2,690 views

Rô-ma_005 Tin Lành của Đấng Christ

Roma_005 Tin Lành của Đấng Christ

Huỳnh Christian Timothy
14.07.2012

Bấm vào đây để download bài viết này

Bấm vào đây để nghe và download MP3 audio bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/984

Rô-ma 1:16 Vì tôi không hổ thẹn về Tin Lành của Đấng Christ, là năng lực của Thiên Chúa để cứu mọi kẻ tin, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp;

Rô-ma 1:17 vì trong đó, sự công bình của Thiên Chúa được bày tỏ từ đức tin đến đức tin, như có chép rằng: “Người công bình sẽ sống bởi đức tin.”

Dẫn Nhập

Thánh Kinh dùng nhiều nhóm chữ khác nhau để nói về “Tin Lành:” Tin Lành của Vương Quốc, Tin Lành của Vương Quốc của Đức Chúa Trời, Tin Lành về Sự Bình An, Tin Lành về sự Cứu Rỗi, Tin Lành Chân Thật, Tin Lành Đời Đời, Tin Lành của Thiên Chúa, Tin Lành của Đức Chúa Trời, Tin Lành của Ơn Đức Chúa Trời, Tin Lành Vinh Quang của Đức Chúa Trời, Tin Lành của Con Đức Chúa Trời, Tin Lành của Đức Chúa Jesus, Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ, và Tin Lành của Đấng Christ.

Trong bài 002 chúng ta đã học rằng, ý nghĩa của nhóm chữ “Tin Lành của Thiên Chúa” là nhấn mạnh đến sự kiện Tin Lành Cứu Rỗi đến từ Ba Ngôi Thiên Chúa: Đức Chúa Cha ban cho loài người Tin Lành Cứu Rỗi, Đức Chúa Con thi hành Tin Lành Cứu Rỗi, và Đức Thánh Linh áp dụng năng lực và thành quả của Tin Lành Cứu Rỗi cho những ai thật lòng tiếp nhận Tin lành ấy.

Trong bài này chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa của nhóm chữ “Tin Lành của Đấng Christ” như được trình bày trong Rô-ma 1:16-17.

Tin Lành của Đấng Christ

Rô-ma 1:16 Vì tôi không hổ thẹn về Tin Lành của Đấng Christ, là năng lực của Thiên Chúa để cứu mọi kẻ tin, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp;

Danh từ “Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ” hay “Tin Lành của Đấng Christ” chỉ được một mình Sứ Đồ Phao-lô sử dụng. Danh từ này xuất hiện mười lần trong các thư tín của Phao-lô [1] và bao gồm hai ý nghĩa:

  1. Tin Lành của Thiên Chúa do Đấng Christ rao giảng.
  2. Tin Lành của Thiên Chúa do Đấng Christ làm cho hiện thực.

Trong Ga-la-ti 1:12, Phao-lô viết: “Vì tôi không nhận và cũng không học Tin Lành đó với một người nào, nhưng đã nhận lấy bởi sự tỏ ra của Đức Chúa Jesus Christ.” Phần lớn trong chúng ta đã tiếp nhận Tin Lành do ai đó rao giảng cho chúng ta, nhưng mười hai sứ đồ và các môn đồ của Đức Chúa Jesus Christ vào lúc ban đầu thì nhận lãnh Tin Lành trực tiếp từ nơi Chúa. Sự kiện Phao-lô không nhận lãnh Tin Lành qua một người nào nhưng trực tiếp từ nơi Chúa có tính cách bảo đảm cho chức vụ sứ đồ của ông hoàn toàn không thua sút mười hai sứ đồ được Chúa sai đi trước đó.

Từ ngữ “bởi sự tỏ ra” trong nguyên ngữ chính là danh từ “mạc khải” được dùng trong Khải Huyền 1:1 [2]. “Mạc khải” theo nghĩa đen là vén màn lên để bày ra những gì trước đó bị tấm màn che lại, như khi người ta vén màn trong một rạp hát để lộ ra những gì diễn ra trên sân khấu; theo nghĩa bóng là bày tỏ những gì mà trước kia chưa được bày tỏ.

Phao-lô được Đức Chúa Jesus Christ bày tỏ cho ông Tin Lành của Thiên Chúa mà trước kia ông chưa hề được ai bày tỏ. Qua đó, ông hiểu được Đức Chúa Trời yêu thương nhân loại và từ trong cõi đời đời Ngài đã sắm sẵn chương trình cứu rỗi nhân loại ra khỏi quyền lực và hậu quả của tội lỗi. Chương trình cứu rỗi đó được gọi là Tin Lành. Trong Tin Lành đó, mọi tội nhân được Đức Chúa Trời tha thứ cách trọn vẹn, vì Con Một của Đức Chúa Trời gánh lấy mọi án phạt thay cho họ, để thỏa mãn sự công chính của luật pháp Thiên Chúa. Trong Tin Lành đó, sự thánh khiết và địa vị làm con của Đức Chúa Trời được phục hồi cho những ai tiếp nhận Tin Lành. Trong Tin Lành đó, sự sống lại của thể xác, sự sống đời đời và quyền thừa hưởng, cai trị cơ nghiệp của Đức Chúa Trời được hứa ban cho những ai tiếp nhận Tin Lành và sống trung tín với Chúa cho đến chết.

Tôi Không Hổ Thẹn

Rô-ma 1:16 Vì tôi không hổ thẹn về Tin Lành của Đấng Christ, là năng lực của Thiên Chúa để cứu mọi kẻ tin, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp;

Phao-lô đã vui mừng tiếp nhận Tin Lành của Đấng Christ và gọi đó là “Tin Lành của tôi” (2:16) như cách ông tiếp nhận Đức Chúa Trời làm Thiên Chúa của ông và gọi Ngài là “Đức Chúa Trời của tôi.” Tiếp nhận Tin Lành tức là tin và sống theo mọi lời Đức Chúa Jesus Christ giảng dạy, là ăn năn tội, tiếp nhận sự thánh hóa của Đức Thánh Linh, nhờ sức toàn năng của Chúa chịu sự bách hại của thế gian mà trung tín đi theo Chúa mỗi ngày. Phao-lô không chỉ tiếp nhận Tin lành của Đấng Christ mà ông còn dâng trọn phần đời còn lại của ông làm sứ giả rao giảng Tin Lành cho muôn dân.

Trong địa vị cao trọng và giai cấp tôn quý trong xã hội thời bấy giờ, Phao-lô có tất cả những gì mà một người Do-thái đương thời mong ước. Thế nhưng, ông vui lòng bỏ hết mọi sự để sống và giảng Tin Lành của Đấng Christ. Trong Phi-líp 3:8-10, Phao-lô tâm sự với Hội Thánh những lời tha thiết như sau:

Tôi cũng coi hết thảy mọi sự như là sự lỗ, vì sự nhận biết Đấng Christ Jesus là quý hơn hết, Ngài là Chúa tôi, và tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi điều lợi đó. Thật, tôi xem những điều đó như rơm rác, hầu cho được Đấng Christ và được ở trong Ngài, được sự công bình, không phải công bình của tôi bởi luật pháp mà đến, bèn là bởi tin đến Đấng Christ mà được, tức là công bình đến bởi Đức Chúa Trời và đã lập lên trên đức tin; cho đến nỗi tôi được biết Ngài, và quyền phép sự sống lại của Ngài, và sự thông công thương khó của Ngài, làm cho tôi nên giống như Ngài trong sự chết Ngài.”

Vì Phao-lô “được biết Ngài và quyền phép sự sống lại của Ngài, và sự thông công thương khó của Ngài” làm cho ông“nên giống như Ngài trong sự chết Ngài,” cho nên, chẳng những Phao-lô không hổ thẹn về Tin lành của Đấng Christ mà ông còn khoe về thập tự giá của Đấng Christ và khoe rằng bởi thập tự giá ấy mà đối với ông thế gian đã chết và đối với thế gian thì ông cũng đã chết:

Còn như tôi, tôi hẳn chẳng khoe mình, trừ ra khoe về thập tự giá của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, bởi thập tự giá ấy, thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy!”(Ga-la-ti 6:14).

Trên thập tự giá của Đấng Christ, theo cái nhìn của Phao-lô, toàn thể thế gian tội lỗi đã chết trong sự đoán phạt của Đức Chúa Trời và Đấng Christ đã chết thay cho mọi người (II Cô-rinh-tô 5:14-15; Hê-bơ-rơ 2:9; I Giăng 2:2). Trên thập tự giá của Đấng Christ, cũng theo cái nhìn của Phao-lô, ông đã bị thế gian giết chết vì ông ở trong Đấng Christ. Trong I Cô-rinh-tô 15:31, Phao-lô viết rằng, ông “chết mỗi ngày.”

Hai xác chết thì không thể nào tương giao hay là tác động đến nhau, vì thế, mọi sỉ nhục mà thế gian trút đổ lên Phao-lô, vì cớ ông tiếp nhận và rao giảng Tin Lành của Đấng Christ, hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến ông. Thế gian không thể khiến cho Phao-lô hổ thẹn và bản thân của Tin Lành Đấng Christ không phải là điều hổ thẹn mà là Tin Lành Vinh Quang của Đức Chúa Trời (I Ti-mô-thê 1:11).

Năng Lực của Thiên Chúa để Cứu Mọi Kẻ Tin

Rô-ma 1:16 Vì tôi không hổ thẹn về Tin Lành của Đấng Christ, là năng lực của Thiên Chúa để cứu mọi kẻ tin, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp;

Tin Lành của Đấng Christ được mô tả là năng lực của Thiên Chúa để cứu mọi kẻ tin. Năng lực tức là sức mạnh và khả năng. Năng lực của Thiên Chúa là năng lực của Ba Ngôi Thiên Chúa, là sức mạnh toàn năng, là nguồn của sự sống và sự sáng, là tình yêu vô lượng vô biên. Tin Lành của Đấng Christ có sức mạnh toàn năng làm được mọi sự, biến đổi mọi sự. Tin Lành của Đấng Christ làm cho kẻ chết được sống lại và kẻ sống được sống đời đời (Giăng 11:25-26). Tin Lành của Đấng Christ chiếu sáng về mọi lẽ thật của Thiên Chúa khiến cho loài người giới hạn có thể hiểu biết, tin nhận, và thờ phượng Thiên Chúa vô hạn. Tin Lành của Đấng Christ thể hiện tình yêu của Thiên Chúa dành cho muôn loại thọ tạo và khiến cho muôn loại thọ tạo yêu thương lẫn nhau. Vì thế, Tin Lành của Đấng Christ có năng lực để cứu bất cứ ai tin nhận.

Động từ “cứu” được dùng ở đây là nói đến:

1. Sự cứu rỗi loài người ra khỏi án phạt của tội lỗi, vì mọi người đều đã phạm tội (3:23). Án phạt của tội lỗi là sự chết (3:23), tức là đời đời xa cách Chúa:

Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của quyền phép Ngài”(II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9).

Phạm tội tức là vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời: “Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp” (I Giăng 3:4). Luật pháp của Đức Chúa Trời tức là tất cả những lời giải thích về Mười Điều Răn của Ngài, bao gồm những quy định về sự đoán phạt kẻ nào vi phạm các điều được trình bày trong luật pháp. Điều răn của Chúa được ví như ngọn đèn, luật pháp của Chúa được ví như ánh sáng phát ra từ ngọn đèn. Luật pháp của Chúa làm cho chúng ta hiểu biết điều răn của Chúa: “Vì điều răn là một cái đèn, luật pháp là ánh sáng, và sự quở trách khuyên dạy là con đường sự sống” (Châm Ngôn 6:23).

2. Sự cứu rỗi loài người ra khỏi quyền lực của tội lỗi. Quyền lực của tội lỗi là sức mạnh bắt buộc chúng ta làm ra những điều trái nghịch luật pháp của Chúa mà chúng ta không thể nào không vâng theo. Cũng chính vì thế mà mọi người đều đã phạm tội. Quyền lực của tội lỗi cai trị loài người kể từ khi tổ phụ của loài người là A-đam phạm tội và di truyền cho toàn thể những ai được sinh ra theo dòng xác thịt của A-đam.

Trước là Người Do-thái, Sau Là Người Hy-lạp

Rô-ma 1:16 Vì tôi không hổ thẹn về Tin Lành của Đấng Christ, là năng lực của Thiên Chúa để cứu mọi kẻ tin, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp;

Sự cứu rỗi của Tin Lành Đấng Christ được ban cho tất cả những ai tin nhận Tin Lành, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp. Sứ Đồ Phao-lô đang viết thư cho người La-mã nhưng ông không nói đến người La-mã mà lại nói đến người Hy-lạp. Bởi vì, mục đích của Phao-lô không phải nói đến các chủng tộc mà là nói đến hai nền văn hóa: nền văn hóa Do-thái là nền văn hóa biết Chúa và nền văn hóa Hy-lạp, tiêu biểu cho nền văn hóa của thế gian, là nền văn hóa không biết Chúa.

Trong chương trình của Đức Chúa Trời, theo sự khôn ngoan của Ngài, Ngài đã chọn ra một dân tộc ở giữa thế gian để từ trong dân tộc đó Tin Lành được rao giảng và Đức Chúa Jesus được sinh ra để làm cho Tin Lành được hiện thực. Dân tộc đó là dân I-sơ-ra-ên và trong dân tộc đó, chi phái Giu-đa, còn được phiên âm là Do-thái, là chi phái sinh ra Đức Chúa Jesus về phần xác thịt. Sau khi Vương Quốc I-sơ-ra-ên bị tiêu diệt bởi Đế Quốc A-si-ry vào năm 722 TCN thì danh từ Giu-đa hay Do-thái được dùng để gọi chung toàn thể dân tộc I-sơ-ra-ên còn sót lại trong Vương Quốc Giu-đa. Ngày 14 tháng 5 năm 1948, mười hai chi phái I-sơ-ra-ên bị tan lạc khắp nơi trên thế giới đã trở về tái lập quốc trên vùng đất hứa Ca-na-an và lấy tên là Quốc Gia I-sơ-ra-ên, nhưng vẫn được gọi chung là người Do-thái.

Chính vì sự lựa chọn và sắp xếp của Đức Chúa Trời mà Tin Lành trước hết được giảng cho những người sống trong nền văn hóa biết Chúa, là dân Do-thái, rồi sau đó, được giảng cho những người sống trong nền văn hóa chưa biết Chúa, là các dân tộc còn lại trong thế gian, mà trong thời điểm thư Rô-ma được viết ra cách nay gần 2,000 năm, được tiêu biểu bằng nền văn hóa Hy-lạp.

Sự Công Bình của Thiên Chúa Được Bày Tỏ từ Đức Tin đến Đức Tin

Rô-ma 1:17 vì trong đó, sự công bình của Thiên Chúa được bày tỏ từ đức tin đến đức tin, như có chép rằng: “Người công bình sẽ sống bởi đức tin.”

Trong Tin Lành của Đấng Christ sự công bình của Thiên Chúa được bày tỏ qua đức tin của người tin nhận Tin lành. Sự công bình của Thiên Chúa có nghĩa là sự toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ của Thiên Chúa trong mọi sự. Thiên Chúa không hề giả dối, Thiên Chúa không hề độc ác, Thiên Chúa không hề thiếu sót. Chính vì thế, Thiên Chúa không thể chấp nhận bất cứ điều gì trái nghịch lại sự công bình của Ngài. Sự công bình của Thiên Chúa được tỏ bày cho loài người qua điều răn và luật pháp của Ngài:

Thật vậy, luật pháp là thánh, điều răn là thánh, công bình và tốt lành”(Rô-ma 7:12)

Đức Chúa Cha thiết lập các điều răn và luật pháp. Đức Chúa Con cai trị muôn loài vạn vật theo điều răn và luật pháp. Đức Thánh Linh cáo trách và lên án mọi sự vi phạm điều răn và luật pháp.

Sự thánh khiết của Thiên Chúa không chấp nhận bất cứ sự vi phạm điều răn và luật pháp nào. Khi loài người vi phạm điều răn và luật pháp của Thiên Chúa thì sự công bình của Thiên Chúa đòi hỏi hình phạt phải được thi hành trên kẻ phạm pháp. Tuy nhiên, Thiên Chúa cũng là tình yêu, Ngài không muốn loài người phải gánh lấy án phạt đời đời dành cho tội lỗi, vì thế, Ngài đã ban cho loài người sự cứu rỗi. Trong sự cứu rỗi đó, Đấng Christ gánh thay án phạt cho loài người, loài người được tha tội: sự thánh khiết, sự công bình, cùng với sự yêu thương của Thiên Chúa hoàn toàn được thỏa mãn.

Dầu Đức Chúa Trời ban ơn cứu rỗi cho nhân loại, Đức Chúa Con thi hành sự cứu rỗi, Đức Thánh Linh áp dụng giá trị và năng lực của sự cứu rỗi cho những ai tin nhận sự cứu rỗi, nhưng nếu không có ai tin nhận sự cứu rỗi đó thì sự công bình của Thiên Chúa không thể bày tỏ trong Tin Lành. Điều đó tương tự như: một dược sĩ có biệt tài chế thuốc chữa bệnh và đã chế thuốc chữa bệnh; chất thuốc có công hiệu chữa lành bệnh; nhưng nếu bệnh nhân không chịu uống thuốc thì công hiệu của sự chữa bệnh không thể bày tỏ trong sự chế thuốc của dược sĩ.

Trong Tin Lành của Đấng Christ sự công bình của Thiên Chúa được bày tỏ từ đức tin đến đức tin có nghĩa là: từ đức tin cơ bản về sự tha tội cho đến đức tin về sự quan phòng của Thiên Chúa hay đức tin về sự sống đời đời đều chiếu sáng sự công bình của Thiên Chúa.

  1. Trong đức tin về sự tha tội: Đấng Christ chết thay cho chúng ta nên chúng ta không còn bị hình phạt, đó là sự công bình của Thiên Chúa được thể hiện.
  2. Trong đức tin về sự quan phòng của Thiên Chúa: Ngài kêu gọi chúng ta chớ lo lắng về mọi nhu cầu trong cuộc sống, nhưng trước hết hãy tìm kiếm vương quốc và sự công bình của Ngài thì Ngài sẽ ban cho chúng ta mọi nhu cầu, và Ngài giữ đúng lời hứa của Ngài, đó là sự công bình của Thiên Chúa được thể hiện.
  3. Trong đức tin về sự sống đời đời: Ngài hứa với chúng ta rằng, hãy tin nhận Đức Chúa Jesus Christ, (tức là công nhận và làm theo mọi lời phán dạy của Đấng Christ) thì Ngài sẽ ban cho chúng ta sự sống đời đời. Khi chúng ta thật lòng tin nhận Đức Chúa Jesus Christ thì Đức Thánh Linh ngự vào thân thể chúng ta và làm chứng cho chúng ta biết rằng, chúng ta được ở trong địa vị con cái của Đức Chúa Trời và sẽ nhận lãnh sự sống đời đời, đó là sự công bình của Thiên Chúa được thể hiện. Hiện nay, chúng ta chỉ mới nhận lãnh lời hứa về sự sống đời đời. Trong ngày Chúa hiện ra để đem chúng ta ra khỏi thế gian này chúng ta mới thực sự nhận lãnh sự sống đời đời (Đa-ni-ên 12:2; Mác 10:30; Lu-ca 18:30).

Người Công Bình Sẽ Sống Bởi Đức Tin

Rô-ma 1:17 vì trong đó, sự công bình của Thiên Chúa được bày tỏ từ đức tin đến đức tin, như có chép rằng: “Người công bình sẽ sống bởi đức tin.”

Người không còn chịu trách nhiệm về mọi tội lỗi của mình vì đã tin nhận sự chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ là một người công bình trước mặt Đức Chúa Trời. Người ấy nhờ có đức tin vào Tin lành Cứu Rỗi của Đấng Christ mà được xưng là công bình, được sống lại và tiếp tục sống bởi đức tin. Từ ngữ “sống” được dùng ở đây không phải chỉ nói đến sự sống trong thân thể xác thịt này của chúng ta mà còn nói đến sự sống thiêng liêng và sự sống đời đời. Trong II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9 nói đến sự hư mất đời đời là sự bị xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của quyền phép Ngài, còn Khải Huyền 21:8 thì gọi đó là sự chết thứ hai. Như vậy, ý nghĩa tuyệt đối của “sự chết” tức là đời đời xa cách Chúa, còn ý nghĩa tuyệt đối của “sự sống” tức là đời đời ở bên Chúa, được thấy mặt Chúa, và được cai trị cơ nghiệp của Chúa như Khải Huyền 22:4-5 đã ghi rõ.

“Người công bình sẽ sống bởi đức tin” (trích từ Ha-ba-cúc 2:4) có nghĩa là: Người đã được Chúa tha tội và làm cho sạch tội sẽ nhờ đức tin mà trong đời này thắng mọi cám dỗ và tội lỗi, thỏa lòng trong mọi cảnh ngộ, trong đời sau được đời đời ở bên Chúa, được thấy mặt Chúa, và được cai trị cơ nghiệp của Ngài.

Kết Luận

Danh từ “Tin Lành của Đấng Christ” nói đến Tin lành của Thiên Chúa được rao giảng bởi Đấng Christ và do chính Đấng Christ làm cho hiện thực. Tin Lành của Đấng Christ là sức mạnh và khả năng của Thiên Chúa để giải cứu loài người phạm tội ra khỏi hậu quả và quyền lực của tội lỗi, không phân biệt chủng tộc và trình độ tri thức. Tin Lành của Đấng Christ không giới hạn trong sự cứu rỗi mà còn bao gồm cả sự ban cho tuyệt đối của Thiên Chúa, tức là Thiên Chúa ban chính mình Ngài trong thân vị Đức Chúa Con cho những ai tin nhận Tin Lành. Tin Lành của Đấng Christ bày tỏ trọn vẹn sự công bình của Thiên Chúa trong mọi phương diện của đức tin: sự công bình của Thiên Chúa trong mọi ý định, trong mọi lời phán, và trong mọi việc làm của Ba Ngôi Thiên Chúa đối với loài người.

Chúng ta cần kinh nghiệm Tin Lành của Đấng Christ như sứ đồ Phao-lô đã kinh nghiệm đến nỗi chúng ta cũng được biết Ngài, và quyền phép sự sống lại của Ngài, và sự thông công thương khó của Ngài, làm cho chúng ta nên giống như Ngài trong sự chết Ngài. A-men!

 

Ghi Chú: Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.net www.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

[1] Nhóm chữ “Tin Lành của Đấng Christ” được Phao-lô dùng mười lần trong những câu Thánh Kinh sau đây: Rô-ma 1:16; 15:19; I Cô-rinh-tô 9:12; II Cô-rinh-tô 2:12; 4:4; 9:13; 10:14; Ga-la-ti 1:7; I Tê-sa-lô-ni-ca 3:2; II Tê-sa-lô-ni-ca 1:8.

[2] “Sự mạc khải của Đức Chúa Jesus Christ mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài để tỏ ra cho các tôi tớ Ngài những điều sắp phải xảy đến; Ngài đã sai thiên sứ Ngài tỏ ra cho tôi tớ Ngài là Giăng.”


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Đọc Tiếp →
2,688 views

Rô-ma_004 Tâm Tình và Bổn Phận Sứ Đồ của Phao-lô

Roma_004 Tâm Tình và Bổn Phận Sứ Đồ của Phao-lô

Huỳnh Christian Timothy
07.07.2012

Bấm vào đây để download bài viết này

Bấm vào đây để nghe và download MP3 audio bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/980

Dẫn Nhập

Trong phần chào thăm và mở đầu thư Rô-ma, Sứ Đồ Phao-lô đã dành ra tám câu (1:8-15) để bày tỏ tâm tình của ông đối với Hội Thánh Chúa tại Rô-ma, nói riêng, và đối với bất cứ ai chưa hề nghe biết đến Tin Lành, nói chung; đồng thời nói rõ bổn phận rao giảng Tin Lành mà Chúa đã giao cho ông. Chúng ta có thể tóm lược những điều Phao-lô viết trong tám câu đó thành một tựa đề: “Tâm Tình và Bổn Phận Sứ Đồ của Phao-lô.” Tâm tình là những suy nghĩ và cảm xúc của mình về một điều gì đó, về ai đó. Bổn phận là điều mình phải làm cho Thiên Chúa, cho chính mình và cho người khác.

Không phải Phao-lô chỉ bày tỏ tâm tình và bổn phận sứ đồ của ông trong tám câu mở đầu của thư Rô-ma, nhưng điều đó được thể hiện khắp trong các thư tín của ông.

Cảm Tạ Chúa Vì Nếp Sống Đạo của Người Khác

Rô-ma 1:8 Trước hết, tôi thật vì hết thảy các anh chị em, nhờ Đức Chúa Jesus Christ, mà cảm tạ Đức Chúa Trời tôi về sự đức tin của các anh chị em đã lan truyền khắp cả thế gian.

Thông thường, chúng ta dâng lời cảm tạ Chúa vì những điều phước hạnh Chúa ban cho chúng ta, vì những thành quả mà chúng ta đạt được trong nếp sống Đạo và trong công tác hầu việc Chúa. Thế nhưng, việc cảm tạ Chúa vì nếp sống Đạo của người khác là một điều không thể thiếu sót trong nếp sống Đạo của chúng ta. Sống Đạo tức là sống đúng theo ý Chúa đã được bày tỏ qua Lời Chúa (Đạo tức là Lời Chúa, ý Chúa). Lời Chúa dạy rằng con dân Chúa là thân thể của Đức Chúa Jesus Christ, mỗi cá nhân là một chi thể trong thân thể Chúa (I Cô-rinh-tô 12:12-30), vì thế, khi một anh chị em nào có nếp sống Đạo thánh khiết và đức tin mạnh mẽ thì tất cả những người còn lại đều tự nhiên vui mừng và cảm tạ Chúa.

Phao-lô chưa từng gặp những con dân Chúa trong Hội Thánh tại Rô-ma nhưng ông nghe biết về đức tin của họ, vì đức tin của họ đã được lan truyền ra khắp cả thế gian. Phao-lô dùng mệnh đề: “hết thảy các anh chị em” cho chúng ta thấy toàn thể Hội Thánh Chúa tại Rô-ma lúc bấy giờ là vững mạnh trong đức tin; dù cho đến lúc ấy, Hội Thánh Rô-ma chưa bao giờ được nghe sự giảng dạy Lời Chúa trực tiếp từ một sứ đồ. Chúng ta không có chi tiết về sự Hội Thánh Chúa được thành lập tại Rô-ma như thế nào, nhưng dựa vào Công Vụ Các Sứ Đồ 2:9 và 41 chúng ta có thể tin rằng: Rất có thể, trong số những người từ thành Rô-ma đến Giê-ru-sa-lem trong ngày Hội Thánh được thành lập, có nhiều người đã tin nhận Chúa qua lời giảng của Sứ Đồ Phi-e-rơ và đem Đạo Chúa về rao giảng tại Rô-ma. Nếu đúng vậy thì Hội Thánh Chúa tại Rô-ma được thành lập không bao lâu sau Lễ Ngũ Tuần vào năm 30. Khi Phao-lô viết thư Rô-ma vào đầu năm 57 thì Hội Thánh Chúa tại Rô-ma đã có ít nhất là 5 điểm nhóm khác nhau: nhóm thứ nhất nhóm họp tại nhà của Bê-rít-sin và A-qui-la (Rô-ma 16:3-5); bốn nhóm khác được đề cập trong Rô-ma 16:10-11 và 14-15. Dù nhóm họp tại những địa điểm khác nhau, nhưng tất cả con dân Chúa tại thành Rô-ma đều có chung một đức tin vững chắc nơi Chúa.

Từ ngữ “đức tin” bao gồm các ý: (1) tin rằng Đức Chúa Jesus Christ là Con Đức Chúa Trời, là Đấng Giải Cứu đã được Thiên Chúa hứa trước trong Thánh Kinh; (2) tin rằng sự chết và sự sống lại của Đức Chúa Jesus Christ đem lại ơn cứu rỗi và phục hồi địa vị làm con Thiên Chúa cho những ai tin nhận Đức Chúa Jesus Christ; (3) tin và làm theo mọi lời phán dạy của Đức Chúa Jesus Christ. Vì thế, từ ngữ “đức tin” không giới hạn trong sự nhận thức mà còn bao gồm cả nếp sống thể hiện sự nhận thức thành hành động trong cuộc sống của người tin.

Động từ “lan truyền” trong nguyên ngữ có nghĩa là được bàn tán đến. Đức tin của con dân Chúa phải là đối tượng để mọi người trong thế gian bàn tán đến, và cách nay gần 2,000 năm, Hội Thánh Chúa tại Rô-ma đã đạt đến tiêu chuẩn ấy.

Thành ngữ: “khắp cả thế gian” trong nền văn hóa La-mã và Hy-lạp thời bấy giờ không có nghĩa là khắp nơi trên địa cầu mà chỉ có nghĩa là khắp lãnh thổ của Đế Quốc La-mã hoặc Đế Quốc Hy-lạp (Đế Quốc Hy-lạp bị thôn tính bởi Đế Quốc La-mã nhưng nền văn hóa Hy-lạp đã chinh phục nền văn hóa La-mã). Tuy nhiên, khi từ ngữ “thế gian” được dùng làm đối tượng cho mọi ý muốn và hành động của Thiên Chúa thì luôn luôn bao gồm toàn thể địa cầu và mọi vật thuộc về địa cầu, như khi được dùng trong Giăng 3:16: “Đức Chúa Trời yêu thương thế gian.” Nhiều người tưởng rằng “Đức Chúa Trời yêu thương thế gian” chỉ có nghĩa là Đức Chúa Trời yêu thương mọi người trong thế gian; nhưng không phải vậy, mà là Đức Chúa Trời yêu thương mọi người và mọi vật trong thế gian. Sự Đức Chúa Trời ban cho Con Một của Ngài không chỉ nhằm cứu rỗi loài người mà còn cứu rỗi muôn vật ra khỏi sự rủa sả vì sự phạm tội của loài người. Rô-ma 8:21-22 chép:

Bởi vì, chính tạo vật cũng sẽ được giải cứu khỏi sự nô lệ cho sự hư nát mà vào trong sự tự do vinh quang của con cái Đức Chúa Trời. Vì chúng ta biết rằng toàn thể tạo vật cùng nhau than thở và cùng nhau đau khổ cho đến bây giờ.”

Cô-lô-se 1:20 chép:

… và qua Ngài mà phục hòa muôn vật với chính Ngài, dầu là những vật dưới đất hoặc những vật trong các tầng trời; bởi Ngài đã làm nên sự hòa bình thông qua máu của thập tự giá Ngài.”

Sứ Đồ Phao-lô dâng lời cảm tạ Đức Chúa Trời khi ông được nghe biết về đức tin của Hội Thánh tại Rô-ma: Trước hết, tôi thật vì hết thảy các anh chị em, nhờ Đức Chúa Jesus Christ, mà cảm tạ Đức Chúa Trời tôi về sự đức tin của các anh chị em đã lan truyền khắp cả thế gian.” Phao-lô dùng từ ngữ “thật” để tỏ cho con dân Chúa tại Rô-ma, rằng ông thật sự có vì họ mà dâng lên Đức Chúa Trời lời cảm tạ chứ không phải ông chỉ viết như vậy để lấy lòng họ. Hành động và lời cảm tạ của Phao-lô vì đức tin của người khác là thật, vì nó xuất phát từ niềm vui và lòng biết ơn chân thật của ông với ý thức: mọi con dân Chúa là các chi thể của cùng một thân.

Phao-lô có thói quen dùng cách gọi: “Đức Chúa Trời tôi.” Không phải ông có ý dành Đức Chúa Trời cho riêng ông hay ngụ ý rằng Đức Chúa Trời của ông khác với Đức Chúa Trời của những tín hữu khác. Cách gọi của Phao-lô thể hiện sự thông công mật thiết của ông với Đức Chúa Trời đến nỗi ông có thói quen gọi Ngài là “Đức Chúa Trời tôi!”

Sự cảm tạ của Phao-lô được dâng lên Đức Chúa Trời “nhờ” Đức Chúa Jesus Christ có nghĩa là: Cảm tạ trong danh của Đức Chúa Jesus Christ: “Hãy thường thường nhân danh Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, vì mọi sự tạ ơn Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta” (Ê-phê-sô 5:20). Vì Đức Chúa Jesus Christ là Đấng Trung Bảo giữa Thiên Chúa và chúng ta (I Ti-mô-thê 2:5), cho nên, mọi lời cầu nguyện, tôn vinh, cảm tạ, và mọi việc làm của chúng ta dâng lên Đức Chúa Trời đều phải làm trong danh của Đức Chúa Jesus Christ.

Hầu Việc Đức Chúa Trời Trong Tâm Thần

Rô-ma 1:9 Vì Đức Chúa Trời mà tôi hầu việc trong tâm thần bởi sự giảng Tin Lành của Con Ngài, là chứng nhân cho tôi, rằng tôi không ngừng nhắc đến các anh chị em

Giăng 4:24 cho chúng ta biết: “Đức Chúa Trời là Thần. Những người thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong tâm thần và lẽ thật.” Sự thờ phượng Đức Chúa Trời không phải chỉ là tôn vinh, ca tụng, quỳ lạy mà còn là tất cả những gì chúng ta làm theo thánh ý của Ngài, tức là, bao gồm sự chúng ta vâng giữ các điều răn của Chúa và hết lòng làm những công việc Chúa giao cho chúng ta. Phao-lô nói ông hầu việc Đức Chúa Trời Chúa trong tâm thần bởi sự giảng Tin Lành của Con Ngài, có nghĩa là:

  1. Giảng Tin Lành của Đấng Christ tức là hầu việc Đức Chúa Trời.
  2. Dù việc giảng Tin Lành là hành động được thể hiện qua thân thể xác thịt nhưng động cơ thì phát xuất từ trong tâm thần. Vì thế, sự hầu việc Đức Chúa Trời bắt nguồn từ trong tâm thần của chúng ta.

Hầu việc Chúa trong tâm thần là ý thức bổn phận của mình đối với Chúa, trong chức vụ Chúa giao phó, và sẵn lòng làm tròn bổn phận. Khi lòng chúng ta quyết tâm hầu việc Chúa là chúng ta đã bắt đầu hầu việc Chúa trong tâm thần, rồi sự hầu việc Chúa đó mới được thể hiện ra bên ngoài bởi thân thể của chúng ta. Cho dù có ai trong chúng ta không được Chúa kêu gọi làm sứ đồ, tiên tri, người chăn, hay người dạy Đạo thì mỗi chúng ta vẫn có chức vụ thầy tế lễ của Đức Chúa Trời do Đức Chúa Jesus Christ ban cho (Khải Huyền 1:6). Chức vụ đó cần phải được thi hành từ trong tâm thần.

Ngày xưa và cho đến ngày nay, có nhiều người giảng Tin Lành nhưng không phải là hầu việc Đức Chúa Trời trong tâm thần như Phao-lô. Ngay trong thời Phao-lô, có những người giảng Tin Lành vì lòng ganh tỵ, vì ý phe đảng để gây thêm sự đau khổ cho Phao-lô trong khi ông bị tù (Phi-líp 1:15-17). Ngày nay, nhiều người giảng Tin Lành để gây dựng cơ ngơi, sự nghiệp vật chất, và danh tiếng cho chính họ hoặc cho một giáo hội. Ma-thi-ơ 23 ghi lại lời Đức Chúa Jesus mô tả và quở trách những người Pha-ri-si giả hình thời xưa có thể áp dụng cho những kẻ giả hình thời nay. II Phi-e-rơ 2 cũng mô tả và quở trách những giáo sư giả một cách rõ ràng và nghiêm khắc.

Không Ngừng Nhắc Đến Anh Chị Em Trong Những Lời Cầu Nguyện

Rô-ma 1:9 Vì Đức Chúa Trời mà tôi hầu việc trong tâm thần bởi sự giảng Tin Lành của Con Ngài, là chứng nhân cho tôi, rằng tôi không ngừng nhắc đến các anh chị em

Rô-ma 1:10 trong những lời cầu nguyện của tôi. Cho đến giờ tôi vẫn cầu xin rằng, ít ra bằng cách nào đó, theo ý Đức Chúa Trời, tôi sẽ có chuyến đi thành công đến cùng các anh chị em.

