12,154 views

Loài Người (01): Nguồn Gốc

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?z7rne50s37uf6sb

Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/1011

Dẫn Nhập

“Nhân chủng học” là môn học về loài người. Trong khoa học thì môn nhân chủng học dựa trên các tài liệu lịch sử, các kết quả khảo cổ, các thực nghiệm khoa học để tìm hiểu về sự hình thành và phát triển của loài người, sự khác biệt giữa các chủng tộc, và sự phân bố của loài người về mặt địa lý. Trong thần học thì môn nhân chủng học chỉ dựa trên Thánh Kinh để tìm hiểu về nguồn gốc và mục đích của loài người, sự quan hệ giữa loài người với Thiên Chúa, và phương diện tâm linh của loài người.

Nhân chủng học theo Thánh Kinh liên quan mật thiết với thần học theo Thánh Kinh. Loài người không thể nào hiểu biết đúng về chính mình cho đến khi nhận thức đúng về Đức Chúa Trời. Cảm tạ Đức Chúa Trời là sự nhận thức về Đức Chúa Trời đã được chính Ngài đặt để trong loài người, như Truyền Đạo 3:11 và Rô-ma 1:19-20 đã khẳng định:

…Ngài khiến cho sự đời đời ở nơi lòng loài người”(Truyền Đạo 3:11)…

Bởi vì sự hiểu biết về Đức Chúa Trời được chiếu ra trong họ. Vì Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho họ những sự không thấy được của Ngài, từ sự sáng tạo thế gian là những vật thọ tạo được nhận biết, mà thấy rõ ràng cả năng lực và thần tính đời đời của Ngài” (Rô-ma 1:19-20)…

Nhân chủng học theo Thánh Kinh bắt đầu ngay từ những trang đầu của Thánh Kinh với sự Thiên Chúa dựng nên loài người, đặt tên cho loài người, ban phước cho loài người, và giao cho loài người công việc cai trị toàn thế gian.

Nguồn Gốc của Loài Người

Mỗi dân tộc trên thế gian đều có ít nhất là một huyền thoại về nguồn gốc của dân tộc mình, nói riêng, và của loài người, nói chung. Huyền thoại hay truyền thuyết là những câu chuyện mà nội dung không chân thật, được kể từ đời này sang đời khác. Nội dung của huyền thoại hoặc là không có thật hoặc là không đúng với sự thật. Điển hình như dân tộc Việt Nam có huyền thoại “Con Rồng Cháu Tiên,” cho rằng dân tộc Việt là dòng giống ra từ sự kết hợp của một con rồng và một tiên nữ. Chúng ta có thể nói rằng, tất cả các huyền thoại về nguồn gốc của loài người đều là những sản phẩm của Sa-tan. Nội dung của các huyền thoại nhằm hạ nhục loài người bằng cách liên kết loài người với các tà thần hoặc thú vật, và khiến cho loài người quên đi lẽ thật, rằng họ được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh của Ngài, giống như Ngài, để làm con của Ngài (Lu-ca 3:38; Giăng 1:12; II Cô-rinh-tô 6:18).

Thánh Kinh bắt đầu với lời công bố về sự Thiên Chúa sáng tạo các tầng trời và đất cùng với muôn loài vạn vật trên trời và trên đất trong sáu ngày. Mỗi một ngày bao gồm buổi chiều và buổi mai, tức là một ngày 24 tiếng đồng hồ theo vòng quay của trái đất. Tuyệt điểm của công trình sáng tạo là sự Thiên Chúa dựng nên loài người theo hình ảnh của Ngài. Sách Sáng Thế Ký ghi lại hai lời tường thuật về sự Thiên Chúa dựng nên loài người. Lời tường thuật thứ nhất được ghi lại trong 1:26-29 có tính tổng quát. Lời tường thuật thứ nhì được ghi lại trong 2:7, 21-24 có tính chi tiết. Lời tường thuật thứ nhì nhằm bổ sung cho lời tường thuật thứ nhất. Trong Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống có những từ ngữ được dịch thoáng, không sát với ý nghĩa của nguyên ngữ Hê-bơ-rơ. Dưới đây là phần trích dẫn đã được dịch sát nghĩa của hai phân đoạn nói trên và Sáng Thế Ký 5:1-2:

Sáng Thế Ký 1:26-29

26 Thiên Chúa phán rằng: Chúng Ta hãy làm ra loài người như hình Chúng Ta, giống như Chúng Ta, đặng cai trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, khắp cả đất, và mỗi loài bò sát bò trên mặt đất.

27 Thiên Chúa đã sáng tạo loài người như hình Ngài; Ngài đã sáng tạo người như hình Thiên Chúa; Ngài đã sáng tạo họ, nam và nữ.

28 Thiên Chúa ban phước cho họ và phán cùng họ rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy cai trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời cùng các vật sống hành động trên mặt đất.

29 Thiên Chúa lại phán rằng: Nầy, Ta đã ban cho các ngươi mọi thứ cỏ gieo hột ở khắp trên mặt đất và mỗi loài cây mà trái của cây sinh ra hột; ấy sẽ là thức ăn cho các ngươi.

Sáng Thế Ký 2:7, 21-24

7 Giê-hô-va Thiên Chúa nắn loài người từ bụi của đất, thổi hơi thở sống vào lỗ mũi, thì loài người trở nên một linh hồn sống.

21 Giê-hô-va Thiên Chúa khiến một cơn ngủ mê đến trên A-đam và ông ngủ. Ngài lấy một phần hông của ông, rồi lấp thịt thế vào.

22 Phần hông mà Giê-hô-va Thiên Chúa đã lấy nơi loài người, Ngài dựng nên một người nữ và đưa đến cùng loài người.

23 A-đam nói rằng: Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi. Nàng sẽ được gọi là người nữ, vì nàng được lấy ra từ người nam.

24 Bởi vậy, người nam sẽ lìa cha mẹ mình mà kết hợp cùng vợ mình, và họ sẽ trở nên một thịt.

Sáng Thế Ký 5:1-2

1 Đây là sách về dòng dõi của A-đam. Ngày mà Thiên Chúa sáng tạo loài người thì Ngài đã làm ra loài người giống như Thiên Chúa.

2 Ngài đã sáng tạo họ, nam và nữ; ban phước cho họ, gọi họ là loài người trong ngày họ được sáng tạo.

Dựa trên sự mạc khải của Đức Chúa Trời qua ba phân đoạn Thánh Kinh trên đây mà chúng ta biết được rằng:

  • Thiên Chúa sáng tạo loài người như hình ảnh của Thiên Chúa và giống như Ngài.
  • Thiên Chúa sáng tạo loài người với hai giống tính: nam và nữ.
  • Thiên Chúa làm ra thân thể người nam từ bụi của đất và từ hơi thở sống của Ngài.
  • Thiên Chúa dựng nên thân thể người nữ từ xương và thịt của người nam.
  • Hôn nhân là sự kết hợp của một người nam và một người nữ cách mầu nhiệm đến nỗi hai người trở nên một thịt.
  • Thiên Chúa ban phước cho loài người và truyền cho họ phải sinh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất.
  • Thiên Chúa ban cho loài người quyền cai trị khắp cả đất và muôn loài trên đất.

Bảy điều cơ bản trên đây được các phân đoạn khác trong Thánh Kinh triển khai, giúp chúng ta có một cái nhìn toàn vẹn về loài người. Sự hiểu biết đúng về loài người giúp chúng ta hiểu rõ mối quan hệ giữa Thiên Chúa với loài người, hiểu rõ ý muốn cùng các việc làm của Thiên Chúa đối với loài người, và hiểu rõ mục đích của đời sống chúng ta trong thế giới hiện tại và trong thế giới sẽ đến.

Ý Nghĩa của Một Số Từ Ngữ Liên Quan Đến Sự Sáng Tạo

Trước khi đi sâu vào các chi tiết của bảy lẽ thật cơ bản nói trên, chúng ta cần xem xét ý nghĩa của một số từ ngữ liên quan đến sự sáng tạo được dùng trong Thánh Kinh.

1. Sáng tạo: Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là “bârâ',” H1254, phiên âm là /ba-ra/, có nghĩa là từ chỗ không có mà khiến cho có. Hành động sáng tạo hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và Ngài sáng tạo bằng lời phán hoặc hơi thở của Ngài. Ngài không cần có một chất liệu nào để sáng tạo. Từ sự hư không, tức là sự không có gì, Thiên Chúa chỉ cần phán một lời hoặc thổi ra một hơi thở thì vật liền xuất hiện theo ý muốn của Ngài, y theo thiết kế trong tâm trí của Ngài:

Bởi đức tin, chúng ta biết rằng thế gian đã được thiết lập bởi Lời Thiên Chúa, đến nỗi những vật bày ra đó đều chẳng phải từ vật thấy được mà đến(Hê-bơ-rơ 11:3).

Hành động sáng tạo của Thiên Chúa bao gồm ý muốn của Đức Chúa Cha, thiết kế của Đức Chúa Con, được hiện thực bởi năng lực của Đức Chúa Thánh Linh.

2. Làm ra: Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là “‛âśâh,” H6213, phiên âm là /hơ-sa/, có nghĩa là làm thành một vật gì đó từ một chất liệu đã có sẵn. Thân thể xác thịt của loài người được Thiên Chúa làm ra từ bụi của đất (Sáng Thế Ký 1:26).

3. Dựng nên: Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là “bânâh,” H1129, phiên âm là /ba-na/, có nghĩa là kết hợp các chất liệu và vật liệu đã có sẵn để xây dựng thành một vật mới, như người nữ được làm nên từ người nam (Sáng Thế Ký 2:22), như việc xây cất nhà cửa, đồn lũy, thành quách.

Thí dụ: Đất và nước là các chất liệu để làm ra gạch. Gạch là vật liệu được kết hợp với các chất liệu khác (như đá, gỗ, xi-măng, nước) hoặc các vật liệu khác như các khối bê-tông (được làm ra bởi cát, sỏi, sắt, xi-măng, và nước) để xây cất nhà cửa, đồn lũy, thành quách.

Khi nói Thiên Chúa sáng tạo loài người là nói đến sự kiện từ sự hư không Thiên Chúa đã khiến cho loài người xuất hiện trong một thể chất thiêng liêng gọi là linh hồn, cùng lúc Thiên Chúa mặc cho linh hồn một thân thể vật chất làm bằng bụi đất, gọi là xác thịt và một thân thể thiêng liêng làm bằng hơi thở thiêng liêng của Ngài, gọi là tâm thần. Linh hồn nhận thức và tương giao với Thiên Chúa, với thế giới thuộc linh qua tâm thần. Linh hồn nhận thức và tương giao với thế giới thuộc thể qua xác thịt.

Kết Luận

Nhân chủng học theo khoa học có những kết luận hoàn toàn khác xa với nhân chủng học theo Thánh Kinh. Khoa học cho rằng loài thú tiến hóa thành loài người qua một tiến trình dài hơn hai tỷ năm, còn Thánh Kinh cho biết loài người khác với loài vật và được Thiên Chúa tạo dựng một cách toàn hảo khoảng 6,000 năm trước. Khoa học không thể nói lên mục đích sự thực hữu của loài người và của muôn loài vạn vật, còn Thánh Kinh cho biết loài người được Thiên Chúa dựng nên để vui hưởng tình yêu và sự giàu có muôn mặt của Thiên Chúa, để đời đời cùng với Thiên Chúa cai trị muôn loài vạn vật do Thiên Chúa dựng nên.

Công nhận nguồn gốc của loài người ra từ Thiên Chúa, theo như chính Thiên Chúa đã mạc khải trong Thánh Kinh, dẫn đến sự nhận thức đúng giá trị của loài người, sự hiểu biết ý muốn cùng mục đích tốt lành của Thiên Chúa khi Ngài sáng tạo loài người. Sự nhận biết và thông hiểu đó giúp cho con dân Chúa tăng trưởng trong đức tin, trong sự thánh hóa bởi Lời Chúa, và trong sự trung tín sống theo ý muốn tốt lành của Ngài.

Huỳnh Christian Timothy
06.10.2012

Ghi Chú

[A] Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Quý bạn có thể đọc trên mạng: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

[B] Dùng hai nối mạng dưới đây để tra xem ý nghĩa trong Anh ngữ và nghe cách phát âm của một từ ngữ Hê-bơ-rơ trên Internet:

[C] Dùng hai nối mạng dưới đây để tra xem ý nghĩa trong Anh ngữ và nghe cách phát âm của một từ ngữ Hy-lạp trên Internet:


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

 

Đọc Tiếp →
5,696 views

Bàn Thờ Thiên Chúa

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?1giss3g5mpm04e5

Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/1003

Dẫn Nhập

Bàn thờ là một cấu trúc, trên đó, người ta dâng của tế lễ lên thần linh, linh hồn của người đã chết, hoặc sự thiêng liêng của một đất nước như bàn thờ tổ quốc. Danh từ bàn thờ được dùng trong Thánh Kinh, trong tiếng Hê-bơ-rơ (Hebrew) là “mizbêach,” H4196, ra từ một động từ gốc, có nghĩa là “giết thịt thú vật,” trong tiếng Hy-lạp (Greek) là “thusiastērion,” G2379, có nghĩa là “chỗ để dâng sinh tế.” Cả hai ngôn ngữ đều hàm ý là sinh mạng (máu) và xác thịt của con vật bị giết được đặt trên bàn thờ làm của tế lễ. Tuy nhiên, cũng có khi bàn thờ chỉ được dùng để dâng bánh, bột, trái cây, dầu, rượu, và hương. Trong một số trường hợp, bàn thờ chỉ được lập nên để làm kỹ niệm mà không có một của lễ nào được dâng hiến.

Trong bài này, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về các loại bàn thờ có liên quan đến sự thờ phượng Thiên Chúa như đã được ghi chép trong Thánh Kinh.

Những Người Lập Bàn Thờ

Hành động thờ phượng Thiên Chúa qua sự dâng hiến của lễ xảy ra rất sớm, ngay từ những ngày đầu tiên trong lịch sử của loài người. Sáng Thế Ký 4 ghi lại sự dâng tế lễ của Ca-in và A-bên. Tuy nhiên, Thánh Kinh không ghi lại sự kiện Ca-in và A-bên lập bàn thờ. Hơn một ngàn năm sau, sau cơn nước lụt, Nô-ê là người đầu tiên lập một bàn thờ để dâng của lễ thiêu lên Thiên Chúa (Sáng Thế Ký 8:20). Thánh Kinh không ghi rõ là Nô-ê dùng loại vật liệu gì để lập bàn thờ.

