lễ mừng Chúa phục sinh bằng tên của một nữ tà thần và làm ra các tục lệ mê tín dị đoan liên quan đến nữ tà thần này, như việc săn trứng và làm bánh, kẹo hình con thỏ?

Thiên Chúa từ trời tỏ ra cơn giận nghịch cùng mọi sự không tin kính và không công bình của loài người”nói chung, và Thiên Chúa cũng “từ trời tỏ ra cơn giận nghịch cùng mọi sự không tin kính và không công bình… của những kẻ dùng sự không công bình mà cầm giữ lẽ thật.”

Nếu ai đó cản trở việc rao giảng Tin Lành, cản trở việc phổ biến Thánh Kinh hoặc phiên dịch Thánh Kinh theo ý riêng, chìu theo văn hóa của thế gian mà thay đổi, thêm bớt Lời Chúa trong khi phiên dịch hoặc tham dự vào việc giảng dạy cho người khác hủy bỏ ngày Sa-bát, tham dự vào các ngày Christmas và Easter thì người đó đã ”dùng sự không công bình mà cầm giữ lẽ thật.”

Sự Hiểu Biết về Đức Chúa Trời Đã Được Tỏ Ra cho Dân Ngoại

Rô-ma 1:19 Bởi vì sự hiểu biết về Đức Chúa Trời đã được chiếu ra trong họ. Vì Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho họ

Rô-ma 1:20 những sự không thấy được của Ngài, qua sự sáng tạo thế gian là sự được thấy rõ ràng, để họ bởi những vật được làm ra mà nhận biết cả năng lực và thần tính đời đời của Ngài; cho nên, họ không thể chữa mình.

Dân I-sơ-ra-ên là tuyển dân của Thiên Chúa, có nghĩa là Ngài lập ra dân I-sơ-ra-ên và tuyển chọn họ làm con dân của Ngài, làm một dân tộc thánh, một vương quốc của thầy tế lễ (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:6) để họ đón nhận các điều răn, luật pháp của Ngài rồi rao truyền cho muôn dân. Vì thế, họ được chính Ngài mạc khải lẽ thật cho họ qua các dấu kỳ, phép lạ, qua mọi lời phán của Ngài một cách trực tiếp hoặc qua các tiên tri. Tuy nhiên, đối với những dân tộc khác mà Thánh Kinh dùng từ ngữ “dân ngoại” [1] để gọi (ngoại có nghĩa là ở ngoài, ở ngoài dân I-sơ-ra-ên), thì Thiên Chúa cũng đã bày tỏ những điều cần biết về Thiên Chúa cho họ. Rô-ma 1:19 khẳng định sự hiểu biết về Đức Chúa Trời đã được chiếu ra trong họ,” tức là trong tâm trí họ có sự nhận biết về Đức Chúa Trời và trong lương tâm của họ đã ghi lại điều răn cùng luật pháp của Ngài.

Từ ngữ “chiếu ra” nói đến sự làm cho hiện rõ, như cách chúng ta dùng máy chiếu hình ngày hôm nay để chiếu ra trên màn ảnh những thông tin mà chúng ta muốn cho người khác biết. Thiên Chúa đã chiếu ra trong tâm trí loài người những gì loài người cần biết về Đức Chúa Trời. Ở đây, chúng ta thấy Phao-lô không dùng danh từ Thiên Chúa nhưng dùng danh từ Đức Chúa Trời, vì ông muốn nhấn mạnh đến Thiên Chúa Ngôi Cha. Trong thời Cựu Ước, Thiên Chúa Ngôi Con chưa nhập thế làm người và Thiên Chúa Ngôi Đức Thánh Linh cũng chưa giáng lâm. Loài người thời bấy giờ chỉ được mạc khải về Thiên Chúa Ngôi Cha và nhận được lời hứa về sự đến của Thiên Chúa Ngôi Con cùng Thiên Chúa Ngôi Thánh Linh.