Phao-lô tâm sự với con dân Chúa trong Hội Thánh tại Rô-ma rằng, ông không ngừng nhắc đến họ trong những lời cầu nguyện của ông. Thật khó mà tưởng tượng có ai đó chưa hề quen biết chúng ta mà lại “không ngừng” nhắc đến chúng ta trong những lời cầu nguyện của họ. Tuy nhiên, Phao-lô đã làm điều này đối với Hội Thánh Rô-ma và ông khẳng định rằng Đức Chúa Trời làm chứng cho ông. Không ngừng nhắc đến trong những lời cầu nguyện có nghĩa là trong những lúc Phao-lô cầu nguyện thì ông nhớ đến Hội Thánh Rô-ma và dâng lời cảm tạ Chúa về đức tin của họ, đồng thời, ông xin Chúa ban cho ông có cơ hội được đến thăm và thông công với họ. Điều đó không phải chỉ xảy ra một đôi lần mà là thường xuyên trong sự cầu nguyện của Phao-lô, đến nỗi, ngay khi thư Rô-ma được viết ra thì ông vẫn tiếp tục nhắc đến họ trong những khi ông cầu nguyện. Ông cầu xin Đức Chúa Trời, theo thánh ý Ngài, bằng cách nào đó, ban cho ông cơ hội được đến Rô-ma.

Lời cầu xin của Phao-lô đã được Đức Chúa Trời đáp nhận vào đầu mùa thu năm 61, tức là hơn 4 năm sau khi thư Rô-ma được viết ra. Cách mà Đức Chúa Trời dùng để đưa Phao-lô đến Rô-ma là khiến cho ông bị giải ra trước tòa án của Sê-sa. Công Vụ Các Sứ Đồ đoạn 27 và 28 ghi lại chi tiết hành trình đến Rô-ma của Phao-lô. Chuyến đi này được xem như là hành trình truyền giáo lần thứ tư của Phao-lô. Phao-lô đến Rô-ma vào khoảng cuối mùa đông năm 61. Trong khi chờ đợi ra trước tòa án của Sê-sa, Phao-lô được phép thuê một căn nhà trọ để ở với sự canh giữ của một người lính La-mã. Ông được trắng án vào mùa xuân năm 63. Phao-lô đã ở trọn hai năm (62-64) tại Rô-ma để giảng và dạy Đạo cách tự do (Công Vụ Các Sứ Đồ 28:30-31).

Khi phân tích lời cầu nguyện của Phao-lô chúng ta thấy có những chi tiết lý thú vị:

  1. Phao-lô xin Chúa cho ông có thể đến Rô-ma bằng bất cứ cách nào theo ý Chúa thì Chúa đã cho ông đến trong thân phận của một tù nhân.
  2. Phao-lô xin cho chuyến đi của ông được thành công thì ông đã có chuyến đi thành công dù ông phải trải qua sự đắm tàu, suýt bị lính La-mã giết chết, bị rắn độc cắn, và hành trình bị chậm trể đến ba tháng.

Chúng ta học được bài học này nơi Phao-lô: Hãy trình dâng mọi nan đề, nhu cầu, và ước muốn của mình lên Chúa và xin Chúa ban cho theo ý Ngài, theo cách thức của Ngài, miễn sao mọi việc được thành công.

Chia Nhau Các Ân Tứ Thiêng Liêng

Rô-ma 1:11 Vì tôi mong được nhìn thấy các anh chị em để tôi chia với các anh chị em một vài ân tứ thiêng liêng, làm cho các anh chị em được vững vàng,

Ân tứ là những ơn do Đức Chúa Trời ban cho chúng ta. Có những ân tứ thuộc thể, như: việc làm tốt, sức khỏe, của cải vật chất, phương tiện sống… và có những ân tứ thuộc linh để gây dựng đức tin lẫn nhau trong Hội Thánh, như được liệt kê trong I Cô-rinh-tô 12. Phao-lô mong muốn được gặp mặt các con dân Chúa tại Rô-ma để ông có thể chia với họ một vài ân tứ thiêng liêng, tức là các ân tứ thuộc linh, mà Chúa đã ban cho ông để họ được vững vàng trong đức tin. Chúng ta học được những điều sau đây:

  1. Những ân tứ Chúa ban là để chúng ta chia sẻ cho lẫn nhau, không phải để dùng riêng cho mình. Lời Chúa dạy rõ như sau: “Mỗi người trong anh em hãy lấy ơn mình đã được mà giúp lẫn nhau, khác nào người quản lý trung tín giữ các thứ ơn của Thiên Chúa” (I Phi-e-rơ 4:10).
  2. Có những ân tứ thuộc linh mà chúng ta chỉ có thể chia sẻ cho nhau khi gặp mặt nhau.
  3. Sự chia sẻ ân tứ của Chúa cho lẫn nhau khiến cho Hội Thánh của Chúa được vững mạnh.

An Ủi Lẫn Nhau Trong Đức Tin của Nhau

Rô-ma 1:12 Đó là sự được an ủi lẫn nhau trong đức tin của nhau, giữa vòng các anh chị em, gồm cả tôi và các anh chị em.

Khi con dân Chúa thông công với nhau, chia sẻ các ân tứ cho nhau thì mỗi người đều nhận được sự an ủi chung. Từ ngữ “an ủi lẫn nhau” trong nguyên ngữ có nghĩa là: “cùng nhau được sức mạnh.” Sức mạnh đó dẹp tan mọi lo âu, phiền muộn, nãn lòng, bối rối, và những đau khổ mà chúng ta phải đối diện trên bước đường theo Chúa. Đây là điều không thể có được bên ngoài sự nhóm hiệp mặt đối mặt của Hội Thánh. Chính vì vậy mà Lời Chúa truyền cho chúng ta “chớ bỏ qua sự nhóm lại” (Hê-bơ-rơ 10:25). Trong thời đại của chúng ta, sự nhóm họp trên mạng, sự đọc các sách bồi linh, sự nghe các bài giảng được ghi âm… không thể thay thế cho sự nhóm họp của con dân Chúa trong một Hội Thánh tại địa phương. Cho dù Hội Thánh địa phương chỉ có hai ba người nhưng khi hai ba người đó nhóm lại trong danh Chúa thì đó là sự nhóm hiệp thánh của Hội Thánh và Đức Chúa Jesus Christ sẽ hiện diện trong sự nhóm hiệp đó: “Vì nơi nào có hai ba người nhơn danh Ta nhóm nhau lại, thì Ta ở giữa họ” (Ma-thi-ơ 18:20).

Khi Hội Thánh nhóm lại, dù chỉ có hai ba người, hãy: “ai có bài ca, hoặc bài giảng dạy, hoặc lời tỏ sự kín nhiệm, hoặc nói ngoại ngữ, hoặc giải ngoại ngữ chăng? Hãy làm hết thảy cho được gây dựng” (I Cô-rinh-tô 14:26); “Hãy lấy ca vịnh, thơ thánh, và bài hát thiêng liêng mà đối đáp cùng nhau, và hết lòng hát mừng tôn vinh Chúa” (Ê-phê-sô 5:19); và hãy cùng nhau dự Tiệc Thánh để “nhớ Chúa!”

Phao-lô không nói ông chia sẻ ân tứ thiêng liêng cho Hội Thánh khiến Hội Thánh được an ủi mà nói rằng: cả ông lẫn Hội Thánh đều được “an ủi lẫn nhau” và ông cẩn thận giải thích: “bao gồm cả tôi và các anh chị em.”

Dù trong Hội Thánh có những chức vụ khác nhau được Đức Chúa Trời thiết lập để cai quản và gây dựng Hội Thánh nhưng mỗi một con dân Chúa đều nhận được ân tứ thuộc linh từ Đức Thánh Linh để gây dựng các anh chị em khác. Vì thế, sự chia sẻ ân tứ không thuộc riêng về những người có các chức vụ trong Hội Thánh mà thuộc về toàn thể con dân Chúa và chúng ta cùng chia sẻ ân tứ lẫn nhau để cùng nhau được vững mạnh trong đức tin. Lời Chúa phán dạy tỏ tường:

Có các việc làm khác nhau, nhưng chỉ có một Thiên Chúa, là Đấng làm mọi việc trong mọi người. Đức Linh tỏ ra trong mỗi một người, cho ai nấy đều được sự ích chung”(I Cô-rinh-tô 12:6-7).

Sự Ngăn Trở Trong Mục Vụ

Rô-ma 1:13 Hỡi các anh em, tôi không muốn các anh chị em chẳng biết rằng, đã nhiều lần tôi có ý định đến cùng các anh chị em để tôi có vài kết quả trong các anh chị em như trong các dân khác, nhưng tôi bị ngăn trở cho đến bây giờ.

Trong câu 1:10 Phao-lô tỏ cho con dân Chúa tại Rô-ma biết, là ông vẫn cầu xin Chúa, bằng cách nào đó, cho ông có cơ hội được thăm viếng họ. Trong 1:13 ông nói thêm, là nhiều lần ông định đến Rô-ma thì lại bị ngăn trở. Phao-lô không nói rõ ông bị ngăn trở nhiều lần như thế nào. Có thể sự ngăn trở đến từ Chúa vì chưa đến thời điểm, như khi Phao-lô và Ti-mô-thê định vào xứ A-si và Bi-thi-ni để giảng Tin Lành thì bị Đức Thánh Linh ngăn cấm (Công Vụ Các Sứ Đồ 16:6-7). Cũng có thể là sự ngăn trở đến từ Ma Quỷ. Đa-ni-ên 10 ghi lại chuyện một thiên sứ của Chúa được sai đến đáp lời cầu nguyện của Tiên Tri Đa-ni-ên, đã bị một thần dữ có quyền trên Vương Quốc Phe-rơ-sơ (Iran ngày nay) ngăn trở suốt 21 ngày, đến nỗi Thiên Sứ Trưởng Mi-ca-ên phải đến can thiệp. Dĩ nhiên, những cản trở ra từ Ma Quỷ đều nằm trong sự cho phép của Đức Chúa Trời, theo ý muốn và sự khôn ngoan của Ngài. Điều chúng ta học được đó là: Những ước muốn và việc làm của chúng ta có thể bị cản trở từ Chúa hoặc từ Ma Quỷ hoặc từ loài người, nhưng nếu chúng ta hết lòng tin cậy và vâng phục Chúa thì chỉ có những điều tốt nhất xảy ra cho chúng ta, bởi vì: “Mọi sự hiệp lại làm ích lợi cho những người yêu Đức Chúa Trời, là những người được gọi theo mục đích của Ngài” (Rô-ma 8:28). Những điều tốt nhất là “tốt nhất” theo quan điểm của Chúa, vì nó đem lại ích lợi cho con dân Chúa, chứ không theo quan điểm của loài người. Trong II Cô-rinh-tô 11:23-27, Phao-lô đã ghi lại một số những điều tốt nhất Chúa cho phép xảy đến với ông, như sau:

23 Họ là kẻ hầu việc của Đấng Christ phải chăng? Ừ, — tôi nói như kẻ dại dột, — tôi lại là kẻ hầu việc nhiều hơn! Tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn, tù rạc nhiều hơn, đòn vọt quá chừng. Đòi phen tôi gần phải bị chết;

24 năm lần bị người Giu-đa đánh roi, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn chục;

25 ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị chìm tàu. Tôi đã ở trong biển sâu một ngày một đêm.

26 Lại nhiều lần tôi đi đường nguy trên sông bến, nguy với trộm cướp, nguy với giữa dânmình, nguy với dân ngoại, nguy trong các thành, nguy trong các đồng vắng, nguy trên biển, nguy với anh em giả dối;

27 chịu khó chịu nhọc, lắm lúc thức đêm, chịu đói khát, thường khi phải nhịn ăn, chịu lạnh và lõa lồ.

Và Phao-lô đã dạy cho Hội Thánh rằng: “Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin, và sự tạ ơn mà trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời” (Phi-líp 4:6).

Mỗi hoạn nạn Chúa cho phép xảy ra trong đời sống của chúng ta, trừ khi vì chúng ta phạm tội, thì đều là ơn phước của Chúa: ơn được dự phần trong sự thương khó của Đức Chúa Jesus Christ: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, khi anh em bị trong lò lửa thử thách, chớ lấy làm lạ như mình gặp một việc khác thường. Nhưng anh em có phần trong sự thương khó của Đấng Christ bao nhiêu, thì hãy vui mừng bấy nhiêu, hầu cho đến ngày vinh quang của Ngài hiện ra, thì anh em cũng được vui mừng nhảy nhót” (I Phi-e-rơ 4:12-13). Vì thế, con dân Chúa luôn cảm tạ Chúa trong mọi sự.

Phao-lô được Chúa biệt riêng ra để giảng Tin Lành cho dân ngoại (Công Vụ Các Sứ Đồ 13:2), cho nên, lẽ tự nhiên là trong lòng ông có ước muốn được đến giảng và dạy Đạo Chúa tại thành Rô-ma, là thủ đô của Đế Quốc La-mã, được thông công với con dân Chúa tại Hội Thánh Rô-ma, và được thu hoạch kết quả của mục vụ giữa người La-mã. Trong Công Vụ Các Sứ Đồ 1:8, ghi lại lời của Đức Chúa Jesus Christ trước khi Ngài thăng thiên, truyền cho các sứ đồ phải rao giảng Tin Lành từ thành Giê-ru-sa-lem cho đến cùng trái đất. Thành Giê-ru-sa-lem là thủ đô của dân I-sơ-ra-ên, thành Rô-ma là thủ đô của dân ngoại. Sự kiện Tin Lành của Chúa được rao giảng từ thủ đô Giê-ru-sa-lem cho đến thủ đô Rô-ma tiêu biểu cho sự kiện Tin Lành của Chúa được rao giảng từ giữa lòng tuyển dân I-sơ-ra-ên cho đến cùng trái đất. Phao-lô muốn được dự phần trong sự kiện đó và không ngừng cầu xin Chúa ban cho ông cơ hội.

Bổn Phận Sứ Đồ

Rô-ma 1:14 Tôi là kẻ thiếu nợ những người Hy-lạp lẫn những người dã man, những người thông thái lẫn những người ngu dốt.

Rô-ma 1:15 Vậy, theo như tôi, tôi sẵn lòng giảng Tin Lành cho các anh chị em tại thành Rô-ma.

Từ ngữ “kẻ thiếu nợ” dùng để gọi một người thiếu người khác điều gì đó hoặc một người chưa hoàn thành bổn phận của mình đối với người khác. Từ ngữ “người Hy-lạp” tiêu biểu cho người có văn hóa. Từ ngữ “người dã man” tiêu biểu cho người không có văn hóa. Phao-lô tự xưng rằng ông là kẻ thiếu nợ “những người Hy-lạp lẫn những người dã man, những người thông thái lẫn những người ngu dốt” để nói lên bổn phận giảng Tin Lành cho mọi người trong mọi tầng lớp xã hội mà Chúa đã giao cho ông trong chức vụ của một sứ đồ. Qua lời công bố này của Phao-lô, chúng ta thấy rõ: Tin Lành cứu Rỗi của Đức Chúa Trời được ban cho toàn thể nhân loại, bất kể là người có văn hóa hay không có văn hóa, người khôn ngoan, thông sáng hay người ngu dốt, khờ dại, hễ ai tin nhận Tin Lành thì được cứu rỗi, vì: Đức Chúa Trời “muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật” (I Ti-mô-thê 2:4).

Với ý thức rằng mình là kẻ thiếu nợ mọi người, tức là người có bổn phận giảng dạy Tin Lành cho mọi người, Phao-lô viết cho Hội Thánh Rô-ma, rằng ông sẵn sàng giảng Tin Lành cho họ. Mệnh đề “theo như tôi” có nghĩa là: theo như tấm lòng của tôi, theo như năng lực của tôi, theo như phương tiện và cơ hội Chúa ban cho tôi.

Câu hỏi được đặt ra là: Phao-lô đang viết thư cho Hội Thánh Rô-ma, vì vậy, độc giả của ông là những người đã tin nhận Tin Lành, sao ông lại viết rằng ông sẵn lòng giảng Tin Lành cho họ?

Câu trả lời là: Giảng Tin Lành bao gồm hai phương diện:

  1. Phương diện công bố Tin Lành Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời cho những người chưa được cứu, gọi là giảng Đạo, để họ biết mà tin nhận Tin Lành, trở nên những môn đồ của Đức Chúa Jesus Christ. Đây là công tác khiến cho muôn dân trở nên môn đồ của Chúa (Ma-thi-ơ 28:19).
  2. Phương diện giải bày ý nghĩa sâu nhiệm của Tin Lành cho những người đã trở thành môn đồ của Đức Chúa Jesus Christ, gọi là dạy Đạo, để họ biết mà giữ mọi điều Chúa đã truyền và được ghi lại trong Thánh Kinh. Đây là công tác cho chiên của Chúa ăn (Giăng 21:15-18; Ma-thi-ơ 28:20).

Sự giảng Tin Lành mà Phao-lô muốn thực hiện giữa Hội Thánh Rô-ma là sự dạy Đạo, tức là nuôi dưỡng phần thuộc linh của con dân Chúa bằng Lời Chúa, và Phao-lô đã tổng kết nội dung của sự dạy Đạo đó trong phần còn lại của thư Rô-ma. Dĩ nhiên, không phải vì thế mà ngoại trừ việc Phao-lô giảng Đạo cho người chưa được cứu tại thành Rô-ma. Chắc chắn, trong suốt hai năm Phao-lô cư trú tại Rô-ma, ông vừa dạy Đạo cho Hội Thánh Chúa mà cũng vừa giảng Đạo cho người chưa biết Chúa.

Kết Luận

Rô-ma 1:8-15 nói lên tâm tình và bổn phận của Phao-lô trong chức vụ sứ đồ mà Đức Chúa Jesus Christ đã ban cho ông và biệt riêng ông cho chức vụ đó từ khi ông còn ở trong lòng mẹ. Về mặt hình thức, đó là những lời tâm tình của Phao-lô, nhưng về mặt nội dung thì đó là tâm tình và bổn phận của tất cả những ai là sứ đồ của Đức Chúa Jesus Christ. Sứ đồ của Chúa là kẻ thiếu nợ tất cả mọi người trong bổn phận giảng dạy Tin Lành: bổn phận giảng Tin lành cho những ai chưa biết Chúa và bổn phận dạy Tin Lành cho những ai đã tin nhận Chúa.

Ngày nay, trong thế giới của Cơ-đốc Giáo (Christianity), tức là thế giới của các giáo hội và giáo phái mang danh Chúa, chúng ta không thấy được sự hiện diện của các sứ đồ chân thật của Chúa, do chính Chúa gọi và biệt riêng họ từ trong lòng mẹ cho Tin lành của Thiên Chúa; vì Cơ-đốc Giáo không phải là Hội Thánh của Chúa. Nhưng trong Hội Thánh thật của Chúa, suốt gần 2,000 năm qua, lúc nào cũng có các sứ đồ chân thật của Chúa rao giảng Tin Lành. Họ: “chịu nhạo cười, roi vọt, lại cũng chịu xiềng xích, lao tù nữa. Họ đã bị ném đá, tra tấn, cưa xẻ; bị giết bằng lưỡi gươm; lưu lạc rày đây mai đó, mặc những da chiên da dê, bị thiếu thốn mọi đường, bị hà hiếp, ngược đãi, thế gian không xứng đáng cho họ ở, phải lưu lạc trong đồng vắng, trên núi trong hang, trong những hầm dưới đất” (Hê-bơ-rơ 11:36-38). Những giọt máu tử Đạo của họ là sức sống của Hội Thánh Chúa, những đau thương, khốn khổ trên thân xác của họ là vinh quang của Hội Thánh Chúa.

Chúng ta hãy không ngừng nhớ đến và cầu thay cho các sứ đồ của Đức Chúa Jesus Christ đang tiếp tục thiên chức giảng dạy Tin Lành của Thiên Chúa khắp nơi trên thế giới trong những ngày cuối cùng này.

 

Ghi Chú: Bấm vào các từ ngữ Hy-lạp để nghe phát âm. Bấm vào các mã số Strong (bắt đầu bằng H) để xem định nghĩa trong tiếng Anh. Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.net www.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

 


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Đọc Tiếp →
2,574 views

Rô-ma_003 Tin Lành của Thiên Chúa

Roma_003 Tin Lành của Thiên Chúa

Huỳnh Christian Timothy
30.06.2012

Bấm vào đây để download bài viết này

Bấm vào đây để nghe và download MP3 audio bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/977

Dẫn Nhập:

Trong bài trước chúng ta đã học về ý nghĩa “Tin Lành của Thiên Chúa.” Trong bài này chúng ta sẽ học về các đặc tính của Tin Lành của Thiên Chúa được trình bày trong Rô-ma 1:2-6. Trước hết, chúng ta hãy cùng nhau đọc lại Rô-ma 1:1-6:

Rô-ma 1:1 Phao-lô, tôi tớ của Đức Chúa Jesus Christ, được gọi làm sứ đồ, biệt riêng cho Tin Lành của Thiên Chúa –

Rô-ma 1:2 là sự Ngài đã hứa trước trong Thánh Kinh, bởi những tiên tri của Ngài,

Rô-ma 1:3 về Con Ngài; theo xác thịt là Đấng ra từ dòng dõi Đa-vít,

Rô-ma 1:4 theo Linh của sự thánh khiết là Đấng được công bố là Con của Thiên Chúa trong năng lực, bởi sự sống lại từ những kẻ chết của Jesus Christ, Chúa chúng ta;

Rô-ma 1:5 nhờ Ngài mà chúng tôi đã nhận lãnh ân điển và chức sứ đồ, cho sự vâng phục của đức tin trong mọi dân tộc, vì danh Ngài;

Rô-ma 1:6 trong những dân ấy có các anh chị em và các anh chị em là những người được gọi của Đức Chúa Jesus Christ; –

Ba chữ “Ngài” trong các câu 2 và 3 là đại danh từ thay thế cho danh xưng Thiên Chúa trong câu 1. Hai chữ “Ngài” trong câu 5 là đại danh từ thay thế cho danh xưng Jesus Christ trong câu 4. Vì thế, chúng ta có thể diễn ý của Rô-ma 1:1-6 như sau:

Rô-ma 1:1 Phao-lô, tôi tớ của Đức Chúa Jesus Christ, được gọi làm sứ đồ, biệt riêng cho Tin Lành của Thiên Chúa –

Rô-ma 1:2 là Tin Lành Thiên Chúa đã hứa từ trước mà những tiên tri của Thiên Chúa đã ghi chép lời hứa đó trong Thánh Kinh.

Rô-ma 1:3 Đó là Tin Lành về Con Thiên Chúa; theo xác thịt Con Thiên Chúa được sinh ra từ dòng dõi Đa-vít,

Rô-ma 1:4 theo Thánh Linh Con Thiên Chúa được công bố là Con của Thiên Chúa trong năng lực, bởi sự sống lại từ những kẻ chết của Jesus Christ, là Chúa chúng ta;

Rô-ma 1:5 nhờ Jesus Christ mà chúng tôi đã nhận lãnh ân điển và chức sứ đồ, cho sự vâng phục của đức tin trong mọi dân tộc, vì danh Jesus Christ;

Rô-ma 1:6 trong những dân ấy có các anh chị em và các anh chị em là những người được gọi của Đức Chúa Jesus Christ; –

Ngài Đã Hứa Trước Trong Thánh Kinh:

Rô-ma 1:2 là sự Ngài đã hứa trước trong Thánh Kinh, bởi những tiên tri của Ngài,

Khi thư Rô-ma được Đức Thánh Linh thần cảm cho Sứ Đồ Phao-lô viết ra vào đầu mùa xuân năm 57 thì lúc bấy giờ Hội Thánh chỉ có Thánh Kinh phần Cựu Ước, bao gồm 39 sách. Vì thế, khi nói Thiên Chúa đã hứa trước về Tin Lành trong Thánh Kinh, tức là nói đến Thánh Kinh phần Cựu Ước. Thánh Kinh Cựu Ước được viết trong khoảng thời gian 1,000 năm, khoảng từ năm 1446 TCN đến năm 400 TCN. Năm sách đầu tiên của Cựu Ước được viết trước nhất và có lẽ được Môi-se khởi sự viết vào dịp hai lần ông ở trên núi Si-na-i, mỗi lần 40 ngày, 40 đêm, theo lệnh của Thiên Chúa (Xuất Ê-díp-tô Ký 24:18; 34:28; Phục Truyền Luật Lệ Ký 31:24-26) và kéo dài trong suốt gần 40 năm trước khi đoạn 34 của sách Phục Truyền Luật Lệ Ký được Giô-suê viết để kết thúc sách này, ngay sau khi Môi-se qua đời. Sách được viết sau cùng vào khoảng năm 400 TCN là sách E-xơ-ra, sau khi dân I-sơ-ra-ên mãn hạn phu tù 70 năm tại Ba-by-lôn. Nhiều lời hứa trước về Tin Lành đã được Thiên Chúa phán truyền từ những ngày đầu của thời sáng thế, liền sau khi loài người phạm tội, cho đến suốt chiều dài lịch sử 1000 năm đầu của dân tộc I-sơ-ra-ên, đã được những tiên tri của Ngài ghi lại trong Thánh Kinh.

Lời hứa đầu tiên về Tin Lành được Thiên Chúa phán trực tiếp với Sa-tan trong vườn Ê-đen cách nay khoảng 6,000 năm và được Môi-se ghi lại trong Sáng Thế Ký 3:15 cách nay khoảng 3,400 năm: “Ta sẽ làm cho ngươi cùng người nữ, dòng dõi ngươi cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu ngươi, còn ngươi sẽ cắn gót chân người.” Sự ứng nghiệm của lời hứa này được xác chứng bởi Ga-la-ti 4:4, 5 cách nay khoảng 1,960 năm: “Nhưng khi kỳ hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài bởi một người nữ sanh ra, sanh ra dưới luật pháp, để chuộc những kẻ ở dưới luật pháp, và cho chúng ta được làm con nuôi Ngài.”

Đức Chúa Jesus Christ thuộc dòng dõi người nữ, qua sự hy sinh của Ngài trên thập tự giá, đã phá tan quyền lực của tội lỗi và sự chết mà Sa-tan dùng để hủy diệt nhân loại; đó là hành động giày đạp đầu Sa-tan. Còn Sa-tan, dù có thể làm sỉ nhục và giết chết Đấng Christ nhưng Ngài đã sống lại từ trong sự chết với một thân thể vinh quang, khiến cho việc làm của Sa-tan chỉ có tác động tạm thời gây thương tích như một vết cắn vào gót chân.

Sau đây là một số câu Thánh Kinh Cựu Ước ghi lại lời hứa về Tin Lành trong Đấng Christ:

Sáng Thế Ký 3:15; 49:10;

Dân Số Ký 24:17-19;

Phục Truyền Luật Lệ Ký 18:15;

Thi Thiên 2:7-9; 8:2; 16:10; 22:1, 7-8, 16-18; 30:3; 31:5; 34:20; 35:11, 19; 38:11; 41:9; 45:6-7; 49:15; 68:18; 69:9, 21; 72:1-7; 78:2-4; 102:25-27; 109:4, 25; 110:1-6; 118:17, 22;

Châm Ngôn 30:4;

Ê-sai 7:14; 8:14; 9:1-7; 11:1-10; 28:16; 29:18-19; 33:5-6; 40:3-5; 42:1-4; 44:3; 49:1; 50:6; 53:1-12; 55:3-4; 56:7; 59:16; 60:3; 61:1-3; 63:14; 65:1;

Giê-rê-mi 6:16; 7:11; 23:5, 6; 31:15, 31;

Ê-xê-chi-ên 37:24;

Đa-ni-ên 9:25;

Ô-sê 11:1;

A-mốt 8:9;

Mi-chê 5:2;

Xa-cha-ri 9:9; 11:12-13; 12:10; 13:6-7;

Ma-la-chi 3:1; 4:5-6

Bởi Những Tiên Tri của Ngài:

Rô-ma 1:2 là sự Ngài đã hứa trước trong Thánh Kinh, bởi những tiên tri của Ngài,

Từ ngữ “tiên tri” trong tiếng Hán Việt có nghĩa là “biết trước.” Người tiên tri là người biết trước hoặc nói trước một việc sẽ xảy ra. Từ ngữ này được dịch từ nguyên ngữ Hy-lạp: προφήτης, G4396, phiên âm Anh /prophētēs/, phiên âm Việt /prô`-phí-tịt/, có nghĩa là: “người truyền đạt và giải thích Lời của Thiên Chúa cho người khác,” mà phần lớn là những lời báo trước những điều Thiên Chúa sẽ làm đối với loài người. Tiên tri của Thiên Chúa là những người được Ngài ban cho chức vụ “tiên tri” và thần cảm cho họ, để họ trực tiếp rao truyền mọi lời phán của Ngài cho loài người và ghi chép lại những lời ấy trong Thánh Kinh. Chính vì vậy mà Thánh Kinh được gọi là Lời của Đức Chúa Trời, tức là ý muốn của Đức Chúa Cha, được phán truyền bởi Đức Chúa Con (vì Đức Chúa Con là Ngôi Lời – tức là “phát ngôn viên” – của Thiên Chúa, Giăng 1:1), và được Đức Thánh Linh thần cảm cho các tiên tri của Thiên Chúa lập lại cho loài người và chép thành Thánh Kinh (II Phi-e-rơ 1:20, 21).

Về Con Ngài:

Rô-ma 1:3 về Con Ngài; theo xác thịt là Đấng ra từ dòng dõi Đa-vít,

Chữ “Ngài” trong 1:2 và 1:3 đều chỉ về chủ từ “Thiên Chúa” trong 1:1. Vì thế, “Con Ngài” tức là “Con Thiên Chúa.” Ở đây, Đức Thánh Linh không dùng nhóm chữ “Con Đức Chúa Trời” mà dùng nhóm chữ “Con Thiên Chúa,” bởi vì, hai nhóm chữ này nhấn mạnh những ý nghĩa khác nhau.

  • “Con Thiên Chúa” áp dụng cho Đức Chúa Jesus Christ nhấn mạnh ý nghĩa: Đức Chúa Jesus Christ là một với Đức Chúa Cha trong bản thể và bản tính. Đức Chúa Cha là Thiên Chúa, Đức Chúa Jesus Christ cũng là Thiên Chúa và có đầy đủ mọi thần tính của Thiên Chúa. Các câu Thánh Kinh dưới đây giúp cho chúng ta hiểu rõ nhóm chữ “Con Thiên Chúa” khi được dùng để gọi Đức Chúa Jesus Christ:

Trước nguyên ủy, hằng có Ngôi Lời. Ngôi Lời hằng ở cùng Đức Chúa Trời; và Ngôi Lời hằng là Thiên Chúa” (Giăng 1:1).

Ngài vốn có hình Thiên Chúa, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Thiên Chúa là sự nên nắm giữ” (Phi-líp 2:6).

Vì sự đầy dẫy của bản tính của Thiên Chúa thảy đều ở trong Đấng ấy như có hình” (Cô-lô-se 2:9).

  • “Con Thiên Chúa” áp dụng cho thiên sứ như được dùng trong Sáng Thế Ký 6:1 và Gióp 38:7 nhấn mạnh ý nghĩa: thiên sứ được dựng nên với một thân thể thần linh như Thiên Chúa và được mặc lấy sự công bình, thánh sạch, và chân thật của Thiên Chúa, được ban cho các năng lực siêu nhiên để có thể làm ra những việc siêu nhiên như Thiên Chúa.
  • “Con Thiên Chúa” áp dụng cho loài người như được dùng trong Ma-thi-ơ 5:9: “Phước cho những kẻ làm cho người hòa thuận, vì sẽ được gọi là con Thiên Chúa!” nhấn mạnh ý nghĩa những người như vậy sẽ được “mặc lấy người mới, tức là người đã được dựng nên giống như Thiên Chúa, trong sự công bình và sự thánh sạch của lẽ thật” (Ê-phê-sô 4:24). Sự mặc lấy người mới hay là sự tái sinh, sự dựng nên mới trong Đấng Christ (II Cô-rinh-tô 5:17) chỉ xảy ra sau khi Đức Chúa Jesus phục sinh, hoàn thành công cuộc cứu chuộc nhân loại. Chúng ta cũng cần ghi nhớ là trong buổi đầu sáng thế, Thiên Chúa dựng nên loài người giống như Ngài (Sáng Thế Ký 1:27), cho nên, khi loài người chưa phạm tội thì loài người cũng là con Thiên Chúa trong cùng ý nghĩa áp dụng cho thiên sứ. Sau khi loài người phạm tội thì bị mất đi địa vị con Thiên Chúa cho đến khi Đức Chúa Jesus Christ hoàn thành sự chuộc tội cho nhân loại thì những ai tin nhận sự chuộc tội của Đấng Christ liền được phục hồi địa vị con Thiên Chúa. Danh từ “con Thiên Chúa” không phải chỉ là một danh hiệu để gọi mà còn là phẩm chất của người được gọi, nghĩa là: người được gọi là “con Thiên Chúa” có phẩm chất giống như Thiên Chúa như Thánh Kinh đã dạy rõ trong Ê-phê-sô 4:24.
  • “Con Đức Chúa Trời” áp dụng cho Đức Chúa Jesus Christ nhấn mạnh ý nghĩa: Trong Ba Ngôi Thiên Chúa, Đức Chúa Jesus Christ là Đấng cầm quyền cai trị muôn loài thọ tạo. Quyền cai trị đó đến từ Đức Chúa Cha và năng lực cai trị đến từ Đức Thánh Linh. Các câu Thánh Kinh dưới đây giúp cho chúng ta hiểu rõ nhóm chữ “Con Đức Chúa Trời” khi được dùng để gọi Đức Chúa Jesus Christ:

Đức Chúa Jesus đến gần, phán cùng môn đồ như vầy: Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho Ta” (Ma-thi-ơ 28:18).

Ngài đã bắt muôn vật phục dưới chân Đấng Christ, và ban cho Đấng Christ làm đầu Hội Thánh” (Ê-phê-sô 1:22).

Cũng vì đó nên Đức Chúa Trời đã đem Ngài lên rất cao, và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh, hầu cho nghe đến danh Đức Chúa Jesus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, thảy đều quì xuống, và mọi lưỡi thảy đều xưng Jesus Christ là Chúa, mà tôn vinh Thiên Phụ” (Phi-líp 2:9-11).

Trên áo và trên đùi Ngài có một danh được viết: 'Vua Của Các Vua và Chúa Của Các Chúa'” (Khải Huyền 19:16).

  • “Con Đức Chúa Trời” áp dụng cho loài người nhấn mạnh ý nghĩa: loài người được cùng với Đức Chúa Jesus Christ thừa hưởng cơ nghiệp của Đức Chúa Trời, được đồng cai trị với Đức Chúa Jesus Christ.

Hãy tạ ơn Đức Chúa Cha, Ngài đã khiến anh em có thể dự phần cơ nghiệp của các thánh trong sự sáng láng” (Cô-lô-se 1:12).

Vì biết rằng anh em sẽ bởi Chúa mà được cơ nghiệp làm phần thưởng. Hãy hầu việc Đấng Christ, tức là Chúa” (Cô-lô-se 3:24).

Nhơn đó, Ngài là Đấng trung bảo của giao ước mới, để khi Ngài chịu chết mà chuộc tội đã phạm dưới giao ước cũ, thì những kẻ được kêu gọi nhận lãnh cơ nghiệp đời đời đã hứa cho mình” (Hê-bơ-rơ 9:15).

Và Ngài làm cho chúng ta đồng sống lại và đồng ngồi trong các nơi trên trời trong Đấng Christ Jesus” (Ê-phê-sô 2:6).

Lại nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì sẽ cùng Ngài đồng trị; nếu chúng ta chối Ngài, thì Ngài cũng sẽ chối chúng ta” (II Ti-mô-thê 2:12).

Theo Xác Thịt:

Rô-ma 1:3 về Con Ngài; theo xác thịt là Đấng ra từ dòng dõi Đa-vít,

Từ ngữ “xác thịt” nói đến con người thuộc thể ra từ bụi đất (Sáng Thế Ký 2:7). “Theo xác thịt” là nói về phần bản thể loài người và nhân tính của Đức Chúa Jesus Christ. Ngài được sinh ra trong dòng dõi của Vua Đa-vít vì cả Giô-sép lẫn Ma-ri đều là con cháu của Vua Đa-vít. Ngài mang huyết thống của Ma-ri, nhưng Ngài không mang huyết thống của Giô-sép, vì thế, Ngài không bị nhiễm tội. Đối với Giô-sép Ngài là con nuôi nhưng con nuôi vẫn được hưởng quyền thừa kế như con ruột, cho nên, về mặt luật pháp Ngài có tư cách tiếp nối ngôi vua của Đa-vít theo dòng Giô-sép. Rô-ma 1:3 hàm ý Đức Chúa Jesus Christ là người 100% và có quyền nối ngôi vua của Đa-vít mà Đức Chúa Trời đã thiết lập cho đến đời đời:

Ta đã lập giao ước cùng kẻ được chọn của Ta, Ta đã thề cùng Đa-vít, kẻ tôi tớ Ta, mà rằng: Ta sẽ lập dòng dõi ngươi đến mãi mãi, và dựng ngôi ngươi lên cho vững bền đến đời đời” (Thi Thiên 89:3, 4).