Hơn một ngàn năm sau Nô-ê, Áp-ram (về sau được Chúa đổi tên thành Áp-ra-ham), I-sác, con của Áp-ram, và Gia-cốp, con của I-sác, đều lập bàn thờ thờ Thiên Chúa. Lần đầu tiên, Áp-ram lập bàn thờ thờ Chúa tại Si-chem sau khi Chúa hiện ra với ông, hứa sẽ ban cho dòng dõi ông xứ Ca-na-an (Sáng Thế Ký 12:7). Si-chem cách Giê-ru-sa-lem khoảng 82 km về phía bắc. Sau đó, Áp-ram di chuyển đến Bê-tên và lập bàn thờ thứ hai, tại đó ông cầu khẩn danh Chúa (Sáng Thế Ký 12:7-8). Bê-tên cách Giê-ru-sa-lem khoảng 12 km về hướng bắc. Từ ngữ “cầu khẩn danh Chúa” có nghĩa là thờ phượng Chúa. Sau khi phân rẽ với Lót, Áp-ram lại di chuyển đến Hếp-rôn và lập một bàn thờ thờ Chúa tại đó (Sáng Thế Ký 13:18). Hếp-rôn cách Giê-ru-sa-lem khoảng 37km về phía nam. Trong ba lần Áp-ram lập bàn thờ, Thánh Kinh không nói rõ vật liệu ông dùng để lập bàn thờ, cũng không nói rõ ông có dâng lễ vật gì hay không. Sáng Thế Ký 15 ghi lại sự kiện Áp-ram dâng sinh tế theo lời Chúa dạy nhưng không ghi là ông có lập bàn thờ. Lần thứ tư Thánh Kinh ghi lại việc lập bàn thờ của Áp-ram là khi ông vâng lời Chúa dạy, dâng I-sác, con trai mà Chúa hứa ban cho ông, làm của lễ thiêu (Sáng Thế Ký 22:9). Lần này, Thánh Kinh cũng không cho biết vật liệu được Áp-ram dùng để lập bàn thờ.

Sau khi Áp-ra-ham qua đời ít lâu, I-sác di chuyển đến Bê-e Sê-ba. Trong đêm đầu tiên tại Bê-e Sê-ba, Thiên Chúa hiện ra, ban lời hứa cho I-sác. I-sác lập bàn thờ, cầu khẩn danh Chúa và đóng trại tại đó (Sáng Thế Ký 26:23-25). Thánh Kinh không ghi I-sác có dâng lễ vật hay không, cũng không ghi loại vật liệu được I-sác dùng để lập bàn thờ. Bê-e Sê-ba cách Giê-ru-sa-lem khoảng 74km về phía nam.

Con trai thứ của I-sác là Gia-cốp, (sau được Chúa đổi tên thành I-sơ-ra-ên), sau khi lưu lạc tha hương hơn 14 năm, lập gia đình, tạo tài sản, thì quay về lại Si-chem thuộc xứ Ca-na-an, đã lập một bàn thờ, đặt tên là “En-ên-ô-hê I-sơ-ra-ên, có nghĩa là “Thiên Chúa là Chúa của I-sơ-ra-ên” (Sáng Thế Ký 33:20). Sau đó, Thiên Chúa phán truyền cho ông trở về Bê-tên và lập một bàn thờ cho Thiên Chúa tại đó. Gia-cốp vâng lời Chúa, về lại Bê-tên và lập bàn thờ, đặt tên cho nơi đó là Ên-bê-tên, có nghĩa là “Thiên Chúa của Bê-tên” (Sáng Thế Ký 35:7). Thánh Kinh không ghi việc dâng tế lễ của Gia-cốp khi ông lập bàn thờ và cũng không nói đến vật liệu được dùng để lập bàn thờ.

Khoảng 400 năm sau, vào năm 1446 TCN, Môi-se được Thiên Chúa kêu gọi làm lãnh tụ giải phóng dân I-sơ-ra-ên ra khỏi thân phận nô lệ tại xứ Ai-cập. Vừa ra khỏi Ai-cập được hai tháng, dân I-sơ-ra-ên đã phải chiến trận một cách khốc liệt với dân A-ma-léc và được thắng trận. Để tuyên xưng sự bảo vệ của Thiên Chúa đối với dân I-sơ-ra-ên, Môi-se đã lập một bàn thờ, đặt tên là “Đức Giê-hô-va là cờ xí của tôi” (Xuất Ê-díp-tô Ký 17:15). Thánh Kinh không nói đến việc Môi-se có dâng của lễ trên bàn thờ đó hay không, và cũng không nói đến loại vật liệu được dùng để lập bàn thờ. Tháng kế tiếp, dân I-sơ-ra-ên đi đến đồng vắng Si-na-i và được nghe Thiên Chúa phán truyền các điều răn tại chân núi Si-na-i, thì Môi-se lập một bàn thờ dâng của lễ thiêu và của lễ cảm tạ lên Thiên Chúa (Xuất Ê-díp-tô Ký 24:4). Dù Thánh Kinh không nói rõ Môi-se đã dùng loại vật liệu nào để lập bàn thờ, nhưng dựa vào chỉ thị của Thiên Chúa đã ban cho Môi-se trước đó về việc lập bàn thờ, chúng ta biết vật liệu dùng để lập bàn thờ là đất hoặc đá chưa qua sự đẽo, gọt:

Ngươi hãy lập cho Ta một bàn thờ bằng đất, trên đó phải dâng của lễ thiêu, cùng của lễ thù ân của ngươi, hoặc chiên hay bò. Phàm nơi nào có ghi nhớ danh Ta, Ta sẽ đến và ban phước cho ngươi tại đó. Nếu ngươi lập cho Ta một bàn thờ bằng đá, chớ dùng đá chạm, vì nếu ngươi dùng đồ để chạm thì sẽ làm đá đó ra ô uế”(Xuất Ê-díp-tô Ký 20:24-25).

Bàn thờ bằng đất có thể là đất được vun cao lại một chỗ, thành khối hoặc là dùng đất đã nung thành gạch để xếp thành. Dân I-sơ-ra-ên giỏi về nghề làm gạch. Bàn thờ bằng đá có thể là một khối đá nguyên hoặc do sự xếp nhiều khối đá nguyên lên nhau mà thành. Sự kiện Thiên Chúa không cho phép dùng đá đã qua sự đẽo, gọt là để tránh cho dân I-sơ-ra-ên chạm, khắc các hình tượng để trang trí cho bàn thờ, theo thói quen của dân ngoại giáo làm cho bàn thờ tà thần của họ.

Khi dân I-sơ-ra-ên đến đồng bằng Mô-áp, đối diện với thành Giê-ri-cô, chuẩn bị tiến vào đất hứa Ca-na-an, thì Ba-lác là vua của dân Mô-áp, kinh sợ dân I-sơ-ra-ên. Ba-lác bèn thuê Ba-la-am là một người có ơn tiên tri, đến rủa sả dân I-sơ-ra-ên. Ba-la-am ba lần trong ba nơi, yêu cầu Ba-lác lập bảy bàn thờ để ông dâng sinh tế lên Thiên Chúa, tìm cầu ý Ngài (Dân Số Ký 23:1, 14, 29). Thánh Kinh không ghi rõ Ba-lác cho lập các bàn thờ bằng loại vật liệu gì.

Trước khi dân I-sơ-ra-ên vượt sông Giô-đanh, tiến vào đất hứa, Môi-se truyền cho họ rằng, sau khi vào đất hứa thì họ phải lập một bàn thờ bằng đá nguyên khối, để dâng sinh tế lên Đức Giê-hô-va (Phục Truyền Luật Lệ Ký 27:4-6). Giô-suê là người thi hành lời truyền đó của Môi-se, lập một bàn thờ bằng đá nguyên khối trên núi Ê-banh, dâng trên bàn thờ của lễ thiêu và của lễ cảm tạ cho Đức Giê-hô-va (Giô-suê 8:30-31).

Sau khi dân I-sơ-ra-ên tiến chiếm xứ Ca-na-an và các chi phái được phân chia đất, thì chi phái Ru-bên, chi phái Gát, và phân nửa chi phái Ma-na-se ở lại phía tây sông Giô-đanh, bên ngoài xứ Ca-na-an, và hiệp nhau lập một bàn thờ rất cao lớn tại bờ sông Giô-đanh. Sự kiện này khiến cho các chi phái còn lại của dân I-sơ-ra-ên tưởng rằng các chi phái ấy phản loạn, thờ lạy tà thần, nên kéo quân hỏi tội. Tuy nhiên, các chi phái lập bàn thờ giải thích rằng, không phải họ lập bàn thờ để thờ tà thần, cũng không phải để dâng các của lễ thiêu hoặc các sinh tế cho Đức Giê-hô-va, nhưng để cho con cháu của họ nhớ đến Đức Giê-hô-va. Các chi phái còn lại của I-sơ-ra-ên chấp nhận lời giải thích và lui binh. Chi phái Ru-bên và chi phái Gát đặt tên cho bàn thờ là “Ết,” có nghĩa là “chứng cớ” (Giô-suê 22). Thánh Kinh không nói bàn thờ Ết được xây dựng bằng loại vật liệu gì, nhưng có lẽ bàn thờ ấy được thiết lập bằng các khối đá, tương tự như bàn thờ trên núi Ê-banh, ở bên kia sông Giô-đanh, do Giô-suê cho dựng nên.

Trong thời các quan xét, Ghê-đê-ôn được Thiên Chúa sai làm quan xét, giải cứu dân I-sơ-ra-ên ra khỏi sự bách hại của dân Ma-đi-an. Nhìn thấy phép lạ do thiên sứ của Đức Giê-hô-va làm ra, Ghê-đê-ôn đã run sợ và lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, đặt tên là “Đức Giê-hô-va Sa-lam,” có nghĩa là “Đức Giê-hô-va bình an” (Các Quan Xét 6:24). Trong cùng một đêm đó, Thiên Chúa phán bảo Ghê-đê-ôn lập bàn thờ cho Ngài trên một chóp đá và dâng của lễ thiêu trên đó (Các Quan Xét 6:25). Rất có thể, bàn thờ lập trên chót đá là trên hòn đá mà lúc ban ngày Ghê-đê-ôn đã dọn thức ăn mời thiên sứ của Đức Giê-hô-va, nhưng thiên sứ đã chạm đầu gậy cầm nơi tay vào thức ăn, và lửa đã từ hòn đá bốc lên thiêu hóa thức ăn (Các Quan Xét 6:19-21). Và như vậy, bàn thờ này khác với bàn thờ mà Ghê-đê-ôn đã lập lúc ban ngày, đặt tên là “Đức Giê-hô-va Sa-lam.”

Từ nay trở về sau, mỗi khi Thánh Kinh không cho biết bàn thờ được xây dựng bằng loại vật liệu gì thì chúng ta có thể suy đoán là, chỉ có thể bằng đất hoặc đá nguyên khối, vì dân I-sơ-ra-ên đã biết lệnh truyền của Thiên Chúa về nguyên liệu lập bàn thờ.

Các Quan Xét đoạn 13 ghi lại câu chuyện, cha của Sam-sôn là Ma-nô-a được thiên sứ của Đức Giê-hô-va báo tin về việc ra đời của Sam-sôn. Ma-nô-a đã dâng của lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va trên một hòn đá, và Thánh Kinh gọi hòn đá đó là bàn thờ.

Tiên tri Sa-mu-ên có lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va tại Ra-ma, nơi ông trú ngụ (I Sa-mu-ên 7:17). Ra-ma cách Giê-ru-sa-lem khoảng 12 km về phía bắc.

Vua Sau-lơ sau khi thắng dân Phi-li-tin một trận oanh liệt cũng lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va (I Sa-mu-ên 14:35).

Dân I-sơ-ra-ên, sau khi gần như diệt chủng chi phái Bên-gia-min, đã lập một bàn thờ tại Bê-tên (Các Quan Xét 21:4).

Vua Đa-vít lập một bàn thờ, dâng của lễ thiêu và của lễ bình an cho Đức Giê-hô-va tại sân đạp lúa của A-rau-na để cầu xin Thiên Chúa ngưng giáng tai họa dịch hạch trên dân I-sơ-ra-ên (II Sa-mu-ên 18, 25).

Tiên Tri Ê-li dùng 12 hòn đá, tiêu biểu cho 12 chi phái của I-sơ-ra-ên, dựng nên một bàn thờ để dâng của lễ thiêu lên Đức Giê-hô-va (I Các Vua 18:31-32).

Các Loại Bàn Thờ

Như trên đã nói, trong Xuất Ê-díp-tô Ký 20:24-25 ghi lại lệnh truyền của Thiên Chúa rằng, vật liệu dùng để lập bàn thờ phải là đất hoặc đá nguyên khối, không được đẽo, gọt. Điều đó áp dụng cho các bàn thờ lộ thiên, đứng một mình. Riêng bàn thờ ở trong đền tạm (còn gọi là lều tạm) trong hành trình về đất hứa, trong thời các quan xét, thời Vua Sau-lơ, và thời Vua Đa-vít cũng như bàn thờ trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem từ thời Vua sa-lô-môn, thì có những chỉ thị khác về cấu trúc và vật liệu. Trong đền tạm và đền thờ có bàn thờ dâng của lễ thiêu và bàn thờ dâng hương.

  1. Bàn Thờ Dâng Của Lễ Thiêu

Hình minh họa bàn thờ dâng của lễ thiêu đóng bằng gỗ cây si-tim, bọc đồng pha,
như được mô tả trong Xuất Ê-díp-tô Ký 27:1-8 [1]

Bàn thờ dâng của lễ thiêu được đóng bằng gỗ cây si-tim, tiếng Việt gọi là cây “keo,” bọc đồng pha và còn được gọi là:

  • “Bàn thờ đồng pha” (Xuất Ê-díp-tô Ký 39:39; I Các Vua 8:64).
  • “Bàn thờ của Thiên Chúa” (Thi Thiên 43:4)
  • “Bàn thờ của Chúa” (Ma-la-chi 2:13)

Bàn thờ dâng của lễ thiêu được đặt tại trước cửa đền tạm (Xuất Ê-díp-tô Ký 40:6, 29; Ê-xê-chi-ên 8:16). Bàn thờ dâng của lễ thiêu được thánh hóa bằng cách dâng sinh tế làm lễ chuộc tội cho bàn thờ và xức dầu cho bàn thờ trong suốt bảy ngày, mỗi ngày dâng một con bò đực. Sau khi được thánh hóa thì bàn thờ dâng của lễ thiêu trở nên cực thánh, vật chi chạm vào bàn thờ cũng sẽ trở nên thánh (Xuất Ê-díp-tô Ký 29:36-37). Cách thức thánh hóa bàn thờ dâng của lễ thiêu trong thời Vương Quốc Ngàn Năm được ghi trước trong Ê-xê-chi-ên 43:18-17.

Cách thức đóng bàn thờ dâng của lễ thiêu lần đầu tiên được Thiên Chúa phán truyền cho Môi-se như sau:

Xuất Ê-díp-tô Ký 27:

1 Ngươi cũng hãy đóng một bàn thờ bằng cây si-tim, hình vuông, năm thước bề dài, năm thước bề ngang, và bề cao ba thước [2].
2 Nơi bốn góc bàn thờ hãy làm sừng, các sừng của nó giống nhau. Ngươi hãy bọc nó bằng đồng.
3 Những đồ phụ tùng của bàn thờ thì hãy làm bằng đồng: bình đựng tro, vá, ảng, nỉa và bình hương.
4 Lại làm cho bàn thờ một tấm rá bằng lưới đồng; và nơi bốn góc rá làm bốn cái khoen bằng đồng;
5 rồi để rá đó dưới thành bàn thờ, từ dưới chân lên đến nửa bề cao.
6 Cũng hãy chuốt đòn khiêng bàn thờ bằng cây si-tim, bọc đồng,
7 rồi xỏ vào những khoen; khi khiêng đi, đòn sẽ ở hai bên bàn thờ.
8 Bàn thờ sẽ đóng bằng ván, trống bộng, làm y như đã chỉ cho ngươi trên núi vậy.