Ngay cả trước khi dân I-sơ-ra-ên được thành lập, các điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời được ban cho họ qua chữ viết, thì hơn 430 năm trước đó, Áp-ra-ham đã biết và vâng giữ trọn vẹn các điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời. Điều đó minh chứng rằng: Thiên Chúa đã chiếu ra sự hiểu biết về Đức Chúa Trời trong tâm trí Áp-ra-ham và các điều răn, luật pháp của Ngài đã được ghi chép trong lương tâm của ông:

Bởi vì Áp-ra-ham đã vâng theo tiếng Ta, đã giữ gìn sự chỉ định của Ta, các điều răn của Ta, các luật lệ của Ta, các luật pháp của Ta.”(Sáng Thế Ký 26:5)

Những Sự Không Thấy Được của Đức Chúa Trời

Những sự không thấy được của Đức Chúa Trời vẫn được Ngài tỏ ra cho nhân loại. Những sự không thấy được đó chính là năng lực và thần tính của Ngài. Năng lực là sức mạnh và khả năng làm ra một điều gì đó. Thần tính là những tính chất thuộc riêng về Thiên Chúa. Qua thế gian mà loài người có thể nhận biết năng lực và thần tính của Đức Chúa Trời. Từ một bông hoa dại bé nhỏ bên đường tới muôn vàn tinh tú trong không gian, mỗi một loài thọ tạo trong thế gian đều bày tỏ năng lực và thần tính của Đức Chúa Trời.

Không một ai có thể tạo ra những gì mà Đức Chúa Trời đã sáng tạo trong thế gian. Từ ngữ “thế gian” dùng trong câu này, trong nguyên ngữ của Thánh Kinh bao gồm toàn thể thế giới vật chất và nghĩa đen là “vũ trụ.” Vì thế, chính trong mỗi vật thọ tạo đó mà loài người có thể nhìn thấy sức mạnh và khả năng của Đức Chúa Trời. Sự nhận thức sức mạnh và khả năng của Đức Chúa Trời dẫn đến sự nhận thức thần tính của Ngài, rằng: có một Đấng Tạo Hóa toàn năng (làm được mọi sự), toàn tri, (biết hết mọi sự), toàn tại (ở khắp mọi nơi). Khi nhìn vào chính mình, loài người còn nhận ra Đức Chúa Trời là toàn chân (hoàn toàn chân thật), toàn thiện (hoàn toàn thiện lành), và toàn mỹ (hoàn toàn tốt đẹp). Bởi vì, Đấng đã tạo nên loài người, đặt vào trong lòng của loài người sự khao khát được biết lẽ thật, sự khao khát được đối xử cách chân thật, sự thán phục những điều thiện và muốn làm ra những điều lành, sự ưa thích và khao khát những điều tốt đẹp, phải là Đấng toàn chân, toàn thiện và toàn mỹ.

Năng lực và thần tính của Đức Chúa Trời còn lại đời đời vì Ngài là Đấng đời đời. Tên của Ngài trong tiếng Hê-bơ-rơ có nghĩa là: “Đấng Tự Có và Có đến Mãi Mãi” được phiên âm ra tiếng Việt là “Giê-hô-va.”

Chính vì sự hiểu biết về Đức Chúa Trời đã được chiếu ra trong mỗi người, chính vì muôn loài thọ tạo trong thế gian này đều tỏ ra sức mạnh, khả năng và thần tính đời đời của Đức Chúa Trời mà không ai có thể bào chữa cho sự phạm tội của mình. Vì tự trong lòng của mỗi người đều nhận thức rằng: có một Đấng Tạo Hóa, tức là Đức Chúa Trời mà mình phải thờ phượng; tự trong lòng của mỗi người đều nhận thức rằng: các điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời đã được tỏ ra trong lương tâm mình và mình có bổn phận phải vâng theo.

Sự Ngu Dại và Tối Tăm của Loài Người

Rô-ma 1:21 Bởi vì họ được hiểu biết Đức Chúa Trời, mà không tôn vinh Ngài như Thiên Chúa, cũng không tạ ơn Ngài; nhưng họ ngu dại trong những ý tưởng của họ, và lòng ngu dốt của họ thì tối tăm.