Ta đã chỉ sự thánh Ta mà thề một lần, cũng sẽ không hề nói dối với Đa-vít: Dòng dõi người sẽ còn đến đời đời, và ngôi người sẽ còn lâu như mặt trời ở trước mặt Ta. Ngôi ấy sẽ được lập vững bền mãi mãi như mặt trăng, chứng nhân thành tín ở trên trời vậy” (Thi Thiên 89:35-37).

Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ đặt trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ lùng, là Đấng Mưu luận, là Thiên Chúa Quyền năng, là Cha Đời đời, là Chúa Bình an. Quyền cai trị và sự bình an của Ngài cứ thêm mãi không thôi, ở trên ngôi Đa-vít và trên nước Ngài, đặng làm cho nước bền vững, và lập lên trong sự chánh trực công bình, từ nay cho đến đời đời. Thật, lòng sốt sắng của Đức Giê-hô-va Vạn Quân sẽ làm nên sự ấy” (Ê-sai 9:5, 6)!

Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ Ta sẽ dấy lên cho Đa-vít một nhánh công bình. Ngài sẽ cai trị, làm vua, lấy cách khôn ngoan mà ăn ở, làm sự chánh trực công bình trong đất” (Giê-rê-mi 23:5; 33:15).

Vả, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Đa-vít sẽ chẳng thiếu một người nam để ngồi trên ngai nhà I-sơ-ra-ên” (Giê-rê-mi 33:17).

Gia phổ Đức Chúa Jesus Christ, con cháu Đa-vít và con cháu Áp-ra-ham” (Ma-thi-ơ 1:1).

Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Đấng Rất Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít là tổ phụ Ngài” (Lu-ca 1:32).

"Ta, Jesus, đã sai thiên sứ Ta để làm chứng cho các ngươi những sự này trong các Hội Thánh. Ta là chồi và hậu tự của Đa-vít, là sao mai sáng chói" (Khải Huyền 22:16).

Theo Linh của Sự Thánh Khiết và Con của Thiên Chúa Trong Năng Lực:

Rô-ma 1:4 theo Linh của sự thánh khiết là Đấng được công bố là Con của Thiên Chúa trong năng lực, bởi sự sống lại từ những kẻ chết của Jesus Christ, Chúa chúng ta;

“Linh của sự thánh khiết” tức là Linh của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Đấng Thánh, trái với “linh của sự ô uế” là linh của những kẻ chống nghịch Thiên Chúa. Linh của Thiên Chúa còn gọi là Thánh Linh, là quyền phép, năng lực, và sự sống đến từ Thiên Chúa. Theo Thánh Linh thì Đức Chúa Jesus Christ đã được tỏ ra là “Con của Thiên Chúa trong năng lực.” Rô-ma 1:4 hàm ý Đức Chúa Jesus Christ là Thiên Chúa 100% cầm quyền trên sự sống, sự chết, và muôn loài thọ tạo.

Trong Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời, hai danh từ Hán Việt dưới đây được chọn để dịch hai từ ngữ tiếng Hy-lạp dùng để chỉ về “sức mạnh và khả năng,” “thẩm quyền và khả năng:”

  • Năng lực:Sức mạnh và khả năng để làm một điều gì. Tiếng Hy-lạp: δύναμις, G1411, phiên âm Anh /dunamis/, phiên âm Việt /đu-na-mít/. Tiếng Anh: power and ability. Câu Thánh Kinh tiêu biểu:

Vì tôi không hổ thẹn về Tin Lành của Đấng Christ, là năng lực của Thiên Chúa để cứu mọi kẻ tin, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp”(Rô-ma 1:16).

  • Năng quyền: Thẩm quyền và khả năng để làm một điều gì. Tiếng Hy-lạp: ἐξουσία,G1849, phiên âm Anh /exousia/, phiên âm Việt /êt-xô-xia/. Tiếng Anh: power and authority. Câu Thánh Kinh tiêu biểu:

Nhưng hễ những ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho họ năng quyền, để trở nên con cái của Đức Chúa Trời; là ban cho những kẻ tin vào danh Ngài” (Giăng 1:12).

Nghĩa đen của từ ngữ “công bố” trong nguyên ngữ Hy-lạp là: đánh dấu giới hạn hay ranh giới của một cánh đồng hoặc một vật gì; nghĩa bóng là: sự xác định, sự chỉ định, sự công bố.

Nhóm chữ “Con của Thiên Chúa trong năng lực” có nghĩa là: Con của Thiên Chúa với trọn vẹn sức mạnh và khả năng của Thiên Chúa vì Ngài có bản thể và bản tính Thiên Chúa (Giăng 1:1; Phi-líp 2:6). Chính sự sống lại từ trong những kẻ chết của Đức Chúa Jesus Christ đã “đánh dấu,” đã “xác định,” đã “công bố” rằng, Ngài là “Con của Thiên Chúa và có trọn vẹn sức mạnh cùng khả năng của Thiên Chúa.”

Chính “Con của Thiên Chúa” đó, là Jesus Christ, là Chúa của chúng ta! Từ ngữ “Chúa” trong nguyên ngữ Hy-lạp là κύριος, G2962, phiên âm Anh /kurios/, phiên âm Việt /kiu-ri-ót/, được dùng để gọi một người hoàn toàn có thẩm quyền trên sự sống và sự chết của mình, như vì vua trong một vương quốc, như người chủ của một nô lệ. Chúa của chúng ta không phải là một bạo chúa mà Ngài là Chúa của tình yêu. Ngài yêu chúng ta và hy sinh mọi vinh quang của chính Ngài để cứu chuộc chúng ta, dùng máu của Ngài để rửa sạch mọi tội lỗi của chúng ta (Khải Huyền 1:6), nhờ đó, chúng ta được ban cho năng quyền để trở nên con cái của Đức Chúa Trời (Giăng 1:12), được trở thành anh em với Ngài (Rô-ma 8:29). Rồi trong vương quốc đời đời của Ngài chúng ta được đồng cai trị với Ngài (Ê-phê-sô 2:6; II Ti-mô-thê 2:12).

Ân Điển và Chức Sứ Đồ:

Rô-ma 1:5 nhờ Ngài mà chúng tôi đã nhận lãnh ân điển và chức sứ đồ, cho sự vâng phục của đức tin trong mọi dân tộc, vì danh Ngài;

Ơn được biệt riêng ra từ trong lòng mẹ để hầu việc Chúa qua chức vụ sứ đồ mà Phao-lô và các bạn của ông nhận được đều là nhờ Đức Chúa Jesus Christ. Nếu Đức Chúa Jesus Christ không hoàn thành công cuộc cứu chuộc nhân loại thì Phao-lô và các bạn của ông vẫn ở trong sự hư mất. Nếu Phao-lô và các bạn của ông đã tin nhận sự cứu chuộc của Đấng Christ mà Ngài không ban chức vụ sứ đồ cho họ thì họ cũng không thể dự phần trong công cuộc đem nhiều người trong mọi dân tộc đến với Tin Lành của Thiên Chúa. Chúng ta cần ghi nhớ, các chức vụ là do Đức Chúa Cha thiết lập (I Cô-rinh-tô 12:28) nhưng sự ban cho người nào chức vụ nào thì do Đức Chúa Con (Ê-phê-sô 4:11); còn thẩm quyền, khả năng, và ơn để thi hành chức vụ là do Đức Thánh Linh (I Cô-rinh-tô 12).

Sự Vâng Phục của Đức Tin Trong Mọi Dân Tộc:

Rô-ma 1:5 nhờ Ngài mà chúng tôi đã nhận lãnh ân điển và chức sứ đồ, cho sự vâng phục của đức tin trong mọi dân tộc, vì danh Ngài;

Đức tin nói đến ở đây tức là đức tin vào trong mọi lời phán truyền của Đức Chúa Jesus Christ, tức là, tin vào Tin Lành Cứu Rỗi. Tin vào Tin Lành Cứu Rỗi bao gồm: tin vào thân vị Con Thiên Chúa và Con Loài Người của Đức Chúa Jesus Christ, tin vào Đức Chúa Trời là Thiên Chúa Ngôi Cha, tin vào Đức Thánh Linh là Thần Lẽ Thật, là Đấng an ủi con dân Chúa và dẫn con dân Chúa vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa. Đức tin phải được thể hiện bằng việc làm, là sự vâng phục, tức là đồng ý và làm theo mọi lời phán truyền của Đức Chúa Jesus Christ. Trong những lời phán truyền của Đức Chúa Jesus Christ nổi bật nhất là: Hãy ăn năn, đừng phạm tội nữa, hãy làm theo ý muốn của Đức Chúa Cha, hãy trở nên trọn vẹn như Đức Chúa Cha.

Nói cách khác, đức tin vào trong Đấng Christ được thể hiện bằng hành động: làm theo mọi ý muốn của Đức Chúa Cha được thể hiện trong Thánh Kinh Cựu Ước và tóm lược trong Mười Điều Răn, được Đức Chúa Con rao giảng trong bốn sách Tin Lành và sách Khải Huyền, được Đức Thánh Linh dạy dỗ trong sách Công Vụ Các Sứ Đồ và các thư tín Tân Ước. Ai nói mình có đức tin nơi Đấng Christ mà không vâng giữ điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời như Đấng Christ đã vâng giữ thì người ấy là kẻ nói dối:

Nầy tại sao chúng ta biết mình đã biết Ngài, ấy là tại chúng ta giữ các điều răn của Ngài. Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ các điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người. Nhưng ai giữ lời phán Ngài, thì lòng yêu Đức Chúa Trời thật là trọn vẹn trong người ấy. Bởi đó, chúng ta biết mình ở trong Ngài. Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm” (I Giăng 2:3-6)

Mọi dân tộc vì cớ không vâng phục ý muốn của Đức Chúa Cha được thể hiện trong các điều răn và luật pháp của Ngài, cho nên, mọi dân tộc phạm tội và làm ô uế đất:

Đất bị dân cư làm ô uế, vì họ đã phạm luật pháp, trái điều răn, dứt giao ước đời đời” (Ê-sai 24:5).

Tin Lành Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời ban cho nhân loại trong Đức Chúa Jesus Christ khiến cho mọi dân tộc, nếu tin nhận Tin Lành Cứu Rỗi, có thể vâng phục ý muốn của Đức Chúa Cha, tức là vâng giữ các điều răn và luật pháp của Ngài. Bởi vì, danh “Jesus” có nghĩa là: “Thiên Chúa Hằng Sống là Sự Cứu Rỗi” và Tin Lành Cứu Rỗi của Đấng Christ có năng lực để cứu mọi kẻ tin, thuộc bất cứ dân tộc nào, ra khỏi quyền lực và hậu quả của tội lỗi (1:16) để chiếu sáng ý nghĩa của danh “Jesus.” Đó là ý nghĩa của nhóm chữ: “sự vâng phục của đức tin trong mọi dân tộc, vì danh Ngài.”

Những Người Được Gọi của Đức Chúa Jesus Christ:

Rô-ma 1:6 trong những dân ấy có các anh chị em và các anh chị em là những người được gọi của Đức Chúa Jesus Christ; –

“Những người được gọi của Đức Chúa Jesus Christ” là: những người được Đức Chúa Cha dùng Tin Lành để gọi họ đến với Đức Chúa Jesus Christ, đến với vương quốc, đến với sự vinh quang của Ngài:

Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài đã gọi anh em được thông công với Con Ngài là Đức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta” (I Cô-rinh-tô 1:9).

Anh em cũng biết rằng chúng tôi đối đãi với mỗi người trong anh em, như cha đối với con, khuyên lơn, an ủi, và nài xin anh em ăn ở một cách xứng đáng với Đức Chúa Trời, là Đấng gọi anh em đến vương quốc Ngài và sự vinh quang Ngài” (I Tê-sa-lô-ni-ca 2:11, 12).

Hỡi anh em yêu dấu của Chúa, còn như chúng tôi, phải vì anh em tạ ơn Đức Chúa Trời không thôi, vì vừa lúc ban đầu, Ngài đã chọn anh em trong sự thánh hóa của thần quyền và niềm tin của lẽ thật, đặng ban sự cứu rỗi cho anh em. Ấy cũng là vì đó mà Ngài đã dùng Tin Lành chúng tôi gọi anh em, đặng anh em hưởng được sự vinh quang của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta” (II Tê-sa-lô-ni-ca 2:13, 14).

Ấy chính Chúa đã cứu chúng ta, đã gọi chúng ta bởi sự kêu gọi thánh, chẳng phải theo việc làm chúng ta, bèn theo ý riêng và ân điển của Ngài đã ban cho chúng ta trong Đấng Christ Jesus từ trước khi thế gian bắt đầu” (II Ti-mô-thê 1:9).

Kết Luận:

Từ trước vô cùng Thiên Chúa đã sắm sẵn chương trình cứu chuộc nhân loại ra khỏi tội lỗi và phục hồi địa vị làm con Thiên Chúa cho những ai tin nhận sự cứu rỗi của Ngài. Chương trình ấy được gọi là Tin Lành của Thiên Chúa với sự đồng công của Ba Ngôi Thiên Chúa. Đức Chúa Cha ban sự cứu rỗi bởi sự hy sinh Con Một của Ngài làm sinh tế chuộc tội. Đức Chúa Con thi hành sự cứu rỗi bằng cách nhận thay án phạt và chết thay cho toàn thể nhân loại. Đức Thánh Linh áp dụng giá trị và năng lực của sự cứu rỗi cho những người tin nhận Đức Chúa Jesus Christ để tái sinh họ, thánh hóa họ, và ban các ân tứ cho họ, khiến cho họ được trở nên giống như Thiên Chúa trong sự công bình và thánh sạch của lẽ thật (Ê-phê-sô 4:24).

Tin Lành ấy được Thiên Chúa dùng các tiên tri của Ngài để hứa trước và ghi lại trong Thánh Kinh rằng, Con của Thiên Chúa phải nhập thế làm người, mang lấy trọn vẹn bản thể loài người để có thể gánh thay hình phạt của tội lỗi cho loài người nhưng vẫn đầy trọn bản thể của Thiên Chúa với sự trọn lành và vô hạn để có thể cứu chuộc tất cả nhân loại. Tin Lành ấy được ban cho mọi dân tộc và được rao giảng cho muôn dân bởi những người được chọn làm sứ đồ của Đấng Christ. Tất cả những ai tin nhận Tin Lành ấy được trở thành những người được gọi của Đức Chúa Jesus Christ, tức là những người được Đức Chúa Cha dùng Tin Lành để gọi họ đến với Đức Chúa Jesus Christ, đến với vương quốc, đến với sự vinh quang của Thiên Chúa.

Cảm tạ Ba Ngôi Thiên Chúa vì chúng ta được dự phần trong số những người được gọi của Đức Chúa Jesus Christ. A-men!

 

Ghi Chú: Bấm vào các từ ngữ Hy-lạp để nghe phát âm. Bấm vào các mã số Strong (bắt đầu bằng H) để xem định nghĩa trong tiếng Anh. Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.net www.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

 


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Đọc Tiếp →
2,377 views

Rô-ma_002 Tôi Tớ của Đấng Christ

Roma_002 Tôi Tớ của Đấng Christ

Huỳnh Christian Timothy
23.06.2012

Bấm vào đây để download bài viết này

Bấm vào đây để nghe và download MP3 audio bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/976

Dẫn Nhập:

Thư Rô-ma cũng như các thư tín khác trong Thánh Kinh dùng chung một hình thức trình bày rất phổ biến của nền văn hóa Hy-lạp cổ điển. Theo đó, thông thường trong một lá thư, trước hết người viết tự giới thiệu về mình, liền theo đó là tên của người nhận, rồi đến những lời chào thăm hoặc một câu cầu nguyện chúc phước ngắn gọn; kế đến là nội dung của lá thư; và cuối cùng là lời chào thăm hoặc chúc phước để kết thúc. Đối với những thư tín có tính cách công văn hoặc thương mãi thì chức vụ của người viết và người nhận được ghi kèm theo tên.

Riêng Sứ Đồ Phao-lô, trong phần mở đầu các thư tín của ông, ông thường nêu lên những ý tưởng thần học mà nổi bật nhất là phần mở đầu của thư Rô-ma. Thư Rô-ma được mở đầu với 15 câu, trong đó, ngoài hai câu 1:1 và 1:7 giới thiệu người viết thư cùng người nhận thư, thì từ câu 1:2 đến câu 1:6 nói đến các đặc tính của Tin Lành, còn từ 1:8 đến 1:15 là những lời hỏi thăm và cầu nguyện. Trong bài này chúng ta sẽ cùng nhau phân tích hai câu 1:1 và 1:7.

Tôi Tớ của Đấng Christ:

Rô-ma 1:1 Phao-lô, tôi tớ của Đức Chúa Jesus Christ, được gọi làm sứ đồ, biệt riêng cho Tin Lành của Thiên Chúa –

Từ ngữ “tôi tớ” được Phao-lô và các sứ đồ khác tự xưng trong nguyên ngữ Hy-lạp là “doulos,” G1401, có nghĩa đen là “nô-lệ” và có thể dịch là “tôi tớ” để chỉ những người dù không phải là nô lệ nhưng hết lòng phục vụ chủ như một nô lệ.

Ngày xưa, một người chỉ cần bỏ ra 30 siếc-lơ bạc, một số tiền tương đương với tiền lương công nhật sáu tháng của một người lao động, là có thể mua được một nô lệ về phục vụ mình suốt đời mà không cần phải trả công (Xuất Ê-díp-tô Ký 21:32). Mỗi một con dân Chúa được Ngài dùng chính máu thánh của Ngài mua về “Vì biết rằng chẳng phải bởi vật hay hư nát như bạc hoặc vàng mà anh em đã được chuộc khỏi sự ăn ở không ra chi của tổ tiên truyền lại cho mình, bèn là bởi huyết báu Đấng Christ, dường như huyết của chiên con không lỗi không vít” (I Phi-e-rơ 1:18, 19) để ban cho địa vị làm con và ban cho cơ nghiệp đời đời của Đức Chúa Trời; vì thế, không có gì lạ khi những người thật lòng yêu kính và biết ơn Chúa đều tình nguyện hết lòng phục vụ Ngài như những nô lệ. Con dân chân thật của Chúa cần phải hết lòng kính yêu Chúa và phục vụ Ngài hơn tất cả những nô lệ trong thế gian.

Làm tôi tớ hay là nô lệ của Đấng Christ, tức là chúng ta “sống là sống cho Chúa và nếu chúng ta chết là chết cho Chúa” (14:8). Sống cho Chúa và chết cho Chúa tức là sự sống và sự chết của chúng ta hoàn toàn không vi phạm các điều răn của Chúa. Không ai sống cho mình hoặc chết cho mình, tức là sống hoặc chết trái nghịch với Lời Chúa, mà có thể trở thành một tôi tớ của Chúa. Những người sống nghịch lại Lời Chúa và sẽ chết trong tội lỗi mà tự xưng là “tôi tớ Chúa” chỉ là những kẻ giả hình.

Ngày nay, trong các giáo hội mang danh Chúa, chúng ta nhìn thấy có biết bao nhiêu người tự xưng là “tôi tớ Chúa” nhưng trong thực tế, họ là những người chỉ biết sống cho chính mình. Họ đầy những bông trái của tham lam, kiêu ngạo, khoe khoang, xấc xược, dối trá, tà dâm, thờ thần tượng, nuông chìu những ham muốn xấu xa của xác thịt. Hãy nhìn vào những danh xưng, những tước hiệu họ tự xưng và tự phong lẫn nhau; hãy nhìn vào những tài sản, cơ ngơi vật chất của họ; và hãy nghe những bài giảng, đọc những bài viết bẻ cong Lời Chúa, xuyên tạc Thánh Kinh của họ nhằm phục vụ và bảo vệ cho nếp sống chống nghịch Chúa của họ, thì chúng ta sẽ thấy rõ bản chất thật của họ..

Tôi tớ chân thật của Chúa phải đồng cam cộng khổ với Chúa và với những con dân chân thật của Ngài, bởi vì: “anh em đã được kêu gọi đến sự đó, vì Đấng Christ cũng đã chịu khổ cho anh em, để lại cho anh em một gương, hầu cho anh em noi dấu chân Ngài” (I Phi-e-rơ 2:21). Tôi tớ chân thật của Chúa “chuyên tâm cho được đẹp lòng Đức Chúa Trời như người làm công không chỗ trách được, lấy lòng ngay thẳng giảng dạy lời của lẽ thật” (II Ti-mô-thê 2:15). Tôi tớ chân thật của Chúa “lấy ơn mình đã được mà giúp lẫn nhau, khác nào người quản lý trung tín giữ các thứ ơn của Thiên Chúa” (I Phi-e-rơ 4:10). Tôi tớ chân thật của Chúa “khiêm nhường đến điều, mềm mại đến điều,” “nhịn nhục, lấy lòng thương yêu mà chìu nhau” (Ê-phê-sô 4:12); và trong mọi nơi, mọi lúc “coi người khác như tôn trọng hơn mình” (Phi-líp 2:3).

Chức Vụ Sứ Đồ:

Rô-ma 1:1 Phao-lô, tôi tớ của Đức Chúa Jesus Christ, được gọi làm sứ đồ, biệt riêng cho Tin Lành của Thiên Chúa –

Trong nguyên ngữ Hy-lạp, danh từ “sứ đồ” là “apostolos,” G652, có nghĩa là “người đại diện,” “người được sai đi để truyền tin hoặc truyền lệnh.” Chức vụ sứ đồ là một chức vụ do chính Đức Chúa Trời lập ra trong Hội Thánh: “Đức Chúa Trời đã lập trong Hội Thánh, thứ nhứt là sứ đồ, thứ nhì là tiên tri, thứ ba là người giảng dạy, kế đến người làm phép lạ, rồi người được ơn chữa bịnh, cứu giúp, cai quản, nói các thứ tiếng” (I Cô-rinh-tô 12:28). Nhưng để được nhận lãnh bất cứ chức vụ nào trong Hội Thánh thì một người phải được sự ban cho của Đức Chúa Jesus Christ: “Ấy chính Ngài đã cho một số người làm sứ đồ, một số làm tiên tri, một số làm người giảng Tin Lành, một số làm người chăn và người dạy” (Ê-phê-sô 4:11).

Phao-lô cho biết ông được gọi làm sứ đồ có nghĩa là ông được chính Đức Chúa Jesus Christ ban cho ông chức vụ sứ đồ như ông xác nhận trong câu 1:5 “nhờ Ngài mà chúng tôi đã nhận lãnh ân điển và chức sứ đồ, cho sự vâng phục của đức tin trong mọi dân tộc, vì danh Ngài.” Trong Công Vụ Các Sứ Đồ 9:15, 16 chính Chúa phán với một môn đồ tên là A-na-nia về việc Ngài chọn Phao-lô làm sứ đồ: “…Hãy đi, vì Ta đã chọn người nầy làm một đồ dùng Ta, để đem danh Ta rao truyền trước mặt các dân ngoại, các vua, và con cái I-sơ-ra-ên; Ta lại sẽ tỏ ra cho người biết phải chịu biết bao là đau đớn vì danh Ta.” Làm sứ đồ của Chúa tức là làm người rao giảng danh Chúa cho muôn dân, khiến cho muôn dân trở nên những môn đồ của Chúa (Ma-thi-ơ 28:18-20). Rao giảng danh Chúa tức là rao giảng cho người ta biết Chúa là ai, Ngài muốn gì nơi loài người, Ngài đã, đang và sẽ làm ra những gì cho nhân loại; tức là rao giảng mọi lẽ thật của Lời Chúa được ghi chép trong Thánh Kinh. Nói cách khác, là rao giảng Tin Lành.

Công việc nói về Chúa cho thế gian là bổn phận của mỗi con dân Chúa nhưng những người được Chúa kêu gọi làm sứ đồ là những người mà trọn đời sống của họ, từ khi đáp lại tiếng gọi của Chúa, chỉ chuyên tâm rao giảng Tin Lành cho người chưa biết Chúa. Chức vụ sứ đồ cũng như các chức vụ khác Đức Chúa Trời lập ra trong Hội Thánh vẫn còn trong Hội Thánh cho đến ngày Hội Thánh được Chúa cất ra khỏi thế gian.

Biệt Riêng cho Tin Lành của Thiên Chúa:

Rô-ma 1:1 Phao-lô, tôi tớ của Đức Chúa Jesus Christ, được gọi làm sứ đồ, biệt riêng cho Tin Lành của Thiên Chúa

Trong Bản Dịch Truyền Thống của tiếng Việt, Rô-ma 1:1 đã được dịch như sau: “Phao-lô, tôi tớ Đức Chúa Jesus Christ, được gọi làm sứ đồ, để riêng ra đặng giảng Tin Lành Đức Chúa Trời;” trong khi nguyên ngữ Hy-lạp chép là: “…biệt riêng cho Tin Lành của Thiên Chúa.Có sự khác biệt lớn giữa sự “để riêng ra đặng giảng Tin Lành Đức Chúa Trời” và sự “biệt riêng cho Tin Lành của Thiên Chúa.

  • để riêng ra đặng giảng Tin Lành Đức Chúa Trời” có nghĩa là được dùng cách chuyên biệt cho công việc rao giảng Tin Lành của Đức Chúa Trời; trong khi đó:
  • biệt riêng cho Tin Lành của Thiên Chúa” có nghĩa là được dành riêng cho Tin Lành của Ba Ngôi Thiên Chúa, tức là dành riêng cho sự nhận lãnh, sự hiểu biết, sự thực dụng, sự rao truyền, sự kết quả về tất cả những tin tốt lành đến từ Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh. Tin lành của Đức Chúa Trời: Ngài ban cho thế gian Con Một của Ngài để làm sinh tế chuộc tội cho nhân loại, hầu cho hễ ai tin nơi Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời (Giăng 3:16). Tin Lành của Đấng Christ: Ngài là sự sống và sự sống lại, ai tin Ngài thì sẽ sống dù đã chết rồi, còn ai sống mà tin Ngài thì không hề chết (Giăng 11:25-26). Tin Lành của Đức Thánh Linh: Ngài là Thần Lẽ Thật, dẫn con dân Chúa vào mọi lẽ thật, khiến cho con dân Chúa có sự hiểu biết đầy trọn về Thiên Chúa và có năng lực của Thiên Chúa để sống giống như Thiên Chúa (Giăng 16:18).

Những Người Yêu Dấu của Thiên Chúa:

Rô-ma 1:7 gửi cho hết thảy những người yêu dấu của Thiên Chúa, được gọi làm những thánh đồ ở tại thành Rô-ma. Nguyện các anh chị em được ân điển và bình an từ Thiên Phụ chúng ta, và từ Đức Chúa Jesus Christ!

Những người yêu dấu của Thiên Chúa là những người được cả Ba Ngôi Thiên Chúa yêu thương. Toàn thế gian đều được Đức Chúa Trời yêu thương trong khi tất cả mọi người đều là tội nhân nhưng Đức Chúa Jesus thì chỉ yêu những kẻ thuộc về Ngài trong thế gian: “Ngài đã yêu những kẻ thuộc về mình trong thế gian, thì cứ yêu cho đến cuối cùng” (Giăng 13:1); và Ngài chỉ cầu thay cho họ chứ Ngài không cầu thay cho thế gian: “Con vì họ mà cầu xin. Con chẳng vì thế gian mà cầu xin, nhưng vì những kẻ mà Ngài đã ban cho con, vì họ thuộc về Ngài” (Giăng 17:9). Đức Thánh Linh cũng chỉ yêu những kẻ được Ngài ngự trong lòng, tức là những kẻ đã được cứu chuộc: “Hay là anh em tưởng Thánh Kinh nói vô ích sao? Đức Linh ở trong lòng chúng ta, ham mến chúng ta đến nỗi ghen tương” (Gia-cơ 4:5). Vì thế, được Đức Chúa Trời, tức Đức Chúa Cha, yêu thương chưa đủ, mà cần phải được cả Ba Ngôi Thiên Chúa yêu thương. Chỉ có những ai ở trong Hội Thánh của Chúa mới là những người yêu dấu của Thiên Chúa.

Được Gọi Làm Thánh Đồ:

Rô-ma 1:7 gửi cho hết thảy những người yêu dấu của Thiên Chúa, được gọi làm những thánh đồ ở tại thành Rô-ma. Nguyện các anh chị em được ân điển và bình an từ Thiên Phụ chúng ta, và từ Đức Chúa Jesus Christ!

Từ ngữ “thánh” trong nguyên ngữ Hy-lạp là “hagios,” G40, áp dụng cho loài người có nghĩa là “được phân cách với tội lỗi và hiến dâng lên Đức Chúa Trời.” Thánh đồ hoặc người thánh là người đã bởi đức tin được Đức Chúa Jesus Christ rửa sạch tội và dâng lên Đức Chúa Trời để Đức Chúa Trời sai dùng: “Đấng yêu thương chúng ta: đã rửa sạch tội lỗi chúng ta trong máu Ngài, đã lập chúng ta làm những vua và những thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời Ngài và Cha Ngài – Nguyện sự vinh quang và quyền thế thuộc về Ngài cho đến đời đời. A-men” (Khải Huyền 1:6)! Sứ Đồ Phi-e-rơ cũng xác nhận như sau: “Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh là dân thuộc về Ngài, hầu cho anh em rao giảng nhơn đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài; anh em ngày trước không phải là một dân, mà bây giờ là dân Thiên Chúa, trước không được thương xót, mà bây giờ được thương xót” (I Phi-e-rơ 2:9, 10).

Trước khi được gọi làm thánh đồ thì một người phải đáp lại tiếng gọi ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi trong Đức Chúa Jesus Christ, trở thành môn đồ của Ngài. Khi đã trở thành môn đồ của Đấng Christ, tức là người học theo Đấng Christ, thì Đức Thánh Linh sẽ ngự trong thân thể người, dẫn người vào trong sự hiểu biết Lời Chúa và ban cho người Thánh Linh để người có năng lực sống theo Lời Chúa, nhờ đó Lời Chúa tiếp tục sự thánh hóa người mỗi ngày. Nếu người trung tín trong sự từ bỏ tội và sống theo Lời Chúa thì người trở thành thánh đồ của ThiênChúa.

Ngụ ngôn gieo giống dạy cho chúng ta biết có nhiều người tin Chúa, trở thành môn đồ của Chúa nhưng không trở thành thánh đồ của Chúa vì họ sợ khổ khi đi theo Chúa hoặc họ ham mến tiền bạc, hoặc họ lo lắng về đời này. Đức tin trong họ sẽ chết theo thời gian!

Ân Điển và Bình An:

Rô-ma 1:7 gửi cho hết thảy những người yêu dấu của Thiên Chúa, được gọi làm những thánh đồ ở tại thành Rô-ma. Nguyện các anh chị em được ân điển và bình an từ Thiên Phụ chúng ta, và từ Đức Chúa Jesus Christ!

Ân điển là ơn thương xót ban ra cách rời rộng cho kẻ không xứng đáng để nhận lãnh ơn ấy. Bình an là trạng thái không lo lắng, đau buồn, sợ hãi của một người chẳng thiếu thốn gì.

Tất cả những yếu tố và điều kiện thuận tiện để bảo tồn sự sống trong thế gian như nước và không khí, nắng và mưa cũng chính là những ân điển đến từ Thiên Chúa. Dù thế gian tội lỗi và gian ác nhưng Thiên Chúa vẫn ban đủ mọi ơn cho thế gian, trong đó có ân điển cứu rỗi. Thiên Chúa ban ân điển cho toàn thế gian nhưng sự bình an từ Thiên Chúa chỉ được ban cho con dân của Ngài. Ân điển và bình an đến từ Thiên Chúa, dành cho con dân của Thiên Chúa là vô giới hạn. Chúng ta không thể nào kể hết sự giàu có vô lượng, vô biên của ân điển Thiên Chúa. Dưới đây là điển hình một vài ân điển chính.

Ân Điển và Bình An từ Thiên Phụ và từ Đức Chúa Jesus Christ:

Rô-ma 1:7 gửi cho hết thảy những người yêu dấu của Thiên Chúa, được gọi làm những thánh đồ ở tại thành Rô-ma. Nguyện các anh chị em được ân điển và bình an từ Thiên Phụ chúng ta, và từ Đức Chúa Jesus Christ!

Thiên Phụ tức là Cha ở trên trời của chúng ta, là Đức Chúa Trời, Thiên Chúa Ngôi Cha. Ân điển và bình an trước hết đến từ Thiên Phụ.

Ân điển thứ nhất đến từ Thiên Phụ là ân điển về sự cứu rỗi, kèm theo sự bình an của người được tha tội vì người ấy không còn chịu trách nhiệm về tội lỗi của mình. Kế tiếp, là ân điển được làm con nuôi của Thiên Phụ, kèm theo sự bình an của người có quyền đồng với Đấng Christ thừa kế cơ nghiệp của Đức Chúa Trời. Ngoài ra, chúng ta còn được Thiên Phụ ở cùng chúng ta trong khi chúng ta còn ở trong thân thể xác thịt giữa cuộc đời này: “Đức Chúa Jesus đáp lời, phán với người: Nếu ai yêu Ta, thì giữ gìn lời Ta; Cha Ta sẽ yêu người, chúng ta sẽ đến với người và ở cùng người” (Giăng 14:23); và trong cõi trời mới, đất mới Thiên Phụ sẽ ở với chúng ta: “Tôi nghe một tiếng lớn từ trời phán rằng: "Này, lều của Đức Chúa Trời ở với loài người và Ngài sẽ ở với họ. Họ sẽ làm dân của Ngài và chính mình Đức Chúa Trời sẽ ở với họ, làm Đức Chúa Trời của họ. Đức Chúa Trời sẽ lau hết mọi nước mắt khỏi mắt họ. Sẽ không còn sự chết, không còn buồn khổ, không còn khóc lóc, cũng không còn đau đớn nữa vì những sự cũ đã qua rồi. Đấng ngự trên ngai phán rằng: "Này, Ta làm mới mọi sự!" Ngài lại phán với tôi: "Hãy chép, vì những lời này là chân thật và thành tín."” (Khải Huyền 21:3-5). Sự bình an của người có Đức Chúa Trời ở cùng thật là tuyệt vời, ai hay sự gì có thể thắng được người (Rô-ma 8:31)?

Ân điển đến từ Đức Chúa Jesus Christ là ân điển về sự chúng ta được xưng công nghĩa, tức là được xưng là vô tội, bởi việc làm công bình của Ngài, tức là Ngài chết để gánh thay án phạt tội lỗi của chúng ta, khiến cho sự đòi hỏi công chính của luật pháp Đức Chúa Trời được đáp ứng trọn vẹn. Nhờ đó, chúng ta không còn mặc cảm phạm tội, không còn bị lương tâm cắn rứt, chúng ta được bình an. Kế tiếp, là ân điển ban cho chúng ta được trở nên thân thể của Đức Chúa Jesus Christ và một ngày kia chúng ta sẽ được kết hợp làm một với chính mình Ngài trong Vương Quốc Trời (Khải Huyền 19:7-9). Chúng ta còn được Đấng Christ ở cùng chúng ta trong xác thịt này (Ma-thi-ơ 28:20; Giăng 14:23) và Ngài đã ban cho chúng ta chính sự bình an của Ngài: sự bình an của Thiên Chúa Ngôi Hai, sự bình an từ đời đời cho đến đời đời: “Ta để sự bình an lại cho các ngươi. Ta ban sự bình an của Ta cho các ngươi. Ta ban cho các ngươi chẳng phải như thế gian ban cho. Lòng các ngươi chớ bối rối, cũng đừng sợ hãi” (Giăng 14:27).

Kết Luận:

Có thể nhiều người trong chúng ta không được Chúa giao cho các chức vụ trong Hội Thánh, như: sứ đồ, người chăn, người giảng Tin Lành, người dạy Đạo, vv… nhưng hễ là con dân Chúa thì mỗi một chúng ta đều làm: tiên tri, vua, thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời Chí Cao; và vì thế, mỗi chúng ta đều là tôi tớ hầu việc Chúa.

Chúng ta hầu việc Chúa qua chính nếp sống của mình mỗi ngày. Chúng ta nói cho thế gian biết án phạt về tội lỗi của thế gian và nói cho mọi người biết về ơn cứu rỗi Đức Chúa Trời đã ban cho nhân loại trong Đức Chúa Jesus Christ, là chúng ta hầu việc Chúa và thế nhân qua chức vụ tiên tri. Chúng ta nghiêm khắc với thân thể xác thịt của mình, buộc nó phải tuân theo các điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời, trở thành công cụ để làm những việc lành Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho chúng ta, là chúng ta hầu việc Chúa qua chức vụ vua. Chúng ta mỗi ngày dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh lên Chúa (Rô-ma 12:1), dâng những lời tôn vinh lên Đức Chúa Trời, xưng danh Ngài ra, dâng lên Ngài các việc lành, tức là những việc làm theo Lời Chúa, và lòng bố thí, tức là sự ban cho trong danh Chúa, (Hê-bơ-rơ 13:15, 16), và khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người (I Ti-mô-thê 2:1), là chúng ta hầu việc Chúa qua chức vụ thầy tế lễ.