Chúng ta cần ghi nhớ điều này, chữ “đồng” được dùng trong Bản Dịch Truyền Thống của Thánh Kinh Việt ngữ, trong các phân đoạn nói về bàn thờ, lẽ ra phải là “đồng pha,” vì từ ngữ gốc trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là “nechôsheth,” H5178, được dùng để chỉ chất hợp kim đồng pha kẽm.

Kích thước của bàn thờ dâng của lễ thiêu trong đền thờ do Vua Sa-lô-môn xây dựng vào năm 832 TCN – 825 TCN, lớn hơn kích thước của bàn thờ dâng của lễ thiêu trong đền tạm do Môi-se xây dựng.

Người lại làm một cái bàn thờ đồng, bề dài hai mươi thước, bề ngang hai mươi thước và bề cao mười thước [2](II Sử Ký 4:1).

Trong I Sử Ký 28:11-19 cho biết Vua Đa-vít đã truyền lại cho Vua Sa-lô-môn các kiểu mẫu về việc xây cất đền thờ, là những kiểu mẫu mà Vua Đa-vít “đã nhờ Đức Thánh Linh cảm động mà được”“nhờ tay của Đức Giê-hô-va chép ra” khiến cho ông hiểu biết. Trong lễ khánh thành đền thờ, “sự vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy trong đền thờ,” cho thấy, Đức Giê-hô-va chấp nhận đền thờ do Vua Sa-lô-môn xây dựng. Nói cách khác, những chi tiết diễn tả về đền thờ trong II Sử Ký 3-4, kể cả việc làm tượng chê-ru-bin và tượng bò, đều là chỉ thị của Thiên Chúa.

Trong khải tượng của Tiên Tri Ê-xê-chi-ên, bàn thờ dâng của lễ thiêu lại có kích thước như sau:

Ê-xê-chi-ên 43:

13 Nầy là mực thước của bàn thờ, bằng cu-đê mà mỗi cu-đê dài hơn cu-đê thường một gang tay. Cái nền cao một cu-đê, và rộng một cu-đê, cái lợi vòng quanh theo nó cao một gang; đó là cái đế bàn thờ [4].
14 Từ cái nền ngang mặt đất cho đến cái khuôn dưới, có hai cu-đê, với cái lợi một cu-đê. Từ khuôn nhỏ cho đến khuôn lớn là bốn cu-đê, với cái lợi một cu-đê.
15 Mặt bàn thờ có bốn cu-đê, và từ mặt bàn thờ mọc lên bốn cái sừng.
16 Mặt bàn thờ có mười hai cu-đê bề dài và mười hai cu-đê bề ngang, sẽ là vuông.
17 Khuôn giữa, hoặc bề dài hoặc bề ngang, bốn phía mỗi phía đều có mười bốn cu-đê; có một cái lợi chung quanh nửa cu-đê; và một cái nền một cu-đê, những cấp của nó sẽ xây về phía đông.
18 Người nói cùng ta rằng: Hỡi con người, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy là các luật về bàn thờ, vừa ngày nó đã được xây xong đặng người ta có thể dâng của lễ thiêu và làm lễ rưới huyết trên đó.

Các nhà giải kinh đều đồng ýrằng, từ Ê-xê-chi-ên chương 40 cho đến Ê-xê-chi-ên chương 48 là những lời tiên tri về thời kỳ của Vương Quốc Ngàn Năm Bình An.

Khải tượng của Ê-xê-chi-ên, như trích dẫn trên đây, là về kích thước của đền thờ sẽ được tái thiết trong thời kỳ Vương Quốc Ngàn Năm; và rất có thể khác với đền thờ dân I-sơ-ra-ên sẽ tái thiết trong một tương lai rất gần, trước kỳ đại nạn hoặc vào năm đầu của kỳ đại nạn, là đền thờ mà vào thời điểm giữa của bảy năm đại nạn, Anti-Christ sẽ vào ngồi trong đền thờ ấy, xưng mình là Thiên Chúa và buộc muôn dân trên đất phải thờ lạy hắn.

  1. Bàn Thờ Dâng Hương
     

Hình minh họa bàn thờ dâng hương đóng bằng gỗ cây si-tim, bọc vàng,
như được mô tả trong Xuất Ê-díp-tô Ký 27:1-8 [4]

Bàn thờ dâng hương cũng được đóng bằng gỗ của cây si-tim nhưng được bọc vàng và còn được gọi là:

  • “Bàn thờ vàng” (Xuất Ê-díp-tô Ký 39:38; Dân Số Ký 4:11).
  • “Bàn thờ xông hương” (Lê-vi Ký 4:7).
  • “Bàn thờ trước Thiên Chúa” (Lê-vi Ký 16:18).

Bàn thờ dâng hương được đặt tại trong nơi thánh của đền tạm hoặc đền thờ, trước bức màn che Rương Bảng Chứng, đối diện với Nắp Thi Ân (Xuất Ê-díp-tô Ký 30:6; 40:5, 26). Cách thức đóng bàn thờ dâng hương được Thiên Chúa phán truyền cho Môi-se như sau:

Xuất Ê-díp-tô Ký 30:

1 Ngươi cũng hãy đóng một cái bàn thờ bằng cây si-tim, để xông hương.
2 Mặt bàn sẽ vuông, bề dài một thước, bề ngang một thước, và bề cao hai thước; bàn thờ sẽ có bốn sừng ló ra
[2].
3 Ngươi hãy bọc vàng ròng trên mặt, bốn cạnh chung quanh và các sừng; còn tứ vi chạy đường viền vàng.
4 Dưới đường viền đó, nơi hai bên, hãy làm hai cái khoen bằng vàng, để xỏ đòn dùng đặng khiêng.
5 Hãy chuốt đòn khiêng bằng cây si-tim, bọc vàng.
6 Ngươi sẽ để bàn thờ đó trước bức màn che hòm bảng chứng đối cùng nắp thi ân trên hòm, là nơi ta sẽ gặp ngươi.
7 Mỗi buổi sớm mai, khi A-rôn làm đèn, sẽ xông hương tại nơi đó.
8 Vào lúc chiều tối, khi A-rôn thắp đèn, cũng sẽ xông hương: ấy là một thứ hương phải xông trước mặt Đức Giê-hô-va luôn luôn, trải qua các đời.
9 Trên bàn thờ nầy chớ xông hương lạ, hoặc dâng của lễ thiêu, của lễ chay hay là lễ quán nào hết.
10 Nhưng trải qua các đời, mỗi năm một lần, A-rôn sẽ lấy huyết của con sinh tế chuộc tôi, bôi trên sừng bàn thờ nầy đặng chuộc tội cho nó. Ấy sẽ là một việc rất thánh cho Đức Giê-hô-va.

Trong Ê-sai 6:6 nói đến một bàn thờ ở trên trời và Ê-xê-chi-ên 41:2 nói đến bàn thờ trong đền thờ mới của thời kỳ Vương Quốc Ngàn Năm, có lẽ đều là nói đến bàn thờ dâng hương. Trong Khải Huyền 8:3, 5 và 9:13 có đề cập đến bàn thờ dâng hương ở trên trời, và gọi là “bàn thờ vàng.” Rất có thể, bàn thờ được đề cập trong Khải Huyền 6:9; 11:1; 14:18; 16:7 đều là chỉ về bàn thờ dâng hương.

Ý Nghĩa Thần Học của Các Bàn Thờ

Theo như đã trình bày trên đây, chúng ta nhận thấy, bàn thờ là nơi để con dân Chúa thể hiện sự thờ phượng Chúa. Sự thờ phượng Thiên Chúa có thể là sự xưng nhận Thiên Chúa hoặc cảm tạ Thiên Chúa qua sự lập một bàn thờ mà không liên quan gì đến các lễ vật. Sự thờ phượng Thiên Chúa cũng được thể hiện bằng cách dâng các của lễ thiêu, các của lễ chay hoặc dâng hương trên bàn thờ.

Trước khi dân I-sơ-ra-ên xây dựng đền tạm, Chúa truyền cho con dân Chúa lập bàn thờ thờ phượng Chúa bằng đất hoặc đá nguyên khối, không đẽo gọt. Khi đã có đền thờ tạm thì Chúa truyền cho con dân Chúa thiết lập một bàn thờ dâng của lễ thiêu đóng bằng gỗ si-tim, bọc đồng pha và một bàn thờ dâng hương cũng đóng bằng gỗ si-tim nhưng bọc vàng ròng, để dùng vào sự thờ phượng Thiên Chúa trong đền tạm.

Qua đó chúng ta nhận thấy, bàn thờ bằng đất hay bằng đá có thể được lập nên để thờ phượng Thiên Chúa khắp nơi, nhưng trong đền thờ thì phải lập nên hai kiểu bàn thờ theo đúng kiểu, kích thước, và vật liệu mà Chúa đã chỉ định, cùng với sự phải thi hành đúng cách thức dâng của lễ trên bàn thờ, cũng do Chúa chỉ định.

Gần đây có một người anh em trong Chúa hỏi tôi về ý nghĩa của các bàn thờ. Thánh Kinh không nói về ý nghĩa của các bàn thờ. Vì thế, những ý nghĩa về bàn thờ ra từ sự suy ngẫm của người học Lời Chúa được gọi là các ý nghĩ thần học dựa trên Thánh Kinh, tức là các ý nghĩ nhận được khi suy nghiệm về Thiên Chúa và những điều thuộc về Thiên Chúa qua Lời Chúa. Nếu ý nghĩ thần học không nghịch lại với các lẽ thật đã được bày tỏ trong Thánh Kinh thì chúng ta có thể chấp nhận và áp dụng trong đức tin, thực hành trong nếp sống Đạo.

Tôi tra tìm nhiều tài liệu giải kinh và nhiều bộ từ điển về ý nghĩa của các bàn thờ nhưng không tìm thấy. Tôi chỉ biết cầu nguyện xin Chúa giúp tôi hiểu được ý nghĩa của các bàn thờ. Dưới đây là những ý nghĩ thần học mà tôi nhận biết được khi suy ngẫm về các bàn thờ Thiên Chúa.

1. Bàn thờ bằng đất: Thân thể xác thịt của loài người ra từ bụi đất (Sáng Thế Ký 2:7), vì thế, bàn thờ bằng đất tiêu biểu cho sự kiện: thân thể xác thịt của loài người do Thiên Chúa dựng nên để thờ phượng Ngài

2. Bàn thờ bằng đá:Đá được dùng làm nền tảng trong các công trình xây dựng, đức tin của một người vào Thiên Chúa là nền tảng cho cuộc sống và sự thờ phượng Thiên Chúa của người ấy, vì thế, bàn thờ bằng đá tiêu biểu cho sự thờ phượng Thiên Chúa được đặt trên đức tin của con dân Chúa.

Trong Tân Ước, Đức Chúa Jesus Christ gọi đức tin của Phi-e-rơ là “đá,” sau khi ông tuyên xưng: Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng Sống! “Ngươi là Phi-e-rơ, Ta sẽ lập Hội Thánh Ta trên đá này, các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó” (Ma-thi-ơ 16:18). Trong ngụ ngôn xây nhà, Đức Chúa Jesus Christ ví những ai tin và làm theo lời phán dạy của Ngài cũng giống như một người khôn ngoan cất nhà mình trên nền đá, tức là xây dựng cuộc sống của mình trên đức tin vào Lời Chúa (Lu-ca 6:48).

Đá dùng làm bàn thờ không được đẽo, gọt, về mặt thực tế để tránh việc con dân Chúa bị cám dỗ chạm các hình tượng; về mặt thần học có nghĩa là đức tin của con dân Chúa phải thuần khiết dựa trên lẽ thật của Lời Chúa, không được theo ý riêng mà thêm vào hay bớt đi (“đẽo, gọt” hay “chạm trổ”) nội dung của Lời Chúa.

Bàn thờ bằng đất và bàn thờ bằng đá có thể được dựng nên bất cứ nơi nào có sự hiện diện của con dân Chúa. Bàn thờ bằng đất và bàn thờ bằng đá tiêu biểu cho con dân Chúa dùng mọi hoạt động của thân thể xác thịt và đức tin trong tâm thần mình mà thờ phượng Thiên Chúa.

Riêng trong đền tạm hoặc đền thờ thì có hai bàn thờ làm bằng gỗ si-tim, một bọc đồng pha được dùng để dâng các của lễ thiêu và một bọc vàng ròng để dâng hương. Si-tim là loại cây có nhựa thơm, chất sáp tiết ra từ thân cây được dùng làm hương liệu, vì thế, gỗ cây si-tim luôn tỏa ra hương thơm, tiêu biểu cho sự thánh sạch.

3. Bàn thờ bọc đồng pha: Đồng pha là đồng pha kẽm, (tiếng Anh gọi là brass), hoặc đồng pha thiết, (tiếng Anh gọi là bronze), vừa tiêu biểu cho sự bất khiết, vì không nguyên chất, tức tội lỗi, vừa tiêu biểu cho sự phán xét của Thiên Chúa trên tội lỗi, lại vừa tiêu biểu cho ơn cứu rỗi của Thiên Chúa.

Dân Số Ký 21 ghi lại câu chuyện về con rắn bằng đồng, như sau: Dân I-sơ-ra-ên phạm tội bị Chúa sai những con rắn lửa đến cắn, khiến nhiều người chết. Sau khi Môi-se cầu xin Chúa, Chúa phán bảo Môi-se phải làm hình tượng một con rắn lửa bằng đồng, treo lên một trụ hình, để người nào bị rắn lửa cắn, ngước nhìn lên tượng đồng của con rắn thì sẽ được cứu. Con rắn tiêu biểu cho Sa-tan, là kẻ đem sự chết đến cho loài người khi loài người chống nghịch Thiên Chúa. Chất đồng pha tiêu biểu cho tội lỗi. Con rắn bằng đồng bị treo trên trụ hình tiêu biểu cho Sa-tan bị Đức Chúa Trời rủa sả (Phục Truyền Luật Lệ Ký 21:23), bị Đức Chúa Jesus Christ đánh bại (Sáng Thế Ký 3:15), bị hình phạt (Khải Huyền 20:2, 20), và tội lỗi cũng bị hình phạt (Rô-ma 2:9; 6:23). Giăng 3:14-15 cho chúng ta biết: Con rắn bằng đồng còn tiêu biểu cho Đức Chúa Jesus Christ mang lấy thân phận của tội nhân để chịu hình phạt thay cho loài người. Vì tội lỗi đã bị hình phạt nên những ai tin nhận điều đó thì được thoát ra khỏi hậu quả của tội lỗi, là sự đau khổ và sự chết.

Phục Truyền Luật Lệ Ký 28:23 chép lại lời cảnh cáo của Môi-se truyền cho dân I-sơ-ra-ên, như sau: “Các từng trời ở trên đầu ngươi sẽ như đồng, và đất dưới chân ngươi sẽ như sắt.” “Các từng trời như đồng” tiêu biểu cho sự đoán phạt sẽ từ Thiên Chúa giáng xuống trên dân I-sơ-ra-ên, nếu họ phạm tội. “Đất dưới chân như sắt” tiêu biểu cho sự gông cùm, xiềng xích trong thân phận nô lệ tại những nơi Thiên Chúa lưu đày dân I-sơ-ra-ên, nếu họ phạm tội.