Rô-ma 1:22 Họ tự xưng là khôn ngoan, họ trở nên ngu dại.

Thánh Kinh ghi lại một số trường hợp có những người sau khi hiểu biết về Đức Chúa Trời thì tôn vinh, cảm tạ, vâng phục và thờ phượng Ngài, như Gióp và ba người bạn của ông, như Áp-ra-ham, tổ phụ của dân I-sơ-ra-ên, là những người đã sống cách nay trên 4,000 năm. Tuy nhiên, phần lớn loài người đã không có thái độ và hành động đúng về sự hiểu biết Đức Chúa Trời, mà Ngài đã chiếu ra trong họ và bày tỏ qua muôn loài vạn vật thọ tạo trong thế gian.

Khi loài người không áp dụng sự hiểu biết của mình về Đức Chúa Trời vào trong sự tôn vinh và cảm tạ Ngài, thì họ tự biến mình thành ra ngu dại trong mọi ý tưởng. Từ ngữ “ngu dại” trong nguyên ngữ Hy-lạp có nghĩa là: trống không, vô ích, và ưa thích thần tượng. Một người chối bỏ Đức Chúa Trời, có những ý tưởng trống không, vô ích, thì chỉ biết nương cậy nơi chính mình, tự biến mình thành Đức Chúa Trời của mình. Những ý tưởng ngu dại làm cho một người trở thành ngu dốt, nghĩa là người ấy không còn khả năng tiếp nhận lẽ thật, như một người bị mù không còn nhận được ánh sáng. Từ ngữ “ngu dốt” trong nguyên ngữ Hy-lạp có nghĩa là: thiếu hiểu biết, không biết nhận thức, và ác độc. Một người thiếu hiểu biết, không biết nhận thức, đương nhiên sẽ làm ra những việc ác độc.

Thi Thiên 14:1 và 53:1 chép rằng: “Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: chẳng có Thiên Chúa. Chúng nó đều bại hoại, đã làm những việc gớm ghiếc; Chẳng có ai làm điều lành.” Không phải họ không biết rằng có một Thiên Chúa, nhưng vì họ không tôn vinh và cảm tạ Ngài nên họ trở thành ngu dại, đến nỗi tự mình dối gạt mình, nói với lòng mình rằng, không có Thiên Chúa. Vì thế, họ trở nên bại hoại, làm ra những việc tội lỗi gớm ghiếc và không thể nào làm được việc lành. Thế nhưng, họ tự xưng là khôn ngoan và biết bao nhiêu là văn bằng “tiến sĩ” đã được cấp cho những kẻ ngu dại, là những kẻ công khai nói rằng, không có Thiên Chúa. Chính hành động xưng mình là khôn ngoan đó đã biến họ trở thành những kẻ ngu dại.

Khi một người chối bỏ Thiên Chúa là người ấy đồng thời chối bỏ luôn các điều răn và luật pháp của Ngài. Ngược lại, dù cho một người mở miệng xưng nhận Thiên Chúa nhưng trong hành động lại không vâng giữ các điều răn và luật pháp của Ngài, thì người đó cũng đã chối bỏ Thiên Chúa qua hành động. Sự tuyên xưng của người ấy chỉ là một lời dối trá:

Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ các điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người” (I Giăng 2:4).

Thánh Kinh gọi nếp sống của họ là nếp sống thù nghịch thập tự giá; bởi lẽ, trên thập tự giá Đấng Christ đã chết vì tội lỗi của họ, để họ nhận được sự tha tội của Đức Chúa Trời, mà họ vẫn tiếp tục phạm tội trong khi môi miệng xưng nhận rằng, họ tin nhận Tin lành. Phao-lô viết:

Vì tôi đã thường nói điều nầy cho anh em, nay tôi lại khóc mà nói nữa: lắm người có cách ăn ở như là kẻ thù nghịch thập tự giá của Đấng Christ”(Phi-líp 3:18).

Sự Thờ Lạy Hình Tượng của Loài Người

Rô-ma 1:23 Họ đã đổi sự vinh quang không hư mất của Đức Chúa Trời cho hình tượng hay hư nát được làm giống như hình ảnh của loài người, của các loài chim, của các loài thú, của các loài côn trùng.