Là tôi tớ hầu việc Chúa đương nhiên chúng ta là những người yêu dấu của Thiên Chúa, là những thánh đồ của Ngài. Ân điển và bình an từ Thiên Phụ và từ Đấng Christ sẽ mãi mãi tuôn tràn trên mỗi một chúng ta. A-men!

 

Ghi Chú: Bấm vào các từ ngữ Hy-lạp để nghe phát âm. Bấm vào các mã số Strong (bắt đầu bằng H) để xem định nghĩa trong tiếng Anh. Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.net www.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

 


 

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

 

 

Đọc Tiếp →
4,807 views

Rô-ma_001 Giới Thiệu Thư Rô-ma

Roma_001 Giới Thiệu Thư Rô-ma

Huỳnh Christian Timothy
16.06.2012

 

Bấm vào đây để download bài viết này

Bấm vào đây để nghe và download MP3 audio bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/975

Người Viết:

Danh từ "Rô-ma" còn được phiên âm là "La-mã," là tên gọi thủ đô của nước La-mã từ năm 753 trước Công Nguyên (TCN). Ngày nay, Rô-ma là thủ đô của nước Ý-đại-lợi. Thư Rô-ma trong Thánh Kinh là một lá thư do Sứ Đồ Phao-lô gửi cho con dân Chúa tại thành Rô-ma. Ngay trong câu đầu tiên (1:1), Sứ Đồ Phao-lô đã xác nhận: "Phao-lô, tôi tớ của Đức Chúa Jesus Christ, được gọi làm sứ đồ, biệt riêng cho Tin Lành của Thiên Chúa." Dầu vậy, người cầm bút ghi chép lại các lời của Phao-lô cho thư Rô-ma là Tẹt-tiu (16:22).

Là một sứ đồ nhưng Phao-lô không thuộc về 12 sứ đồ đi theo Đức Chúa Jesus Christ trong thời gian Chúa rao giảng Tin Lành; trái lại, trong thời kỳ Hội Thánh mới được thành lập, ông là người tích cực bắt bớ Đạo Chúa. Ông là người I-sơ-ra-ên, thuộc dòng dõi Bên-gia-min, theo phái Pha-ri-si, được sinh ra tại thành Tạt-sơ (ngày nay thuộc vùng trung nam nước Thổ-nhĩ-kỳ) vào khoảng năm thứ 2 TCN và tử đạo tại Giê-ru-sa-lem vào khoảng năm 68. Tên trong tiếng Hê-bơ-rơ của ông là Sau-lơ. Tuy được sinh ra ở nước ngoài nhưng ông được nuôi dưỡng và lớn lên tại Giê-ru-sa-lem, học về kinh luật, tức Thánh Kinh Cựu Ước, với một trong những giáo sư nổi tiếng thời bấy giờ là Ga-ma-li-ên (Công Vụ Các Sứ Đồ 22:3). Thánh Kinh không ghi lại việc Phao-lô có kết hôn hay không. Tuy nhiên, theo phong tục thời bấy giờ, một người Pha-ri-si và thành viên của Tòa Công Luận phải là một người đã lập gia đình, vì thế, rất có thể Phao-lô đã lập gia đình nhưng vợ của ông đã qua đời trước khi ông tin nhận Chúa. Trong thư I Cô-rinh-tô 9:5, Phao-lô có đặt ra câu hỏi là: chẳng phải ông và các đồng sự của ông cũng có quyền dắt vợ đi khắp các nơi như các sứ đồ khác, các anh em của Chúa, và Phi-e-rơ hay sao, hàm ý rằng: Phao-lô và các cộng sự của ông, như Ba-na-ba, Si-la, Ti-mô-thê, Tít đều sống độc thân.

Tên Phao-lô lần đầu tiên được nói đến trong Công Vụ Các Sứ Đồ 13:9, và kể từ đó, Thánh Kinh dùng tên Phao-lô để gọi ông. Ông cũng tự xưng là Phao-lô trong các thư tín do ông viết. Tên Sau-lơ là một phân từ trong tiếng Hê-bơ-rơ và có nghĩa là "cầu xin" hoặc "nài nỉ." Tên Phao-lô là tên trong tiếng La-mã và có nghĩa là "nhỏ" hoặc "ít." Những người Do-thái sống tha hương thời bấy giờ có thói quen đặt cho con một tên theo tiếng Hê-bơ-rơ và một tên theo tiếng ngoại quốc. Rất có thể cha mẹ của Phao-lô đã theo thói quen ấy mà đặt tên cho ông, nhất là khi gia đình của Phao-lô giàu có, sống trong một thành phố danh tiếng và có quốc tịch La-mã (Công Vụ Các Sứ Đồ 21:39; 22:25). Về ý nghĩa của tên thì có lẽ cha mẹ Phao-lô hiếm muộn, phải cầu xin Đức Chúa Trời ban cho một con trai để nối dõi, nên khi ông được sinh ra thì họ đặt tên tiếng Hê-bơ-rơ cho ông là "Sau-lơ." Vì gia đình Phao-lô có quốc tịch La-mã nên cha mẹ ông cũng chọn đặt một tên La-mã cho ông và họ đã chọn tên "Phao-lô," có lẽ, vì ông được sinh ra với một vóc dáng nhỏ bé. Trước Công Vụ các Sứ Đồ 13:9 Thánh Kinh dùng tên Sau-lơ để nói đến ông, có lẽ, vì mọi việc liên quan đến ông là ở giữa cộng đồng Do-thái. Sau đó, Thánh Kinh dùng tên Phao-lô để nói đến ông và chính ông trong các thư tín cũng xưng mình là Phao-lô, có lẽ, vì từ đó trở đi, mọi việc liên quan đến Phao-lô là ở giữa dân ngoại.

Sứ Đồ Phao-lô công bố rằng ông nhận lãnh Tin Lành trực tiếp từ Đức Chúa Jesus Christ (Ga-la-ti 1:12) và từ buổi ban đầu Đức Chúa Trời đã biệt riêng ông ra để ông rao giảng Tin lành cho dân ngoại (Công Vụ Các Sứ Đồ 15:7). Trong các thư tín của ông và trong suốt các hành trình truyền giáo, Phao-lô đã rao giảng một Tin Lành đến từ Đức Chúa Trời của dân I-sơ-ra-ên, khiến cho vô số người dân ngoại tin nhận và được cứu rỗi. Phao-lô đã rao giảng cho cộng đồng của những người dân ngoại tin nhận Chúa về sự vâng giữ mọi điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời được ghi chép trong Thánh Kinh, ngoại trừ những luật liên quan đến các nghi thức tế lễ và luật kiêng cữ các thức ăn không tinh sạch, là những luật hình bóng về sự chuộc tội và thánh hóa mà Đức Chúa Jesus Christ đã hoàn thành cho nhân loại. Nổi bật nhất trong các thư tín của Phao-lô là thư gửi cho con dân Chúa tại Rô-ma. Đức Thánh Linh đã thần cảm Phao-lô hệ thống và trình bày thần học qua thư Rô-ma về ba phương diện chính của sự cứu rỗi Đức Chúa Trời ban cho nhân loại, tức là Tin Lành: Phương diện được xưng nghĩa, phương diện được tái sinh, và phương diện được thánh hóa.

Trong Ga-la-ti 1:17, 18, Phao-lô nói đến việc sau khi tin nhận Đức Chúa Jesus Christ ông đã đi qua xứ A-ra-bi rồi trở về thành Đa-mách thay vì đến thành Giê-ru-sa-lem. Sau đó ba năm ông mới đến Giê-ru-sa-lem, ở với Sứ Đồ Phi-e-rơ 15 ngày và gặp Gia-cơ, em của Chúa. Thánh Kinh không ghi lại chi tiết về chuyến đi A-ra-bi của Phao-lô nhưng một số nhà giải kinh cho rằng Phao-lô đã đến núi Si-na-i, giữa đồng vắng Si-na-i, để cầu nguyện và suy nghiệm Thánh Kinh. Có lẽ, chính trong khoảng thời gian ba năm đó, Phao-lô đã được Đức Chúa Jesus Christ mạc khải về Tin Lành cho ông (Ga-la-ti 1:12).

Trong II Cô-rinh-tô 12:1-4 Phao-lô ghi lại việc ông được lên đến tầng trời thứ ba, tức thiên đàng, nghe những lời không thể nói mà cũng không được phép thuật lại. Vì sách II Cô-rinh-tô được viết vào năm 57 mà Phao-lô kể rằng sự hiện thấy của ông xảy ra 14 năm trước đó, cho nên, rất có thể sự hiện thấy của Phao-lô xảy ra vào năm 43, lúc ông cùng Ba-na-ba đem tiền cứu đói về Giê-ru-sa-lem, trong một lần ông cầu nguyện trong đền thờ và bị ngất trí (Công Vụ Các Sứ Đồ 22:17-21).

Dưới đây là biên niên về cuộc đời của Phao-lô:

·         Năm 2 TCN: được sinh ra tại thành Tạt-sơ, tỉnh Si-li-si, thuộc Đế Quốc la-mã.

·         Năm 15: lúc 16 tuổi được cha mẹ đưa về Giê-ru-sa-lem, học với Giáo Sư Ga-ma-li-ên.

·         Năm 30: sau khi Chúa thăng thiên, thì Sau-lơ là một trong những người Pha-ri-si đứng đầu việc bách hại những tín đồ của Chúa.

·         Năm 32: dự phần trong việc giết chết Ê-tiên, thánh đồ tử đạo đầu tiên trong Hội Thánh.

·         Năm 33: khi Sau-lơ đang trên đường từ Giê-ru-sa-lem đến Đa-mách để bách hại Hội Thánh của Chúa, Ngài đã từ trời phán gọi ông (Công Vụ Các Sứ Đồ 9). Ánh sáng từ trời đã khiến ông bị mù trong ba ngày, sau đó, ông được chữa lành, chịu báp-tem, và bắt đầu rao giảng rằng: "Đức Chúa Jesus, người Na-xa-rét, là Đấng Christ, con Đức Chúa Trời."

·         Năm 33 đến 36: đi qua xứ A-ra-bi và có lẽ được Chúa giảng dạy tại núi Si-na-i trong ba năm.

·         Năm 36: vào mùa xuân, đến Giê-ru-sa-lem, ở lại với Phi-e-rơ 15 ngày và gặp Gia-cơ, em của Chúa.

·         Năm 36 đến 40: ở tại Tạt-sơ trong bốn năm.

·         Năm 41: Ba-na-ba đến Tạt-sơ tìm Phao-lô để mời ông đến chăm sóc cho Hội Thánh dân ngoại mới lập tại An-ti-ốt. Phao-lô và Ba-na-ba ở tại An-ti-ốt từ mùa hè năm 41 cho đến mùa xuân năm 42.

·         Năm 42: Phao-lô và Ba-na-ba đem tiền cứu trợ của Hội Thánh dân ngoại về Giê-ru-sa-lem để cứu đói các thánh đồ tại Giê-ru-sa-lem.

·         Năm 44: đầu mùa xuân, Phao-lô, Ba-na-ba, và Mác (cháu của Ba-na-ba) từ Giê-ru-sa-lem về lại An-ti-ốt. Cuối mùa xuân, Đức Thánh Linh chỉ định Phao-lô và Ba-na-ba làm sứ đồ rao giảng Tin Lành cho dân ngoại.

·         Năm 44 đến 46: Phao-lô, Ba-na-ba, và Mác bắt đầu hành trình truyền giáo lần thứ nhất (Công Vụ Các Sứ Đồ 13:4-52; 14:1-25).

·         Năm 46 đến 49: sau khi hoàn thành chuyến truyền giáo lần thứ nhất, Phao-lô và Ba-na-ba ở lại thành An-ti-ốt xứ Sy-ri từ mùa thu năm 46 đến cuối mùa hè năm 49. Mùa hè năm 49, Phao-lô và Ba-na-ba trở về thành Giê-ru-sa-lem để trình bày với các sứ đồ và trưởng lão về việc các tín đồ gốc Do-thái Giáo đến An-ti-ốt dạy cho tín đồ dân ngoại rằng: phải chịu phép cắt bì mới được sự cứu rỗi. Mùa thu năm 49, Phao-lô và Ba-na-ba có cuộc tranh cãi về việc Phao-lô không cho phép Mác được tham dự trong hành trình truyền giáo lần thứ hai, vì giữa chừng trong chuyến đi trước đó, Mác đã tự ý bỏ về lại Giê-ru-sa-lem. Cuộc tranh cãi đó khiến cho Phao-lô và Ba-na-ba phân rẽ, mỗi người thực hiện một chuyến truyền giáo mới. Cuối mùa thu năm 49, Phao-lô cùng Si-la bắt đầu hành trình truyền giáo lần thứ hai.

·         Năm 50 đến 53: cuối mùa thu năm 50, Phao-lô từ A-thên đến thành Cô-rinh-tô và rao giảng Tin Lành trong mỗi ngày Sa-bát. Si-la và Ti-mô-thê cũng đến Cô-rinh-tô phụ giúp Phao-lô. Hội Thánh tại Cô-rinh-tô được thành lập và Phao-lô ở lại khoảng một năm rưỡi để giảng dạy cho Hội Thánh Cô-rinh-tô. Cũng trong năm 50, Phao-lô viết thư tín đầu tiên trong Tân Ước là thư I Tê-sa-lô-ni-ca, gửi cho con dân Chúa tại thành Tê-sa-lô-nica. Thư II Tê-sa-lô-ni-ca được Phao-lô viết vào năm 51. Mùa thu năm 52, Phao-lô về lại Giê-ru-sa-lem để dự Lễ Lều Tạm rồi quay về thành An-ti-ốt. Mùa xuân năm 53, Sứ Đồ Phi-e-rơ đến thăm Hội Thánh An-ti-ốt và tránh ngồi ăn chung với con dân Chúa người ngoại khi có các tín đồ gốc Do-thái từ Giê-ru-sa-lem đến, cho nên, Phao-lô đã quở trách Phi-e-rơ trước Hội Thánh. Mùa hè năm 53 Phao-lô bắt đầu hành trình truyền giáo lần thứ ba.

·         Năm 54 đến 58: mùa thu năm 54 Phao-lô đến thành Ê-phê-sô và ở lại đó hơn ba năm. Mùa đông năm 56 Phao-lô viết thư I Cô-rinh-tô và mùa hè năm 57 ông viết thư II Cô-rinh-tô gửi cho con dân Chúa tại thành Cô-rinh-tô. Cuối năm 57, Phao-lô viếng thăm Hội Thánh Chúa tại Cô-rinh-tô và trong thời điểm đó, ông viết thư Rô-ma gửi cho con dân Chúa tại thành Rô-ma. Cuối mùa xuân năm 58, Phao-lô về lại Giê-ru-sa-lem và bị dân Do-thái từ Tiểu Á nổi loạn, bắt và đánh ông vì cho rằng ông giảng dạy nghịch lại truyền thống của Do-thái Giáo. Quân đội La-mã cứu ông ra khỏi đám loạn dân và sau đó 200 lính La-mã áp giải ông đến thống đốc La-mã tại Sê-sa-rê.

·         Năm 58 đến 60: Thống Đốc Phê-lít muốn Phao-lô ăn tiền hối lộ của Phao-lô, cho nên, dù xét thấy Phao-lô không phạm pháp nhưng vẫn giam giữ ông. Trong khoảng thời gian đó, Phao-lô có dịp giảng đạo cho Thống Đốc Phê-lít, Thống Đốc Phê-tu và Vua Ạc-ríp-ba. Năm 60, Phao-lô đòi ra mắt Sê-sa, hoàng đế của La-mã về vụ án của ông và được Thống Đốc Phê-tu chấp thuận.

·         Năm 61 đến 62: đầu mùa thu năm 61 Phê-tu giải Phao-lô đến thành Rô-ma cùng với các phạm nhân khác. Chuyến đi này được xem là hành trình truyền giáo lần thứ tư của Phao-lô. Trên đường đi thì bị đắm tàu, Phao-lô và mọi người trôi dạt lên đảo Man-tơ và ở lại đó khoảng ba tháng, cho đến cuối mùa đông mới theo một tàu tại Man-tơ đi đến thành Bu-xô-lơ. Phao-lô ở lại với các môn đồ tại Bu-xô-lơ bảy ngày rồi mới đến thành Rô-ma. Con dân Chúa tại thành Rô-ma nghe tin Phao-lô đến đã kéo nhau ra đón rước ông. Phao-lô được phép thuê một nhà trọ để ở với một người lính La-mã canh giữ ông trong khi chờ đợi được xét xử bởi Sê-sa. Phao-lô ở trọn hai năm tại Rô-ma và công khai rao giảng Đạo Chúa, không bị ai ngăn cấm. Trong thời gian hai năm này Phao-lô viết các thư tín: Ê-phê-sô, Phi-líp, Cô-lô-se và Phi-lê-môn. Rất có thể, trước khi viết các thư kể trên, Phao-lô đã viết thư Hê-bơ-rơ vào năm 61, gửi chung cho tất cả những người I-sơ-ra-ên để giúp họ hiểu biết rằng Đức Chúa Jesus Christ chính là Đấng Cứu Rỗi đã được Đức Chúa Trời hứa trong Cựu Ước.

·         Năm 63 đến 67: mùa xuân năm 63 Phao-lô được trắng án và được trả tự do. sau đó, Phao-lô đi đến đảo Cơ-rết rồi đến thành Ni-cô-bô-li. Có thể xem đây là hành trình truyền giáo lần thứ năm và sau cùng của Phao-lô. Có lẽ, tại thành này Phao-lô viết các thư I Ti-mô-thê và Tít vào năm 65. Có lẽ Phao-lô cũng nhân cơ hội này rao giảng Tin Lành tại Tây-ban-nha. Năm 67 Phao-lô bị bắt trong cơn chính quyền La-mã bách hại Đạo Chúa lần thứ nhất, do Hoàng Đế Nê-rông chỉ thị.

·         Năm 68: Phao-lô chết chém vào khoảng tháng năm hoặc tháng sáu năm 68, vào lúc 70 tuổi, trước khi Hoàng Đế Nê-rông của La-mã qua đời vào ngày 9 tháng sáu năm 68.

Thời Gian và Nơi Viết

Rất có thể, thư Rô-ma được Phao-lô viết vào đầu mùa xuân năm 57, trong khi ông đang thực hiện chuyến truyền giáo lần thứ ba và trên đường trở về Giê-ru-sa-lem để mang tiền của các Hội Thánh tại Ma-xê-đoan và A-chai quyên giúp cho các tín đồ nghèo khó tại Giê-ru-sa-lem (15:25, 26).

Rất có thể, Phao-lô viết thư Rô-ma trong khi ông đang ở tại thành Cô-rinh-tô hoặc ở tại nhà của Gai-út (16:23) tại thành Xen-cơ-rê (cách Cô-rinh-tô khoảng 10km).

Hoàn Cảnh Khi Viết

Cho đến lúc thư Rô-ma được viết ra thì Sứ Đồ Phao-lô chưa bao giờ viếng thăm Hội Thánh tại Rô-ma, mặc dù ông đã nhiều lần có ý định. Phao-lô cho biết ông gặp những sự cản trở khiến ông không thể đến thăm Hội Thánh tại Rô-ma (1:13; 15:22). Lúc thư Rô-ma được viết ra thì công cuộc truyền giáo của Phao-lô ở phía đông Địa Trung Hải đã đến lúc hoàn tất. Vì thế, Phao-lô mong muốn được thăm viếng Hội Thánh của Chúa tại Rô-ma (1:11-12). Tuy nhiên, Phao-lô phải đích thân mang tiền quyên góp của các Hội Thánh dân ngoại về Giê-ru-sa-lem để trao tận tay cho các tín đồ nghèo khó tại đó. Trên đường về Giê-ru-sa-lem, Phao-lô gửi thư cho Hội Thánh Rô-ma để tự giới thiệu mình với Hội Thánh Rô-ma và trình bày các nguyên tắc thần học về sự cứu rỗi, chuẩn bị cho sự ông viếng thăm Hội Thánh trong tương lai.

Những Người Nhận

Những người đầu tiên trực tiếp nhận thư Rô-ma chính là các tín đồ trong Hội Thánh của Chúa tại Rô-ma vào thời điểm thư được viết và gửi đi (1:7). Hầu hết, các tín đồ trong Hội Thánh tại Rô-ma là dân ngoại. Dựa vào Rô-ma 4:1 và đoạn 9 đến đoạn 11 chúng ta có thể tin rằng cũng có một số tín đồ gốc Do-thái tại Hội Thánh Rô-ma.

Ngày nay, thư Rô-ma là sứ điệp của Đức Chúa Trời dành cho mỗi một người tin nhận Tin Lành Cứu Rỗi của Ngài.

Chủ Đề

Chủ đề của thư Rô-ma là "Tin Lành Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời Ban Cho Nhân Loại" được Phao-lô giới thiệu ngay từ đầu thư (1:1-6). Thư Rô-ma giải bày chương trình cứu rỗi và sự xưng nghĩa của Đức Chúa Trời ban cho toàn thể nhân loại, không phân biệt người Do-thái hay là dân ngoại (1:16, 17) qua ba tiểu đề:

·         Sự xưng nghĩa bởi đức tin

·         Sự thánh hóa và nếp sống thánh khiết trong Chúa

·         Sự an ninh trong Chúa

Câu Gốc

"Vì tôi không hổ thẹn về Tin Lành của Đấng Christ, là năng lực của Thiên Chúa để cứu mọi kẻ tin, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp; vì trong đó, sự công bình của Thiên Chúa được bày tỏ từ đức tin đến đức tin, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin." (1:16, 17)

Mục Đích

Phao-lô viết thư Rô-ma với ba mục đích chính:

1. Tự giới thiệu mình với Hội Thánh tại Rô-ma và đề nghị họ giúp ông thực hiện chuyến truyền giáo đến Tây-ban-nha (1:10-15; 15:22-29).

2. Trình bày các nguyên tắc cơ bản của sự cứu rỗi và nếp sống Đạo cho một Hội Thánh chưa hề có cơ hội nhận được sự giảng dạy của một sứ đồ.

3. Giải thích sự tương quan giữa dân ngoại và dân I-sơ-ra-ên trong chương trình của Đức Chúa Trời.

Nội Dung

Thư Rô-ma được mở đầu bằng lời giới thiệu về Tin Lành Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời ban cho toàn thể nhân loại. Liền theo đó, thư Rô-ma nêu lên tình trạng băng hoại chung của nhân loại: Dù là tuyển dân I-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời hay là dân ngoại, tất cả mọi người đều đã phạm tội vì bị nô lệ cho tội lỗi. Mỗi người đều cần sự cứu rỗi ra khỏi quyền lực và hậu quả của tội lỗi.

Sự cứu rỗi đó đã được Đức Chúa Jesus Christ hoàn thành trên thập tự giá bởi sự chết chuộc tội của Ngài cho toàn thể nhân loại. Bất cứ ai thật lòng ăn năn tội và tin nhận sự chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ thì được cứu rỗi ra khỏi quyền lực và hậu quả của tội lỗi.

Sự cứu rỗi là bước đầu của một đời sống mới trong Chúa. Đời sống mới trong Chúa là đời sống không còn bị sai khiến bởi quyền lực của tội lỗi và được đầy dẫy năng lực từ Thiên Chúa để có thể sống đúng theo tiêu chuẩn thánh khiết của Ngài. Người chưa được cứu thì nô lệ cho tội lỗi, phải hầu việc cho tội lỗi và biến thân thể mình thành công cụ làm ra những sự gian ác và ô uế. Trái lại, người đã được cứu thì được tự do đối với tội lỗi, không còn vâng theo sự sai khiến của tội lỗi mà vâng theo điều răn và luật pháp của Chúa, biến thân thể mình thành công cụ phục vụ Chúa, làm ra những sự công bình, đẹp ý Chúa. Người chưa được cứu bị án phạt của luật pháp Thiên Chúa vì sự phạm tội của mình, tức là bị hư mất đời đời. Người đã được cứu thì được thoát khỏi án phạt của Thiên Chúa mà còn được Thiên Chúa ban cho địa vị làm con của Đức Chúa Trời.

Người tin nhận Chúa được kết hợp với Đức Chúa Jesus Christ trong sự chết, trong sự sống lại, trong sự sống thánh khiết và trong sự sống đời đời của Ngài. Vì thế, người tin nhận Chúa không còn sống hay chết cho chính mình mà là sống cho Chúa và chết cho Chúa, tức là sống và chết theo Lời Chúa.

Dân I-sơ-ra-ên với tính cách là một dân tộc đang tạm thời không tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ nhưng vẫn có một vị trí trong chương trình của Đức Chúa Trời. Hiện tại, Đức Chúa Trời đem dân ngoại đến với sự cứu rỗi của Ngài và khi số dân ngoại tin nhận sự cứu rỗi đã được trọn thì toàn dân I-sơ-ra-ên sẽ được cứu: "Vậy nên, hỡi các anh em, tôi không muốn các anh em chẳng biết sự mầu nhiệm nầy, kẻo các anh em tự cho mình khôn ngoan chăng: ấy là sự cứng lòng đã xảy ra cho một phần của dân I-sơ-ra-ên, cho đến khi đủ số dân ngoại nhập vào; rồi thì, cả dân I-sơ-ra-ên sẽ được cứu, như có chép rằng: Đấng Giải Cứu sẽ đến từ Si-ôn, cất sự vô đạo ra khỏi Gia-cốp" (11:25, 26).

Con dân Chúa phải dâng thân thể mình lên Chúa, sống nếp sống thánh khiết theo Lời Chúa: yêu thương, tiếp nhận lẫn nhau và hòa thuận với nhau trong danh Chúa; yêu thương, tha thứ kẻ thù; vâng phục các bậc cầm quyền; tránh xa những kẻ gây nên bè đảng.

Thư Rô-ma kết thúc với lời tái khẳng định: Tin Lành Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời là cho muôn dân.

Các Phiên Bản Khác của Thư Rô-ma

Theo các nhà giải kinh thì có một số bản sao chép tay của thư Rô-machỉ có 15 đoạn thay vì 16 đoạn như chúng ta có trong các bản dịch Thánh Kinh ngày nay. Lời giải thích được đưa ra là: Lá thư chính được viết cho Hội Thánh Rô-ma bao gồm 16 đoạn nhưng khi được sao chép lại để chuyển đến các Hội Thánh khác thì người sao chép chỉ sao chép 15 đoạn mà bỏ bớt đoạn 16, có lẽ cho rằng đoạn 16 chỉ là những lời chào hỏi một số cá nhân tại Rô-ma, cho nên, không cần phải chuyển đến các Hội Thánh khác. Ngoài ra, cũng có một số bản sao chép tay chỉ có 14 đoạn.

Bố Cục

I. Lời Giới Thiệu (1:1-15)

A. Lời chào thăm (1:1-7)

B. Lời cầu nguyện (1:8-15)

II Chủ Đề: "Tin Lành Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời Ban Cho Nhân Loại" (1:16, 17)

III Sự Cứu Rỗi (1:18-5:21)

A. Sự phạm tội của loài người (1:18-3:20)

1. Sự phạm tội của dân ngoại (1:18-32)

2. Sự phạm tội của dân Do-thái (2:1-3:8)

3. Mọi người đều đã phạm tội (3:9-20)

B. Sự được xưng công bình (3:21-5:21)

1. Được xưng công bình qua Đức Chúa Jesus Christ (3:21-26)

2. Được xưng công bình bởi đức tin (3:27-4:25)

a. Nguyên tắc của sự được xưng công bình (3:27-31)

b. Minh họa về sự được xưng công bình (4)

3. Kết quả của sự được xưng công bình (5:1-11)

4. Sự không công bình của loài người tương phản với sự xưng công bình của Đức Chúa Trời ban cho nhân loại (5:12-21).

IV. Sự Thánh Hóa (6-8)

A. Được tự do khỏi tội lỗi (6)

B. Được thoát khỏi án phạt của luật pháp (7)

C. Sống trong quyền năng của Đức Thánh Linh (8)

V. Dân I-sơ-ra-ên Trong Chương Trình Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời (9-11)

A. Sự cứng lòng của dân I-sơ-ra-ên (9:1-5)

B. Quyền tể trị của Đức Chúa Trời (9:6-29)

B. Quyền tự chọn của loài người (9:30-10:21)

C. Sự thành tín của Đức Chúa Trời (11)

VI. Nếp Sống Đạo (12:1-15:13)

A. Thái độ của con dân Chúa đối với Ngài (12:1, 2)

B. Thái độ của con dân Chúa đối với nhau (12:3-6)

C. Thái độ của con dân Chúa đối với người ngoại (12:17-21)

D. Thái độ của con dân Chúa đối với các bậc cầm quyền (13:1-7)

E. Thái độ chung của con dân Chúa đối với mọi người (13:8-10)

F. Sống trong sự sáng (13:11-14)

G. Tình yêu và sự tự do (14:1-15:13

VII. Kết Luận (15:14-16:27)

A. Mục vụ cho dân ngoại (15:14-22)

B. Dự tính của Phao-lô (15:23-33)

C. Lời khen Phê-bê (16:1, 2)

D. Lời chào thăm (16:3-16)

E. Cảnh cáo về những kẻ gây bè đảng (16:17-20)

F. Lời chào thăm từ những người ở cùng Phao-lô (16:21-24)

G. Lời tôn vinh Chúa và khẳng định chủ đề của thư Rô-ma (16:25-27)

 

Ghi Chú: Bấm vào các từ ngữ Hê-bơ-rơ hoặc Hy-lạp để nghe phát âm. Bấm vào các mã số Strong (bắt đầu bằng H hoặc G) để xem định nghĩa trong tiếng Anh. Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi LờiThánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Bạn đọc có thể truy cập trực tiếp trên mạng tại đây: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.net www.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

 


 

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

 

Đọc Tiếp →
3,380 views

Sự Yêu Thương và Sự Đoán Xét

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Ghi Chú: Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này

Nghe MP3 Phần 1: http://timhieutinlanh.net/node/952
Nghe MP3 Phần 2: http://timhieutinlanh.net/node/953
Nghe MP3 Phần 3: http://timhieutinlanh.net/node/954

Dẫn Nhập

Ngày nay, có lẽ hai từ ngữ bị lạm dụng nhiều nhất trong Hội Thánh là "sự yêu thương" và "sự đoán xét." Lạm dụng một điều gì có nghĩa là dùng điều đó không đúng cách, đúng nghĩa, đúng lúc, miễn sao đạt được mục đích đã nhắm sẵn. Sự lạm dụng từ ngữ phát sinh bởi sự lạm dụng Lời Chúa.

Có hai thành phần lạm dụng Lời Chúa. Thành phần thứ nhất là những người còn non kém trong đức tin và trong sự hiểu biết Đạo Chúa, chưa hết lòng sống theo lẽ thật của Lời Chúa, chưa dứt khoác được với những sự ưa muốn của xác thịt, là những điều trái với sự ưa muốn của Đức Thánh Linh (Ga-la-ti 5:16, 17); nếu sự ưa thích hoặc quyền lợi cá nhân bị đụng chạm thì họ sẽ tìm cách bẻ cong Lời Chúa để bao che cho những điều sai trái của họ. Những thói xấu của xác thịt nổi bật nhất trong họ là: thói tà dâm, lòng tham lam, lòng tự ái và lòng kiêu ngạo. Thành phần thứ hai là những người giả tin Chúa để tìm kiếm tư lợi trong Hội Thánh mà Chúa gọi họ là cỏ lùng, dê và sói, tức là những kẻ giả hình, những tay Pha-ri-si thời đại. Họ lạm dụng Lời Chúa một cách xảo quyệt và có dự tính. Họ chính là những tôi tớ của Sa-tan giả mạo làm những người giúp việc công bình (II Cô-rinh-tô 11:13-15). Theo thời gian, nếu không sớm ăn năn thành phần thứ nhất có thể suy thoái, mất đức tin và biến thành thành phần thứ hai.

Những câu Thánh Kinh thường bị hai thành phần này lạm dụng là:

I Cô-rinh-tô 13:7 "Tình yêu che chở mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự."

I Phi-e-rơ 4:8 "Nhứt là trong vòng anh em phải có tình yêu chân thật; vì tình yêu che đậy vô số tội lỗi."

Ma-thi-ơ 7:1 "Các ngươi đừng đoán xét ai, để mình khỏi bị đoán xét."

Lu-ca 6:37 "Đừng đoán xét ai, thì các ngươi khỏi bị đoán xét; đừng lên án ai, thì các ngươi khỏi bị lên án; hãy tha thứ, người sẽ tha thứ mình."

I Cô-rinh-tô 4:5 "Vậy, chớ xét đoán sớm quá, hãy đợi Chúa đến; chính Chúa sẽ tỏ những sự giấu trong nơi tối ra nơi sáng, và bày ra những sự toan định trong lòng người; bấy giờ, ai nấy sẽ bởi Đức Chúa Trời mà lãnh sự tôn vinh mình đáng lãnh."

Nạn nhân của sự lạm dụng Lời Chúa cũng có hai thành phần. Thành phần thứ nhất là chính những người thiếu hiểu biết Lời Chúa và chưa dứt khoác được với những sự ưa muốn của xác thịt. Họ vừa là người lạm dụng và vừa là nạn nhân của chính họ và của những kẻ giả hình. Thành phần thứ hai là những người hiểu biết Lời Chúa,nhận thức được có điều sai trái trong sự áp dụng Lời Chúa của những người lạm dụng. Tuy nhiên, không có bao nhiêu người có thể dùng Lời Chúa để phản bác sự sai trái đó, khiến cho sự sai trái đó theo thời gian trở thành một thứ "giáo lý" trong Hội Thánh. Phản ứng tiêu cực của thành phần thứ hai là lánh xa những kẻ lạm dụng. Phản ứng đó cần phải có đối với những kẻ giả hình nhưng đối với những người thật lòng tin Chúa mà đức tin còn yếu kém thì cần phải có một phản ứng tích cực. Phản ứng tích cực là giúp cho họ hiểu được họ đã áp dụng sai Lời Chúa như thế nào.

Hiểu Biết và Áp Dụng Lời Chúa

Sự hiểu biết Lời Chúa và áp dụng sự hiểu biết đó vào trong cuộc sống được gọi là nếp sống Đạo. Đạo tức là Lời Chúa. Nếp sống Đạo chân thật là mọi tư tưởng, lời nói, và hành động đều vâng theo Lời Chúa. Người ta có thể hiểu sai Lời Chúa cho nên áp dụng sai và người ta cũng có thể hiểu đúng Lời Chúa nhưng lại áp dụng sai.

Hiểu sai áp dụng sai: I Phi-e-rơ 4:8 "Nhứt là trong vòng anh em phải có tình yêu chân thật; vì tình yêu che đậy vô số tội lỗi." Người hiểu sai cho rằng: vì yêu thương cho nên người ấy phải bảo bọc, che chở mọi hành động tội lỗi. Sự bảo bọc, che chở cho tội lỗi như vậy giống như một người suốt đời không tắm mà chỉ dùng dầu thơm xức lên người để che đậy mùi hôi.

Hiểu đúng áp dụng sai: I Cô-rinh-tô 13:7 "Tình yêu che chở mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự." Một người có thể hiểu đúng ý nghĩa của câu Thánh Kinh này nhưng lại áp dụng sai vì không phối hợp với các nguyên tắc khác của Thánh Kinh, là nguyên tắc về quở trách, sửa trị người có lỗi và nguyên tắc dứt thông công với người có tội mà không cải hối. Sự hiểu đúng mà áp dụng sai khiến cho một người trở thành nạn nhân của những kẻ lạm dụng Lời Chúa và trở thành kẻ tiếp tay hoặc khuyến khích người khác tiếp tục sống trong tội.

Sự Yêu Thương Trong Chúa

Tình yêu trong Chúa là tình yêu vị tha, nghĩa là tình yêu vì người khác mà sống (vị = vì; tha = người khác). Là con dân Chúa, trước hết, chúng ta sống cho Chúa rồi qua sự dẫn dắt, ban ơn của Chúa mà chúng ta sống cho anh chị em trong Chúa, cuối cùng là chúng ta sống cho những người chưa biết Chúa.