Khải Huyền 1:15 so sánh đôi chân của Đức Chúa Jesus Christ như đồng sáng đã luyện trong lò lửa. Ma-la-chi 4:3 chép: “Các ngươi sẽ giày đạp những kẻ ác, vì trong ngày Ta làm, chúng nó sẽ như là tro dưới bàn chơn các ngươi, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.” Vì thế, đôi chân như đồng tiêu biểu cho sức mạnh tiêu diệt, chà nát kẻ phạm tội mà không ăn năn.

Bàn thờ đóng bằng gỗ si-tim, bọc đồng pha tiêu biểu cho sự Thiên Chúa hình phạt tội lỗi một cách nghiêm khắc. Nguyên cớ của sự hình phạt nghiêm khắc là vì Ngài là Đấng Thánh, không thể chấp nhận tội lỗi.

Sự dâng sinh tế ngày hai lần vào buổi sớm mai và chiều tối (Xuất Ê-díp-tô Ký 29:38-39) tiêu biểu cho sự kiện con dân Chúa ngày hai lần phải dâng chính thân thể mình làm của lễ sống và thánh lên Thiên Chúa (Rô-ma 12:1). Đó là việc cần phải làm “luôn luôn, trải qua các đời” (Xuất Ê-díp-tô Ký 29:42).

4. Bàn thờ bọc vàng ròng: Vàng là một chất kim loại quý, tiêu biểu cho sự giàu sang, quyền thế, vinh hiển, đáng tôn, đáng quý. Thi Thiên 19:7-10 cho biết: Luật pháp, chứng cớ, giềng mối, điều răn, và các đoán ngữ của Đức Giê-hô-va quý hơn vàng ròng. Châm Ngôn 16:16 cho biết: Sự khôn ngoan quý hơn vàng ròng. Khải Huyền 1:13 dùng hình ảnh các chân đèn bằng vàng tiêu biểu cho các Hội Thánh địa phương. Khải Huyền 21:18, 21 cho biết trong trời mới đất mới, thành Giê-ru-sa-lem từ trời giáng xuống đất có tường thành xây bằng vàng ròng và đường đi trong thành được lót bằng vàng ròng.

Bàn thờ đóng bằng gỗ si-tim bọc vàng ròng tiêu biểu cho sự thờ phượng Thiên Chúa của những người đã được cứu chuộc, đứng trong địa vị thánh khiết và tôn quý mà thờ phượng Thiên Chúa. Gỗ si-tim tiêu biểu cho bản chất thánh khiết của thánh đồ. Vàng ròng bọc ngoài tiêu biểu cho sự vinh quang và tôn quý tuyệt đối mà Đấng Christ đã mặc cho mỗi thánh đồ.

Giăng 17:22 ghi lại lời của Đức Chúa Jesus Christ thưa cùng Đức Chúa Cha rằng, Ngài đã ban sự vinh quang mà Đức Chúa Cha ban cho Ngài, cho những kẻ thuộc về Ngài. Khải Huyền 1:6 cho biết Đức Chúa Jesus Christ đã lấy máu Ngài rửa sạch tội những kẻ thuộc về Ngài và ban cho họ địa vị vua và thầy tế lễ của Đức Chúa Trời. I Phi-e-rơ 2:9-10 gọi các thánh đồ của Chúa là: “dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh” là dân thuộc về Thiên Chúa.

Bàn thờ bọc vàng ròng chỉ được dùng để dâng hương. Khải Huyền 5:8 ví lời cầu nguyện của các thánh đồ là hương thơm dâng lên Thiên Chúa. Sự cầu nguyện, vì vậy, chính là sự tương giao, thông công giữa con dân Chúa và Thiên Chúa. Mỗi năm một lần, thầy tế lễ thượng phẩm bôi máu của con sinh bị giết làm tế lễ chuộc tội vào bốn sừng của bàn thờ dâng hương (Xuất Ê-díp-tô Ký 30:10). Điều đó tiêu biểu cho sự ghi nhớ rằng, địa vị tôn quý của các thánh đồ và đặc quyền được tương giao với Thiên Chúa của các thánh đồ được đặt trên nền tảng sự hy sinh chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ.

Sự xông hương ngày hai lần trên bàn thờ dâng hương vào buổi sớm mai và chiều tối (Xuất Ê-díp-tô Ký 30:7-8) tiêu biểu cho sự kiện: Ít nhất ngày hai lần, con dân Chúa phải biệt riêng thì giờ để tương giao với Chúa, để dâng lên Chúa lời tôn vinh, cảm tạ. Đó là việc cần phải làm “luôn luôn, trải qua các đời” (Xuất Ê-díp-tô Ký 30:8).

Hai bàn thờ bằng gỗ si-tim được bọc đồng pha và vàng ròng chỉ được lập ra trong đền tạm hoặc đền thờ. Đền tạm tiêu biểu cho nhà của Đức Chúa Trời là Hội Thánh trong thời Tân Ước. Đền thờ tiêu biểu cho vương quốc của Đức Chúa Trời trong thời Vương Quốc Ngàn Năm. Trong cõi trời mới đất mới thì không còn đền thờ nữa, vì Đức Chúa Trời và Chiên Con là đền thờ (Khải Huyền 21:22). Hai bàn thờ trong đền tạm và đền thờ tiêu biểu cho sự thờ phượng Chúa trong Hội Thánh và trong Vương Quốc Ngàn Năm. Sự thờ phượng đó dựa trên:

  • Sự chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ, sự các thánh đồ dâng chính thân thể mình làm của lễ sống và thánh lên Chúa, thể hiện qua bàn thờ dâng sinh tế bọc đồng pha.
  • Sự thánh khiết của con dân Chúa trong địa vị tôn quý của thầy tế lễ, của nhà vua, trong sự hầu việc Chúa mỗi ngày trong cuộc sống, thể hiện qua bàn thờ dâng hương bọc vàng ròng..

Kết Luận

Ngày nay, là con dân Thiên Chúa chúng ta không lập bàn thờ Thiên Chúa, bởi vì:

  • Chính thân thể của chúng ta là bàn thờ dâng của lễ thiêu, làm bằng gỗ si-tim bọc đồng pha, mà của lễ dâng lên Thiên Chúa là sự làm chết các chi thể trên đất của chúng ta mỗi ngày (Cô-lô-se 3:5) và dâng các chi thể của chúng ta lên Đức Chúa Trời như là những đồ dùng về sự công bình (Rô-ma 6:13), làm ra những việc lành Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho chúng ta (Ê-phê-sô 2:10).
  • Chính tâm thần của chúng ta là bàn thờ dâng hương làm bằng gỗ si-tim bọc vàng ròng, mà lời tạ ơn, tôn vinh, và cầu xin của chúng ta là thức hương thơm dâng lên Chúa.

Trong thời Vương Quốc Ngàn Năm Bình An, đền thờ tại Giê-ru-sa-lem sẽ được tái lập như Tiên Tri Ê-xê-chi-ên đã được mạc khải. Khi đó, bàn thờ dâng của lễ thiêu, bàn thờ dâng hương, và mọi nghi thức thờ phượng Thiên Chúa như được ghi chép trong Cựu Ước sẽ được tái lập. Mục đích là để con dân Chúa trong mọi thời đại được học biết ý nghĩa sâu rộng của sự cứu rỗi và sự thờ phượng Thiên Chúa qua các lễ nghi do chính Ngài thiết lập.

Trong cõi trời mới đất mới, Đức Chúa Trời và Chiên Con, tức Đức Chúa Jesus Christ, sẽ là đền thờ và mỗi một công dân của Vương Quốc Trời sẽ là một bàn thờ, thờ phượng Thiên Chúa cho đến đời đời. A-men!

Đọc Tiếp →
5,366 views

Thời Kỳ Chúa Đến

Thời Kỳ Chúa Đến

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?vvs7tuxfhhr8jvu

Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/1001
 

Dẫn Nhập

Thời gian gần đây, tin tức về thiên tai, dịch bệnh, sự suy sụp kinh tế toàn cầu, và tiếng đồn về chiến tranh ngày càng dồn dập, nhất là tình trạng khủng hoảng lớn về chính trị và quân sự tại Trung Đông lẫn Biển Đông, khiến cho phần lớn con dân Chúa có cảm tưởng là ngày Đức Chúa Jesus Christ trở lại để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian đã rất gần. Thêm vào đó, cũng trong thời gian gần đây, nhiều con dân Chúa có chiêm bao hoặc khải tượng về sự được Chúa cất lên hoặc về những cảnh trạng của kỳ tận thế, càng khiến cho nhiều người quan tâm về thời kỳ Chúa đến.

Dù không có những tin tức thời sự hay những chiêm bao, khải tượng báo hiệu ngày Chúa đến đã gần, thì sự quan tâm về thời kỳ Chúa đến và sống trong tư thế chuẩn bị gặp Chúa là điều mà Thánh Kinh truyền cho chúng ta. Đức Chúa Jesus Christ dạy chúng ta hãy tỉnh thức về ngày đó. Lý do con dân Chúa cần phải tỉnh thức được chính Đức Chúa Jesus Christ đưa ra: Vì chúng ta không biết ngày nào hoặc giờ nào Chúa đến.

Vậy hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày nào Chúa mình sẽ đến”(Ma-thi-ơ 24:42).

Vậy, hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày, cũng không biết giờ”(Ma-thi-ơ 25:13).

Hãy giữ mình, tỉnh thức; vì các ngươi chẳng biết kỳ đó đến khi nào”(Mác 13:33).

Sự Trông Cậy Hạnh Phước

Thánh Kinh gọi sự kiện Chúa đến để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian là sự trông cậy hạnh phước (Tít 2:13); và khuyên chúng ta hãy dùng những lời tiên tri về sự Chúa đến mà an ủi lẫn nhau (I Tê-sa-lô-ni-ca 4:18). Vì thế, việc luôn nhắc nhau về sự Chúa đến là điều đẹp ý Chúa và cần được làm luôn trong Hội Thánh. Khi Đức Chúa Jesus Christ truyền cho chúng ta dự Tiệc Thánh để nhớ đến Ngài, chắc rằng không phải Ngài muốn chúng ta chỉ nhớ đến tình yêu của Ngài đối với chúng ta qua sự Ngài đã hy sinh cứu chuộc chúng ta, mà còn là nhớ đến lời hứa về sự Ngài sẽ trở lại để đem chúng ta đi ở với Ngài (Giăng 14:2).

Mặc dù không ai có thể biết được ngày và giờ Chúa trở lại, nhưng chúng ta có thể biết ngày Chúa đến đã gần. Sự biết ấy do chính Đức Thánh Linh cảm thúc trong lòng của chúng ta và được ấn chứng bởi những lời tiên tri về thời kỳ cuối cùng được ứng nghiệm. Riêng đối với một số người trong Hội Thánh, họ còn có sự ấn chứng riêng của Chúa trong chiêm bao và khải tượng, như đã được tiên tri từ hơn 2,600 năm trước trong Giô-ên 2:28 và được nhắc lại trong Công Vụ Các Sứ Đồ 2:17.

Ngày Chúa Trở Lại và Ngày Chúa Giáng Lâm Trên Đất

Ma-thi-ơ 24 ghi lại những lời Đức Chúa Jesus Christ trả lời cho các môn đồ, khi họ hỏi Chúa về điềm thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị hủy diệt, điềm Chúa đến, và điềm tận thế. Chúng ta có thể bố cục Ma-thi-ơ đoạn 24 như sau:

  • Từ câu 1 đến câu 2: Các môn đồ chỉ cho Chúa xem sự nguy nga của đền thờ tại thành Giê-ru-sa-lem và Chúa tiên tri về sự đền thờ sẽ bị hủy diệt.
  • Câu 3: Các môn đồ hỏi Chúa (1) Khi nào sự hủy diệt đền thờ sẽ xảy ra? (2) Có điềm gì chỉ về sự Chúa đến? (3) Có điềm gì chỉ về sự tận thế?
  • Từ câu 4 đến câu 13: Những điều sẽ xảy ra trước khi Chúa đến (điềm Chúa đến).
  • Từ câu 14 đến câu 15: Những điều sẽ xảy ra trước khi tận thế (điềm tận thế).
  • Từ câu 16 đến câu 31: Những điều sẽ xảy ra trong kỳ tận thế.
  • Từ câu 32 đến câu 42: Ngụ ngôn về cây vả, ngụ ngôn về kỳ nước lụt, sự Chúa cất Hội Thánh ra khỏi thế gian.
  • Từ câu 43 đến câu 51: Ngụ ngôn về đầy tớ tốt và đầy tớ xấu, lời cảnh cáo của Chúa dành cho những người chăn bầy.

Ma-thi-ơ không ghi lại câu trả lời của Chúa về sự đền thờ bị hủy diệt, nhưng Lu-ca thì ghi lại rõ ràng trong Lu-ca 21:20-24. Qua sự bố cục trên đây, chúng ta thấy: Ngày Chúa trở lại để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian trước khi Chúa phán xét thế gian, khác với ngày Chúa tái lâm trên đất để kết thúc cuộc phán xét thế gian.

Ngày Chúa trở lại để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian trước khi Chúa phán xét thế gian, thì Chúa không giáng lâm trên đất, mà Ngài chỉ giáng lâm giữa chốn không trung, rồi Hội Thánh được cất lên không trung mà gặp Chúa giữa đám mây:

Vả, nầy là điều chúng tôi nhờ lời Chúa mà rao bảo cho anh em: chúng ta là kẻ sống, còn ở lại cho đến kỳ Chúa đến, thì không lên trước những người đã ngủ rồi. Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Thiên Chúa, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ, sẽ sống lại trước hết. Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn. Thế thì, anh em hãy dùng lời đó mà yên ủi nhau”(I Tê-sa-lô-ni-ca 4:15-18).

Ngày đó sẽ đến thình lình, trong khi thế gian vẫn lo vui chơi, ăn uống, cưới gả như ngày trước cơn nước lụt:

Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con người đến cũng thể ấy. Vì trong những ngày trước nước lụt, người ta ăn, uống, cưới, gả như thường cho đến ngày Nô-ê vào tàu, và người ta không ngờ chi hết cho đến khi nước lụt tới mà đùa đem đi hết thảy, khi Con người đến cũng như vậy. Lúc ấy, sẽ có hai người nam ở trong một đồng ruộng, một người được đem đi, còn một người bị để lại; và có hai người nữ đương xay cối, một người được đem đi, còn một người bị để lại”(Ma-thi-ơ 24:37-41).