Điều mĩa mai, đáng giận và đáng trách, đó là, loài người chối bỏ vinh quang đời đời của Đức Chúa Trời toàn năng, để nương cậy nơi chính mình và hình tượng của những loài thọ tạo, là những loài nay còn, mai mất. Thậm chí, họ thờ lạy hình tượng của những côn trùng, thường bị họ giày đạp dưới chân, do đó, họ đã làm nhục hình ảnh của Thiên Chúa ở trong họ.

Rô-ma 1:23 không chỉ áp dụng cho những người sấp mình quỳ lạy trước các hình tượng, mà còn áp dụng luôn cho những ai say mê, ham thích các loại hình tượng giống như hình ảnh của loài người, của các loài chim, của các loài thú, của các loài côn trùng,”bỏ ra biết bao nhiêu là tiền bạc, công sức và thời gian để tạc, để đúc, để bảo quản, để mua bán, để trưng bày chúng, thay vì dùng tiền bạc, thời gian, công sức, và lòng nhiệt tình cho sự vinh quang đời đời của Đức Chúa Trời.

Kết Luận

Thiên Chúa yêu thương loài người đang chết mất trong tội lỗi, nhưng cơn giận của Thiên Chúa từ trời tỏ ra nghịch cùng “mọi sự không tin kính và không công bình của loài người, của những kẻ dùng sự không công bình mà cầm giữ lẽ thật,” nghĩa là, nghịch cùng mọi hình thức tội lỗi.

Thiên Chúa đã bày tỏ về Đức Chúa Trời trong tâm trí của loài người, đã đặt để các điều răn và luật pháp của Ngài trong lương tâm của loài người, và bày tỏ năng lực cùng thần tính của Ngài qua muôn loài thọ tạo, nhất là qua loài người. Nhưng loài người đã chối bỏ Đức Chúa Trời cùng các điều răn và luật pháp của Ngài. Sự chối bỏ Đức Chúa Trời, không tôn vinh và cảm tạ Ngài, không thờ phượng Ngài, đã khiến cho loài người trở nên ngu dại và không thể làm ra việc lành.

Sự ngu dại trong mọi ý tưởng dẫn đến sự ngu dốt trong lòng và sự đui mù thuộc linh, khiến cho loài người không còn nhận biết lẽ thật về Đức Chúa Trời, vì thế, loài người chỉ còn biết nương cậy nơi chính mình và nơi hình tượng của các loài thọ tạo, để tìm phước và lánh họa.

Vì sự yêu thương tuyệt đối của Đức Chúa Trời dành cho loài người mà Ngài đã sai Con Một của Ngài vào trong thế gian, để thi hành công cuộc cứu chuộc nhân loại ra khỏi tội lỗi, ra khỏi sự ngu dốt tối tăm của họ. Một lần nữa, Thiên Chúa chiếu sáng sự hiểu biết về Đức Chúa Trời trong tâm trí loài người, mà lòng ngu dốt tối tăm của họ không thể kiềm chế được ánh sáng của lẽ thật. Nghĩa là, không một ai không hiểu biết về Tin Lành Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời khi được nghe giảng Tin Lành. Vấn đề là: người đã nghe và biết về Tin Lành có muốn từ bỏ tội lỗi để được cứu rỗi hay không. Mỗi người sẽ chịu trách nhiệm về sự quyết định của mình, và nếu đã chọn chối bỏ Tin Lành thì không ai có thể tự chữa mình trong ngày phán xét.

 

Ghi Chú: Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.net www.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

[1] Trong nguyên ngữ của Thánh Kinh thì từ ngữ được dịch sang Việt ngữ là “dân ngoại” cũng chính là từ ngữ được dịch thành “người Hy-lạp” trong Rô-ma 1:14. Nghĩa đen của từ ngữ này là “người Hy-lạp,” nghĩa bóng là “người không thuộc dân I-sơ-ra-ên.


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Đọc Tiếp →