Sống cho Chúa là vâng giữ mọi Lời Chúa, vui thỏa trong Lời Chúa, thể hiện Lời Chúa thành hành động mỗi ngày trong cuộc sống. Sống cho anh chị em trong Chúa là quan tâm, chăm sóc, dạy dỗ, quở trách, sửa trị, và mang lấy mọi gánh nặng cho nhau từ thuộc thể đến thuộc linh. Sống cho những người chưa biết Chúa là hy sinh mọi sự, tìm đủ mọi cách, tận dụng mọi cơ hội để rao giảng hoặc góp phần trong sự rao giảng Tin Lành cho họ và khi họ có nhu cầu thì hết lòng giúp đỡ họ theo ơn Chúa ban.

Tình yêu trong Chúa không phải chỉ thể hiện qua sự cảm thông, tha thứ, cứu giúp lẫn nhau mà còn thể hiện qua sự quở trách, sửa trị người có lỗi và dứt thông công với người có tội mà không cải hối. Tình yêu trong Chúa không có nghĩa là bỏ qua những sự sai trái và để cho kẻ xấu tha hồ lợi dụng.

Khi Phi-e-rơ theo ý riêng, ngăn cản Chúa về thành Giê-ru-sa-lem để chịu khổ và chịu chết thì Chúa đã phán: "Hỡi Sa-tan, hãy lui ra đàng sau Ta! Ngươi làm gương xấu cho Ta; vì ngươi chẳng nghĩ đến việc Đức Chúa Trời, song nghĩ đến việc người Ta" (Ma-thi-ơ 16:23). Ai dám nói Đức Chúa Jesus không có tình yêu dành cho Phi-e-rơ vì Ngài đã không "dung thứ mọi sự""nín chịu mọi sự" đối với ông? Khi Phi-e-rơ chìu theo sự yếu đuối của xác thịt, làm ra hành động giả hình, xúc phạm con dân Chúa tại Hội Thánh An-ti-ốt và làm gương xấu cho Ba-na-ba thì Phao-lô đã quở trách Phi-e-rơ trước Hội Thánh: "Nhưng khi Sê-pha đến thành An-ti-ốt, tôi có ngăn can trước mặt người, vì là đáng trách lắm. Bởi trước lúc mấy kẻ của Gia-cơ sai đi chưa đến, thì người ăn chung với người ngoại; vừa khi họ đã đến thì người lui đứng riêng ra, bởi sợ những kẻ chịu phép cắt bì. Các người Giu-đa khác cũng dùng một cách giả dối như vậy, đến nỗi chính Ba-na-ba cũng bị sự giả hình của họ dẫn dụ. Nhưng khi tôi thấy họ không đi ngay thẳng theo lẽ thật của Tin Lành, thì nói với Sê-pha trước mặt mọi người rằng: nếu anh là người Giu-đa, mà ăn ở theo cách dân ngoại, không theo cách người Giu-đa, thì làm sao anh ép dân ngoại phải theo thói Giu-đa" (Ga-la-ti 2:11-14).

Đức Chúa Jesus Christ đã từng động lòng thương xót, chữa bệnh, giảng Đạo và hóa bánh ra cho trên năm ngàn người ăn (Ma-thi-ơ 14:14-21); nhưng Ngài cũng lìa bỏ họ khi nhận biết họ chỉ đến với Ngài để tìm lợi vật chất (Giăng 6:14-27). Đức Chúa Jesus Christ cũng từng quở trách sự cứng lòng, không chịu cải hối của dân các thành đã được nghe Ngài giảng Đạo và thấy Ngài làm nhiều phép lạ: "Vì dân các thành mà Đức Chúa Jesus đã làm rất nhiều phép lạ rồi, không ăn năn, nên Ngài quở trách rằng: Khốn nạn cho mầy, thành Cô-ra-xin! Khốn nạn cho mầy thành Bết-sai-đa! Vì nếu các phép lạ đã làm giữa các ngươi, đem làm trong thành Ty-rơ và Si-đôn, thì hai thành đó thật đã mặc áo gai, đội tro, ăn năn từ lâu rồi. Vậy nên Ta bảo các ngươi, đến ngày phán xét, thành Ty-rơ và thành Si-đôn sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn các ngươi. Còn ngươi, Ca-bê-na-um là thành đã được cao tới trời, sẽ hạ xuống tới âm phủ! Vì nếu các phép lạ đã làm giữa ngươi, đem làm trong thành Sô-đôm, thì thành ấy còn lại đến ngày nay. Vậy nên Ta rao bảo rằng, đến ngày phán xét, xứ Sô-đôm sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn ngươi" (Ma-thi-ơ 11:20-14). Khi các môn đồ của Chúa không tin lời của Ma-ri Ma-đơ-len và các phụ nữ khác làm chứng về sự Chúa đã sống lại thì Đức Chúa Jesus đã quở trách họ: "Sau nữa, Ngài hiện ra cho mười một sứ đồ đang khi ngồi ăn, mà quở trách về sự không tin và lòng cứng cỏi, vì chẳng tin những kẻ từng thấy Ngài đã sống lại" (Mác 16:14). Khi trong Hội Thánh tại Cô-rinh-tô có người phạm tội tà dâm, Hội Thánh đã theo lời dạy của Sứ Đồ Phao-lô mà quở trách kẻ phạm tội đó: "Kẻ đó đã bị phần nhiều người trong anh em quở trách, ấy là đủ rồi" (II Cô-rinh-tô 2:6).

Tình yêu trong Chúa không cho phép con dân Chúa "vui về điều không công bình" (I Cô-rinh-tô 13:6). Khi con dân Chúa đối diện với sự không công bình trong Hội Thánh thì phải lên tiếng quở trách, bởi vì mỗi con dân Chúa là một "thầy tế lễ của Đức Chúa Trời" (Khải Huyền 1:6). Hình ảnh thầy tế lễ thời Cựu Ước khán nghiệm bệnh phung và đuổi kẻ bị phung ra khỏi hội chúng cho đến khi kẻ phung được lành tiêu biểu cho việc thầy tế lễ thời Tân Ước chỉ ra tội lỗi và đuổi kẻ có tội mà không cải hối ra khỏi Hội Thánh cho đến khi kẻ đó ăn năn. Bất cứ sự gì nghịch lại Lời Chúa thì đều là những sự không công bình và "mọi sự không công bình đều là tội" (I Giăng 5:17). Theo nguyên ngữ của Thánh Kinh thì "sự không công bình" là "sự vi phạm luật pháp," và luật pháp trong Thánh Kinh chính là Lời Chúa. Lời Chúa dạy rõ:

Châm Ngôn 27:5 "Một lời quở trách tỏ tường hơn là thương yêu giấu kín."

Châm Ngôn 28:23 "Ai quở trách người nào, về sau sẽ được ơn hơn là kẻ lấy lưỡi mà dua nịnh."

Lu-ca 17:3 "Các ngươi hãy giữ lấy mình. Nếu anh em ngươi đã phạm tội, hãy quở trách họ; và nếu họ ăn năn, thì hãy tha thứ."

Ê-phê-sô 5:11 "…chớ dự vào công việc vô ích của sự tối tăm, thà quở trách chúng nó thì hơn."

I Ti-mô-thê 5:19 "Kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ."

Tít 2:15 "Hãy dạy các điều đó, lấy quyền đầy đủ mà khuyên bảo quở trách. Chớ để ai khinh dể con."

Kỷ Luật Trong Hội Thánh

Có hai hình thức kỷ luật trong Hội Thánh, được Thánh Kinh nêu lên: (1) kỷ luật đối với người phạm tội nghịch cùng một chi thể, tức là một cá nhân trong Hội Thánh, và (2) kỷ luật đối với người phạm tội nghịch cùng toàn thân thể, tức là tất cả mọi người trong Hội Thánh.

1. Kỷ luật đối với người phạm tội nghịch cùng cá nhân: Trong Ma-thi-ơ 18:15-17 Đức Chúa Jesus đã phán dạy chúng ta rất rõ ràng về cách đối xử người phạm tội nghịch cùng cá nhân chúng ta: "Nếu anh em ngươi phạm tội cùng ngươi, thì hãy trách người khi chỉ có ngươi với một mình người; như người nghe lời, thì ngươi được anh em lại. Ví bằng không nghe, hãy mời một hai người đi với ngươi, hầu cứ lời hai ba người làm chứng mà mọi việc được chắc chắn. Nếu người không chịu nghe các người đó, thì hãy cáo cùng Hội Thánh, lại nếu người không chịu nghe Hội Thánh, thì hãy coi người như kẻ ngoại và kẻ thâu thuế vậy."

Trước hết, chúng ta cần ghi nhớ rằng: Đây là cách thức đối xử với người phạm tội nghịch cùng cá nhân chúng ta chứ không phải người phạm tội nghịch cùng Hội Thánh, bởi vì, những kẻ phạm tội nghịch cùng Hội Thánh phải bị quở trách trước Hội Thánh để làm gương cho mọi người. Mệnh lệnh của Chúa đưa ra bốn giai đoạn trong việc kỷ luật một người phạm tội nghịch cùng cá nhân chúng ta:

a) Giai đoạn thứ nhất: quở trách người phạm tội cách riêng tư, mong rằng người ấy sẽ cải hối.

b) Giai đoạn thứ nhì: nếu người ấy không cải hối thì mời thêm vài anh chị em khác trong Hội Thánh đến gặp người ấy để quở trách một lần nữa trước sự chứng kiến của họ.

c) Giai đoạn thứ ba: nếu người ấy vẫn không cải hối thì đưa sự việc ra trước Hội Thánh.

d) Giai đoạn thứ tư: nếu người ấy vẫn không cải hối sau khi bị Hội Thánh quở trách thì Hội Thánh phải cư xử với người ấy như cách cư xử với một người không tin Chúa và một người phạm nhiều tội trọng. Trong xã hội Do-thái, từ ngữ "kẻ thâu thuế" mang nghĩa bóng là "người phạm nhiều tội trọng với Thiên Chúa và dân tộc." Những người thâu thuế cho Đế Quốc La-mã thời xưa thường dựa vào thế lực của La-mã và địa vị viên chức thâu thuế của mình để gian lận và bốc lột chính dân tộc của mình, làm ra nhiều việc ác để thủ lợi, làm giàu. Người Do-thái xem khinh những kẻ thâu thuế còn hơn là xem khinh một người dân ngoại không chịu cắt bì và thờ lạy hình tượng. Người Do-thái cho rằng những người dân ngoại là ô uế nên xem khinh dân ngoại như chó, là loài vật ô uế. Điều đó có nghĩa là người Do-thái xem khinh những kẻ thâu thuế còn hơn là xem khinh loài chó.

Một người không tin Chúa là một người không có sự thông công với con dân Chúa, không được phép tham dự thờ phượng Chúa với con dân Chúa. Một người phạm nhiều tội trọng là một người mà ai ai cũng cần cẩn thận khi giao tiếp với, thứ nhất là tránh tiêm nhiễm những thói xấu của người ấy và thứ nhì là tránh bị người ấy lừa gạt, hãm hại. Người không tin Chúa là kẻ thù tự nhiên của Hội Thánh. Giăng 15:19 ghi lại lời phán của Đức Chúa Jesus Christ về thái độ của thế gian đối với con dân Chúa như sau: "Nếu các ngươi thuộc về thế gian, thì người đời sẽ yêu kẻ thuộc về mình; nhưng vì các ngươi không thuộc về thế gian và Ta đã lựa chọn các ngươi giữa thế gian, bởi cớ đó người đời ghét các ngươi." Dầu vậy, con dân Chúa vẫn có bổn phận cầu nguyện, chúc phước, và cứu giúp người không tin Chúa:

Ma-thi-ơ 5:43, 44 "Các ngươi có nghe lời phán rằng: Hãy yêu người lân cận, và hãy ghét kẻ thù nghịch mình. Song Ta nói cùng các ngươi rằng: Hãy yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi."

Lu-ca 6:27, 28 "Nhưng Ta phán cùng các ngươi, là những người nghe Ta: Hãy yêu kẻ thù mình, làm ơn cho kẻ ghét mình, chúc phước cho kẻ rủa mình, và cầu nguyện cho kẻ sỉ nhục mình."

Lu-ca 6:35 "Song các ngươi hãy yêu kẻ thù mình; hãy làm ơn, hãy cho mượn, mà đừng ngã lòng. Vậy, phần thưởng của các ngươi sẽ lớn, và các ngươi sẽ làm con của Đấng Rất Cao, vì Ngài lấy nhơn từ đối đãi kẻ bạc và kẻ dữ."

Rô-ma 12:20 "Vậy nếu kẻ thù mình có đói, hãy cho ăn; có khát, hãy cho uống; vì làm như vậy, khác nào mình lấy những than lửa đỏ mà chất trên đầu người."

Châm Ngôn 25:21, 22 "Nếu kẻ thù nghịch con có đói, hãy cho nó ăn; nếu có khát, hãy cho nó uống; vì như vậy con chất than cháy đỏ trên đầu nó, và Đức Giê-hô-va sẽ báo lại cho con."

Thành ngữ "chất than cháy đỏ trên đầu nó" mượn hình ảnh quặng chì được chất vào lò và than lửa được đổ lên trên nó khiến cho chất chì tan chảy vào chỗ hứng bên dưới, bỏ lại các tạp chất bị thiêu cháy trong lò, để nói lên ý nghĩa: những hành động thương xót sẽ khiến cho tâm trí của kẻ thù bị tan chảy và những tư tưởng thù nghịch sẽ bị tan biến.

2. Kỷ luật đối với người phạm tội nghịch cùng Hội Thánh: Đối với người phạm tội nghịch cùng Hội Thánh thì sự quở trách phải công khai giữa Hội Thánh để làm gương như cách Sứ Đồ Phao-lô kỷ luật Sứ Đồ Phi-e-rơ tại Hội Thánh An-ti-ốt đã nêu trên đây. Phao-lô cũng chỉ thị cho Hội Thánh Cô-rinh-tô thi hành kỷ luật đối với người phạm tội tà dâm trong Hội Thánh. Đức Thánh Linh, qua ngòi bút của Sứ Đồ Phao-lô, đã ghi lại nguyên tắc đó trong I Ti-mô-thê 5:20, "kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ."

Trong sự việc có người phạm tội tà dâm trong Hội Thánh Cô-rinh-tô, Phao-lô đã chỉ thị cho Hội Thánh trong I Cô-rinh-tô 5, như sau:

1 Có tin đồn ra khắp nơi rằng trong anh em có sự dâm loạn, dâm loạn đến thế, dẫu dân ngoại cũng chẳng có giống như vậy: là đến nỗi trong anh em có kẻ lấy vợ của cha mình.

2 Anh em còn lên mình kiêu ngạo! Anh em chẳng từng buồn rầu, hầu cho kẻ phạm tội đó bị trừ bỏ khỏi vòng anh em thì hơn!

3 Về phần tôi, thân dầu xa cách mà lòng ở tại đó, (vì anh em và lòng tôi được hội hiệp với quyền phép của Đức Chúa Jesus, là Chúa chúng ta),

4 nên tôi đã dường như có mặt ở đó, nhơn danh Đức Chúa Jesus là Chúa chúng ta, tuyên án kẻ phạm tội đó

5 rằng, một người như thế phải phó cho quỷ Sa tan, để hủy hoại phần xác thịt, hầu cho tâm thần được cứu trong ngày Đức Chúa Jesus.

6 Thật anh em chẳng có cớ mà khoe mình đâu! Anh em há chẳng biết rằng một chút men làm cho cả đống bột dậy lên sao?

7 Hãy làm cho mình sạch men cũ đi, hầu cho anh em trở nên bột nhồi mới không men, như anh em là bánh không men vậy. Vì Đấng Christ là con sinh lễ Vượt Qua của chúng ta, đã bị giết rồi.

8 Vậy thì, chúng ta hãy giữ lễ, chớ dùng men cũ, chớ dùng men gian ác, độc dữ, nhưng dùng bánh không men của sự thật thà và của lẽ thật.

9 Trong thơ tôi viết cho anh em, có dặn đừng làm bạn với kẻ gian dâm,

10 đó tôi chẳng có ý nói chung về kẻ gian dâm đời nầy, hay là kẻ tham lam, kẻ chắt bóp, kẻ thờ hình tượng, vì nếu vậy thì anh em phải lìa khỏi thế gian.

11 Nhưng tôi viết khuyên anh em đừng làm bạn với kẻ nào tự xưng là anh em, mà là gian dâm, hoặc tham lam, hoặc thờ hình tượng, hoặc chưởi rủa, hoặc say sưa, hoặc chắt bóp, cũng không nên ăn chung với người thể ấy.

12 Vì chưng có phải tôi nên đoán xét kẻ ở ngoài sao? Há chẳng phải anh em nên đoán xét những người ở trong sao?

13 Còn như kẻ ở ngoài, thì Đức Chúa Trời sẽ đoán xét họ. Hãy trừ bỏ kẻ gian ác khỏi anh em.

Sự kiện phạm tội tà dâm "lấy vợ của cha mình" của một người tín đồ trong Hội Thánh Cô-rinh-tô, vừa là hành động phạm tội nghịch cùng cha mình vừa là hành động phạm tội nghịch cùng Hội Thánh, vì nó xảy ra công khai khiến cho "có tin đồn ra khắp nơi," gây tiếng xấu cho Hội Thánh và Đạo Chúa. Vì thế, sự thi hành kỷ luật cũng phải công khai. Chúng ta không biết rõ chi tiết phạm tội nhưng có lẽ người phạm tội đã công khai lấy người vợ bé hoặc vợ kế của cha mình làm vợ, sau khi cha ông ta qua đời.

Hình thức kỷ luật được Phao-lô nêu rõ:

a) Đừng làm bạn với kẻ không cải hối.

b) Không nên ăn chung với kẻ không cải hối.

c) Trừ bỏ "kẻ gian ác," tức là kẻ không cải hối, khỏi Hội Thánh.

Đối với những kẻ theo tà giáo, tức là theo hoặc rao giảng những giáo lý nghịch lại Thánh Kinh thì hình thức kỷ luật được Thánh Kinh nêu ra như sau: "Nhưng hãy lánh những điều cãi lẽ dại dột, những gia phổ, những sự cạnh tranh nghị luận về luật pháp, vì mấy sự đó đều là vô ích và hư không. Sau khi mình đã khuyên bảo kẻ theo tà giáo lần thứ nhất và lần thứ nhì rồi, thì hãy tránh khỏi" (Tít 3:9, 10).

Tất cả những điều trên đây là những hình thức kỷ luật cần áp dụng chung trong Hội Thánh khi có người phạm tội.

Ngày nay, trong các tổ chức giáo hội mang danh Chúa, chẳng những kẻ phạm tội không bị quở trách, kỷ luật mà ngược lại, họ lạm dụng Lời Chúa, mong bịt miệng những ai nêu lên sự sai trái của họ, nhất là các chức sắc trong giáo hội. Nhiều người nghĩ rằng phải có chức sắc trong giáo hội mới có thể lên tiếng quở trách người phạm tội mà không hiểu rằng: mỗi cá nhân trong Hội Thánh đều là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời, cho nên, ai cũng có nhiệm vụ chỉ ra các "vết phung thuộc linh" và khai trừ "người phung thuộc linh" ra khỏi Hội Thánh. Đó cũng là một trong những lý do con dân chân thật của Chúa phải ra khỏi các tổ chức giáo hội mang danh Chúa do loài người lập ra với những điều lệ, nội quy, truyền thống, thói tục, giáo lý, tư tưởng thần học… hầu hết không có trong Thánh Kinh và nghịch lại Thánh Kinh.

Đặc Tính của Tình Yêu  – I Cô-rinh-tô 13:4-8

Trước hết, chúng ta cần phải nhớ rằng, I Cô-rinh-tô 13 nói về tình yêu của Chúa và tình yêu trong Chúa, tức là tình yêu agape. I Giăng 4:8 và 16 cho chúng ta biết: "Đức Chúa Trời là tình yêu" và câu 19 cho chúng ta biết "Chúng ta yêu vì Chúa đã yêu chúng ta trước." Vì thế, để có thể hiểu và kinh nghiệm được I Cô-rinh-tô 13:4-8 thì một người phải tiếp nhận tình yêu của Đức Chúa Trời, tức là tiếp nhận chính Ngài. Có được Đức Chúa Trời tức là có được tình yêu, chỉ khi đó thì một người mới có thể yêu và hiểu được tình yêu.

I Cô-rinh-tô 13:4-8 nói về các đặc tính của tình yêu, tức là các đặc tính của Đức Chúa Trời và cũng là các đặc tính của những ai thuộc về Ngài. Như mặt trăng tiếp nhận ánh sáng của mặt trời rồi phản chiếu trên đất, con dân Chúa tiếp nhận tình yêu từ Đức Chúa Trời rồi chiếu sáng tình yêu của Đức Chúa Trời ra giữa thế gian (Ma-thi-ơ 5:14).

Tình yêu nhẫn nại; tình yêu nhân từ; tình yêu chẳng ghen tị, chẳng khoác lác, chẳng lên mình kiêu ngạo, chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghĩ đến sự dữ, chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật. Tình yêu che chở mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự. Tình yêu chẳng hề hư mất bao giờ.

1. Tình yêu nhẫn nại: Từ ngữ "nhẫn nại" vừa có nghĩa là sức kiên trì chịu đựng mọi sự nghịch lại với bản tính của mình để đạt được mục đích, vừa có nghĩa là sự kiên trì chịu đựng những vô lý, bất công người khác làm ra để có thể cảm hóa người ấy. Đức Chúa Trời thánh khiết và công chính đã và đang nhẫn nại đối với thế gian tội lỗi, dùng ơn cứu rỗi của Ngài trong Đức Chúa Jesus Christ để cảm hóa thế gian. Nhờ đó mà chúng ta mới có cơ hội để ăn năn tội và trở thành con dân của Chúa. Là con dân của Chúa, chúng ta cũng nhẫn nại với mọi người chung quanh chúng ta để có thể đưa họ đến với sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.

Nhẫn nại không có nghĩa là không quở trách người có lỗi. Nhẫn nại cũng không có nghĩa là không bao giờ ngưng chịu đựng một người nào đó. Chúng ta nhẫn nại suốt cuộc đời mình và nhẫn nại với mỗi một người mà chúng ta gặp. Tuy nhiên, thời gian chúng ta nhẫn nại đối với mỗi người sẽ khác nhau, tùy theo sự cho phép của Chúa. Trong Ma-thi-ơ 18:15-17, Chúa dạy chúng ta chỉ nhẫn nại với người phạm tội nghịch cùng chúng ta qua ba lần chúng ta cho người đó cơ hội nhận lỗi và ăn năn. Nếu sau ba lần bị quở trách mà người có tội không chịu ăn năn thì Chúa ra lệnh cho chúng ta phải xem người ấy như người không tin Chúa và là một người phạm tội trọng. Dầu chúng ta buộc phải thi hành kỷ luật với những người không chịu cải hối nhưng lòng chúng ta vẫn yêu thương họ và không truy cứu trách nhiệm về những việc bất công hay thiệt hại mà họ đã làm ra cho chúng ta. Đó là sự tha thứ!

Trong công tác rao giảng Tin Lành, Chúa cũng đã truyền cho chúng ta rằng, hễ ai từ chối không muốn nghe Tin Lành thì chúng ta hãy bỏ họ mà đi. Họ sẽ gánh lấy trách nhiệm về sự hư mất của chính họ: "Nếu ai không tiếp rước, không nghe lời các ngươi, khi ra khỏi nhà đó, hay là thành đó, hãy phủi bụi đã dính chơn các ngươi. Quả thật, ta nói cùng các người, đến ngày phán xét, thì xứ Sô-đôm và xứ Gô-mô-rơ sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn thành ấy" (Ma-thi-ơ 10:14). Mệnh lệnh đó của Chúa còn được ghi lại thêm hai lần trong Mác 6:11, Lu-ca 9:5 và Lu-ca 10:10-11. Đặc biệt, trong Lu-ca 10:10-11, Chúa dạy bảy mươi môn đồ được Ngài sai đi phải ra giữa chợ mà công bố sự khước từ nghe Tin Lành của một thành phố. Phao-lô và Ba-na-ba đã áp dụng lời Chúa dạy khi họ đối diện với sự cứng lòng của những người Do-thái tại thành An-ti-ốt: "Hai người đối cùng họ phủi bụi nơi chơn mình, rồi đi đến thành Y-cô-ni" (Công Vụ Các Sứ Đồ 13:51). Ai có thể nói là hai ông không nhẫn nại? Hội Thánh ngày nay cần phải bắt chước Phao-lô và Ba-na-ba trong sự vâng theo mệnh lệnh của Chúa về cách thức cư xử đối với những người chống đối Đạo Chúa.

Chúa dạy chúng ta rao giảng bất luận gặp thời hay không gặp thời nhưng Chúa không dạy chúng ta nài nỉ, kéo ép hay dùng tâm lý học khiến cho người ta tin Chúa. Làm ơn cho một người vì họ có nhu cầu và chúng ta có lòng thương là việc tốt nhưng làm ơn nhằm mục đích lấy lòng người ta để người ta vị nể mình mà tin Chúa là sai. Khi làm như vậy chúng ta đã vô tình cho rằng Tin Lành không có quyền phép để cứu người (Rô-ma 1:16) mà việc làm lấy lòng của chúng ta mới có quyền phép để cứu người! Và thật ra, sự tin Chúa như vậy không cứu ai hết! Câu Thánh Kinh II Ti-mô-thê 4:2 trong Bản Dịch Truyền Thống dịch là: "Hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi;" Chữ "nài khuyên" khiến cho người đọc hiểu lầm là khi giảng Đạo phải "năn nỉ" người ta tin Chúa. Tuy nhiên, dịch cho sát ý thì sẽ là: "Hãy giảng Đạo, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, sửa trị, kêu gọi, cứ dạy dỗ chẳng thôi." Chúng ta cần kêu gọi người nghe Đạo tin nhận Đạo nhưng chúng ta không cần phải nài nỉ họ!

Tình Yêu nhẫn nại nghĩa là tình yêu có sức kiên trì chịu đựng mọi sự nghịch lại với bản tính của mình, chịu đựng những vô lý, bất công đến từ người khác hoặc hoàn cảnh để đạt được mục đích tốt đẹp đã đặt ra.

2. Tình yêu nhân từ: Từ ngữ "nhân từ" có nghĩa là cư xử tốt với mọi người; không phải là làm ra vẻ cư xử tốt mà là hành động tốt thật sự phát xuất từ đáy lòng. Nhân từ hay cư xử tốt có nghĩa là luôn luôn làm ơn cho người khác, đặt quyền lợi của người khác trước quyền lợi của mình một cách tự nguyện, vô điều kiện. Đức Chúa Trời luôn luôn nhân từ. Các Thi Thiên luôn nhắc đến điệp khúc: "Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời!" Đức Chúa Trời nhân từ vì Ngài: "khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác" (Ma-thi-ơ 5:45); Ngài "lấy nhân từ đối đãi kẻ bạc và kẻ dữ" (Lu-ca 6:35). Kẻ bạc là kẻ vô ơn, kẻ dữ là kẻ làm ra những điều nghịch lại điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời. Trong Ma-thi-ơ 5:45 Chúa cũng dạy chúng ta nhân từ một cách trọn vẹn như Cha của chúng ta ở trên trời. Nhân từ không có nghĩa là không thi hành kỷ luật mà là khi cần thiết thì thi hành kỷ luật với lòng đau thương để bảo vệ sự công chính. Sự Kiện Đức Chúa Trời hy sinh Con Một của Ngài để thế gian được thoát khỏi sức mạnh và hậu quả của tội lỗi là hành động nhân từ vô bờ bến của Ngài đối với thế gian nhưng cùng lúc Ngài thi hành hình phạt tội lỗi cách nặng nề trên Con Một của Ngài. Sự kiện Đức Chúa Jesus Christ từ bỏ địa vị Thiên Chúa của mình để gánh thay hình phạt của tội lỗi và chết thay cho loài người là hành động nhân từ vô bờ bến của Ngài nhưng một ngày kia Ngài sẽ phán xét những ai không tin nhận ơn cứu rỗi của Ngài. Sự kiện Đức Thánh Linh cáo trách thế gian về tội lỗi để đưa mọi người đến sự ăn năn tội là hành động nhân từ vô bờ bến của Ngài nhưng những ai chống nghịch Ngài thì sẽ bị hư mất đời đời.

Tình yêu nhân từ có nghĩa là luôn luôn làm ơn cho người khác, đặt quyền lợi của người khác trước quyền lợi của mình một cách tự nguyện, vô điều kiện. Lòng nhân từ bao gồm sự ân cần quở trách, sửa phạt những kẻ có lỗi để cải hóa họ.

Nhẫn nại và nhân từ có liên quan mật thiết với nhau. Lòng nhẫn nại và nhân từ còn đến mãi mãi nhưng sự thể hiện cho mỗi đối tượng thì có giới hạn, tùy theo thái độ đáp ứng của đối tượng. Khi sự nhẫn nại kết thúc thì sự nhân từ cũng kết thúc. Dù Đức Chúa Trời nhẫn nại và nhân từ nhưng Ngài cũng từng hủy diệt cả thế gian, ngoại trừ gia đình Nô-ê tám người, bằng cơn lụt lớn toàn cầu khi loài người đã phạm tội đến mức không còn có thể ăn năn. Dầu vậy, Ngài cũng đã dành cho họ 120 năm để ăn năn. Một ngày không còn bao lâu nữa, Đức Chúa Jesus Christ sẽ phán xét và tận diệt mọi kẻ ác trong thế gian. Khi đó, Ngài sẽ dành ra bảy năm để ban cơ hội cho những ai có lòng ăn năn được đến với sự cứu rỗi của Ngài. Trong ba năm rưỡi sau cùng của bảy năm đó, Tin Lành sẽ được thiên sứ bay giữa trời rao truyền cho muôn dân, muôn nước trên đất (Khải Huyền 14:6). Thánh Kinh tiên tri trước là sẽ có vô số người ăn năn tội và tin nhận Tin Lành trong giai đoạn đó, dù họ phải trá giá bằng chính mạng sống của họ trước sự bắt bớ của chính quyền toàn cầu do Anti-Christ (kẻ chống nghịch Đức Chúa Jesus Christ) thống lãnh. Nhẫn nại và nhân từ không bao giờ có nghĩa là bao che và bỏ qua tội lỗi mà chỉ có nghĩa là cư xử tốt

Đọc Tiếp →
9,560 views

Các Giao Ước của Đức Chúa Trời

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Ghi Chú: Bấm vào các từ ngữ Hê-bơ-rơ hoặc Hy-lạp để nghe phát âm. Bấm vào các mã số Strong (bắt đầu bằng H hoặc G) để xem định nghĩa trong tiếng Anh.

Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này

I. Dẫn Nhập

Đức tin của Cơ-đốc nhân được xây dựng trên Lời của Đức Chúa Trời, là Thánh Kinh, do các tiên tri của Đức Chúa Trời cùng các sứ đồ của Đức Chúa Jesus Christ rao giảng và ghi chép lại. Điều đó được chính Lời của Chúa khẳng định trong Thánh Kinh, thư Ê-phê-sô 2:20:

"Anh em đã được dựng nên trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri, chính Đức Chúa Jesus Christ là đá góc nhà."

Nội dung của Thánh Kinh là sự bày tỏ về Đức Chúa Trời và tình yêu của Ngài dành cho loài người qua các giao ước do chính Ngài lập nên với loài người. Những tiên tri của Đức Chúa Trời thời Cựu Ước (Giao Ước Cũ) ghi lại các giao ước của Đức Chúa Trời lập nên với loài người trong từng giai đoạn lịch sử, trước khi Đấng Christ đến thế gian, là những giao ước làm nền tảng và hình bóng cho giao ước cuối cùng, còn gọi là Giao Ước Mới (Tân Ước), do Đức Chúa Jesus Christ làm trung bảo (người đứng giữa hai bên kết ước làm bão lãnh cho sự thi hành giao ước) và thi hành. Các sứ đồ ghi lại và giải thích ý nghĩa, kết quả của Giao Ước Mới.

Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu về các giao ước của Đức Chúa Trời đã lập ra với loài người để có thể hiểu rõ nền tảng đức tin của Cơ-đốc nhân.

II. Ý Nghĩa và Các Yếu Tố của Giao Ước

Theo nguyên ngữ của Thánh Kinh, từ ngữ "giao ước" trong tiếng Hê-bơ-rơ (Hebrew) là "berı̂yth," H1285, phiên âm là /be-rít/, có nghĩa là "sự ràng buộc," và trong tiếng Hy-lạp (Greek) là "diathēkē," G1242, phiên âm là /đi-a-phế-kê/, có nghĩa là "giao ước" hoặc "lời di chúc." Giao ước là sự đồng ý giữa hai hay nhiều người hoặc hai hay nhiều nhóm người về một điều gì đó. Giao ước bao gồm bốn yếu tố sau đây:

1. Các bên dự phần trong giao ước: Có thể là giữa các cá nhân như Áp-ra-ham lập giao ước với Vua A-bi-mê-léc (Sáng Thế Ký 21:27). Có thể là giữa các dân tộc như dân I-sơ-ra-ên lập giao ước với dân Ga-ba-ôn (Giô-suê 9:3-16). Có thể là giữa Đức Chúa Trời và một người như Đức Chúa Trời lập giao ước với Nô-ê (Sáng Thế Ký 6:18). Có thể là giữa Đức Chúa Trời và một dân tộc như Đức Chúa Trời lập giao ước với dân I-sơ-ra-ên (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:27). Có thể là giữa Đức Chúa Trời và tất cả những ai muốn được cứu rỗi như Giao Ước Mới mà Đức Chúa Trời đã lập và được Đức Chúa Jesus Christ bảo chứng bằng máu của Ngài (Giê-rê-mi 31:31; Lu-ca 22:20; Hê-bơ-rơ 9:15).

2. Các điều kiện trong giao ước: Trong mỗi giao ước đều có các điều kiện, tức là các bổn phận, mà mỗi bên kết ước phải thi hành. Tuy nhiên, trong một số các giao ước của Đức Chúa Trời đối với loài người thì về phía loài người không bị ràng buộc phải làm một điều gì cả nhưng về phía Đức Chúa Trời thì Ngài tự ràng buộc mình làm ra những điều phước hạnh cho loài người. Các giao ước mà Đức Chúa Trời không đặt ra điều kiện hay bổn phận cho loài người là các giao ước do Ngài thiết lập dựa trên đức tin và sự vâng lời của loài người đối với Ngài đã được thể hiện trước đó, làm cho Ngài được vui lòng, như giao ước Ngài lập ra với Nô-ê sau cơn nước lụt.

3. Các kết quả từ giao ước: Có hai loại kết quả ra từ giao ước: (1) Lời hứa và phúc lợi dành cho sự thi hành trọn vẹn các điều kiện trong giao ước. (2) Lời cảnh cáo và hình phạt dành cho sự làm ra những điều trái nghịch với hoặc không thi hành chính xác các điều kiện trong giao ước. Riêng trong các giao ước có điều kiện Đức Chúa trời lập ra với loài người thì hai kết quả trên đây chỉ áp dụng về phía loài người; về phía Đức Chúa Trời thì Ngài dành quyền hủy bỏ lời hứa của Ngài khi loài người vi phạm các điều kiện của giao ước.

4. Sự bảo đảm cho giao ước: Giao ước nào cũng phải có sự bảo đảm cho sự thi hành và hoàn thành. Đối với loài người thì có thể là một lễ vật như trường hợp Áp-ra-ham dâng chiên và bò cho Vua A-bi-mê-léc (Sáng Thế Ký 21:27); hoặc dựng nên tiêu chí bằng một đống đá như Gia-cốp kết ước với La-ban (Sáng Thế Ký 31:48); hoặc nhân danh Đức Giê-hô-va như trong trường hợp Giô-na-than kết ước cùng Đa-vít (I Sa-mu-ên 20:8)… Riêng Đức Chúa Trời thì Ngài chỉ danh của Ngài để thề (Sáng Thế Ký 22:16; Phục Truyền Luật Lệ Ký 29:12; Hê-bơ-rơ 6:13), dùng máu của bò tơ để bảo đảm cho Giao Ước Cũ Ngài lập ra với dân I-sơ-ra-ên (Xuất Ê-díp-tô Ký 24:5-8) và làm hình bóng về sự Ngài sẽ dùng chính máu của Đấng Christ để làm bảo đảm cho Giao Ước Mới (Giê-rê-mi 31:31; Lu-ca 22:20).