Ngày Chúa tái lâm trên đất để kết thúc cuộc phán xét thế gian, sẽ xảy ra sau thời kỳ bảy năm đại nạn. Ngày đó có thể tính được, sẽ là 2,520 ngày sau ngày Anti-Christ ký hòa ước bảy năm với các nước (Đa-ni-ên 9:27). Khi đó, toàn thế gian đang ở trong cơn đại nạn chưa từng có và sẽ không bao giờ có nữa trong lịch sử loài người (Ma-thi-ơ 24:21), khi đó, không thể có chuyện thế gian đang vui chơi, ăn uống, cưới gả như thường lệ. Khi đó:

  1. Anti-Christ đã lên ngôi chung một giờ với 10 vua liên minh cùng Anti-Christ (Khải Huyền7:12).
  2. Một phần ba đất đã bị cháy, một phần ba cây cối đã bị cháy và tất cả cỏ xanh đã bị hủy diệt (Khải Huyền 8:7).
  3. Nước của một phần ba biển đã biến ra máu hoặc là như máu (chữ “aima,” G129, trong tiếng Hy-lạp có nghĩa là “máu” hoặc “giống như máu”) sau khi một thiên thạch cháy rực như một khối lửa, rơi xuống biển (Khải Huyền 8:8).
  4. Một phần ba sinh vật trong biển đã bị chết và một phần ba tàu bè trong biển đã bị hủy diệt (Khải Huyền 8:9)
  5. Nước của một phần ba các sông lớn và suối nước đã trở nên đắng, làm cho nhiều người chết, sau khi một thiên thạch vỡ tung và rơi trên các nguồn nước (Khải Huyền 8:10-11).
  6. Một phần ba mặt trời, mặt trăng, cùng các ngôi sao đã bị hại và chúng đã bị mất đi một phần ba sức chiếu sáng (Khải Huyền 8:12).
  7. Một phần ba dân số của địa cầu đã bị giết (trên hai tỷ người) bởi các tà linh từ vực sâu không đáy được thả ra (Khải Huyền 9:18).
  8. Hai chứng nhân cuối cùng của Chúa đã làm chứng về Chúa tại Giê-ru-sa-lem, trong suốt 1,260 ngày, đã bị giết, đã sống lại và đã thăng thiên trước sự chứng kiến của mọi dân tộc trên đất (Khải Huyền 11:3-12).
  9. Một phần mười của thành Giê-ru-sa-lem đã bị đổ xuống và có bảy ngàn người chết trong cơn động đất đã xảy ra cùng lúc hai nhân chứng của Chúa sống lại và thăng thiên (Khải Huyền 11:13).
  10. Tin Lành đã được rao giảng cho muôn dân trên đất bởi một thiên sứ bay giữa trời (Khải Huyền 14:6), để ứng nghiệm lời phán của Đức Chúa Jesus Christ trong Ma-thi-ơ 24:14 “Tin Lành nầy về vương quốc sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến.”
  11. Bảy tai nạn sau cùng trong cơn đại nạn, như được ghi lại trong Khải Huyền 16 đã xảy ra.
  12. Ba-by-lôn lớn đã bị hủy diệt bởi Anti-Christ (Khải Huyền 17, 18).
  13. Quân đội của mọi dân tộc nghe theo lời Anti-Christ đang tụ tập tại Ha-ma-ghê-đôn, chuẩn bị tấn công thành Giê-ru-sa-lem (Khải Huyền 16:14-16).

Đức Chúa Jesus Christ sẽ cùng với Hội Thánh giáng lâm trên núi Ô-li-ve, đối diện thành Giê-ru-sa-lem, để tiêu diệt mọi thế lực gian ác của loài người, ném Anti-Christ và tiên tri giả đang còn sống vào trong hỏa ngục (Khải Huyền 19:20-21), giam Sa-tan lại trong vực sâu 1,000 năm (Khải Huyền 20:1-2), rồi thiết lập Vương Quốc Ngàn Năm của Ngài trên đất (Khải Huyền 20:6).

Những Dấu Hiệu Cho Biết Ngày Chúa Trở Lại Đã Gần

Dù không ai có thể biết chính xác ngày, giờ Chúa trở lại để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian, nhưng có nhiều dấu hiệu giúp cho con dân Chúa nhận biết ngày Chúa trở lại đã gần, có thể là ngay trong thế hệ hiện tại của chúng ta. Các dấu hiệu đó đã được tiên tri trước trong Thánh Kinh và có thể chia thành hai loại:

1. Dấu hiệu chung cho toàn thế gian: Bao gồm những sự sau đây:

  • Vì nhiều người sẽ mạo danh Ta đến mà nói rằng: Ta là Đấng Christ; và sẽ dỗ dành nhiều người”(Ma-thi-ơ 24:5)
  • Các ngươi sẽ nghe nói về giặc và tiếng đồn về giặc: hãy giữ mình, đừng bối rối, vì những sự ấy phải đến; song chưa là cuối cùng đâu”(Ma-thi-ơ 24:6).
  • Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia”(Ma-thi-ơ 24:7)…
  • …Nhiều chỗ sẽ có đói kém và động đất”(Ma-thi-ơ 24:7).
  • Nhiều tiên tri giả sẽ nổi lên và dỗ dành lắm kẻ”(Ma-thi-ơ 24:11).
  • …Tội ác sẽ thêm nhiều”(Ma-thi-ơ 24:12)…
  • Có thể Anti-Christ sẽ hiện ra: “Mặc ai dùng cách nào, cũng đừng để họ lừa dối mình. Vì phải có sự bỏ đạo đến trước, và có người tội ác, con của sự hư mất hiện ra, tức là kẻ đối địch, tôn mình lên trên mọi sự mà người ta xưng là Đức Chúa Trời hoặc người ta thờ lạy, rất đỗi ngồi trong đền Đức Chúa Trời, chính mình tự xưng là Đức Chúa Trời” (II Tê-sa-lô-ni-ca 2:3). Chữ “hiện ra” trong nguyên ngữ Hy-lạp có nghĩa là “được bày ra cho thấy” và được nhắc lại trong II Tê-sa-lô-ni-ca 2:8: “Hiện nay anh em biết rõ điều làm ngăn trở nó, hầu cho nó chỉ hiện ra đúng kỳ nó thôi,” hàm ý sẽ có một biến cố nào đó khiến cho mọi người nhận biết Anti-Christ. Có thể đó chính là sự kiện Anti-Christ lên ngôi cùng một giờ với 10 vua trong một thể chế chính trị toàn cầu (Khải Huyền 17:12). Điều có thể xảy ra là sẽ có một sự thay đổi lớn trong tổ chức Liên Hiệp Quốc: Chức vụ “tổng thư ký” sẽ đổi thành “Tổng Thống Liên Hiệp Quốc,” và thế giới sẽ bị chia thành 10 khu vực ở dưới quyền cai trị của 10 “Đặc Sứ Liên Hiệp Quốc,” mà sách Khải Huyền gọi là 10 vua. Mười đặc sứ này sẽ trao quyền của mình cho Anti-Christ như đã được tiên tri trong Khải Huyền 17:13.

2 Dấu hiệu riêng cho con dân Chúa: Đối với tuyển dân I-sơ-ra-ên là sự tái lập quốc trên vùng đất Ca-na-an. Đối với Hội Thánh là sự bách hại đức tin và sự bội Đạo lớn.

  • Sự tái lập quốc của dân I-sơ-ra-ên: “Ai đã hề nghe một sự thể nầy? Ai đã hề thấy sự gì giống như vậy? Nước há dễ sanh ra trong một ngày, dân tộc há dễ sanh ra trong một chặp? Mà Si-ôn mới vừa nằm nơi, đã sanh con cái” (Ê-sai 66:8). “Hãy nghe lời ví dụ về cây vả, vừa lúc nhành non, lá mới đâm, thì các ngươi biết mùa hạ gần tới. Cũng vậy, khi các ngươi thấy mọi điều ấy, khá biết rằng Con người gần đến, Ngài đương ở trước cửa. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, dòng dõi nầy chẳng qua trước khi mọi điều kia chưa xảy đến” (Ma-thi-ơ 24:32-34).

Thánh Kinh thường dùng cây vả để tiêu biểu cho dân I-sơ-ra-ên. Sau hơn 2,500 năm mất nước, dân I-sơ-ra-ên đã tuyên bố tái lập quốc vào thứ sáu, ngày 14 tháng 5 năm 1948, với khoảng 600,000 dân trên vùng đất mà Thiên Chúa đã hứa ban cho họ. Chỉ trong một ngày, Hoa Kỳ, cường quốc số một trên thế giới đã công nhận tư cách quốc gia của I-sơ-ra-ên. Dựa vào ngụ ngôn về cây vả, chúng ta có thể hiểu rằng: năm 1948 cây vả I-sơ-ra-ên đã được Đức Chúa Trời trồng trở lại vào trong vùng đất Ngài đã ban cho họ. Năm 1967, trong cuộc chiến sáu ngày, từ ngày 5 tháng 6 đến ngày 10 tháng 6, I-sơ-ra-ên đã đánh bại liên minh Ả-rập, bao gồm: Ai-cập, Sy-ri, và Giô-đanh, chiếm toàn quyền kiểm soát trên các vùng đất Gaza, West Bank, Si-na-i, Cao Nguyên Golan, và toàn bộ thành Giê-ru-sa-lem. Sự kiện đó có thể được xem là sự kiện cây vả I-sơ-ra-ên nảy nhành và đâm lá. Nếu một thế hệ của loài người là 70 năm theo như Thi Thiên 90:10 xác định, thì tất cả các lời tiên tri về ngày Chúa đến phải được ứng nghiệm trước tháng sáu năm 2037, là thời điểm cuối cùng của thế hệ được sinh ra vào tháng sáu năm 1967, lúc cây vả I-sơ-ra-ên nứt lộc.

  • Sự con dân Chúa bị bách hại: “Bấy giờ, người ta sẽ nộp các ngươi trong sự hoạn nạn và giết đi; các ngươi sẽ bị mọi dân ghen ghét vì danh Ta” (Ma-thi-ơ 24:9). “Đừng sợ những điều ngươi sẽ chịu khổ! Kìa, Ma Quỷ sẽ ném một số các ngươi vào tù để các ngươi chịu thử thách và các ngươi sẽ có mười ngày hoạn nạn. Hãy trung tín cho đến chết và Ta sẽ ban cho ngươi mão sự sống” (Khải Huyền 2:10).

Nếu sự kiện Anti-Christ lên ngôi xảy ra trước khi Chúa đến với Hội Thánh thì khoảng thời gian từ ngày Anti-Christ lên ngôi cùng với 10 đặc sứ, mà Khải Huyền gọi là 10 vua, cho đến ngày Anti-Christ ký hòa ước bảy năm với các nước, có thể kéo dài chỉ 10 ngày, nhưng cũng có thể là 10 năm. Trong suốt khoảng thời gian đó, Hội Thánh sẽ bị bắt bớ bởi chính quyền toàn cầu của Anti-Christ. Chúng ta nên nhớ là Hội Thánh sẽ được Chúa đem ra khỏi thế gian trước khi bảy năm đại nạn bắt đầu, và bảy năm đại nạn chỉ bắt đầu khi Anti-Christ ký hòa ước với các quốc gia.

  • Sự bội Đạo lớn trong Hội Thánh: “Khi ấy cũng có nhiều kẻ sẽ sa vào chước cám dỗ, phản nghịch nhau, và ghen ghét nhau” (Ma-thi-ơ 24:10). “Mặc ai dùng cách nào, cũng đừng để họ lừa dối mình. Vì phải có sự bỏ Đạo đến trước” (II Tê-sa-lô-ni-ca 2:3)… Sự bội Đạo xảy ra dưới hai hình thức: (1) Con dân Chúa không sẵn lòng chịu khổ vì danh Chúa; (2) Con dân Chúa thiếu hiểu biết Lời Chúa mà sa vào tà giáo.

Sự bội Đạo lúc nào cũng xảy ra trong Hội Thánh nhưng khi Thánh Kinh dùng sự bội Đạo làm dấu hiệu cho ngày Chúa đến, thì sự bội Đạo đó phải có một đặc tính khác với các sự bội Đạo đã xảy ra. Đặc tính đó chính là tính cách toàn cầu với số người bội Đạo nhiều nhất trong lịch sử. Nhìn vào hiện trạng của Hội Thánh chúng ta thấy rõ hình thức bội Đạo vì theo tà giáo đang xảy ra khắp nơi.

Ngay từ những năm đầu của thế kỷ 20, bắt đầu với sự kiện được gọi là “Cuộc Phục Hưng Phố Azuza” (Azuza Street Revival) tại Los Angeles, Hoa Kỳ, vào ngày 14 tháng 4 năm 1906, các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần đã nổi lên cực thịnh với các hiện tượng “phép lạ,” “nói tiếng lạ,” “say Thánh Linh,” “đặt tay té ngã…” kèm theo vô số những giáo lý sai nghịch với Thánh Kinh. Bên cạnh đó, các phong trào phủ nhận thần tính của Đức Chúa Jesus Christ, phủ nhận thẩm quyền tuyệt đối của Thánh Kinh, phủ nhận đồng tính luyến ái là tội lỗi, cùng với Phong Trào Tin Lành Thịnh Vượng (Prosperity Gospel Movement), Phong Trào Lời Đức Tin (Word Faith Movement), Phong Trào Sống Theo Đúng Mục Đích (Purpose Driven Life Movement), Phong Trào Hội Thánh Theo Đúng Mục Đích (Purpose Driven Church Movement), Phong Trào Hiệp Nhất (Ecumenical Movement), và nhất là các phong trào hội nhập văn hóa đã lan rộng và ảnh hưởng sâu đậm trong đời sống đức tin của con dân Chúa, dẫn dắt họ đi vào nếp sống nghịch lại Lời Chúa.

Cuộc Chiến Trung Đông Theo Thi Thiên 83 Có Thể Xảy Ra Trước Khi Chúa Đến

Theo ý nghĩa về ngụ ngôn của cây vả được trình bày trên đây thì từ nay, năm 2012, cho đến ngày Chúa đến, còn nhiều lắm là 25 năm. Nếu kể rằng sự Anti-Christ ra đời là sự “hiện ra” của Anti-Christ, (tương tự với sự giáng sinh của Đức Chúa Jesus là sự “hiện ra” của Thiên Chúa trong xác thịt), thì Chúa có thể đến để cất Hội Thánh ra khỏi thế gian bất cứ lúc nào, ngay từ giờ phút này. Nếu kể rằng sự bắt đầu cầm quyền của Anti-Christ là sự “hiện ra” của Anti-Christ, (tương tự với sự Đức Chúa Jesus chịu báp-tem để nhận chức vụ Đấng Christ), thì Chúa sẽ đến để cất Hội Thánh ra khỏi thế gian bất kỳ lúc nào, trong khoảng thời gian từ khi Anti-Christ và 10 vua lên ngôi cho đến khi Anti-Christ ký hòa ước bảy năm với các nước.

Nếu sự kiện Anti-Christ và 10 vua lên ngôi phải xảy ra trước khi Chúa đến, thì chắc chắn chúng ta sẽ nhìn thấy cuộc chiến Trung Đông, được tiên tri khoảng 2,700 năm trước trong Thi Thiên 83 và Ê-sai 17, xảy ra. Và như vậy, đó là sự thương xót lớn của Đức Chúa Trời dành cho Hội Thánh của Ngài. Bởi vì, đó sẽ là dấu hiệu cuối cùng để những con dân Chúa có đời sống thuộc linh “hâm hẫm” ăn năn tội và hết lòng sống cho Chúa. Những ai không ăn năn sẽ bị Chúa mửa ra (Khải Huyền 3:16) và sẽ bị bỏ lại trong ngày Chúa đến. Những người đó sẽ không thể ăn năn trong Kỳ Đại Nạn.

Hiện nay, (tháng 9/2012), tình hình chuẩn bị cho chiến tranh giữa I-sơ-ra-ên và I-ran, giữa I-sơ-ra-ên và Sy-ri, giữa I-sơ-ra-ên và Lê-ba-non cùng các khối Hồi Giáo cực đoan, cho chúng ta thấy một cuộc chiến khốc liệt tại Trung Đông chắc chắn sẽ xảy ra.

Theo Thánh Kinh, trong những ngày cuối cùng sẽ có ba cuộc chiến lớn xảy ra tại Trung Đông giữa quốc gia I-sơ-ra-ên và các quốc gia thù nghịch I-sơ-ra-ên:

  1. Cuộc chiến giữa I-sơ-ra-ên và các nước Hồi Giáo Ả-rập, như được tiên tri trong Thi Thiên 83 và Ê-sai 17.
  2. Cuộc chiến giữa I-sơ-ra-ên và liên minh Nga với các nước Hồi Giáo không Ả-rập, như được tiên tri trong Ê-xê-chi-ên 38 và 39. Cuộc chiến này sẽ xảy ra khoảng một hoặc hai năm sau khi Anti-Christ ký hòa ước với các quốc gia và I-sơ-ra-ên tin cậy vào giao ước đó, tưởng rằng sẽ được sống trong hòa bình.
  3. Cuộc chiến giữa Đấng Christ và liên minh Anti-Christ với các vua trong thế gian tại Ha-ma-ghê-đôn, như được tiên tri trong Khải Huyền 16:12-16 và 19:11-21. Cuộc chiến này kết thúc sự tự trị của loài người, tiêu diệt mọi thế lực của Sa-tan và kết thúc bảy năm đại nạn. Liền theo đó là thời kỳ Vương Quốc Ngàn Năm.

Cuộc chiến giữa I-sơ-ra-ên và các nước Hồi Giáo Ả-rập, như được tiên tri trong Thi Thiên 83 và Ê-sai 17, sẽ dọn đường cho Anti-Christ lên ngôi, vì sẽ tạo ra khủng hoảng lớn về kinh tế và chính trị toàn cầu, đến nỗi các quốc gia sẽ chấp nhận hình thức chính phủ toàn cầu, để ổn định trật tự của thế giới. Khi đó, rất có thể cơ quan Liên Hiệp Quốc sẽ được tái cấu trúc thành một chính quyền toàn cầu, đứng đầu bởi một tổng thống với 10 đặc sứ cho 10 vùng trên thế giới [1].

Theo Thi Thiên 83 thì các dân có tên sau đây sẽ liên minh trong cuộc chiến sắp xảy ra với I-sơ-ra-ên:

  1. Ê-đôm (con cháu Ê-sau – Sáng Thế Ký 25:30), là những người Ả-rập đang sống ở
    miền nam của Jordan.
  2. Ích-ma-ên (con cháu Áp-ra-ham – Sáng Thế Ký 16:15), là những người Ả-rập Saudi.
  3. Mô-áp (con cháu Lót – Sáng Thế Ký 19:37), là những người Ả-rập đang sống ở miền
    trung của Jordan.
  4. Ha-ga-rít (I Sử Ký 5 – là một trong các chi tộc Ích-ma-ên), là những người Ả-rập đang
    sống ở miền trung của Jordan.
  5. Ghê-banh (Tên một vùng đất thuộc Lebanon ngày nay), là vùng đất thuộc quyền
    của quân khủng bố Hezbollah và chính quyền Lebanon.
  6. Am-môn (con cháu Lót – Sáng Thế Ký 19:38), là những người Ả-rập đang sống ở miền
    bắc của Jordan.
  7. A-ma-léc (con cháu Ê-sau – Sáng Thế Ký 36:12), là những người Ả-rập đang sống ở
    khu vực Sinai.
  8. Phi-li-tin (con cháu của Mích-ra-im thuộc dòng dõi Cham – Sáng Thế Ký 10:6, 13),
    ngày nay là lực lượng Hamas đang sống trong vùng Gaza Strip và lực lượng Palestine
    đang sống trong vùng West Bank.
  9. Ty-rơ (Tên một vùng đất thuộc Lebanon ngày nay – Giô-suê 19:29; II Sa-mu-ên 6:11),
    là nơi quân khủng bố Hezbollah đặt tổng hành dinh.
  10. A-si-ry là vùng đất thuộc Syria và Iraq ngày nay. (Giúp con cháu Lót, tức giúp Mô-áp;
    và giúp Am-môn, tức giúp Jordan).

Như vậy, về phía bắc, I-sơ-ra-ên phải đối diện với lực lượng của Hezbolla và quân đội của Lebanon; về phía nam, I-sơ-ra-ên phải đối diện với quân đội Ả-rập Sau-đi; về phía đông, I-sơ-ra-ên phải đối diện với lực lượng của Palestine trong khu West Bank, quân đội của Sy-ri, và quân đội của Jordan; về phía tây, I-sơ-ra-ên phải đối diện với lực lượng khủng bố Si-na-i từ bán đảo Si-na-i và lực lượng Hamas trong khu Gaza. Rất có thể trung tâm hành quân của liên minh Ả-rập sẽ được đặt tại thủ đô Đa-mách của nước Sy-ri.

Nhìn chung, chúng ta thấy I-sơ-ra-ên tứ bề thọ địch, và cách thức duy nhất để hạn chế sự tổn thất đồng thời nắm chắc phần thắng, là I-sơ-ra-ên phải đánh một đòn chí tử để để hủy diệt ngay đầu não của kẻ thù. Phải chăng, I-sơ-ra-ên sẽ hủy diệt thủ đô Đa-mách của Sy-ri bằng một đầu đạn nguyên tử, làm ứng nghiệm lời tiên tri trong Ê-sai 17:1 “Gánh nặng về Đa-mách. Nầy, Đa-mách bị trừ ra, không kể làm thành nữa, và sẽ trở nên một đống đổ nát”? Chính quốc gia I-sơ-ra-ên cũng bị thiệt hại nặng nề, Ê-sai 17:4 tiên tri: “Xảy ra trong ngày đó, sự vinh quang của Gia-cốp sẽ giảm đi, xác thịt mập mạp đổi ra gầy ốm.”

Với tình hình thời sự tại Trung Đông vẫn tiếp tục căng thẳng trong tuần lễ đầu tháng 9 năm 2012 này, rất có thể I-sơ-ra-ên sẽ tấn công I-ran vào tháng 10 năm 2012, mở đầu cho sự các lực lượng Hồi Giáo được I-ran đỡ đầu tại Lebanon, West Bank, Gaza, và Si-na-i đồng loạt tấn công I-sơ-ra-ên. Khi đó, I-sơ-ra-ên sẽ phản công mãnh liệt, chiếm đóng các vùng đất kể trên, dẫn đến sự kiện các nước Ả-rập còn lại, như: Sy-ri, Jordan, Ả-rập Sau-đi sẽ liên quân để tấn công I-sơ-ra-ên, buộc I-sơ-ra-ên phải tấn công và hủy diệt thủ đô Đa-mách của Sy-ri bằng đầu đạn nguyên tử, nhờ đó, Jordan và Ả-rập Sau-đi lập tức lui binh và cuộc chiến được kết thúc. Sau cuộc chiến, có thể I-sơ-ra-ên hoàn toàn chiếm đóng các vùng đất Lebanon, West Bank, Gaza, và Si-na-i, ra điều kiện cho Liên Hiệp Quốc phải chấp nhận chủ quyền của I-sơ-ra-ên trên các vùng đất đó, nếu không, I-sơ-ra-ên sẽ tấn công các mõ dầu lửa bằng các đầu đạn nguyên tử và toàn bộ thế giới sẽ bị tê liệt vì thiếu nhiên liệu. Chiến thuật đó được I-sơ-ra-ên đặt tên là chiến thuật “Sam-sôn,” có nghĩa là: “cả hai bên cùng chết!”

Trong khi cuộc chiến giữa I-sơ-ra-ên và các nước Ả-rập Hồi Giáo xảy ra một cách khốc liệt tại Trung Đông, thì Trung Quốc có thể thừa cơ tấn công Đài Loan và đánh chiếm các hải đảo ở Biển Đông, để có thể làm chủ các mõ dầu lửa trong khu vực Biển Đông. Hoa Kỳ lúc đó đang bị trói tay trong việc giúp đỡ I-sơ-ra-ên và phòng thủ các căn cứ quân sự của mình tại Trung Đông trước sự đe dọa của I-ran, nên không thể tham chiến, ngăn cản Trung Quốc tại Biển Đông.

Liền sau cuộc chiến Trung Đông và Biển Đông, cả thế giới sẽ phải ngồi lại để tìm giải pháp ổn định kinh tế và chính trị. Lúc bấy giờ, Anti-Christ sẽ xuất hiện và đưa ra giải pháp về một thể chế chính trị toàn cầu, biến Liên Hiệp Quốc trở thành quyền lực tối cao, khống chế mọi quốc gia. Và khi đó, ngày Chúa đến để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian chỉ còn đếm từng giây, từng phút. Theo giả thuyết trên đây, Anti-Christ có thể lên ngôi trong khoảng thời gian từ một đến hai năm sau khi cuộc chiến Trung Đông kết thúc.

Nói tóm lại:

  • Nếu Chúa đến trước khi cuộc chiến Trung Đông như được tiên tri trong Thi Thiên 83 xảy ra thì Ngài có thể đến bất kỳ lúc nào, kể từ giây phút bạn đọc những dòng chữ này.
  • Nếu Chúa đến sau khi cuộc chiến Trung Đông như được tiên tri trong Thi Thiên 83 xảy ra thì Ngài có thể đến bất kỳ lúc nào trong khoảng thời gian từ lúc cuộc chiến xảy ra cho đến lúc Anti-Christ lên ngôi.
  • Nếu Chúa đến sau khi Anti-Christ lên ngôi thì Ngài có thể đến bất kỳ lúc nào trong khoảng thời gian từ khi Anti-Christ lên ngôi cho đến khi Anti-Christ ký hòa ước bảy năm với các quốc gia.

Kết Luận

Chúa sẽ đến ngay ngày hôm nay hoặc sau khi Anti-Christ lên ngôi không phải là điều quan trọng. Việc chúng ta là con dân Chúa phải sống như thế nào trong những ngày cuối cùng này mới là quan trọng. Hê-bơ-rơ 10:25 dạy chúng ta rằng, hễ chúng ta nhận biết ngày Chúa càng gần bao nhiêu thì càng phải khuyên bảo nhau trung tín trong sự nhóm lại bấy nhiêu:

Chớ bỏ qua sự nhóm lại như mấy kẻ quen làm, nhưng phải khuyên bảo nhau, và hễ anh em thấy ngày ấy hầu gần chừng nào, thì càng phải làm như vậy chừng nấy.”

Chữ “ngày ấy” chỉ về ngày mà Đức Chúa Jesus Christ sẽ hiện ra để ban sự cứu rỗi cho những kẻ chờ đợi Ngài như đã được nhắc đến trong Hê-bơ-rơ 9:28:

…Đấng Christ đã dâng mình chỉ một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người; Ngài lại sẽ hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội lỗi đi nữa, nhưng để ban sự cứu rỗi cho những kẻ chờ đợi Ngài.”

Sự nhóm lại mà Thánh Kinh truyền cho chúng ta không phải là sự nhóm lại theo thói quen, do các tổ chức giáo hội lập ra, mà phải là sự nhóm lại do chính Đức Chúa Trời đã truyền cho chúng ta trong điều răn của Ngài. Đó là sự nhóm họp thánh trong mỗi ngày Sa-bát thánh:

Người ta làm việc trong sáu ngày, nhưng qua ngày thứ bảy là ngày Sa-bát, một ngày nghỉ, tức một sự nhóm hiệp thánh; đừng làm một công việc gì; ấy là lễ Sa-bát của Đức Giê-hô-va trong những nơi các ngươi ở”(Lê-vi Ký 23:3).

Là con dân Chúa chúng ta có thể nhóm họp tôn vinh, thờ phượng Chúa bất cứ ngày nào theo sự tự do Chúa ban cho chúng ta, nhưng chúng ta không được bỏ qua sự nhóm hiệp thánh trong ngày Sa-bát, vì đó là ý muốn của Chúa, đã được viết ra thành chữ cho chúng ta trong Thánh Kinh. Trong toàn bộ Tân Ước không một chỗ nào cho phép chúng ta ngưng giữ ngày Sa-bát và bỏ qua sự nhóm hiệp thánh trong ngày Sa-bát. Chính Đức Chúa Jesus Christ và sứ đồ Phao-lô đã theo thói quen mà tham dự những buổi nhóm hiệp thánh trong ngày Sa-bát (Lu-ca 4:16; Công Vụ Các Sứ Đồ 17:2). I Giăng 2:6 dạy chúng ta rằng:

Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm.”

Trong khi I Giăng 2:4 khẳng định:

Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ các điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người.”

Lời Chúa trong I Tê-sa-lô-ni-ca 4:18 cũng dạy chúng ta hãy dùng lời tiên tri về sự Chúa đến để an ủi và khích lệ lẫn nhau. Cuối cùng, chúng ta hãy nhờ ơn Chúa mà làm trọn những việc lành Chúa đã giao cho chúng ta, tức là trung tín làm lợi các ta-lâng Chúa ban và đứng vững trong mọi thử thách cho đến ngày chúng ta được cất lên không trung gặp Chúa.

Cầu xin Chúa mau đến! A-men!

Huỳnh Christian Timothy
01.09.2012

Ghi Chú

Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Quý bạn có thể đọc trên mạng:
www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

[1] Dưới đây là danh sách giả thuyết về 10 vùng trên thế giới sẽ được chia cho 10 vua lên ngôi cùng một giờ với Anti-Christ, như được nói đến trong Khải Huyền 17:

  1. Gia-nã-đại (Canada), Hoa Kỳ
  2. Anh, Na-uy, Thụy Điển, Phần Lan, Thổ-nhĩ-kỳ
  3. Nhật Bản, các Hải Đảo Thái Bình Dương
  4. Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Nam Phi
  5. Nga, Tây Bá Lợi Á (Siberia), Mông Cổ, Triều Tiên
  6. Mễ tây Cơ, các nước ở Nam Mỹ, các Đảo Ca-ri-bê (Carribean Islands);
  7. Ai-cập, Ly-bi (Lybia), Tuy-ni-di (Tunisia), An-giê-ri (Algeria), Ma-rốc (Morrocco), Sau-đi,
    Sy-ri, I-rắc, I-ran, A-phú-hãn (Afghanistan), Hồi Quốc (Pakistan);
  8. Phi Châu, không bao gồm các quốc gia thuộc Bắc Phi và Nam Phi, Mã Đảo
    (Madagascar);
  9. Ấn Độ, Khối Đông Nam Á
  10. Trung Quốc

Bấm vào bản đồ rồi bấm thêm lần nữa để phóng lớn

 


 

Copyright Notice:All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry.
Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn,
kể cả thông báo về tác quyền này.

Đọc Tiếp →
3,920 views

Sự Yêu Thương và Sự Đoán Xét

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Ghi Chú: Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này

Nghe MP3 Phần 1: http://timhieutinlanh.net/node/952
Nghe MP3 Phần 2: http://timhieutinlanh.net/node/953
Nghe MP3 Phần 3: http://timhieutinlanh.net/node/954

Dẫn Nhập

Ngày nay, có lẽ hai từ ngữ bị lạm dụng nhiều nhất trong Hội Thánh là "sự yêu thương" và "sự đoán xét." Lạm dụng một điều gì có nghĩa là dùng điều đó không đúng cách, đúng nghĩa, đúng lúc, miễn sao đạt được mục đích đã nhắm sẵn. Sự lạm dụng từ ngữ phát sinh bởi sự lạm dụng Lời Chúa.