III. Những Đặc Điểm của Các Giao Ước do Đức Chúa Trời Lập Ra với Loài Người

Có bảy đặc điểm trong các giao ước do Đức Chúa Trời lập ra với loài người:

1. Đức Chúa Trời chủ động, thiết lập các giao ước ban lời hứa về sự cứu rỗi, sự quan phòng, và sự ban phước của Ngài đối với loài người. Tất cả các giao ước giữa Đức Chúa Trời với loài người đều do chính Đức Chúa Trời chủ động lập nên. Nội dung của các giao ước bao gồm: (1) Lời hứa về sự cứu rỗi loài người ra khỏi tội lỗi và hậu quả của tội lỗi. (2) Lời hứa về sự quan phòng của Đức Chúa Trời đối với loài người khi loài người còn sống trong xác thịt. (3) Lời hứa về sự Đức Chúa Trời ban phước cho loài người trong cuộc sống của đời này và các phước hạnh đời đời trong trời mới, đất mới.

2. Các giao ước của Đức Chúa Trời luôn mang tính chất tiên tri, báo trước những điều Ngài sẽ làm cho loài người. Có thể nói, các giao ước của Đức Chúa Trời là những lời Ngài tự ý hứa với loài người về những điều phước hạnh Ngài muốn làm và sẽ làm thành cho loài người. Lúc các giao ước được thiết lập là lúc các điều khoản trong giao ước chưa được thi hành, vì thế các giao ước của Đức Chúa Trời đối với loài người luôn mang tính chất tiên tri.

3. Tất cả mọi điều khoản trong các giao ước Đức Chúa Trời yêu cầu loài người phải thi hành đều có chung mục đích là khiến cho loài người được luôn luôn giống như Đức Chúa Trời trong sự thánh khiết, yêu thương, và công chính. Điển hình như Mười Điều Răn trong Giao Ước Cũ tại Si-na-i hay ba điều kiện trong Giao Ước Mới tại Gô-gô-tha: (1) Hãy ăn năn, đừng phạm tội nữa; (2) Hãy tin cậy Đấng Christ; (3) Hãy nên thánh. Toàn bộ Thánh Kinh thời Tân Ước triển khai ba điều kiện trong Giao Ước Mới thành các mệnh lệnh chi tiết như: Hãy bước đi theo Thánh Linh, chớ hề làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt. Chớ yêu thế gian và những sự thuộc về thế gian. Hãy yêu thương, tha thứ kẻ thù. Phải từ bỏ mọi sự, mỗi ngày vác thập tự giá mình đi theo Chúa. Hãy trung tín với Chúa cho đến chết…

4. Các giao ước của Đức Chúa Trời dù bắt đầu với một cá nhân nhưng luôn bao gồm cả gia tộc, dù bắt đầu với một gia tộc nhưng luôn bao gồm cả một dân tộc, và dù bắt đầu với một dân tộc nhưng luôn bao gồm cả muôn dân.

♦ Khi Đức Chúa Trời kết ước trước cơn nước lụt với Nô-ê thì giao ước đó bao gồm vợ con và các con dâu của ông cùng các loài sinh vật được ông mang theo (Sáng Thế Ký 6:18-20). Khi Đức Chúa Trời kết ước cùng Nô-ê và dòng dõi của ông sau cơn nước lụt thì giao ước đó bao gồm tất cả mọi người và những sinh vật khác trong thế gian (Sáng Thế Ký 9:8-17).

♦ Khi Đức Chúa Trời kết ước với Áp-ra-ham thì giao ước đó bao gồm dòng dõi ông về phần thuộc thể (Sáng Thế Ký 15:18) còn về phần thuộc linh thì bao gồm tất cả những ai có đức tin nơi Đức Chúa Trời giống như ông. Điều đó dẫn đến sự kiện, về phương diện thuộc linh, giao ước của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham bao gồm Hội Thánh: "Vậy, người đã nhận lấy dấu cắt bì, như dấu ấn của sự công bình mà người đã được bởi đức tin, khi chưa chịu cắt bì; hầu cho làm cha hết thảy những kẻ tin mà không chịu cắt bì, đặng họ được kể là công bình" (Rô-ma 4:11). "Thánh Kinhcũng biết trước rằng Đức Chúa Trời sẽ xưng dân ngoại là công bình bởi đức tin, nên đã rao truyền trước cho Áp-ra-ham tin lành nầy: Các dân sẽ nhờ ngươi mà được phước" (Ga-la-ti 3:8).

♦ Khi Đức Chúa Trời kết ước với dân tộc I-sơ-ra-ên tại núi Si-na-i thì giao ước đó cũng bao gồm những ai không thuộc về I-sơ-ra-ên mà chịu vâng theo các điều khoản trong giao ước đó, bất kể họ thuộc về dân tộc nào; điển hình là vô số những người ngoại bang đi theo dân I-sơ-ra-ên rời bỏ xứ Ê-díp-tô (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:38) và các nô lệ hoặc khách ngoại bang kiều ngụ trong xứ của dân I-sơ-ra-ên (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:48, 49).

♦ Giao Ước Mới được công bố và bảo chứng bởi Đấng Christ (I Ti-mô-thê 2:5; Hê-bơ-rơ 8:6; 9:15; 12:24) là giao ước Đức Chúa Trời thiết lập với dân I-sơ-ra-ên qua 11 sứ đồ người I-sơ-ra-ên trong đêm Lễ Vượt Qua tại thành Giê-ru-sa-lem. Đấng Christ đã bảo chứng giao ước đó bằng máu của Ngài trên thập tự giá tại núi Gô-gô-tha (Ma-thi-ơ 26:28; Mác 14:24; Lu-ca 22:20; I Cô-rinh-tô 11:25). Mặc dù Giao Ước Mới, còn được gọi là Giao Ước Của Lời Hứa, được thiết lập với dân I-sơ-ra-ên theo như lời hứa của Đức Chúa Trời trong Giê-rê-mi 31:31, "Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ Ta sẽ lập một giao ước mới với nhà I-sơ-ra-ên và với nhà Giu-đa;" nhưng giao ước ấy bao gồm tất cả những ai dù không phải là dân I-sơ-ra-ên mà chịu vâng theo các điều khoản trong giao ước ấy, nghĩa là: (1) chịu ăn năn, từ bỏ tội; (2) hết lòng tin cậy Đấng Christ; (3) và chịu nên thánh. Ê-phê-sô 2:12-19 chép:

12 Trong thuở đó, anh em không có Đấng Christ, bị ngoại quyền công dân I-sơ-ra-ên, chẳng dự vào giao ước của lời hứa, không có sự trông cậy và vô thần trong thế gian.

13 Nhưng trong Đấng Christ Jesus, anh em là kẻ ngày trước cách xa, hiện nay đã nhờ huyết Đấng Christ mà được gần rồi.

14 Vì, ấy chính Ngài là sự hòa hiệp của chúng ta; Ngài đã hiệp cả hai lại làm một, phá đổ bức thường ngăn cách,

15 chấm dứt sự thù nghịch, luật pháp của các điều răn trong các điều lệ, trong xác thịt Ngài. Như vậy, khi làm cho hòa nhau, Ngài lấy cả hai lập nên một người mới trong Ngài,

16 và vì bởi thập tự giá Ngài đã làm cho sự thù nghịch tiêu diệt, nên nhờ thập tự giá đó Ngài khiến cả hai hiệp thành một thể, mà làm hòa thuận với Đức Chúa Trời.

17 Ngài lại đã đến rao truyền sự hòa bình cho anh em là kẻ ở xa, và sự hòa bình cho kẻ ở gần.

18 Vì ấy là nhờ Ngài mà chúng ta cả hai đều được phép đến gần Đức Chúa Cha, đồng trong một thần trí.

19 Dường ấy anh em chẳng phải là người ngoại, cũng chẳng phải là kẻ ở trọ nữa, nhưng là người đồng quốc với các thánh đồ, và là người nhà của Đức Chúa Trời.

5. Các giao ước của Đức Chúa Trời không hề triệt tiêu lẫn nhau nhưng bổ sung cho nhau, có tính thừa kế và tiếp nối lẫn nhau. Xét qua các giao ước, chúng ta sẽ nhận thấy Giao Ước Áp-ra-ham thừa kế và tiếp nối Giao Ước Nô-ê; Giao Ước Si-na-i thừa kế và tiếp nối Giao Ước Áp-ra-ham; Giao Ước Mới thừa kế và tiếp nối Giao Ước Si-na-i. Nói cách khác, trong Giao Ước Mới bao gồm các giao ước: Nô-ê, Áp-ra-ham, và Si-na-i; còn Giao Ước Áp-ra-ham thì đã bao gồm các giao ước: I-sác, Gia-cốp, và Đa-vít.

Chúng ta có thể hình dung ra một loại cây ăn trái từ khi nảy mầm cho đến khi kết quả là ba năm, làm minh họa cho sự tương quan và hiệp một của các giao ước. Năm thứ nhất, thân cây có một lớp thịt, năm thứ nhì, thân cây có thêm một lớp thịt khác, năm thứ ba thân cây lại có thêm một lớp thịt khác và hoàn toàn trưởng thành, ra hoa, ra trái. Mỗi một lớp thịt của thân cây tiêu biểu cho một giao ước, mạch nhựa sống giữa thân cây tiêu biểu cho ý nghĩa và mục đích của các giao ước, bông trái là kết quả của giao ước.

6. Các giao ước của Đức Chúa Trời đối với loài người được lập ra trước khi Đấng Christ đến thế gian đều là hình bóng và nền tảng cho Giao Ước Mới được thiết lập qua Đấng Christ. Cùng một hình ảnh minh họa trong tiết mục trên đây, chúng ta có thể nhận thấy tất cả các giao ước cũ là để chuẩn bị cho và làm nền tảng cho Giao Ước Mới như các lớp thịt của thân cây được hình thành mỗi năm (I Cô-rinh-tô 10:11; Hê-bơ-rơ 9:9).

7. Tất cả các giao ước của Đức Chúa Trời còn được gọi là lời tiên tri và luật pháp, có hiệu lực liên tục và sẽ không qua đi cho đến khi trời cũ đất cũ qua đi (Ma-thi-ơ 5:18), ngoại trừ Giao Ước Mới do Đấng Christ công bố và làm trung bảo là Giao Ước được hoàn thành trọn vẹn trong trời mới, đất mới.

IV. Phân Loại Các Giao Ước do Đức Chúa Trời Lập Ra với Loài Người

Có hai hình thức phân loại các giao ước do Đức Chúa Trời lập ra với loài người: Hình thức phân loại theo nhận thức thần học và hình thức phân loại theo thống kê.

1. Phân loại thần học: Theo nhận thức thần học thì có ba loại giao ước do Đức Chúa Trời lập ra với loài người như được liệt kê và giải thích dưới đây:

♦ Giao Ước Lương Tâm còn gọi là Giao Ước Lựa Chọn hoặc Giao Ước A-đam hoặc Giao Ước Ê-đen: (1) Bày tỏ ý muốn nguyên thỉ của Đức Chúa Trời đối với loài người. Ngài muốn loài người tự nguyện tin cậy Ngài và vui hưởng tình yêu của Ngài. (2) Thử nghiệm lương tâm của loài người. Loài người tự mình lựa chọn tin cậy hoặc không tin cậy Đức Chúa Trời, cũng có nghĩa là lựa chọn sự sống hoặc sự chết.

Giao Ước Lương Tâm bao gồm các yếu tố như sau:

a) Các bên kết ước: Đức Chúa Trời kết ước với loài người qua A-đam.

b) Các điều kiện:

– Về phía Đức Chúa Trời: (1) Ban cho A-đam cơ hội được nhận sự sống đời đời qua cây sự sống. (2) Ban cho A-đam quyền cai trị đất và muôn vật trên đất. (3) Chăm sóc và bảo vệ A-đam.

– Về phía A-đam: Yêu kính, tin cậy, và vâng phục Đức Chúa Trời, thể hiện qua hành động: (1) Không ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác. (2) Trồng và giữ vườn Ê-đen. (3) Sinh sản, làm cho đầy dẫy đất. (4) Cai trị đất và muôn vật trên đất.

c) Các kết quả:

– Thưởng: Sự sống đời đời thuộc thể lẫn thuộc linh trong địa vị con cái của Đức Chúa Trời. Sự sống đời đời là được mãi mãi thực hữu bên cạnh Đức Chúa Trời, vui hưởng các ơn phước từ nơi Ngài, được Thánh Kinh diễn tả như sau: "Tôi nghe một tiếng lớn từ trời phán rằng: "Này, lều của Đức Chúa Trời ở với loài người và Ngài sẽ ở với họ. Họ sẽ làm dân của Ngài và chính mình Đức Chúa Trời sẽ ở với họ, làm Đức Chúa Trời của họ. Đức Chúa Trời sẽ lau hết mọi nước mắt khỏi mắt họ. Sẽ không còn sự chết, không còn buồn khổ, không còn khóc lóc, cũng không còn đau đớn nữa vì những sự cũ đã qua rồi" (Khải Huyền 21:3, 4).

– Phạt: Sự chết đời đời thuộc thể lẫn thuộc linh và trở thành con cái của Sa-tan. Sự chết đời đời là bị mãi mãi xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của quyền phép Ngài: "Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của quyền phép Ngài" (II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9); là chịu khổ đời đời trong hỏa ngục: "Ma Quỷ là kẻ lừa dối chúng bị ném vào hồ lửa và lưu hoàng, nơi có con thú và tiên tri giả. Chúng sẽ bị đau khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời… Sự chết và âm phủ bị ném vào hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai. Bất kỳ kẻ nào không tìm thấy được chép trong Sách Sự Sống thì bị ném vào hồ lửa." (Khải Huyền 20:10, 14, 15).

d) Sự bảo đảm:

– Về phía Đức Chúa Trời: Lời phán của Chúa là sự bảo đảm cho A-đam vì Lời Ngài là chân thật.

– Về phía A-đam: Lương tâm.

♦ Giao Ước Luật Pháp còn gọi là Giao Ước Việc Làm hoặc Giao Ước Si-na-i hoặc Giao Ước Cũ: Chuẩn bị cho sự thiết lập Giao Ước Ân Điển. (1) Qua các điều răn và luật pháp: dạy về tiêu chuẩn thánh khiết và công bình tuyệt đối của Đức Chúa Trời là điều luôn đối nghịch với những sự ưa muốn xấu xa của xác thịt; mọi sự vi phạm điều răn và luật pháp đều phải bị hình phạt. (2) Qua các lễ nghi chuộc tội: bày tỏ sự nhân từ, thương xót của Đức Chúa Trời dành cho những người biết ăn năn tội, muốn sống theo điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời. (3) Qua sự ban phước: giảm thiểu hậu quả của tội lỗi trên người có đức tin nơi Đức Chúa Trời trong khi họ chờ đợi sự cứu chuộc của Đấng Christ.

Giao Ước Luật Pháp bao gồm các yếu tố như sau:

a) Các bên kết ước: Đức Chúa Trời kết ước với dân I-sơ-ra-ên, bao gồm tất cả những ai không phải người I-sơ-ra-ên nhưng chịu sống chung với dân I-sơ-ra-ên và vâng giữ các điều kiện của giao ước. Vì thế, có thể nói, Đức Chúa Trời kết ước với nhân loại qua dân tộc I-sơ-ra-ên.

b) Các điều kiện:

– Về phía Đức Chúa Trời: (1) Ban đất Ca-na-an cho dân I-sơ-ra-ên làm lãnh thổ. (2) Ban phước cho dân I-sơ-ra-ên được trở thành một dân thánh, một nước thầy tế lễ thuộc về Đức Chúa Trời (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:6). (3) Tha thứ và phục hồi dân I-sơ-ra-ên nếu dân I-sơ-ra-ên biết ăn năn tội và dâng tế lễ chuộc tội.

– Về phía dân I-sơ-ra-ên: (1) Vâng giữ Mười Điều Răn. (2) Vâng giữ các luật lệ về lễ nghi thờ phượng Đức Chúa Trời, về sự dâng của lễ chuộc tội, và các mạng lịnh khác của Đức Chúa Trời được ghi lại trong sách luật pháp.

Chúng ta có thể nhận thấy các lời hứa của Đức Chúa Trời trong Giao Ước Luật Pháp (Giao Ước Cũ) là nền tảng và hình bóng cho các lời hứa trong Giao Ước Ân Điển (Giao Ước Mới):

(1) Ban đất Ca-na-an cho dân I-sơ-ra-ên làm lãnh thổ là hình bóng cho lời hứa ban đất trong Giao Ước Mới: "Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưởng được đất" (Ma-thi-ơ 5:5)! Lời hứa này sẽ hiện thực trong Vương Quốc Ngàn Năm và trong trời mới, đất mới.

(2) Ban phước cho dân I-sơ-ra-ên được trở thành một dân thánh, một nước thầy tế lễ thuộc về Đức Chúa Trời là hình bóng cho sự ban phước cho con dân Chúa trong Giao Ước Mới: "Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh, là dân thuộc về Đức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhơn đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài; anh em ngày trước không phải là một dân, mà bây giờ là dân Đức Chúa Trời, trước không được thương xót, mà bây giờ được thương xót" (I Phi-e-rơ 2:9, 10). "Đấng yêu thương chúng ta: đã rửa sạch tội lỗi chúng ta trong máu Ngài, đã lập chúng ta làm những vua và những thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời Ngài và Cha Ngài – Nguyện sự vinh quang và quyền thế thuộc về Ngài cho đến đời đời. A-men" (Khải Huyền 1:6).

(3) Sự tha thứ và phục hồi dân I-sơ-ra-ên nếu dân I-sơ-ra-ên biết ăn năn tội và dâng máu của sinh tế làm tế lễ chuộc tội là hình bóng tha thứ và phục hồi con dân Chúa bởi sự ăn năn, xưng tội và bởi máu của Đấng Christ trong Giao Ước Mới: "Ngài đã vào nơi rất thánh một lần thì đủ hết, không dùng máu của dê đực và của bò con, nhưng dùng chính máu mình, mà được sự chuộc tội đời đời" (Hê-bơ-rơ 9:12). "Nhưng, nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao thông cùng nhau; và máu của Đức Chúa Jesus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta" (I Giăng 1:7). "Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác" (I Giăng 1:9).

Chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy bổn phận vâng giữ Mười Điều Răn và các luật lệ khác trong Thánh Kinh Cựu Ước của dân I-sơ-ra-ên là hình bóng cho sự con dân Chúa trong Giao Ước Mới có bổn phận vâng giữ Mười Điều Răn và tất cả các luật lệ khác trong Thánh Kinh: " Vì ta nói thật cùng các ngươi, đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn. Vậy, ai hủy một điều cực nhỏ nào trong những điều răn nầy, và dạy người ta làm như vậy, thì sẽ bị xưng là cực nhỏ trong Vương Quốc Trời; còn như ai giữ những điều răn ấy, và dạy người ta nữa, thì sẽ được xưng là lớn trong Vương Quốc Trời."(Ma-thi-ơ 5:18, 19). "Vì nầy là sự yêu Đức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng giữ các điều răn Ngài. Các điều răn của Ngài chẳng phải là nặng nề" (I Giăng 5:3).

c) Các kết quả:

– Thưởng: (1) Được tha tội qua sự dâng sinh tế chuộc tội. (2) Được trở thành một nước thầy tế lễ, một dân tộc thánh. (3) Được ban cho đất Ca-na-an làm cơ nghiệp trên đất. (4) Được an cư, lạc nghiệp và phú cường. (5) Được phục hồi nếu sau khi phạm tội biết ăn năn.

– Phạt: (1) Bị thiên tai, chiến tranh cùng các thứ dịch lệ. (2) Bị mất nước, bị thảm sát và bị bắt làm phu tù, làm nô lệ, bị tan lạc cho đến đầu cùng đất.

d) Sự bảo đảm:

– Về phía Đức Chúa Trời: Rương Giao Ước chứa hai bảng đá ghi khắc Mười Điều Răn và cuốn sách luật pháp để bên cạnh Rương Giao Ước, được rưới huyết của bò tơ.

– Về phía dân I-sơ-ra-ên: Đức tin vào Lời Chúa được bày tỏ qua sự chịu cắt bì.

♦ Giao Ước Ân Điển còn gọi là Giao Ước Lời Hứa hoặc Giao Ước Mới: Dẫn đến sự phục hồi mục đích của Giao Ước Lương Tâm. Làm trọn luật pháp công bình và thánh khiết của Đức Chúa Trời: Tội lỗi bị hình phạt. Làm trọn sự nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời đối với loài người: Ban sự cứu rỗi cho nhân loại.

Giao Ước Ân Điển bao gồm các yếu tố như sau:

a) Các bên kết ước: Đức Chúa Trời kết ước với mọi dân tộc qua dân I-sơ-ra-ên.

b) Các điều kiện:

– Về phía Đức Chúa Trời: (1) Trừng phạt tội lỗi của nhân loại trên Đức Chúa Jesus Christ. (2) Tha thứ và làm cho sạch tội những ai ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ. (3) Ban cho người ăn năn tội, tin nhận Đấng Christ địa vị làm con cái của Đức Chúa Trời. (4) Ban cho người ăn năn tội, tin nhận Đấng Christ Thánh Linh của Đức Chúa Trời để người ấy có năng lực sống một nếp sống thánh khiết vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời. (5) Ban cho người ăn năn tội, tin nhận Đấng Christ và trung tín cho đến chết: sự sống lại và sự sống đời đời. (6) Ban cho người ăn năn tội, tin nhận Đấng Christ và trung tín cho đến chết: được kết hợp mầu nhiệm với Đấng Christ trong tiệc cưới Chiên Con. (7) Ban cho người ăn năn tội, tin nhận Đấng Christ và trung tín cho đến chết: được cùng với Đấng Christ thừa kế mọi cơ nghiệp của Đức Chúa Trời. (8) Ban cho người ăn năn tội, tin nhận Đấng Christ và trung tín cho đến chết: được đồng trị với Đấng Christ.

– Về phía mọi dân tộc: (1) Thật lòng ăn năn, từ bỏ mọi sự phạm tội, nghĩa là không còn cố ý vi phạm các điều răn của Đức Chúa Trời. (2) Tin nhận sự cứu chuộc của Đấng Christ. (3) Vui lòng bỏ hết mọi sự, sẵn sàng chịu khổ để có thể làm theo mọi điều Đấng Christ phán dạy.

c) Các kết quả:

– Thưởng: Được sống đời đời trong hạnh phúc với Đức Chúa Trời.

– Phạt: Bị hình phạt tùy theo mỗi việc làm tội lỗi và bị hư mất đời đời trong hỏa ngục. 

d) Sự bảo đảm:

– Về phía Đức Chúa Trời: Máu của Đấng Christ và sự ấn chứng của Đức Thánh Linh.

– Về phía loài người: Đức tin thể hiện qua sự chịu báp-tem và nếp sống thánh khiết theo Lời Chúa.

2. Phân loại thống kê: Hình thức phân loại thống kê ghi ra tất cả những giao ước do Đức Chúa Trời thiết lập với loài người được chép lại trong Thánh Kinh. Có những giao ước được nói đến nhưng không ghi rõ chi tiết, như giao ước giữa Đức Chúa Trời với Y-sác hoặc Gia-cốp.

Thánh Kinh đề cập đến tám giao ước, đó là: Giao Ước Nô-ê, Giao Ước Áp-ra-ham, Giao Ước I-sác, Giao Ước Gia-cốp, Giao Ước Si-na-i, (còn gọi là Giao Ước Luật Pháp hoặc Giao Ước Môi-se hoặc Giao Ước Cũ), Giao Ước Đất Hứa, Giao Ước Đa-vít, và Giao Ước Mới (còn gọi là Giao Ước Lời Hứa hoặc Giao Ước Ân Điển). Trong tám giao ước thì Giao Ước Áp-ra-ham, Giao Ước Si-na-i, và Giao Ước Mới có liên quan mật thiết với nhau trong Sự Cứu Rỗi.

♦ Giao Ước Nô-ê trước cơn nước lụt (Sáng Thế Ký 6:13-22):

13 Thiên Chúa bèn phán cùng Nô-ê rằng: Kỳ cuối cùng của mọi xác thịt đã đưa đến trước mặt Ta; vì cớ loài người mà đất phải đầy dẫy điều hung hăng; vậy, Ta sẽ diệt trừ họ cùng đất.

14 Ngươi hãy đóng một chiếc tàu bằng cây gô-phe, đóng có từng phòng, rồi trét chai bề trong cùng bề ngoài.

15 Vậy, hãy làm theo thế nầy: Bề dài tàu ba tr

Đọc Tiếp →
3,102 views

Ngày Chúa Chết và Ngày Chúa Phục Sinh

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?hg3mzhhw53llojh

Huỳnh Christian Timothy

Lời Tác Giả: Bài này đã được viết vào ngày 31.07.2010, sau đó, đã được hiệu đính hai lần. Trong khi biên soạn tác phẩm “Kỳ Tận Thế,” chúng tôi thu thập được nhiều dữ kiện lịch sử chính xác hơn, cho nên, hôm nay chúng tôi làm công việc hiệu đính lần thứ ba, để giúp quý con dân Chúa có được một tài liệu tham khảo thật chính xác. Huỳnh Christian Timothy, 23.12.2012.

Dẫn Nhập

Hơn 200 năm đầu của lịch sử Hội Thánh, trước khi bị ngoại giáo xâm nhập, dẫn đến việc hình thành Công Giáo [01] với tất cả những giáo lý sai lầm của nó, thì Hội Thánh không hề kỷ niệm sự giáng sinh, sự thương khó hay là sự phục sinh của Chúa. Hội Thánh chỉ biết và thực hiện hai nghi thức do chính Chúa truyền dạy: Lễ Bẻ Bánh, tức Tiệc Thánh, để nhớ đến Chúa, và Lễ Báp-tem để người mới tin Chúa công khai xưng nhận đức tin, gia nhập vào Hội Thánh [02]. Năm 325, qua công đồng lần thứ nhất tại Nicaea, Giáo Hội Công Giáo ra sắc lệnh cho toàn giáo hội kỷ niệm Chúa chịu thương khó vào ngày thứ sáu và kỷ niệm Chúa phục sinh vào chủ nhật liền sau tiết xuân phân (ngày đầu tiên của mùa xuân) [03]. Năm 787, Giáo Hội Công Giáo chính thức phê chuẩn cho sự thờ lạy hình tượng qua công đồng lần thứ bảy, tại Nicaea [04]. Có lẽ, đây là điểm không thể quay lại, khiến cho kể từ đây, Giáo Hội Công Giáo không còn thuộc về Hội Thánh của Chúa nữa. Năm 869, sau Công Đồng Constantinople, thì Giáo Hội Công Giáo bị phân chia thành hai khối: Khối phương tây giữ nguyên tên Công Giáo (Catholic), còn gọi là Công Giáo La-mã, và khối phương đông lấy tên là Chính Thống Giáo (Orthodox), còn gọi là Chính Thống Giáo Đông Phương [05].

Các phong trào cải cách nổi lên từ trong Công Giáo La-mã dẫn đến sự hình thành các Giáo Hội Đối Kháng (Protestant Churches). Tiếp theo đó, các phong trào cải cách nổi lên từ trong các Giáo Hội Đối Kháng dẫn đến sự hình thành các Giáo Hội Cải Chánh (Reformed Churches). Đến thế kỷ 18, các Giáo Hội Tin Lành (Evangelical Churches) được hình thành bởi những người bước ra từ các Giáo Hội Cải Chánh. Dù các Giáo Hội Đối Kháng, Cải Chánh, lẫn Tin Lành đều đem lại những sự thay đổi lớn trong tín lý, trong nếp sống đạo, và trong cơ cấu tổ chức của giáo hội so với Công Giáo La-mã và Chính Thống Giáo Đông Phương, nhưng các giáo hội này vẫn giữ nguyên các Lễ Christmas, Thứ Sáu Thương Khó, Easter… và sự nhóm họp thờ phượng Chúa vào chủ nhật theo truyền thống của Công Giáo, bác bỏ sự tôn kính ngày Sa-bát (tức ngày thứ bảy cuối tuần) của Thiên Chúa. Riêng, một số mục sư Tin Lành người Việt trong những năm gần đây, đã cho hội nhập thêm các thứ Lễ Tro, Lễ Lá, Mùa Chay, Mùa Vọng… của Công Giáo La-mã vào trong giáo hội của mình.

Trong bài này, chúng tôi trình bày một số dữ kiện trích ra từ Thánh Kinh đã được đối chiếu với sử liệu để xác định ngày chết và ngày phục sinh của Chúa. Ước mong bài viết này sẽ giúp cho con dân chân thật của Chúa không bị những truyền thống của các giáo hội dẫn dắt đi vào sự thờ phượng Chúa bằng tâm thần nhưng không bằng lẽ thật (Giăng 4:23, 24).

Ngày Chúa Chết và Ngày Chúa Phục Sinh

Về ngày Chúa sinh thì Thánh Kinh không ghi rõ chi tiết để chúng ta có thể xác định, nhưng về ngày Chúa chết và phục sinh thì Thánh Kinh ghi rất rõ: Chúa bị đóng đinh vào ngày Lễ Vượt Qua, tức ngày 14 tháng Nisan, theo Lịch Do-thái [07]. Chúa chết và bị chôn vào trong lòng đất "ba ngày ba đêm,"tức 72 tiếng đồng hồ [08]; đến "ngày thứ ba,"tức ngày 17 tháng Nisan, thì Chúa phục sinh [09]. Vì thế, giáo lý "Chúa chết vào ngày thứ sáu" và “Chúa phục sinh vào sáng sớm chủ nhật” là hoàn toàn không đúng Thánh Kinh. Ngày Chúa chết phải là ngày thứ tư và ngày Chúa sống lại phải là ngày thứ bảy, trước khi Chúa hiện ra cho Ma-ri Ma-đơ-len và các môn đồ vào ngày thứ nhất trong tuần lễ. Ngày Chúa phục sinh là ngày 17 tháng Nisan không phải lúc nào cũng rơi vào chủ nhật. Thói quen kỷ niệm Chúa phục sinh vào chủ nhật sau ngày xuân phân (ngày mở đầu mùa xuân) là không đúng. Thật ra, chủ nhật sau ngày xuân phân được dân ngoại giáo tổ chức mừng sự phục sinh của Easter, được họ xem là nữ thần sinh sản và mùa màng.

Dưới đây là những chi tiết từ Thánh Kinh được đối chiếu với Lịch Do-thái (Hebrew Calendar) và các chi tiết lịch sử để giúp chúng ta thẩm định ngày Chúa chết và ngày Chúa phục sinh. Có một điểm cần ghi nhớ là: Quan niệm về ngày của người Do-thái khác với chúng ta. Chúng ta bắt đầu một ngày mới từ lúc nửa đêm: 12:00 giờ đêm của ngày hiện tại là 0:00 giờ sáng của ngày hôm sau. Người Do-thái theo cách tính của Thánh Kinh [10], bắt đầu một ngày mới từ sau khi mặt trời lặn của ngày hiện tại. Thí dụ: vào khoảng 6:00 giờ chiều của ngày 13 tháng Nisan (tháng một của lịch Do-thái) là thời điểm chấm dứt ngày 13 và bắt đầu ngày 14 của tháng Nisan. Thánh Kinh ghi chép về sự Thiên Chúa thiết lập Lễ Vượt Qua và truyền cho dân I-sơ-ra-ên cách thức giữ Lễ Vượt Qua như sau, Xuất Ê-díp-tô Ký 12:1-14:

1. Tại xứ Ê-díp-tô, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:

2 Tháng nầy định làm tháng đầu cho các ngươi, tức là tháng Giêng trong quanh năm.

3 Hãy nói cho toàn hội chúng I-sơ-ra-ên rằng: Đến ngày mồng mười tháng nầy, mỗi gia trưởng tùy theo nhà mình phải bắt một con chiên con.

4 Nếu nhà ít người quá ăn không hết một chiên con, hãy chung cùng người rất lân cận mình, tùy theo số người; và hãy tính cho mỗi chiên con tùy sức người ăn hết.

5 Các ngươi hãy bắt hoặc trong bầy chiên, hoặc trong bầy dê, chiên con đực hay là dê con đực, tuổi giáp niên, chẳng tì vít chi,

6 đoạn để dành cho đến ngày mười bốn tháng nầy; rồi cả hội chúng I-sơ-ra-ên sẽ giết nó, vào lối chiều tối.

7 Họ sẽ lấy huyết đem bôi trên hai cây cột và mày cửa của nhà nào ăn thịt chiên con đó.

8 Đêm ấy họ sẽ ăn thịt chiên quay với bánh không men và rau đắng.

9 Chớ ăn thịt nửa chín nửa sống hay là luộc trong nước, nhưng phải quay trên lửa cả và đầu, giò, với bộ lòng.

10 Các ngươi chớ để chi còn lại đến sáng mai; nếu còn lại, hãy thiêu đi.

11 Vậy, ăn thịt đó, phải như vầy: Dây lưng cột, chân mang giày, tay cầm gậy, ăn hối hả; ấy là lễ Vượt-qua của Đức Giê-hô-va.

12 Đêm đó Ta sẽ đi qua xứ Ê-díp-tô, hành hại mọi con đầu lòng xứ Ê-díp-tô, từ người ta cho đến súc vật; Ta sẽ xét đoán các thần của xứ Ê-díp-tô; Ta là Đức Giê-hô-va.

13 Huyết bôi trên nhà các ngươi ở, sẽ dùng làm dấu hiệu; khi Ta hành hại xứ Ê-díp-tô, thấy huyết đó, thì sẽ vượt qua, chẳng có tai nạn hủy diệt các ngươi.

14 Các ngươi hãy ghi ngày đó làm kỷ niệm; trải các đời hãy giữ làm một lễ cho Đức Giê-hô-va, tức là một lễ lập ra đời đời.

Thánh Kinh ghi chép các chi tiết liên quan đến những ngày cuối cùng của Chúa như sau:

1. Thứ tư, ngày Lễ Vượt Qua – Ngày Chúa chết (Ngày 14 tháng Nisan): Trong ngày Lễ Vượt Qua, bắt đầu từ sau khi mặt trời lặn của ngày 13 cho đến trước khi mặt trời lặn của ngày 14 tháng Nissan:

  • Chiên con của Lễ Vượt Qua bị giết. Chiên con của Lễ Vượt Qua phải bị giết sau khi mặt trời lặn của ngày 13 tháng Nissan, là lúc đã bước sang buổi chiều tối ngày 14 của Lễ Vượt Qua.
  • Chúa và các môn đồ ăn Lễ Vượt Qua. Bửa ăn của Lễ Vượt Qua thuộc về đêm 14 rạng sáng 14 tháng Nissan.
  • Chúa thiết lập Tiệc Thánh.
  • Chúa cầu nguyện trong vườn Ghết-sê-ma-nê.
  • Chúa bị bắt và bị xét xử bởi Tòa Công Luận.
  • Phi-e-rơ chối Chúa.
  • Sau khi mặt trời mọc ngày 14, Chúa bị xét xử bởi Tổng Trấn Phi-lát, bị giải đến trước Vua Hê-rốt, bị Phi-lát giao cho quân lính đem đi đóng đinh.
  • Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, người sứ đồ phản Chúa, tự sát.
  • Chúa chết trên thập tự giá (Chiên con của Đức Chúa Trời bị giết!), vào khoảng 3 giờ chiều ngày 14.
  • Xác Chúa được chôn cất trước khi mặt trời lặn của ngày 14.

2. Thứ năm, ngày thứ nhất của Lễ Bánh Không Men (Ngày 15 tháng Nisan): Đây là một ngày Sa-bát trọng thể còn gọi là Lễ Sa-bát [11] và bắt đầu cho bảy ngày Lễ Hội Bánh Không Men [12]. Mặc dù Lễ Bánh Không Men bắt đầu vào ngày 15 nhưng trong ngày 14 của Lễ Vượt Qua thì dân I-sơ-ra-ên đã bắt đầu ăn bánh không men [13].

Ngày thứ nhất của Lễ Bánh Không Men bắt đầu từ sau khi mặt trời lặn của ngày 14 và kết thúc khi mặt trời lặn vào ngày 15:

  • Xác Chúa được chôn từ trước khi mặt trời lặn ngày 14. Tính đến trước khi mặt trời lặn của ngày 15 thì Chúa đã ở trong lòng đất trọn một đêm 14 và trọn một ngày 15 (khoảng 24 tiếng).
  • Vì đây là một ngày Sa-bát trọng thể cho nên các nữ môn đồ của Chúa đã không thể đi mua sắm hương liệu để tẩm xác Chúa.

3. Thứ sáu, ngày thứ nhì của Lễ Bánh Không Men (Ngày 16 tháng Nisan):

  • Tính đến trước khi mặt trời lặn của ngày 16 thì Chúa đã ở trong lòng đất trọn hai đêm, đêm 14 15, và trọn hai ngày, ngày 15 16 (khoảng 48 tiếng).
  • Có lẽ, trong ngày này các nữ môn đồ của Chúa đã cùng nhau đi mua sắm hương liệu để xức xác Chúa.