Có hai thành phần lạm dụng Lời Chúa. Thành phần thứ nhất là những người còn non kém trong đức tin và trong sự hiểu biết Đạo Chúa, chưa hết lòng sống theo lẽ thật của Lời Chúa, chưa dứt khoác được với những sự ưa muốn của xác thịt, là những điều trái với sự ưa muốn của Đức Thánh Linh (Ga-la-ti 5:16, 17); nếu sự ưa thích hoặc quyền lợi cá nhân bị đụng chạm thì họ sẽ tìm cách bẻ cong Lời Chúa để bao che cho những điều sai trái của họ. Những thói xấu của xác thịt nổi bật nhất trong họ là: thói tà dâm, lòng tham lam, lòng tự ái và lòng kiêu ngạo. Thành phần thứ hai là những người giả tin Chúa để tìm kiếm tư lợi trong Hội Thánh mà Chúa gọi họ là cỏ lùng, dê và sói, tức là những kẻ giả hình, những tay Pha-ri-si thời đại. Họ lạm dụng Lời Chúa một cách xảo quyệt và có dự tính. Họ chính là những tôi tớ của Sa-tan giả mạo làm những người giúp việc công bình (II Cô-rinh-tô 11:13-15). Theo thời gian, nếu không sớm ăn năn thành phần thứ nhất có thể suy thoái, mất đức tin và biến thành thành phần thứ hai.

Những câu Thánh Kinh thường bị hai thành phần này lạm dụng là:

I Cô-rinh-tô 13:7 "Tình yêu che chở mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự."

I Phi-e-rơ 4:8 "Nhứt là trong vòng anh em phải có tình yêu chân thật; vì tình yêu che đậy vô số tội lỗi."

Ma-thi-ơ 7:1 "Các ngươi đừng đoán xét ai, để mình khỏi bị đoán xét."

Lu-ca 6:37 "Đừng đoán xét ai, thì các ngươi khỏi bị đoán xét; đừng lên án ai, thì các ngươi khỏi bị lên án; hãy tha thứ, người sẽ tha thứ mình."

I Cô-rinh-tô 4:5 "Vậy, chớ xét đoán sớm quá, hãy đợi Chúa đến; chính Chúa sẽ tỏ những sự giấu trong nơi tối ra nơi sáng, và bày ra những sự toan định trong lòng người; bấy giờ, ai nấy sẽ bởi Đức Chúa Trời mà lãnh sự tôn vinh mình đáng lãnh."

Nạn nhân của sự lạm dụng Lời Chúa cũng có hai thành phần. Thành phần thứ nhất là chính những người thiếu hiểu biết Lời Chúa và chưa dứt khoác được với những sự ưa muốn của xác thịt. Họ vừa là người lạm dụng và vừa là nạn nhân của chính họ và của những kẻ giả hình. Thành phần thứ hai là những người hiểu biết Lời Chúa,nhận thức được có điều sai trái trong sự áp dụng Lời Chúa của những người lạm dụng. Tuy nhiên, không có bao nhiêu người có thể dùng Lời Chúa để phản bác sự sai trái đó, khiến cho sự sai trái đó theo thời gian trở thành một thứ "giáo lý" trong Hội Thánh. Phản ứng tiêu cực của thành phần thứ hai là lánh xa những kẻ lạm dụng. Phản ứng đó cần phải có đối với những kẻ giả hình nhưng đối với những người thật lòng tin Chúa mà đức tin còn yếu kém thì cần phải có một phản ứng tích cực. Phản ứng tích cực là giúp cho họ hiểu được họ đã áp dụng sai Lời Chúa như thế nào.

Hiểu Biết và Áp Dụng Lời Chúa

Sự hiểu biết Lời Chúa và áp dụng sự hiểu biết đó vào trong cuộc sống được gọi là nếp sống Đạo. Đạo tức là Lời Chúa. Nếp sống Đạo chân thật là mọi tư tưởng, lời nói, và hành động đều vâng theo Lời Chúa. Người ta có thể hiểu sai Lời Chúa cho nên áp dụng sai và người ta cũng có thể hiểu đúng Lời Chúa nhưng lại áp dụng sai.

Hiểu sai áp dụng sai: I Phi-e-rơ 4:8 "Nhứt là trong vòng anh em phải có tình yêu chân thật; vì tình yêu che đậy vô số tội lỗi." Người hiểu sai cho rằng: vì yêu thương cho nên người ấy phải bảo bọc, che chở mọi hành động tội lỗi. Sự bảo bọc, che chở cho tội lỗi như vậy giống như một người suốt đời không tắm mà chỉ dùng dầu thơm xức lên người để che đậy mùi hôi.

Hiểu đúng áp dụng sai: I Cô-rinh-tô 13:7 "Tình yêu che chở mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự." Một người có thể hiểu đúng ý nghĩa của câu Thánh Kinh này nhưng lại áp dụng sai vì không phối hợp với các nguyên tắc khác của Thánh Kinh, là nguyên tắc về quở trách, sửa trị người có lỗi và nguyên tắc dứt thông công với người có tội mà không cải hối. Sự hiểu đúng mà áp dụng sai khiến cho một người trở thành nạn nhân của những kẻ lạm dụng Lời Chúa và trở thành kẻ tiếp tay hoặc khuyến khích người khác tiếp tục sống trong tội.

Sự Yêu Thương Trong Chúa

Tình yêu trong Chúa là tình yêu vị tha, nghĩa là tình yêu vì người khác mà sống (vị = vì; tha = người khác). Là con dân Chúa, trước hết, chúng ta sống cho Chúa rồi qua sự dẫn dắt, ban ơn của Chúa mà chúng ta sống cho anh chị em trong Chúa, cuối cùng là chúng ta sống cho những người chưa biết Chúa.

Sống cho Chúa là vâng giữ mọi Lời Chúa, vui thỏa trong Lời Chúa, thể hiện Lời Chúa thành hành động mỗi ngày trong cuộc sống. Sống cho anh chị em trong Chúa là quan tâm, chăm sóc, dạy dỗ, quở trách, sửa trị, và mang lấy mọi gánh nặng cho nhau từ thuộc thể đến thuộc linh. Sống cho những người chưa biết Chúa là hy sinh mọi sự, tìm đủ mọi cách, tận dụng mọi cơ hội để rao giảng hoặc góp phần trong sự rao giảng Tin Lành cho họ và khi họ có nhu cầu thì hết lòng giúp đỡ họ theo ơn Chúa ban.

Tình yêu trong Chúa không phải chỉ thể hiện qua sự cảm thông, tha thứ, cứu giúp lẫn nhau mà còn thể hiện qua sự quở trách, sửa trị người có lỗi và dứt thông công với người có tội mà không cải hối. Tình yêu trong Chúa không có nghĩa là bỏ qua những sự sai trái và để cho kẻ xấu tha hồ lợi dụng.

Khi Phi-e-rơ theo ý riêng, ngăn cản Chúa về thành Giê-ru-sa-lem để chịu khổ và chịu chết thì Chúa đã phán: "Hỡi Sa-tan, hãy lui ra đàng sau Ta! Ngươi làm gương xấu cho Ta; vì ngươi chẳng nghĩ đến việc Đức Chúa Trời, song nghĩ đến việc người Ta" (Ma-thi-ơ 16:23). Ai dám nói Đức Chúa Jesus không có tình yêu dành cho Phi-e-rơ vì Ngài đã không "dung thứ mọi sự""nín chịu mọi sự" đối với ông? Khi Phi-e-rơ chìu theo sự yếu đuối của xác thịt, làm ra hành động giả hình, xúc phạm con dân Chúa tại Hội Thánh An-ti-ốt và làm gương xấu cho Ba-na-ba thì Phao-lô đã quở trách Phi-e-rơ trước Hội Thánh: "Nhưng khi Sê-pha đến thành An-ti-ốt, tôi có ngăn can trước mặt người, vì là đáng trách lắm. Bởi trước lúc mấy kẻ của Gia-cơ sai đi chưa đến, thì người ăn chung với người ngoại; vừa khi họ đã đến thì người lui đứng riêng ra, bởi sợ những kẻ chịu phép cắt bì. Các người Giu-đa khác cũng dùng một cách giả dối như vậy, đến nỗi chính Ba-na-ba cũng bị sự giả hình của họ dẫn dụ. Nhưng khi tôi thấy họ không đi ngay thẳng theo lẽ thật của Tin Lành, thì nói với Sê-pha trước mặt mọi người rằng: nếu anh là người Giu-đa, mà ăn ở theo cách dân ngoại, không theo cách người Giu-đa, thì làm sao anh ép dân ngoại phải theo thói Giu-đa" (Ga-la-ti 2:11-14).

Đức Chúa Jesus Christ đã từng động lòng thương xót, chữa bệnh, giảng Đạo và hóa bánh ra cho trên năm ngàn người ăn (Ma-thi-ơ 14:14-21); nhưng Ngài cũng lìa bỏ họ khi nhận biết họ chỉ đến với Ngài để tìm lợi vật chất (Giăng 6:14-27). Đức Chúa Jesus Christ cũng từng quở trách sự cứng lòng, không chịu cải hối của dân các thành đã được nghe Ngài giảng Đạo và thấy Ngài làm nhiều phép lạ: "Vì dân các thành mà Đức Chúa Jesus đã làm rất nhiều phép lạ rồi, không ăn năn, nên Ngài quở trách rằng: Khốn nạn cho mầy, thành Cô-ra-xin! Khốn nạn cho mầy thành Bết-sai-đa! Vì nếu các phép lạ đã làm giữa các ngươi, đem làm trong thành Ty-rơ và Si-đôn, thì hai thành đó thật đã mặc áo gai, đội tro, ăn năn từ lâu rồi. Vậy nên Ta bảo các ngươi, đến ngày phán xét, thành Ty-rơ và thành Si-đôn sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn các ngươi. Còn ngươi, Ca-bê-na-um là thành đã được cao tới trời, sẽ hạ xuống tới âm phủ! Vì nếu các phép lạ đã làm giữa ngươi, đem làm trong thành Sô-đôm, thì thành ấy còn lại đến ngày nay. Vậy nên Ta rao bảo rằng, đến ngày phán xét, xứ Sô-đôm sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn ngươi" (Ma-thi-ơ 11:20-14). Khi các môn đồ của Chúa không tin lời của Ma-ri Ma-đơ-len và các phụ nữ khác làm chứng về sự Chúa đã sống lại thì Đức Chúa Jesus đã quở trách họ: "Sau nữa, Ngài hiện ra cho mười một sứ đồ đang khi ngồi ăn, mà quở trách về sự không tin và lòng cứng cỏi, vì chẳng tin những kẻ từng thấy Ngài đã sống lại" (Mác 16:14). Khi trong Hội Thánh tại Cô-rinh-tô có người phạm tội tà dâm, Hội Thánh đã theo lời dạy của Sứ Đồ Phao-lô mà quở trách kẻ phạm tội đó: "Kẻ đó đã bị phần nhiều người trong anh em quở trách, ấy là đủ rồi" (II Cô-rinh-tô 2:6).

Tình yêu trong Chúa không cho phép con dân Chúa "vui về điều không công bình" (I Cô-rinh-tô 13:6). Khi con dân Chúa đối diện với sự không công bình trong Hội Thánh thì phải lên tiếng quở trách, bởi vì mỗi con dân Chúa là một "thầy tế lễ của Đức Chúa Trời" (Khải Huyền 1:6). Hình ảnh thầy tế lễ thời Cựu Ước khán nghiệm bệnh phung và đuổi kẻ bị phung ra khỏi hội chúng cho đến khi kẻ phung được lành tiêu biểu cho việc thầy tế lễ thời Tân Ước chỉ ra tội lỗi và đuổi kẻ có tội mà không cải hối ra khỏi Hội Thánh cho đến khi kẻ đó ăn năn. Bất cứ sự gì nghịch lại Lời Chúa thì đều là những sự không công bình và "mọi sự không công bình đều là tội" (I Giăng 5:17). Theo nguyên ngữ của Thánh Kinh thì "sự không công bình" là "sự vi phạm luật pháp," và luật pháp trong Thánh Kinh chính là Lời Chúa. Lời Chúa dạy rõ:

Châm Ngôn 27:5 "Một lời quở trách tỏ tường hơn là thương yêu giấu kín."

Châm Ngôn 28:23 "Ai quở trách người nào, về sau sẽ được ơn hơn là kẻ lấy lưỡi mà dua nịnh."

Lu-ca 17:3 "Các ngươi hãy giữ lấy mình. Nếu anh em ngươi đã phạm tội, hãy quở trách họ; và nếu họ ăn năn, thì hãy tha thứ."

Ê-phê-sô 5:11 "…chớ dự vào công việc vô ích của sự tối tăm, thà quở trách chúng nó thì hơn."

I Ti-mô-thê 5:19 "Kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ."

Tít 2:15 "Hãy dạy các điều đó, lấy quyền đầy đủ mà khuyên bảo quở trách. Chớ để ai khinh dể con."

Kỷ Luật Trong Hội Thánh

Có hai hình thức kỷ luật trong Hội Thánh, được Thánh Kinh nêu lên: (1) kỷ luật đối với người phạm tội nghịch cùng một chi thể, tức là một cá nhân trong Hội Thánh, và (2) kỷ luật đối với người phạm tội nghịch cùng toàn thân thể, tức là tất cả mọi người trong Hội Thánh.

1. Kỷ luật đối với người phạm tội nghịch cùng cá nhân: Trong Ma-thi-ơ 18:15-17 Đức Chúa Jesus đã phán dạy chúng ta rất rõ ràng về cách đối xử người phạm tội nghịch cùng cá nhân chúng ta: "Nếu anh em ngươi phạm tội cùng ngươi, thì hãy trách người khi chỉ có ngươi với một mình người; như người nghe lời, thì ngươi được anh em lại. Ví bằng không nghe, hãy mời một hai người đi với ngươi, hầu cứ lời hai ba người làm chứng mà mọi việc được chắc chắn. Nếu người không chịu nghe các người đó, thì hãy cáo cùng Hội Thánh, lại nếu người không chịu nghe Hội Thánh, thì hãy coi người như kẻ ngoại và kẻ thâu thuế vậy."