4. Thứ bảy, ngày Sa-bát cuối tuần – Ngày Chúa phục sinh (Ngày 17 tháng Nisan):

  • Tính đến trước khi mặt trời lặn của ngày 17 thì Chúa đã ở trong lòng đất trọn ba đêm, đêm 14 15 16, và trọn ba ngày, ngày 15 16 17 (khoảng 72 tiếng).
  • Vì Thánh Kinh cho biết Chúa bị chết và được chôn, "đến ngày thứ ba" "sau ba ngày"Chúa sẽ sống lại cho nên chúng ta có thể kết luận rằng: Chúa đã phục sinh vào thời điểm kết thúc ngày 17 để sang ngày 18 (ngày thứ nhất trong tuần, tức chủ nhật), tức là vào thời điểm trước khi mặt trời lặn của cuối ngày 17. Ngày 17 là "ngày thứ ba"sau khi Chúa bị chết và được chôn. Thời điểm cuối cùng của ngày 17 ứng với cụm từ "sau ba ngày."
  • Chúa không thể sống lại sau khi mặt trời lặn, vì lúc đó sẽ là khởi đầu của ngày thứ nhất trong tuần lễ và như vậy thì sẽ trở thành "đến ngày thứ tư" Chúa sống lại, không đúng với lời Chúa phán.

5. Ngày thứ nhất đầu tuần (chủ nhật), sau khi Chúa sống lại (Ngày 18 tháng Nisan):

  • Sáng sớm, Chúa hiện ra cho Ma-ri Ma-đơ-len.
  • Chúa về cùng Cha.
  • Chúa hiện ra cho hai môn đồ trên đường họ đến làng Em-ma-út.
  • Buổi chiều, Chúa hiện ra cho các môn đồ.

Mác 16:9 là một câu khiến cho nhiều người hiểu lầm. Xin so sánh câu ấy Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống và câu dịch sát ý của chúng tôi:

Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống: “Vả, Đức Chúa Jesus đã sống lại buổi sớm mai ngày thứ nhứt trong tuần lễ, thì trước hết hiện ra cho Ma-ri Ma-đơ-len, là người mà Ngài đã trừ cho khỏi bảy quỉ dữ.”

Dịch sát nghĩa: “Khi đã sống lại, trước hết Ngài hiện ra cho Ma-ri Ma-đơ-len vào buổi sớm mai của ngày thứ nhất trong tuần lễ, (bà) là người Ngài đã đuổi bảy tà linh ra khỏi.”

Chú thích: Trong nguyên tác Thánh Kinh không có cụm từ "Đức Chúa Jesus." Chữ "bà" không có trong nguyên tác nhưng được chúng tôi thêm vào cho câu văn đúng theo văn phạm Việt.

Đọc theo câu dịch của Bản Dịch Truyền Thống thì người đọc sẽ hiểu là Chúa sống lại vào buổi sớm mai của ngày thứ nhất trong tuần lễ. Đọc theo câu dịch sát nghĩa thì người đọc sẽ hiểu là sau khi sống lại (không đề cập lúc nào) thì trước hết, Chúa hiện ra cho Ma-ri Ma-đơ-len vào buổi sáng sớm của ngày thứ nhất trong tuần lễ. Xin so sánh với các bản dịch Anh ngữ cổ dưới đây:

Bishops' Bible (1568): When [Iesus] was rysen early, the first [day] after the Sabboth, he appeared firste to Marie Magdalene, out of whom he had cast seuen deuils.

Geneva Bible (1587): And when Iesus was risen againe, early the first day of the weeke, he appeared first to Marie Magdalene, out of whom he had cast seuen deuils:

Ngày Tháng Năm Chúa Chết và Phục Sinh Theo Lịch

Theo sự trình bày trên đây, chúng ta nhận thấy ngày Chúa chết phải là ngày thứ tư và ngày Chúa phục sinh phải là ngày thứ bảy. Trong nguyên tác của Thánh Kinh, Ma-thi-ơ 28:1 xác nhận rằng thời gian từ khi Chúa chết cho đến khi Chúa sống lại có "nhiều" ngày Sa-bát vì Ma-thi-ơ dùng danh từ Sa-bát số nhiều trong câu này:

Bản Dịch Truyền Thống: Sau ngày Sa-bát, ngày thứ nhứt trong tuần lễ, lúc tưng tưng sáng, có Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri khác đến thăm mộ.

Dịch sát nghĩa: Sau nhữngngày Sa-bát, ngày thứ nhứt trong tuần lễ, lúc sáng sớm, có Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri khác đến thăm mộ.

Như vậy, rõ ràng là từ khi Chúa chết cho đến khi Chúa sống lại phải có hai ngày Sa-bát: một là ngày Lễ Sa-bát trọng thể, tức ngày thứ nhất của Lễ Hội Bánh Không Men, liền sau ngày Lễ Vượt Qua; hai là ngày Sa-bát cuối tuần.

Để truy tìm Chúa chết vào năm nào chúng ta cần dựa vào một số chi tiết trong Thánh Kinh và đối chiếu với các chi tiết trong lịch sử. Thánh Kinh cho chúng ta biết Chúa bị đóng đinh dưới thời Phi-lát làm tổng trấn xứ Giu-đê mà lịch sử thì cho biết Phi-lát cầm quyền từ năm 26 đến năm 36 [15]. Như vậy, chúng ta cần tìm biết xem trong số 11 năm nói trên, ngày Lễ Vượt Qua của năm nào rơi vào thứ tư. Năm thứ 26 tương đương với năm 3786 của lịch Hê-bơ-rơ. Dùng các nhu liệu hoán chuyển lịch chúng ta có thể bắt đầu dò tìm ngày 14 tháng Nisan từ năm 3786. Có nhiều nhu liệu hoán chuyển lịch trên Internet; chúng tôi chọn dùng nhu liệu trên website http://www.abdicate.net/cal.aspx và ghi được các dữ liệu sau đây:

  • Năm 26: Lễ Vượt Qua nhằm thứ sáu ngày 14 tháng Nisan năm 3786.
  • Năm 27: Lễ Vượt Qua nhằm thứ tư ngày 14 tháng Nisan năm 3787.
  • Năm 28: Lễ Vượt Qua nhằm thứ hai ngày 14 tháng Nisan năm 3788.
  • Năm 29: Lễ Vượt Qua nhằm thứ bảy ngày 14 tháng Nisan năm 3789.
  • Năm 30: Lễ Vượt Qua nhằm thứ tư ngày 14 tháng Nisan năm 3790.
  • Năm 31: Lễ Vượt Qua nhằm thứ hai ngày 14 tháng Nisan năm 3791.
  • Năm 32: Lễ Vượt Qua nhằm thứ hai ngày 14 tháng Nisan năm 3792.
  • Năm 33: Lễ Vượt Qua nhằm thứ sáu ngày 14 tháng Nisan năm 3793.
  • Năm 34: Lễ Vượt Qua nhằm thứ hai ngày 14 tháng Nisan năm 3794.
  • Năm 35: Lễ Vượt Qua nhằm thứ hai ngày 14 tháng Nisan năm 3795.
  • Năm 36: Lễ Vượt Qua nhằm thứ sáu ngày 14 tháng Nisan năm 3796.

Như vậy, năm 27 và năm 30 là hai năm mà Lễ Vượt Qua nhằm vào ngày thứ tư. Từ kết quả này chúng ta tiếp tục dựa vào các chi tiết khác của Thánh Kinh và sử liệu để tìm xem Chúa chết vào năm 27 hay là năm 30.

Lu-ca 3:1-3 chép:

"Năm thứ mười lăm đời Sê-sa Ti-be-rơ, khi Bôn-xơ Phi-lát làm quan tổng đốc xứ Giu-đê, Hê-rốt làm vua chư hầu xứ Ga-li-lê, Phi-líp em vua ấy làm vua chư hầu xứ Y-tu-rê và tỉnh Tra-cô-nít, Ly-sa-ni-a làm vua chư hầu xứ A-by-len, An-ne và Cai-phe làm thầy cả thượng phẩm, thì có lời Đức Chúa Trời truyền cho Giăng, con Xa-cha-ri, ở nơi đồng vắng. Giăng bèn dạo qua hết thảy miền lân cận sông Giô-đanh, giảng dạy phép báp-tem về sự ăn năn để được tha tội…"

Theo sử liệu thì Sê-sa Ti-be-rơ đồng trị với Sê-sa Au-gút-tơ từ năm 10 [16]. Vậy, năm thứ 15 đời Sê-sa Ti-be-rơ nhằm vào năm 25, là năm Giăng Báp-tít khởi đầu chức vụ, và cũng là năm Đức Chúa Jesus chịu báp-tem, trở thành Đấng Christ.

Như vậy, Đức Chúa Jesus đã được Giăng Báp-tít làm báp-tem trước kỳ Lễ Vượt Qua của năm 25, là Lễ Vượt Qua Chúa vào thành Giê-ru-sa-lem và dẹp sạch đền thờ lần thứ nhất, được đề cập đến trong Giăng 2:13. Lễ Vượt Qua của năm 26 được đề cập đến trong Giăng 6:4. Lễ Vượt Qua của năm 27, là Lễ Vượt Qua Chúa vào thành Giê-ru-sa-lem và dọn sạch đền thờ lần thứ nhì, rồi sau đó Ngài bị bắt và bị giết, được đề cập đến trong Giăng 12:1 và 13:1. Kết luận: Đức Chúa Jesus chết trên thập tự giá vào thứ tư, ngày 14 tháng Nisan năm 3787, theo Lịch Do-thái, nhằm thứ tư, ngày 9 tháng 4 năm 27, theo Lịch Julian, vào khoảng 3 giờ chiều, và xác Ngài được an táng trước khi mặt trời lặn.

Thêm một chi tiết khác: Ma-thi-ơ 2:16 cho chúng ta biết Vua Hê-rốt dựa vào lời tường thuật của các nhà thông thái mà ra lệnh giết các trẻ trai từ hai tuổi trở xuống trong thành Bết-lê-hem và các vùng phụ cận. Có lẽ, Vua Hê-rốt cho rằng Chúa đã giáng sinh trong khoảng thời gian các nhà thông thái nhìn thấy ngôi sao bên đông phương, nghĩa là trước khi họ tìm đến Giê-ru-sa-lem khoảng hai năm. Cũng có thể khoảng thời gian từ khi các nhà thông thái nhìn thấy ngôi sao bên đông phương cho tới khi họ đến Giê-ru-sa-lem chỉ trong vòng trên dưới một năm, nhưng Vua Hê-rốt muốn chắc chắc không giết sót, nên đã lùi lại thêm một năm, thay vì ra lệnh giết các trẻ trai từ một tuổi trở xuống, vua đã ra lệnh giết các trẻ trai từ hai tuổi trở xuống.

Lịch sử cho biết Vua Hê-rốt chết vào khoảng giữa ngày 13 tháng 3 năm 4 TCN, là ngày có hiện tượng nguyệt thực xảy ra trên vùng trời Giê-ru-sa-lem, và ngày 11 tháng 4 năm 4 TCN, là ngày Lễ Vượt Qua của năm đó. Sử gia Josephus người Do-thái ghi lại các biến cố xảy ra trong khoảng thời gian này và cho biết Vua Hê-rốt đã chết sau ngày nguyệt thực nhưng trước ngày Lễ Vượt Qua [17]. Như vậy, Đức Chúa Jesus phải được sinh ra khoảng ba năm trước ngày Vua Hê-rốt chết, tức là vào khoảng năm 7 TCN. Nếu sự thật là Đức Chúa Jesus được sinh ra vào năm 7 TCN thì Ngài phải được sinh ra trước ngày 15 tháng 10 Lịch Julian, là ngày bắt đầu vào mùa mưa lạnh, các mục đồng không thể chăn chiên ngoài đồng sau ngày ấy.

Đức Chúa Jesus chịu báp-tem và bắt đầu chức vụ trước Lễ Vượt Qua năm 25, thì như vậy, Ngài chưa đầy 31 tuổi. Cách tính (1) theo Lịch Julian: Lấy năm 7 TCN trừ năm 1 TCN = 6. Lấy năm 25 trừ năm 1 = 24. Lấy 6 24=30. Nên nhớ, không có năm 0 giữa năm 1 TCN và năm 1. Cách tính (2) theo Lịch Do-thái: Lấy năm 3785 trừ cho năm 3754 = 31. Chúa được sinh ra vào khoảng đầu tháng Tishrei (tháng 7) năm 3754 (tương đương đầu tháng 10 Lịch Julian), và chịu báp tem trước Lễ Vượt Qua năm 3785 (tương đương cuối tháng 3 năm 25 Lịch Julian), cho nên, vào lúc chịu báp-tem để bắt đầu chức vụ, Ngài đã qua 30 tuổi nhưng chưa đến 31 tuổi.

Xin chú ý chi tiết trùng hợp lạ lùng sau đây:

  • Ngày 14 tháng Nissan của Lễ Vượt Qua lần đầu tiên do Thiên Chúa thiết lập và ghi lại trong Xuất Ê-díp-tô Ký 12 nhằm thứ tư, ngày 14 tháng Nissan năm 2315 Lịch Do-thái, tức thứ tư, ngày 25 tháng 3 năm 1446 TCN Lịch Julian.
  • Ngày 14 tháng Nissan của Lễ Vượt Qua cuối cùng Đức Chúa Jesus Christ tham dự trước khi bị giết, (được ghi lại trong Ma-thi-ơ 26:17-29; Mác 14:12-25; Lu-ca2:7-23), nhằm thứ tư, ngày 14 tháng Nissan năm 3787 Lịch Do-thái, tức thứ tư, ngày 9 tháng 4 năm 27 Lịch Julian. Chính trong bữa ăn của Lễ Vượt Qua này, Đức Chúa Jesus Christ đã dùng bánh không men và nước nho (không phải rượu nho) để thiết lập Lễ Tiệc Thánh.
  • Chiên con của Lễ Vượt Qua đầu tiên, bị giết vào ngày thứ tư. Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Jesus Christ, Đấng cất tội lỗi của thế gian đi, cũng bị giết vào ngày thứ tư. Trong tuần lễ sáng thế, ngày thứ tư mặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú được dựng nên để chiếu sáng và định thì tiết cho trái đất (Sáng Thế Ký 1:14-16). Trong ngày thứ tư của Lễ Vượt Qua, Đức Chúa Jesus Christ đã chiếu ra ánh sáng của sự cứu rỗi cho toàn thế gian qua sự chết chuộc tội của Ngài cho toàn thể nhân loại, rực rỡ như mặt trời. Qua sự chết của Đức Chúa Jesus Christ mà Hội Thánh của Chúa có thể phản chiếu ánh sáng cứu rỗi của Ngài như mặt trăng phản chiếu ánh sáng của mặt trời. Cũng kể từ ngày thứ tư đó, qua sự chết của Đức Chúa Jesus Christ mà mỗi cá nhân các môn đồ của Chúa chiếu sáng Tin Lành cứu rỗi của Ngài cho thế gian như muôn vàn tinh tú, bởi chính sự sáng của Đức Chúa Jesus Christ trong mỗi đời sống của họ. Cùng với Đức Chúa Jesus Christ và Hội Thánh, mỗi cá nhân các môn đồ của Chúa chiếu rọi sự sáng của Đức Chúa Trời cho thế gian và giúp thế gian phân biệt thiện ác, đúng sai, như mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao chiếu sáng cho trái đất và giúp thế gian phân định ngày đêm, thì tiết, tháng năm. Sự sáng của Đức Chúa Trời chính là vinh quang của Ngài, sự chiếu ra chói lọi bản tính: yêu thương, thánh khiết, và công bình của Thiên Chúa.

Vấn Nạn Giữa Sự Giữ Lễ Vượt Qua của Chúa và của Người Pha-ri-si

Trong Ma-thi-ơ 26:17; Mác 14:12; Lu-ca 22:7 đều ghi rõ ngày Lễ Vượt Qua là ngày con sinh làm Lễ Vượt Qua bị giết thì Chúa và các sứ đồ dự bữa ăn của Lễ Vượt Qua. Ngày Lễ Vượt Qua cũng là ngày thứ nhất dân Do-thái ăn bánh không men, mặc dù ngày hôm sau, 15 tháng Nissan mới là ngày thứ nhất của Lễ Bánh Không Men. Ngày thứ nhất ăn bánh không men khác với ngày thứ nhất của Lễ Bánh Không Men.

Giăng 13:1 thì cho biết là bữa ăn tối mà Chúa thiết lập thành Tiệc Thánh thuộc về: "Trước ngày Lễ Vượt Qua."Giăng 18:1 cho biết Chúa bị bắt trong đêm ấy.

Giăng 18:28 thì cho biết là qua sáng ngày sau vẫn chưa phải là ngày Lễ Vượt Qua, vì những người Pha-ri-si giải Chúa đến trước mặt Phi-lát nhưng không dám vào nơi công đường vì sợ bị ô uế sẽ không thể dự Lễ Vượt Qua sẽ bắt đầu sau khi mặt trời lặn của ngày hôm đó.

Câu hỏi được đặt ra: Phải chăng hoặc là Ma-thi-ơ, Mác và Lu-ca cùng ghi sai hoặc là Giăng đã ghi sai về ngày Chúa dự Lễ Vượt Qua? Nếu Giăng đúng, thì làm sao Chúa và các môn đồ lại có thể kỷ niệm và ăn Lễ Vượt Qua vào một ngày không phải là ngày Lễ Vượt Qua?

Khi chúng ta trở lại với nguồn gốc của Lễ Vượt Qua được ghi chép trong Xuất Ê-díp-tô Ký 12 thì chúng ta sẽ thấy Đức Chúa Trời truyền cho Môi-se những chi tiết sau đây:

  • Đức Chúa Trời ban truyền tháng Giêng, tức tháng một cho dân I-sơ-ra-ên (và như vậy, ngày mà Chúa đang phán với Môi-se trở thành ngày thứ nhất của tháng đó): "Tháng nầy định làm tháng đầu cho các ngươi, tức là tháng Giêng trong quanh năm" (12:2).
  • Đến ngày 10 biệt riêng một con sinh: "Hãy nói cho toàn hội chúng I-sơ-ra-ên rằng: Đến ngày mồng mười tháng nầy, mỗi gia trưởng tùy theo nhà mình phải bắt một con chiên con"(12:3).
  • Đến ngày 14 giết con sinh đó vào buổi chiều tối (buổi chiều tối của ngày 14 bắt đầu liền sau khi mặt trời lặn của ngày 13): "đoạn để dành cho đến ngày mười bốn tháng nầy; rồi cả hội chúng I-sơ-ra-ên sẽ giết nó, vào lối chiều tối" (12:6).
  • Đêm 14 dân I-sơ-ra-ên ăn thịt con sinh bị giết với bánh không men (đêm 14 là khoảng thời gian từ sau khi mặt trời lặn của ngày 13 cho đến khi mặt trời lên của ngày 14): "Đêm ấy họ sẽ ăn thịt chiên quay với bánh không men và rau đắng"(12:8).
  • Ngày đó, tức ngày 14 tháng một phải được kỷ niệm vì là một lễ lập ra đời đời: "Các ngươi hãy ghi ngày đó làm kỷ niệm; trải các đời hãy giữ làm một lễ cho Đức Giê-hô-va, tức là một lễ lập ra đời đời"(12:14).

Cần ghi nhớ: Liền sau khi mặt trời lặn của ngày 13 là khởi đầu của ngày 14 và được gọi là "buổi chiều tối" của ngày 14. Liền sau khi mặt trời lặn của ngày 14 là khởi đầu của ngày 15 và được gọi là "buổi chiều tối" của ngày 15. Như vậy, Đức Chúa Jesus giữ đúng ngày Lễ Vượt Qua, những người Pha-ri-si giữ sai ngày Lễ Vượt Qua. Vì theo cách tính ngày của Thánh Kinh và của người I-sơ-ra-ên thì một ngày mới bắt đầu từ buổi chiều tối sau khi mặt trời lặn của ngày hiện tại; cho nên, buổi chiều tối của ngày 14 chính là sau khi mặt trời lặn vào cuối ngày 13. Đêm 14 chính là trước khi mặt trời lên vào ngày 14.

Người Pha-ri-si, một giai cấp tự dấy lên trong khoảng thời gian 400 năm Đức Chúa Trời yên lặng với dân I-sơ-ra-ên, đã thiết lập nhiều luật lệ sai lạc với điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời [18], trong đó có cả sự thiết lập sai lầm ngày Lễ Vượt Qua. Họ giết con sinh Lễ Vượt Qua vào xế trưa ngày 14 và ăn thịt con sinh đó sau khi mặt trời lặn là thời điểm kết thúc ngày 14 và mở đầu cho buổi tối của ngày 15. Ngoài ra, họ uống rượu, là chất có men trong ngày Lễ Vượt Qua. Truyền thống sai lầm về Lễ Vượt Qua này vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay [19].

Như vậy, Sứ đồ Giăng ghi lại cách gọi và giữ ngày Lễ Vượt Qua của người Pha-ri-si trong khi Ma-thi-ơ, Mác và Lu-ca thì ghi lại cách gọi và giữ ngày Lễ Vượt Qua của Đức Chúa Jesus.

Ngày Lễ Vượt Qua Trong Các Năm từ 2013 – 2020

Con dân chân thật của Chúa thờ phượng Chúa bằng tâm thần và lẽ thật, cho nên, nếu chúng ta muốn kỷ niệm ngày Chúa thiết lập Tiệc Thánh, ngày Chúa chết, ngày Chúa Phục sinh thì chúng ta nên kỷ niệm như sau:

1. Kỷ niệm đêm Chúa thiết lập Tiệc Thánh: Sau khi mặt trời lặn của ngày 13 tháng Nisan, tức buổi chiều của ngày 14 là ngày Lễ Vượt Qua; không phải sau khi mặt trời lặn của ngày 14 vì lúc đó đã sang ngày 15 là ngày Lễ Bánh Không Men.

2. Kỷ niệm sự đau đớn và sự chết của Chúa: Từ buổi trưa cho đến trước khi mặt trời lặn của ngày 14 tháng Nisan, ngày Lễ Vượt Qua.

3. Kỷ niệm sự phục sinh của Chúa: Trước khi mặt trời lặn của ngày 17 tháng Nisan.

Dưới đây là bảng liệt kê các ngày Lễ Vượt Qua (14 tháng Nisan) từ năm 2013 đến năm 2020 tức năm 5773 đến 5780 theo Lịch Do-thái (bắt đầu liền sau khi mặt trời lặn của những ngày được liệt kê):

  • 5773: 25.03.2013
  • 5774: 14.04.2014
  • 5775: 03.04.2015
  • 5776: 22.04.2016
  • 5777: 10.04.2017
  • 5778: 30.03.2018
  • 5779: 19.04.2019
  • 5780: 08.04.2020

Kết Luận

Qua cách thức tổ chức và những dạy dỗ của các giáo hội mang danh Chúa ngày nay, chúng ta có thể rút ra được kết luận sau: Các giáo hội, các tổ chức tôn giáo của loài người mang danh Đạo Chúa đã gieo rắc rất nhiều các giáo lý sai lạc Thánh Kinh, làm mất đi các ý nghĩa sâu nhiệm của Lời Chúa, đồng thời khiến cho con dân Chúa không thờ phượng Chúa theo lẽ thật, tức theo Lời Chúa. Dầu vậy, chúng ta cũng nhận biết: Hội Thánh của Chúa không phải là các giáo hội, không phải là các tổ chức tôn giáo (thí dụ: các "nhà thờ," các "trường thần học," các "trường Thánh Kinh," các "chủng viện…") nhưng trong các giáo hội và các tổ chức đó vẫn có những con dân chân thật của Chúa.

Lời Chúa dạy: Con dân chân thật của Chúa đọc, nghe, suy ngẫm, và cẩn thận vâng giữ Lời Chúa (Giô-suê 1:8; Khải Huyền 1:3); nhất quyết tra xem Thánh Kinh để tìm biết xem các lời giảng dạy của những người mang danh tôi tớ Chúa có thật hay không (Công Vụ Các Sứ Đồ 17:11). Con dân chân thật của Chúa: chỉ thờ phượng Chúa bằng tâm thần và theo lẽ thật của Lời Chúa (Giăng 4:23, 24; 17:17); không thờ phượng Chúa theo truyền thống của giáo hội sai trật với lẽ thật của Lời Chúa; không pha trộn văn hóa của thế gian vào nghi thức thờ phượng Chúa; không thờ phượng Chúa theo cách thức dân ngoại thờ phượng thần của họ (Lê-vi Ký 18:3, 30; 20:23).

Ngày "Thứ sáu Thương Khó" và "Chủ Nhật Easter" mà các giáo hội kỷ niệm hơn 1700 năm nay trong danh Chúa, hoàn toàn không đúng với sự thật như đã ghi chép trong Thánh Kinh. Đã vậy, các giáo hội còn dùng tên nữ thần Easter của ngoại giáo để đặt tên cho ngày kỷ niệm Chúa phục sinh (xem bài: "Huyền Thoại Về Easter" [20]). Con dân chân thật của Chúa nên dứt khoác từ bỏ tổ chức hai ngày "lễ" "Thứ Sáu Thương Khó" và "Chủ Nhật Easter;" cũng không gọi "Easter" là Lễ Chúa Phục Sinh hoặc "Christmas" là Lễ Chúa Giáng Sinh. Xin xem bài: "Sự Thật về Christmas" [21].

Chúng tôi cầu xin tất cả những con dân chân thật của Chúa khi đọc bài này sẽ được Đức Thánh Linh dẫn vào trong sự thông biết lẽ thật.

Nguyện Chúa tha thứ cho chúng con những tội mà chúng con không biết, trong đó có tội thờ phượng Chúa không theo lẽ thật.

Huỳnh Christian Timothy
31.07.2010
Hiệu đính lần thứ nhất, ngày 03.09.2011
Hiệu đính lần thứ nhì, ngày 13.03.2012
Hiệu đính lần thứ ba, ngày 23.12.2012

Ghi Chú và Tham Khảo:

[A] Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Quý bạn có thể đọc trên mạng: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

[B] Chúng tôi chọn cách gọi "Trước Công Nguyên" (Before the Common Era) và "Công Nguyên" (Common Era) viết tắt là "TCN" và "CN" thay vì "BC" và "AD."

Cách gọi "BC" (Before Christ) và "AD" (Anno Domini – tiếng La-tin, có nghĩa: Trong Năm của Chúa) là không chính xác, bởi vì Chúa không giáng sinh vào năm 1. Chúng ta chấp nhận cách tính của Lịch La-mã mở ra một nguyên đại chung cho toàn thế gian, nên chúng ta gọi năm thứ nhất của Lịch La-mã là năm thứ nhất Công Nguyên và gọi thời gian trước năm thứ nhất đó là "trước Công Nguyên," viết tắt là TCN.

[C] Xem thêm cách tính các ngày lễ trong Cựu Ước: http://www.bibletrack.org/notes/resource/misc/Feasts.html

[01] Bruce L. Shelley. Church History In Plain Language, trang 94-97. Thomas Nelson Publishers, Nashville, 1995.

Năm 312, Hoàng Đế La-mã Constantine nhập Đạo; năm 313, ông ra chiếu chỉ khoan dung cho Đạo Chúa dẫn đến việc hình thành Công Giáo. Năm 380, Công Giáo được quốc giáo hóa bởi Hoàng Đế La-mã Theodosius.

[02] The Encyclopaedia Britannica, "Easter," 11th edition, trang 828-829.

[03] Philip Schaff. History of the Christian Church, volume 2, trang 218. Hendrickson Publishers, Peabody, Massachusetts, 2006.

Tiết xuân phân là ngày đầu tiên mở đầu cho mùa xuân.

[04] Philip Schaff. History of the Christian Church, volume 4, trang 459-474. Hendrickson Publishers, Peabody, Massachusetts, 2006.

[05] Andrew Louth. Greek East and Latin West, trang 171. St Vladimirs Seminary Press, 2007.

[06] http://vietnamesechristianmission.org/node/4

[07] Xuất Ê-díp-tô Ký 12:6; Dân Số Ký 28:16; Phục Truyền Luật lệ Ký 16:6; Ma-thi-ơ 26:17 – 27:66; Mác 14:1 – 15:47; Lu-ca 22:1 – 23:56.

[08] Ma-thi-ơ 12:40 "Vì Giô-na đã bị ở trong bụng cá lớn ba ngày ba đêm, cũng một thể ấy, Con người sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm."

[09] Ma-thi-ơ 16:21; 17:23; 20:19; Mác 8:31; 9:31; 10:34; Lu-ca 9:22; 18:33; 24:7, 46; Công Vụ Các Sứ Đồ 10:40; I Cô-rinh-tô 15:4.

[10] Sáng Thế Ký 1:5, 8, 13, 19, 23, 31: "Vậy, có buổi chiều và buổi mai, ấy là ngày thứ…"

[11] Lê-vi Ký 23:9-11; Giăng 19:31.

[12] Xuất Ê-díp-tô Ký 12:17; 23:15; 34:18; Lê-vi Ký 23:5-6; Dân Số Ký 28:17.

[13] Xuất Ê-díp-tô Ký 12:8; Dân Số Ký 9:11; Phục Truyền Luật lệ Ký 16:3.

[14] Lê-vi Ký 23:9-11.

[15] Britannica Online: Pontius Pilate; http://www.livius.org/jo-jz/judaea/judaea.htm

[16] http://www.newadvent.org/cathen/14717b.htm

[17] Flavius Josephus. Jewish Antiquities, 17.6.4.

[18] Ma-thi-ơ 15:3, 6.

[19] Đọc Tiếp →

3,111 views

Sự Cứu Rỗi và Sự Sống Đời Đời

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này

Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài viết này là từ "Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Phan Khôi Hiệu Đính Năm 2011," ngoại trừ những câu trích dẫn từ sách Giăng và sách Khải Huyền là từ "Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời." Quý con dân Chúa có thể tra cứu tại đây:  http://pk2011.thanhkinhvietngu.net/biblehttp://ngoiloi.thanhkinhvietngu.net/.

Dẫn Nhập

Trong lịch sử của Hội Thánh, nhiều giáo lý sai nghịch Thánh Kinh đã được Sa-tan đưa vào Hội Thánh nhằm mục đích phá hoại sự phát triển của Hội Thánh. Một trong những phương cách cổ điển của Sa-tan là sửa đổi hoặc bẻ cong ý nghĩa chân thật của Lời Chúa để khiến người nghe áp dụng những hiểu biết sai lầm vào trong nếp sống đạo. Sa-tan đã từng thêm bớt Lời Chúa để khiến cho Ê-va phạm tội. Sa-tan cũng từng bẻ cong Lời Chúa mong rằng có thể cám dỗ Đức Chúa Jesus Christ phạm tội.

Trong những ngày cuối cùng này, chiến thuật sửa đổi (thêm hoặc bớt) Lời Chúa được Sa-tan ứng dụng trong các bản Thánh Kinh Diễn Ý hoặc các Bản Dịch Mới Thánh Kinh trong mọi ngôn ngữ. Chiến thuật bẻ cong Lời Chúa được Sa-tan ứng dụng trong các phong trào thần học và các tài liệu giải kinh. Từ đó, vô số giáo lý lạ được phát sinh và giảng dạy trong các giáo hội xưng danh là Hội Thánh.

Cảm tạ Chúa! Lời phán của Ngài là chân lý, cho nên, dù Sa-tan có gắng sức đánh phá cũng không thể nào thắng được Hội Thánh (Ma-thi-ơ 16:18). Những sự lường gạt của Sa-tan đầy dẫy trong các giáo hội chỉ có thể gạt được những ai không thuộc về Chúa, là những người vì không có lòng tìm kiếm Chúa và lẽ thật của Ngài nên đã bị Sa-tan làm cho mù thuộc linh (II Cô-rinh-tô 4:3, 4). Những người thật sự thuộc về Chúa sẽ được chính Đức Thánh Linh là Thần Lẽ Thật dẫn họ vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa và dùng chính Lời Chúa để thánh hóa họ (Giăng 16:13; 17:17), chuẩn bị họ cho ngày gặp Chúa giữa chốn không trung. Chúa cũng sẽ dùng những tôi tớ chân thật của Ngài để rao giảng và dạy dỗ các lẽ thật của Lời Ngài trong Hội Thánh.

Hai trong những lẽ đạo căn bản nhất của Thánh Kinh là "Sự Cứu Rỗi" và "Sự Sống Đời Đời" đã bị Sa-tan cố gắng che dấu, bẻ cong với nhiều ý tưởng thần học và giáo lý không có trong Thánh Kinh. Trong bài này, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa chân thật của sự cứu rỗi ở trong Đức Chúa Jesus Christ và sự sống đời đời được ban cho bởi Ngài.

Sự Thực Hữu, Sự Sống và Sự Chết

Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ định nghĩa của Thánh Kinh về sự sống và sự chết. Để có thể kinh nghiệm sự sống và sự chết thì phải có sự thực hữu (có thật). Chúng ta và muôn loài vạn vật, kể cả các thiên sứ, thực hữu là do Thiên Chúa sáng tạo. Thiên Chúa là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, nghĩa là, Thiên Chúa Tự Có và Có Đến Đời Đời; còn muôn loài vạn vật do ý muốn và quyền phép của Thiên Chúa mà có. Sự thực hữu của muôn loài vạn vật bắt đầu với sự sống cho đến khi sự chết xuất hiện. Sự chết làm biến đổi quan hệ của loài thọ tạo với Thiên Chúa và với nhau, chứ không chấm dứt sự thực hữu của chúng. Vì thế, một khi đã thực hữu thì chúng ta sẽ thực hữu trong sự sống hoặc thực hữu trong sự chết.

Chính Thánh Kinh dạy cho chúng ta biết, chết không có nghĩa là không còn thực hữu: "Còn anh em đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình, đều là những sự anh em xưa đã học đòi, theo thói quen đời nầy, vâng phục vua cầm quyền chốn không trung tức là thần hiện đương hành động trong các con bạn nghịch. Chúng ta hết thảy cũng đều ở trong số ấy, trước kia sống theo tư dục xác thịt mình, làm trọn các sự ham mê của xác thịt và ý tưởng chúng ta, tự nhiên làm con của sự thạnh nộ, cũng như mọi người khác. Nhưng Đức Chúa Trời, là Đấng giàu lòng thương xót, vì cớ lòng yêu thương lớn Ngài đem mà yêu chúng ta, nên đang khi chúng ta chết vì tội mình, thì Ngài làm cho chúng ta sống với Đấng Christ, ấy là nhờ ân điển mà anh em được cứu, và Ngài làm cho chúng ta đồng sống lại và đồng ngồi trong các nơi trên trời trong Đức Chúa Jesus Christ, hầu cho về đời sau tỏ ra sự giàu có vô hạn của ân điển Ngài, mà Ngài bởi lòng nhơn từ đã dùng ra cho chúng ta trong Đức Chúa Jesus Christ" (Ê-phê-sô 2:1-7). Các mệnh đề "anh em đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình""đang khi chúng ta chết vì tội mình" cho chúng ta thấy rõ, "đã chết" hoặc "đang chết" không có nghĩa là trở thành hư không, không còn thực hữu.

Trong câu chuyện người ăn mày tên La-xa-rơ và người nhà giàu được ghi chép trong Lu-ca 16:19-31, Đức Chúa Jesus dạy rằng, cả người trong Chúa lẫn người ngoài Chúa, sau khi chết thuộc thể thì vẫn thực hữu với đầy đủ ý thức, tình cảm, lý trí, và ý chí.

Trong sự kiện Chúa hóa hình trên núi được ghi lại trong Ma-thi-ơ 17, Mác 9, và Lu-ca 9, thì Lu-ca 9:30, 31có nói rõ, Môi-se vốn là người đã chết phần thể xác hơn 1400 năm trước đó, (thân thể ông được thiên sứ trưởng Mi-chen chống với ma quỷ để dành lấy, không cho ma quỷ lạm dụng  – Giu-đe 9), đã hiện ra trò chuyện với Chúa về sự Ngài sẽ qua đời. Đối với tên trộm bị đóng đinh bên phải Chúa, Ngài phán: "hôm nay ngươi sẽ được ở với Ta trong nơi Ba-ra-đi" (Lu-ca 23:43). Trong Hê-bơ-rơ 12:23 nói đến sự kiện Hội Thánh của Chúa được ở gần "thần linh của những người nghĩa đã được làm cho vẹn lành," tức là các thánh đồ đã qua đời. Khải Huyền 6:9-11 nói đến linh hồn của những người tử đạo được ở dưới bàn thờ trên thiên đàng, kêu xin Chúa báo thù cho họ, và họ được ban cho những áo trắng. Tất cả các phân đoạn Thánh Kinh trên đây đã dạy rõ: cái chết thể xác không khiến cho sự thực hữu của một người bị chấm dứt và thuyết "linh hồn ngủ" cho rằng một người đã chết thì không còn biết gì nữa, là hoàn toàn sai lầm, nghịch lại lẽ thật của Thánh Kinh.

Vì không hiểu rõ những điều trên đây nên vài giáo phái Cơ-đốc, như Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật (Seventh Day Adventist), Hội Thánh của Đức Chúa Trời (Church of God), và Chứng Nhân của Đức Giê-hô-va (Jehovah's Witnesses) đã tạo ra các giáo lý sai nghịch Thánh Kinh. Họ dạy rằng, sống là thực hữu còn chết là trở về hư không, vì thế, họ bài bác sự kiện ma quỷ và những người hư mất sẽ bị khổ đời đời trong hỏa ngục.

Theo Thánh Kinh, sống là sự kết hợp năng động, đem lại kết quả, còn chết là sự phân rẽ, chấm dứt mọi năng động. Có sự sống thuộc thể và sự sống thuộc linh, sự chết thuộc thể và sự chết thuộc linh. Trong sự sống thuộc thể, linh hồn và tâm thần kết hợp với thể xác, khiến cho thể xác được năng động. Sự chết thuộc thể xảy ra khi linh hồn và tâm thần phân rẽ với thể xác. Trong sự sống thuộc linh, loài người được kết hợp với Thiên Chúa, nghĩa là được tương giao với Ngài, được thực hữu trong sự vinh quang và quyền phép của Ngài. Đó là địa vị ban đầu của loài người khi được Thiên Chúa dựng nên. Trong sự chết thuộc linh loài người bị phân rẽ với Thiên Chúa, bị thực hữu trong sự thịnh nộ của Ngài. Sự chết thuộc linh hay sự phân rẽ với Thiên Chúa xảy ra khi loài người chống nghịch lại luật pháp của Thiên Chúa. Luật pháp của Thiên Chúa  tức là mọi ý muốn của Ngài đối với loài người. Thánh Kinh gọi sự chống nghịch đó là "sự phạm tội" và định nghĩa: "Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp" (I Giăng 3:4); đồng thời giải thích: "Nhưng ấy là sự gian ác các ngươi làm xa cách mình với Thiên Chúa; và tội lỗi các ngươi đã che khuất mặt Ngài khỏi các ngươi, đến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa" (Ê-sai 59:2).

Sự sống còn có nghĩa là nhận thức và sự chết còn có nghĩa là không nhận thức, vì thế, sự sống còn được gọi là sự sáng và sự chết còn bị gọi là sự tối tăm. Trong sự sống thuộc thể, thể xác nhận biết linh hồn và tâm thần; nhưng khi sự chết thuộc thể xảy ra thì thể xác không còn nhận biết linh hồn và tâm thần nữa. Trong sự sống thuộc linh, loài người nhìn biết Thiên Chúa; nhưng khi sự chết thuộc linh xảy ra thì loài người không còn nhìn biết Thiên Chúa nữa.

"Trong Ngài có sự sống; sự sống là sự sáng của loài người. Sự sáng hiện ra trong sự tối tăm; và sự tối tăm chẳng thể kiềm chế sự sáng"(Giăng 1:4, 5). Trong Ngôi Lời, tức là trong Đức Chúa Jesus Christ, có sự sống và sự sống là sự loài người nhận thức Thiên Chúa. Sự sống hiện ra trong sự chết; và sự chết chẳng thể bắt phục sự sống.

"Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Ngài, tức là Chúa Trời có một và thật, cùng Jesus Christ, là Đấng Ngài đã sai đến" (Giăng 17:3). Sự sống đời đời là nhận thức Đức Chúa Cha và Đức Chúa Jesus Christ. Nhận thức Đức Chúa Cha qua sự giải bày của Đức Chúa Jesus Christ và nhận thức Đức Chúa Jesus là Đấng Christ, là Đấng Đức Chúa Cha đã sai đến thế gian để cứu chuộc nhân loại.

"Rồi những kẻ nầy sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự sống đời đời" (Ma-thi-ơ 25:46). Hình phạt đời đời là sự chết thứ hai, tức là đời đời thực hữu trong hỏa ngục: "Còn những kẻ hèn nhát, không tin, đáng gớm ghiếc; những kẻ giết người; những đĩ đực; những kẻ phù phép; những kẻ thờ thần tượng; và tất cả những kẻ nói dối sẽ có phần của chúng trong hồ đốt với lửa và lưu hoàng. Đó là sự chết thứ hai" (Khải Huyền 21:8). Sự sống đời đời là được làm con dân của Đức Chúa Trời và được Ngài ở cùng cho đến đời, không bao giờ bị phân rẽ nữa: "Tôi nghe một tiếng lớn từ trời phán rằng: 'Này, lều của Đức Chúa Trời ở với loài người và Ngài sẽ ở với họ. Họ sẽ làm dân của Ngài và chính mình Đức Chúa Trời sẽ ở với họ, làm Đức Chúa Trời của họ. Đức Chúa Trời sẽ lau hết mọi nước mắt khỏi mắt họ. Sẽ không còn sự chết, không còn buồn khổ, không còn khóc lóc, cũng không còn đau đớn nữa vì những sự cũ đã qua rồi.' Đấng ngự trên ngai phán rằng: 'Này, Ta làm mới mọi sự!' Ngài lại phán với tôi: 'Hãy chép, vì những lời này là chân thật và thành tín.' Ngài phán với tôi: 'Xong rồi! Ta là An-pha và Ô-mê-ga: Đấng Đầu Tiên và Đấng Cuối Cùng. Ta sẽ ban cho kẻ nào khát được tự do uống từ Nguồn Nước Sống. Kẻ nào thắng sẽ được hưởng mọi sự làm cơ nghiệp. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời người và người sẽ làm con trai Ta'" (Khải Huyền 21:3-7). Từ ngữ "con trai" trong nguyên tác Thánh Kinh để chỉ về sự được hưởng quyền thừa kế. "Con trai của Đức Chúa Trời" có nghĩa là kẻ được hưởng cơ nghiệp của Ngài. Trong ý nghĩa đó, khi Thánh Kinh gọi các thiên sứ là "các con trai của Đức Chúa Trời" thì hàm ý các thiên sứ cũng được dự phần trong cơ nghiệp của Đức Chúa Trời. Một trong các cơ nghiệp của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời.

"Nhiều kẻ ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, kẻ thì để được sự sống đời đời, kẻ thì chịu sự xấu hổ nhơ nhuốc đời đời"(Đa-ni-ên 12:2). Trong tương lai, thân thể vật chất của người tin Chúa và người không tin Chúa đều sẽ sống lại, nghĩa là được kết hợp trở lại với linh hồn. Thân thể phục sinh của người tin Chúa sẽ thực hữu trong hạnh phúc với Thiên Chúa cho đến đời đời, vì được đầy dẫy ân điển của Ngài; còn thân thể phục sinh của người không tin Chúa sẽ thực hữu trong đau khổ cho đến đời đời, vì thiếu mất ân điển của Ngài.

"Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của quyền phép Ngài"(II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9). Những kẻ không vâng phục Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ sẽ bị hư mất đời đời, nghĩa là, đời đời xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của quyền phép Ngài, là thực hữu cách đau khổ cả ngày lẫn đêm trong hỏa ngục: "Ma Quỷ là kẻ lừa dối chúng bị ném vào hồ lửa và lưu hoàng, nơi có con thú và tiên tri giả. Chúng sẽ bị đau khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời. Rồi, tôi thấy một ngai trắng, lớn và Đấngngự trên ngai. Đất và trời trốn khỏi mặt Ngài, chẳng còn thấy chỗ của chúng nữa. Tôi thấy những kẻ chết, nhỏ lẫn lớn, đứng trước Đức Chúa Trời. Có những sách mở ra. Lại có một sách khác là Sách Sự Sống được mở ra. Những kẻ chết bị phán xét tùy theo những việc họ đã làm và đã được ghi lại trong những sách ấy. Biển đã giao lại những kẻ chết trong nó. Sự chết và âm phủ cũng đã giao lại những kẻ chết trong chúng. Mỗi người bị phán xét tùy theo những việc họ đã làm. Sự chết và âm phủ bị ném vào hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai. Bất kỳ kẻ nào không tìm thấy được chép trong Sách Sự Sống thì bị ném vào hồ lửa" (Khải Huyền 20:10-15).

Ý Nghĩa của Sự Cứu Rỗi

Sự cứu rỗi và sự sống đời đời là hai điều khác nhau nhưng có liên quan mật thiết với nhau. Một người không thể nào có được sự sống đời đời nếu chưa được cứu rỗi. Được cứu rỗi là được cứu ra khỏi:

•         địa vị làm con cái của ma quỷ, con cái của ma quỷ có nghĩa là giống như ma quỷ và thuộc về ma quỷ (Giăng 8:44);

•         quyền lực của tội lỗi, nghĩa là không còn bị buộc phải làm những điều nghịch lại luật pháp của Đức Chúa Trời (Rô-ma 7:23);

•         hậu quả của tội lỗi là sự chết đời đời, tức là sự bị phân cách đời đời với Đức Chúa Trời (II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9).

Tiến trình của sự cứu rỗi bao gồm các bước sau đây:

•          được xưng nghĩa, tức là tội nhân được Đức Chúa Trời tuyên bố không còn trách nhiệm đối với mọi tội lỗi (Rô-ma 3:23, 24);

•           được tái sinh, tức là được sinh ra mới bởi Đức Chúa Trời (II Cô-rinh-tô 5:17; I Phi-e-rơ 1:3);

•          được thánh hóa, tức là được trở nên giống như Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 4:24; I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23).

Sự xưng nghĩa bao gồm các phương diện sau đây, tội nhân được:

•           tha tội và làm cho sạch tội (I Giăng 1:9);

•           ban cho địa vị con cái của Đức Chúa Trời (Giăng 1:12);

•           ban cho địa vị thánh đồ trong Đức Chúa Jesus Christ (I Cô 1:2).

Sự tái sinh bao gồm các phương diện sau đây, thánh đồ được:

•          trở nên đền thờ của Đức Chúa Trời và được Đức Thánh Linh ngự trong thân thể (I Cô-rinh-tô 3:16; 6:19);

•         Đức Thánh Linh ban cho các ân tứ để hầu việc Đức Chúa Trời (I Cô-rinh-tô 12:1-11);

•         ban cho các chức vụ: tiên tri, thầy tế lễ, nhà vua (Ma-thi-ơ 28:19, 20; I Phi-e-rơ 2:9, 10; Khải Huyền 1:6) để làm những việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho (Ê-phê-sô 2:10).

Sự thánh hóa bao gồm các phương diện sau đây, thánh đồ được:

•         trở nên giống Chúa (Rô-ma 8:29; Ê-phê-sô 4:24);

•         thông công với Chúa và với các chi thể trong Hội Thánh của Chúa (I Cô-rinh-tô 1:9; 12:12-26);

•         đạt đến mức không tì, không vít, không chỗ trách được (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23), nghĩa là trở nên trọn vẹn như Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 5:48).

Điều Kiện để Được Sự Cứu Rỗi

Một người muốn được cứu rỗi phải hội đủ các điều kiện sau đây:

•         nhận mình là người có tội (I Giăng 1:8-10);

•         thật lòng ăn năn tội, tức là chịu từ bỏ tội (Ma-thi-ơ 4:17; Công Vụ Các Sứ Đồ 3:19; Giăng 5:14; 8:11);

•         tin nhận chỉ một mình sự cứu rỗi trong Đức Chúa Jesus Christ, nghĩa là không dựa vào các việc làm công đức hay là ai khác (Giăng 14:6; Công Vụ Các Sứ Đồ 4:12; Ê-phê-sô 2:8, 9).

Sự Cứu Rỗi Dẫn Đến Sự Sống Đời Đời

Người đã được cứu rỗi là người được Đức Chúa Trời dựng nên mới và ban cho năng lực để có thể sống theo luật pháp của Thiên Chúa. Luật pháp của Thiên Chúa tức là mọi ý muốn của Thiên Chúa đối với loài người được ghi chép trong Thánh Kinh.

Chúng ta không làm theo luật pháp để được cứu nhưng chúng ta được cứu để làm theo luật pháp.

Trước khi chúng ta được cứu thì chúng ta đang chết (nghĩa là đang bị phân rẽ với Chúa), bị nô lệ cho tội lỗi (nghĩa là phải làm theo sự sai khiến của tội lỗi), và ở dưới luật pháp (nghĩa là bị phán xét bởi luật pháp). Sau khi chúng ta được cứu thì chúng ta được tái sinh (nghĩa là được dựng nên mới trong Đức Chúa Jesus Christ), thoát khỏi sự cai trị của tội lỗi (nghĩa là có thể vừa muốn vừa làm theo thánh ý của Đức Chúa Trời), và được tự do đối với luật pháp (nghĩa là luật pháp vẫn có đó nhưng không còn phán xét chúng ta về mọi tội lỗi của chúng ta mà sự phán xét đó được thi hành trên Đức Chúa Jesus Christ). Vì thế, nếu chúng ta tiếp tục ở lại trong sự cứu rỗi, nghĩa là không quay về với nếp sống chống nghịch luật pháp của Thiên Chúa, thì chúng ta sẽ nhận được sự sống đời đời.

Hiện nay, chúng ta đang ở trong sự cứu rỗi, đã được tái sinh, đang ở trong địa vị làm con của Đức Chúa Trời, và đang ở trong sự sống, tức là đang được tương giao với Thiên Chúa, nếm biết sự sống đời đời nhưng chưa hoàn toàn sở hữu sự sống đời đời. Nếu chúng ta trung tín làm theo Lời Chúa cho đến chết hoặc cho đến khi Chúa trở lại thì chúng ta sẽ hoàn toàn sở hữu sự sống đời đời trong một thân thể vinh quang. Khi đó, chúng ta trở nên trọn vẹn như Cha của chúng ta ở trên trời và chúng ta không còn thể nào phạm tội.

Ý Nghĩa của Sự Sống Đời Đời

Sự sống đời đời là được thực hữu trong hạnh phúc với Đức Chúa Trời cho đến đời đời, bao gồm sự:

•         nhận biết Đức Chúa Cha và Đức Chúa Jesus Christ (Giăng 17:3);

•         được làm con của Đức Chúa Trời (Giăng 1:12; Khải Huyền 21:7);

•      được hưởng cơ nghiệp của Đức Chúa Trời (Ê-phê 1:18; Cô-lô-se 1:12, 3:24; Hê-bơ-rơ 9:15; I Phi-e-rơ 1:4).

Điều Kiện để Được Sự Sống Đời Đời

Một người muốn được sự sống đời đời phải hội đủ các điều kiện sau đây:

•         được cứu rỗi, tức là: được xưng nghĩa, được tái sinh, và được thánh hóa, xin đọc bài "Ba Phương Diện của Sự Cứu Rỗi" tại đây: http://thanhoc.timhieutinlanh.net/node/264;

•         nên thánh, tức là từ bỏ mọi sự ô uế, tội lỗi (II Cô-rinh-tô 7:1; I Tê-sa-lô-ni-ca 4:3, 7; I Giăng 3:3), là vâng giữ các điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời (I Cô-rinh-tô 7:19; I Ti-mô-thê 6:14; I Giăng 2:3-5; 5:3; II Giăng 4; Khải Huyền 4:12), là sống như Đấng Christ (Ê-phê-sô 5:1; I Tê-sa-lô-ni-ca 1:6; I Giăng 2:6), là bắt chước Phao-lô như Phao-lô đã bắt chước Đấng Christ (I Cô-rinh-tô 1:11);

•         trung tín với Chúa cho đến chết, tức là sẵn sàng chịu khổ, thậm chí chịu chết, để làm theo Lời Chúa (Lu-ca 9:23; Rô-ma 14:7, 8; Phi-líp 1:29; II Ti-mô-thê 3:3; Khải Huyền 2:10).

Người Đã Được Cứu Rỗi Vẫn Có Thể Bị Hư Mất Đời Đời

Trái với thứ giáo lý sai nghịch Thánh Kinh, dạy rằng: "một khi đã được cứu rỗi thì vĩnh viễn không bao giờ bị hư mất" hoặc "được cứu một lần là được cứu vĩnh viễn" hoặc "người đã được cứu rỗi không bao giờ bị mất sự cứu rỗi," Thánh Kinh khẳng định như sau:

"Ta là gốc nho thật; và Cha Ta là người trồng nho. Mỗi nhánh trong Ta mà không kết quả, thì chính Ngài chặt bỏ nó; và Ngài tỉa sửa từng nhánh nào kết quả, để nó được sai trái hơn. Các ngươi đã được tinh sạch, bởi lời Ta đã phán với các ngươi. Hãy cứ ở trong Ta, và Ta ở trong các ngươi. Như nhánh không tự mình kết quả được nếu không cứ ở trong gốc nho, thì các ngươi cũng vậy, nếu các ngươi không cứ ở trong Ta. Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh. Ai cứ ở trong Ta và Ta trong người ấy, thì người ấy kết quả nhiều; vì ngoài Ta, các ngươi chẳng làm chi được. Nếu ai chẳng cứ ở trong Ta, thì bị ném ra ngoài, như một nhánh và bị khô đi; và người ta gom chúng lại, ném vào trong lửa, thì nó cháy" (Giăng 15:1-6). Nhánh bị chặt bỏ là bị phân rẽ với gốc, là chết. Người đã được cứu rỗi mà không tiếp tục ở trong Chúa, tức là không kết quả xứng đáng với sự ăn năn, thì sẽ bị dứt bỏ khỏi Đấng Christ là nguồn của sự sống đời đời và bị ném vào hồ lửa của sự chết đời đời: "Thế thì, hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn…" (Lu-ca 3:8). Kết quả xứng đáng với sự ăn năn là sốt sắng làm theo Lời Chúa như đã được ghi chép trong Thánh Kinh, là vâng giữ các điều răn và luật pháp của Thiên Chúa: "Nhưng bây giờ đã được buông tha khỏi tội lỗi và trở nên tôi mọi của Đức Chúa Trời rồi, thì anh em được lấy sự nên thánh làm kết quả, và sự sống đời đời làm cuối cùng" (Rô-ma 6:22); là không còn phạm tội nữa: "Này, ngươi đã lành rồi, đừng phạm tội nữa, để không có sự xấu gì xảy đến cho ngươi" (Giăng 5:14);"…hãy đi, đừng phạm tội nữa" (Giăng 8:11).

"Vậy hãy xem sự nhơn từ và sự nghiêm nhặt của Thiên Chúa: sự nghiêm nhặt đối với họ là kẻ đã ngã xuống, còn sự nhơn từ đối với ngươi, miễn là ngươi cầm giữ mình trong sự nhơn từ Ngài: bằng chẳng, ngươi cũng sẽ bị chặt"(Rô-ma 11:22). Thiên Chúa là nhân từ nên Ngài ban cho mọi người có cơ hội để được cứu rỗi; nhưng Thiên Chúa cũng rất là nghiêm nhặt nên Ngài sẽ loại bỏ những ai lợi dụng sự nhân từ của Ngài để tiếp tục sống trong tội. Mệnh lệnh của Chúa đối với người tin nhận Chúa rất là rõ ràng: "Đừng phạm tội nữa!"

"Vì chưng những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Thánh Linh, Lời lành của Thiên Chúa, và năng lực của đời sau, nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường. Vả, một đám đất nhờ mưa đượm nhuần mà sanh cây cỏ có ích cho người cày cấy, thì đất đó hưởng phần phước lành của Đức Chúa Trời. Nhưng đất nào chỉ sanh ra những cỏ rạ, gai gốc, thì bị bỏ, và hầu bị rủa, cuối cùng phải bị đốt"(Hê-bơ-rơ 6:4-8). Lời Chúa khẳng định rõ ràng: Một người đã được soi sáng một lần (từng nhận biết Chúa và lẽ thật của Lời Chúa), nếm biết sự ban cho từ trên trời (ơn cứu rỗi), dự phần về Thánh Linh (được tái sinh và nhận lãnh Thánh Linh), Lời Lành của Thiên Chúa (được thánh hóa bởi Lời Chúa), và năng lực của đời sau (vượt khỏi sự chết vào trong sự sống, chiến thắng ma quỷ) mà lại vấp ngã (trở lại sống trong tội) thì không thể khiến cho họ lại ăn năn nữa. Số phận của kẻ không ăn năn sẽ đi về đâu?

"Vả, chúng nó bởi sự nhận biết Chúa và Đấng Giải Cứu chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ, mà đã thoát khỏi sự ô uế của thế gian, rồi lại mắc phải và suy phục những sự đó, thì số phận sau cùng của chúng nó trở xấu hơn lúc đầu. Chúng nó đã biết đường công bình, rồi lại lui đi về lời răn thánh đã truyền cho mình, thế thì thà rằng không biết là hơn. Đã xảy đến cho chúng nó như lời tục ngữ rằng: Chó liếm lại đồ nó đã mửa, heo đã rửa sạch rồi, lại lăn lóc trong vũng bùn"(II Phi-e-rơ 2:20-22). Số phận sau cùng là số phận lúc chung cuộc, lúc bị phán xét trước tòa án của Đấng Christ. Số phận của kẻ nhận biết Chúa rồi mà trở lại sống trong tội thì xấu hơn số phận của chính họ lúc chưa tin nhận Chúa, bởi vì, dù người không tin nhận Chúa cũng sẽ bị hình phạt nhưng sự hình phạt của họ sẽ nhẹ hơn hình phạt của người đã tin nhận Chúa rồi mà quay lại với nếp sống tội lỗi.

"Vì ngươi hâm hẫm, không lạnh cũng không nóng, Ta sẽ mửa ngươi ra khỏi miệng Ta"(Khải Huyền 3:16). Số phận của người không hết lòng theo Chúa, bị Chúa mửa ra sẽ đi về đâu?

Những lời giảng dạy sau đây của Đức Chúa Jesus Christ cho chúng ta thấy rằng, một người đã tin nhận ơn cứu rỗi của Ngài vẫn có thể bị hư mất đời đời trong hỏa ngục, là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng (Ma-thi-ơ 13:42):

►         Ngụ ngôn về đầy tớ không thương xót(Ma-thi-ơ 18:23-35) dạy rằng, người nào không tha thứ cho anh em mình thì sẽ không được Đức Chúa Cha tha thứ: "Nếu mỗi người trong các ngươi không hết lòng tha lỗi cho anh em mình, thì Cha Ta ở trên trời cũng sẽ xử với các ngươi như vậy" (câu 35).

►         Ngụ ngôn về tiệc cưới(Ma-thi-ơ 22:1-14) dạy rằng, người nào tin nhận Chúa mà không chịu thánh hóa thì sẽ bị hư mất: "Vua vào xem khách dự tiệc, chợt thấy một người không mặc áo lễ, thì phán cùng người rằng: Hỡi bạn, sao ngươi vào đây mà không mặc áo lễ? Người đó làm thinh. Vua bèn truyền cho đầy tớ rằng: Hãy trói tay chơn nó lại, và quăng ra ngoài nơi tối tăm, là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng. Bởi vì có nhiều kẻ được gọi, mà ít người được chọn" (câu 11-14).

►         Ngụ ngôn về mười nữ đồng trinh(Ma-thi-ơ 25:1-13) dạy rằng, người nào không khôn ngoan ghi nhớ Lời Chúa để thực hành trong cuộc sống, trở thành muối của đất và ánh sáng của thế gian, khi Chúa đến, sẽ bị bỏ lại, dù đã được chọn để đi với Ngài. Năm người dại tiêu biểu cho những người không biết còn năm người khôn tiêu biểu cho những người biết làm việc cho kết quả xứng đáng với sự ăn năn. Dầu là sự dạy dỗ của Lời Chúa, đèn là nếp sống đạo, chiếu sáng lẽ thật của Chúa. Người bán dầu là Đức Thánh Linh giảng dạy Lời Chúa. Mua dầu là dùng thời gian, công sức, và tiền bạc để đổi lấy cơ hội đọc và suy ngẫm Lời Chúa. Thắp đèn là ứng dụng sự dạy dỗ của Lời Chúa vào trong nếp sống mỗi ngày. Ánh sáng của đèn là lẽ thật của Lời Chúa được chiếu ra qua nếp sống đạo của người tin Chúa: "Chặp lâu, những người nữ đồng trinh khác cũng đến và xin rằng: Hỡi Chúa, hỡi Chúa, xin mở cho chúng tôi! Nhưng người đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta không biết các ngươi đâu" (câu 11-12).

►         Ngụ ngôn về đầy tớ xấu(Ma-thi-ơ 24:43-51) và ngụ ngôn về quản gia bất trung (Lu-ca 12:41-48) dạy rằng, người nào được Chúa ban cho các chức vụ cai trị trong nhà Chúa mà không trung tín làm tròn nhiệm vụ thì sẽ bị hư mất: "Chủ sẽ đánh xé xương và định phần nó đồng với kẻ giả hình. Đó là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng" (câu 51)."Nhưng nếu đầy tớ ấy tự nghĩ rằng: Chủ ta chậm đến; rồi cứ đánh đập đầy tớ trai và gái, ăn uống say sưa, thì chủ nó sẽ đến trong ngày nó không dè, và gi

Đọc Tiếp →
2,246 views

Jesus Christ và Christ Jesus

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy
 
Chúng ta vẫn biết Thánh Kinh là Lời của Thiên Chúa do các tiên tri và các môn đồ của Chúa ghi chép lại. Khi ghi chép, mỗi người dùng văn phong riêng của chính mình. Tuy nhiên, chính Đức Thánh Linh đã thần cảm họ trong khi họ viết, vì thế, từng lời, từng chữ của Thánh Kinh nguyên bản khi được các tiên tri và các môn đồ của Chúa đặt bút chép ra, hoàn toàn có sự soi dẫn của Đức Thánh Linh. II Ti-mô-thê 3:16, 17 khẳng định rằng: "Cả Thánh Kinh đều là bởi Thiên Chúa hà hơi, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành." Có người cho rằng, đây là nói về Cựu Ước, vì khi Phao-lô viết những dòng chữ này cho Ti-mô-thê thì chưa có Thánh Kinh Tân Ước. Thực tế, ngay lúc ấy, chính thư II Ti-mô-thê cũng mới được viết đến chương ba, câu 17! Vậy, họ kết luận, sự thần cảm của Đức Thánh Linh không bao gồm phần Tân Ước. Những người nói như vậy là những người chưa có sự cứu rỗi, nên chưa được tái sinh, chưa có Đức Thánh Linh ngự trong thân thể họ để dạy cho họ biết Thánh Kinh Tân Ước cũng chính là Lời của Đức Chúa Trời. Vì thế, họ mới phủ nhận thần tính và thần quyền của Tân Ước.
 

Bấm vào đây để download MP3 file
Bấm vào nút "play" ► để nghe
 
 
Chính vì cả Thánh Kinh đều được Thiên Chúa hà hơi mà Thánh Kinh trở thành lời sống và linh nghiệm, như Hê-bơ-rơ 4:12, 13 chép: "Vì Lời Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi phân chia linh hồn, tâm thần, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng. Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng hết thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại." Thế nên, tôi tin rằng từng chữ trong Thánh Kinh và mỗi cách dùng chữ trong Thánh Kinh đều có những ý nghĩa rõ ràng và nhất định, không phải để cho ai có thể tùy ý thêm hay bớt, hoặc tùy ý diễn giải.
 
Bây giờ, chúng ta hãy cùng nhau xét đến một vài cách dùng tên gọi và các danh xưng của Đức Chúa Jesus Christ:
 
·         Jesus: tên gọi của Chúa, có nghĩa là "Đấng Tự Hữu Hằng Hữu Là Đấng Cứu Rỗi" hoặc "Sự Cứu Rỗi Thuộc Về Đấng Tự Hữu Hằng Hữu!" Khi Thánh Kinh chỉ đề cập đến tên gọi Jesus mà không kèm theo các danh xưng "Chúa" và "Christ" thì Thánh Kinh muốn nhấn mạnh về bản thể của Ngài. Ngài là Thiên Chúa Ngôi Con nhập thế làm người để mang sự cứu rỗi của Thiên Chúa đến cho toàn thể nhân loại. Ngài hoàn toàn là Thiên Chúa vì Ngài là con của Thiên Chúa mà Ngài cũng hoàn toàn là Người vì Ngài cũng là con của loài người.
·         Chúa: trong nghĩa đen không có nghĩa "Thiên Chúa" hay "Đức Chúa Trời," mà là "người có toàn quyền trên người khác" như vua trong một vương quốc, chủ nhân của những nô lệ. Trong bốn sách Tin Lành không dùng danh xưng "Chúa" kèm theo tên gọi Jesus hoặc Jesus Christ. (Thánh Kinh Việt ngữ dịch "Jesus" thành "Đức Chúa Jesus" hoặc "Jesus Christ" và "Christ Jesus" thành "Đức Chúa Jesus Christ"). Sau khi Chúa phục sinh, Thánh Kinh dùng danh xưng "Chúa" kèm theo tên gọi Jesus hoặc Jesus Christ với hàm ý, sau khi hoàn thành công cuộc cứu rỗi nhân loại, Ngài cai trị những ai tiếp nhận sự cứu rỗi của Ngài. Ngày nay, nếu chúng ta gọi Ngôi Hai Thiên Chúa là "Đức Chúa Jesus" thì chúng ta cần ghi nhớ, chúng ta phải hoàn toàn vâng phục Ngài, như nô lệ vâng phục chủ, người dân trong một vương quốc vâng phục vua. Ngài chính là chủ của chúng ta vì Ngài đã dùng chính sự vinh quang và máu của Ngài để chuộc chúng ta về. Ngài chính là vua của chúng ta vì Ngài là Đấng Tạo Hóa, và là Vua trên muôn vua, Chúa trên muôn chúa. Nếu chúng ta gọi Ngài là "Chúa" mà chúng ta không vâng phục Ngài, thì chúng ta là những kẻ dối trá, giả hình, và Ngài biết rõ điều đó. Gần hai ngàn năm trước Ngài đã phán: "Sao các ngươi gọi Ta: Chúa, Chúa, mà không làm theo lời Ta phán" (Lu-ca 6:46)?
·         Christ: trong nghĩa đen là "người được xức dầu;" nghĩa bóng là "người được Thiên Chúa giao cho một chức vụ, kèm theo thẩm quyền, năng lực, và ân tứ để thi hành chức vụ ấy." Đức Chúa Jesus được gọi là "Christ" (Mat-thi-ơ 1:16) vì Ngài được Đức Chúa Cha giao cho các chức vụ như sau: (1) Tiên tri: để giải bày về Đức Chúa Cha cùng thánh ý của Cha cho toàn thể nhân loại. (2) Thầy tế lễ: để dâng của lễ chuộc tội cho toàn thể nhân loại và cầu thay cho con dân Thiên Chúa. (3) Vua: để cai trị con dân Thiên Chúa trong mọi thời đại. Hiện nay, Đức Chúa Jesus Christ đang cai trị trong tấm lòng, trong đời sống của con dân Chúa; sắp tới, Ngài sẽ cai trị Vương Quốc Ngàn Năm trên đất; và cuối cùng, Ngài sẽ cai trị Vương Quốc Đời Đời trong trời mới đất mới.
·         Jesus Christ:Khi danh xưng Christ được đặt đàng sau tên gọi Jesus, thì Thánh Kinh muốn nhấn mạnh đến chính mình Ngài trong chức vụ Đức Chúa Cha đã ban cho Ngài.
·         Christ Jesus: Khi danh xưng Christ được đặt đàng trước tên gọi Jesus, thì Thánh Kinh muốn nhấn mạnh đến thành quả trong các chức vụ của Ngài. Những câu Thánh Kinh dùng cách gọi "Christ Jesus" là: Công 18:4; Rô-ma 3:24; 8:1, 2, 39; 15:5; 16:3; I Cô. 1:2, 30; 4:15; 15:31; 16:24; II cô. 4:5; Ga. 2:4; 3:26; 28; 4:14; 6:15; Ê-phê 1:1; 2:6, 13; 3:11, 21; Phi. 1:1; 2:5; 3:3, 8, 12, 14; 4:7, 19, 21; Cô. 1:4, 28; 2:6; I Tê. 2:14; 5:18; I Ti. 1:12, 14, 15; 2:5; 3:13; 6:13; II Ti. 1:1, 2, 9, 13; 2:1, 10; 3:12; 15; Phi-lê-môn 1:23; Hê. 3:1; I Phi 5:10, 14.
Câu Thánh Kinh điển hình cho cách dùng các danh xưng: "Jesus Christ," "Christ Jesus," và "Chúa"  là I Cô-rinh-tô 1:2.
"Gởi cho Hội Thánh Đức Chúa Trời tại thành Cô-rinh-tô, tức là cho những người đã được nên thánh trong Đấng Christ Jesus, được gọi làm thánh đồ, lại cho mọi người bất luận nơi nào, cầu khẩn danh Đức Jesus Christ của chúng ta, là Chúa của những người ấy và của chúng ta."
Trong câu này chúng ta nhận thấy: (1) Hội Thánh của Chúa được nên thánh bởi việc làm của Ngài nên Thánh Kinh chép là: "được nên thánh trong Đấng Christ Jesus." (2) Danh "Jesus Christ" chỉ về Đấng Con Trời nhập thế làm người mang các chức vụ liên quan đến sự cứu rỗi nhân loại, là danh mà mọi người ở bất luận nơi nào cũng nên cầu khẩn. (3) Danh xưng "Chúa" nói đến quyền cai trị của Đức Jesus Christ trên những ai tin nhận Ngài.
 
Trong thời Cựu Ước, những tiên tri, những thầy tế lễ, và những vua của dân I-sơ-ra-ên thường trải qua nghi thức xức dầu trước khi thi hành chức vụ. Dầu tức là dầu được ép từ trái ô-li-ve, đựng trong một cái bình làm bằng sừng. Từ trong sừng đó, dầu được một tiên tri của Chúa đổ ra trên đầu và chảy tràn xuống thân thể của người được xức dầu. Sừng tiêu biểu cho Đức Thánh Linh, là sức mạnh và thẩm quyền của Thiên Chúa. Dầu tiêu biểu cho Thánh Linh của Thiên Chúa, bao gồm mọi năng lực và ân tứ được ban cho bởi Đức Thánh Linh. Sự tuôn tràn tiêu biểu cho sự dư dật.
 
Trong thời Tân Ước, chính Đức Chúa Cha xức dầu cho Đức Chúa Jesus để Ngài trở thành Đấng Christ (Giăng 3:34). Chính Đức Chúa Jesus Christ xức dầu cho chúng ta, còn gọi là báp-tem bằng Thánh Linh để chúng ta trở thành những Cơ-đốc nhân (Christians), tức là những người được chính ngài ban cho các chức vụ: (1) Tiên Tri: để rao giảng Tin lành cho muôn dân (Ma-thi-ơ 28:19, 20).(2) Thầy tế lễ: để dâng của tế lễ thiêng liêng lên Đức Chúa Trời (I Phi 2:5) và cầu thay cho mọi người (I Ti. 2:1-4). (3) Vua: để cùng cai trị với Đức Chúa Jesus Christ (II Ti. 2:12).
 
"Và anh em cũng như đá sống, được xây nên nhà thiêng liêng, làm chức tế lễ thánh, đặng dâng của tế lễ thiêng liêng, nhờ Đức Chúa Jesus Christ mà đẹp ý Đức Chúa Trời." (I Phi-e-rơ 2:5)
"Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em."(Rô-ma 12:1)
"Vậy, hãy cậy Đức Chúa Jesus mà hằng dâng tế lễ bằng lời tôn vinh cho Đức Chúa Trời, nghĩa là bông trái của môi miếng xưng danh Ngài ra. Chớ quên việc lành và lòng bố thí, và sự tế lễ dường ấy đẹp lòng Đức Chúa Trời."(Hê-bơ-rơ 13:15, 16)
"Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhơn đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn. Ấy là một sự lành và đẹp mắt Thiên Chúa là Đấng Giải Cứu chúng ta, Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật."(I Ti-mô-thê 2:1-4)
"Lại nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì sẽ cùng Ngài đồng trị; nếu chúng ta chối Ngài, thì Ngài cũng sẽ chối chúng ta." (II Ti-mô-thê 2:12)
 
Nói tóm lại: Bốn sách Tin Lành giới thiệu và trình bày Con Người Jesus, gọi là Christ, chính là Con Thiên Chúa nhập thế làm người để đem sự cứu rỗi của Thiên Chúa đến cho toàn thể nhân loại. Các thư tín diễn giải ý nghĩa và thành quả các việc làm của Đấng Christ; và mỗi khi muốn nhấn mạnh đến phương diện thành quả hoặc tác động của việc làm của Ngài thì Thánh Kinh đặt chức vụ Christ trước tên gọi Jesus.

Huỳnh Christian Timothy
11.02.2012
Đọc Tiếp →