Trước hết, chúng ta cần ghi nhớ rằng: Đây là cách thức đối xử với người phạm tội nghịch cùng cá nhân chúng ta chứ không phải người phạm tội nghịch cùng Hội Thánh, bởi vì, những kẻ phạm tội nghịch cùng Hội Thánh phải bị quở trách trước Hội Thánh để làm gương cho mọi người. Mệnh lệnh của Chúa đưa ra bốn giai đoạn trong việc kỷ luật một người phạm tội nghịch cùng cá nhân chúng ta:

a) Giai đoạn thứ nhất: quở trách người phạm tội cách riêng tư, mong rằng người ấy sẽ cải hối.

b) Giai đoạn thứ nhì: nếu người ấy không cải hối thì mời thêm vài anh chị em khác trong Hội Thánh đến gặp người ấy để quở trách một lần nữa trước sự chứng kiến của họ.

c) Giai đoạn thứ ba: nếu người ấy vẫn không cải hối thì đưa sự việc ra trước Hội Thánh.

d) Giai đoạn thứ tư: nếu người ấy vẫn không cải hối sau khi bị Hội Thánh quở trách thì Hội Thánh phải cư xử với người ấy như cách cư xử với một người không tin Chúa và một người phạm nhiều tội trọng. Trong xã hội Do-thái, từ ngữ "kẻ thâu thuế" mang nghĩa bóng là "người phạm nhiều tội trọng với Thiên Chúa và dân tộc." Những người thâu thuế cho Đế Quốc La-mã thời xưa thường dựa vào thế lực của La-mã và địa vị viên chức thâu thuế của mình để gian lận và bốc lột chính dân tộc của mình, làm ra nhiều việc ác để thủ lợi, làm giàu. Người Do-thái xem khinh những kẻ thâu thuế còn hơn là xem khinh một người dân ngoại không chịu cắt bì và thờ lạy hình tượng. Người Do-thái cho rằng những người dân ngoại là ô uế nên xem khinh dân ngoại như chó, là loài vật ô uế. Điều đó có nghĩa là người Do-thái xem khinh những kẻ thâu thuế còn hơn là xem khinh loài chó.

Một người không tin Chúa là một người không có sự thông công với con dân Chúa, không được phép tham dự thờ phượng Chúa với con dân Chúa. Một người phạm nhiều tội trọng là một người mà ai ai cũng cần cẩn thận khi giao tiếp với, thứ nhất là tránh tiêm nhiễm những thói xấu của người ấy và thứ nhì là tránh bị người ấy lừa gạt, hãm hại. Người không tin Chúa là kẻ thù tự nhiên của Hội Thánh. Giăng 15:19 ghi lại lời phán của Đức Chúa Jesus Christ về thái độ của thế gian đối với con dân Chúa như sau: "Nếu các ngươi thuộc về thế gian, thì người đời sẽ yêu kẻ thuộc về mình; nhưng vì các ngươi không thuộc về thế gian và Ta đã lựa chọn các ngươi giữa thế gian, bởi cớ đó người đời ghét các ngươi." Dầu vậy, con dân Chúa vẫn có bổn phận cầu nguyện, chúc phước, và cứu giúp người không tin Chúa:

Ma-thi-ơ 5:43, 44 "Các ngươi có nghe lời phán rằng: Hãy yêu người lân cận, và hãy ghét kẻ thù nghịch mình. Song Ta nói cùng các ngươi rằng: Hãy yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi."

Lu-ca 6:27, 28 "Nhưng Ta phán cùng các ngươi, là những người nghe Ta: Hãy yêu kẻ thù mình, làm ơn cho kẻ ghét mình, chúc phước cho kẻ rủa mình, và cầu nguyện cho kẻ sỉ nhục mình."

Lu-ca 6:35 "Song các ngươi hãy yêu kẻ thù mình; hãy làm ơn, hãy cho mượn, mà đừng ngã lòng. Vậy, phần thưởng của các ngươi sẽ lớn, và các ngươi sẽ làm con của Đấng Rất Cao, vì Ngài lấy nhơn từ đối đãi kẻ bạc và kẻ dữ."

Rô-ma 12:20 "Vậy nếu kẻ thù mình có đói, hãy cho ăn; có khát, hãy cho uống; vì làm như vậy, khác nào mình lấy những than lửa đỏ mà chất trên đầu người."

Châm Ngôn 25:21, 22 "Nếu kẻ thù nghịch con có đói, hãy cho nó ăn; nếu có khát, hãy cho nó uống; vì như vậy con chất than cháy đỏ trên đầu nó, và Đức Giê-hô-va sẽ báo lại cho con."

Thành ngữ "chất than cháy đỏ trên đầu nó" mượn hình ảnh quặng chì được chất vào lò và than lửa được đổ lên trên nó khiến cho chất chì tan chảy vào chỗ hứng bên dưới, bỏ lại các tạp chất bị thiêu cháy trong lò, để nói lên ý nghĩa: những hành động thương xót sẽ khiến cho tâm trí của kẻ thù bị tan chảy và những tư tưởng thù nghịch sẽ bị tan biến.

2. Kỷ luật đối với người phạm tội nghịch cùng Hội Thánh: Đối với người phạm tội nghịch cùng Hội Thánh thì sự quở trách phải công khai giữa Hội Thánh để làm gương như cách Sứ Đồ Phao-lô kỷ luật Sứ Đồ Phi-e-rơ tại Hội Thánh An-ti-ốt đã nêu trên đây. Phao-lô cũng chỉ thị cho Hội Thánh Cô-rinh-tô thi hành kỷ luật đối với người phạm tội tà dâm trong Hội Thánh. Đức Thánh Linh, qua ngòi bút của Sứ Đồ Phao-lô, đã ghi lại nguyên tắc đó trong I Ti-mô-thê 5:20, "kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ."

Trong sự việc có người phạm tội tà dâm trong Hội Thánh Cô-rinh-tô, Phao-lô đã chỉ thị cho Hội Thánh trong I Cô-rinh-tô 5, như sau:

1 Có tin đồn ra khắp nơi rằng trong anh em có sự dâm loạn, dâm loạn đến thế, dẫu dân ngoại cũng chẳng có giống như vậy: là đến nỗi trong anh em có kẻ lấy vợ của cha mình.

2 Anh em còn lên mình kiêu ngạo! Anh em chẳng từng buồn rầu, hầu cho kẻ phạm tội đó bị trừ bỏ khỏi vòng anh em thì hơn!

3 Về phần tôi, thân dầu xa cách mà lòng ở tại đó, (vì anh em và lòng tôi được hội hiệp với quyền phép của Đức Chúa Jesus, là Chúa chúng ta),

4 nên tôi đã dường như có mặt ở đó, nhơn danh Đức Chúa Jesus là Chúa chúng ta, tuyên án kẻ phạm tội đó

5 rằng, một người như thế phải phó cho quỷ Sa tan, để hủy hoại phần xác thịt, hầu cho tâm thần được cứu trong ngày Đức Chúa Jesus.

6 Thật anh em chẳng có cớ mà khoe mình đâu! Anh em há chẳng biết rằng một chút men làm cho cả đống bột dậy lên sao?

7 Hãy làm cho mình sạch men cũ đi, hầu cho anh em trở nên bột nhồi mới không men, như anh em là bánh không men vậy. Vì Đấng Christ là con sinh lễ Vượt Qua của chúng ta, đã bị giết rồi.

8 Vậy thì, chúng ta hãy giữ lễ, chớ dùng men cũ, chớ dùng men gian ác, độc dữ, nhưng dùng bánh không men của sự thật thà và của lẽ thật.

9 Trong thơ tôi viết cho anh em, có dặn đừng làm bạn với kẻ gian dâm,

10 đó tôi chẳng có ý nói chung về kẻ gian dâm đời nầy, hay là kẻ tham lam, kẻ chắt bóp, kẻ thờ hình tượng, vì nếu vậy thì anh em phải lìa khỏi thế gian.

11 Nhưng tôi viết khuyên anh em đừng làm bạn với kẻ nào tự xưng là anh em, mà là gian dâm, hoặc tham lam, hoặc thờ hình tượng, hoặc chưởi rủa, hoặc say sưa, hoặc chắt bóp, cũng không nên ăn chung với người thể ấy.

12 Vì chưng có phải tôi nên đoán xét kẻ ở ngoài sao? Há chẳng phải anh em nên đoán xét những người ở trong sao?

13 Còn như kẻ ở ngoài, thì Đức Chúa Trời sẽ đoán xét họ. Hãy trừ bỏ kẻ gian ác khỏi anh em.

Sự kiện phạm tội tà dâm "lấy vợ của cha mình" của một người tín đồ trong Hội Thánh Cô-rinh-tô, vừa là hành động phạm tội nghịch cùng cha mình vừa là hành động phạm tội nghịch cùng Hội Thánh, vì nó xảy ra công khai khiến cho "có tin đồn ra khắp nơi," gây tiếng xấu cho Hội Thánh và Đạo Chúa. Vì thế, sự thi hành kỷ luật cũng phải công khai. Chúng ta không biết rõ chi tiết phạm tội nhưng có lẽ người phạm tội đã công khai lấy người vợ bé hoặc vợ kế của cha mình làm vợ, sau khi cha ông ta qua đời.

Hình thức kỷ luật được Phao-lô nêu rõ:

a) Đừng làm bạn với kẻ không cải hối.

b) Không nên ăn chung với kẻ không cải hối.

c) Trừ bỏ "kẻ gian ác," tức là kẻ không cải hối, khỏi Hội Thánh.

Đối với những kẻ theo tà giáo, tức là theo hoặc rao giảng những giáo lý nghịch lại Thánh Kinh thì hình thức kỷ luật được Thánh Kinh nêu ra như sau: "Nhưng hãy lánh những điều cãi lẽ dại dột, những gia phổ, những sự cạnh tranh nghị luận về luật pháp, vì mấy sự đó đều là vô ích và hư không. Sau khi mình đã khuyên bảo kẻ theo tà giáo lần thứ nhất và lần thứ nhì rồi, thì hãy tránh khỏi" (Tít 3:9, 10).

Tất cả những điều trên đây là những hình thức kỷ luật cần áp dụng chung trong Hội Thánh khi có người phạm tội.

Ngày nay, trong các tổ chức giáo hội mang danh Chúa, chẳng những kẻ phạm tội không bị quở trách, kỷ luật mà ngược lại, họ lạm dụng Lời Chúa, mong bịt miệng những ai nêu lên sự sai trái của họ, nhất là các chức sắc trong giáo hội. Nhiều người nghĩ rằng phải có chức sắc trong giáo hội mới có thể lên tiếng quở trách người phạm tội mà không hiểu rằng: mỗi cá nhân trong Hội Thánh đều là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời, cho nên, ai cũng có nhiệm vụ chỉ ra các "vết phung thuộc linh" và khai trừ "người phung thuộc linh" ra khỏi Hội Thánh. Đó cũng là một trong những lý do con dân chân thật của Chúa phải ra khỏi các tổ chức giáo hội mang danh Chúa do loài người lập ra với những điều lệ, nội quy, truyền thống, thói tục, giáo lý, tư tưởng thần học… hầu hết không có trong Thánh Kinh và nghịch lại Thánh Kinh.

Đặc Tính của Tình Yêu  – I Cô-rinh-tô 13:4-8

Trước hết, chúng ta cần phải nhớ rằng, I Cô-rinh-tô 13 nói về tình yêu của Chúa và tình yêu trong Chúa, tức là tình yêu agape. I Giăng 4:8 và 16 cho chúng ta biết: "Đức Chúa Trời là tình yêu" và câu 19 cho chúng ta biết "Chúng ta yêu vì Chúa đã yêu chúng ta trước." Vì thế, để có thể hiểu và kinh nghiệm được I Cô-rinh-tô 13:4-8 thì một người phải tiếp nhận tình yêu của Đức Chúa Trời, tức là tiếp nhận chính Ngài. Có được Đức Chúa Trời tức là có được tình yêu, chỉ khi đó thì một người mới có thể yêu và hiểu được tình yêu.

I Cô-rinh-tô 13:4-8 nói về các đặc tính của tình yêu, tức là các đặc tính của Đức Chúa Trời và cũng là các đặc tính của những ai thuộc về Ngài. Như mặt trăng tiếp nhận ánh sáng của mặt trời rồi phản chiếu trên đất, con dân Chúa tiếp nhận tình yêu từ Đức Chúa Trời rồi chiếu sáng tình yêu của Đức Chúa Trời ra giữa thế gian (Ma-thi-ơ 5:14).

Tình yêu nhẫn nại; tình yêu nhân từ; tình yêu chẳng ghen tị, chẳng khoác lác, chẳng lên mình kiêu ngạo, chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghĩ đến sự dữ, chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật. Tình yêu che chở mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự. Tình yêu chẳng hề hư mất bao giờ.

1. Tình yêu nhẫn nại: Từ ngữ "nhẫn nại" vừa có nghĩa là sức kiên trì chịu đựng mọi sự nghịch lại với bản tính của mình để đạt được mục đích, vừa có nghĩa là sự kiên trì chịu đựng những vô lý, bất công người khác làm ra để có thể cảm hóa người ấy. Đức Chúa Trời thánh khiết và công chính đã và đang nhẫn nại đối với thế gian tội lỗi, dùng ơn cứu rỗi của Ngài trong Đức Chúa Jesus Christ để cảm hóa thế gian. Nhờ đó mà chúng ta mới có cơ hội để ăn năn tội và trở thành con dân của Chúa. Là con dân của Chúa, chúng ta cũng nhẫn nại với mọi người chung quanh chúng ta để có thể đưa họ đến với sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.

Nhẫn nại không có nghĩa là không quở trách người có lỗi. Nhẫn nại cũng không có nghĩa là không bao giờ ngưng chịu đựng một người nào đó. Chúng ta nhẫn nại suốt cuộc đời mình và nhẫn nại với mỗi một người mà chúng ta gặp. Tuy nhiên, thời gian chúng ta nhẫn nại đối với mỗi người sẽ khác nhau, tùy theo sự cho phép của Chúa. Trong Ma-thi-ơ 18:15-17, Chúa dạy chúng ta chỉ nhẫn nại với người phạm tội nghịch cùng chúng ta qua ba lần chúng ta cho người đó cơ hội nhận lỗi và ăn năn. Nếu sau ba lần bị quở trách mà người có tội không chịu ăn năn thì Chúa ra lệnh cho chúng ta phải xem người ấy như người không tin Chúa và là một người phạm tội trọng. Dầu chúng ta buộc phải thi hành kỷ luật với những người không chịu cải hối nhưng lòng chúng ta vẫn yêu thương họ và không truy cứu trách nhiệm về những việc bất công hay thiệt hại mà họ đã làm ra cho chúng ta. Đó là sự tha thứ!

Trong công tác rao giảng Tin Lành, Chúa cũng đã truyền cho chúng ta rằng, hễ ai từ chối không muốn nghe Tin Lành thì chúng ta hãy bỏ họ mà đi. Họ sẽ gánh lấy trách nhiệm về sự hư mất của chính họ: "Nếu ai không tiếp rước, không nghe lời các ngươi, khi ra khỏi nhà đó, hay là thành đó, hãy phủi bụi đã dính chơn các ngươi. Quả thật, ta nói cùng các người, đến ngày phán xét, thì xứ Sô-đôm và xứ Gô-mô-rơ sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn thành ấy" (Ma-thi-ơ 10:14). Mệnh lệnh đó của Chúa còn được ghi lại thêm hai lần trong Mác 6:11, Lu-ca 9:5 và Lu-ca 10:10-11. Đặc biệt, trong Lu-ca 10:10-11, Chúa dạy bảy mươi môn đồ được Ngài sai đi phải ra giữa chợ mà công bố sự khước từ nghe Tin Lành của một thành phố. Phao-lô và Ba-na-ba đã áp dụng lời Chúa dạy khi họ đối diện với sự cứng lòng của những người Do-thái tại thành An-ti-ốt: "Hai người đối cùng họ phủi bụi nơi chơn mình, rồi đi đến thành Y-cô-ni" (Công Vụ Các Sứ Đồ 13:51). Ai có thể nói là hai ông không nhẫn nại? Hội Thánh ngày nay cần phải bắt chước Phao-lô và Ba-na-ba trong sự vâng theo mệnh lệnh của Chúa về cách thức cư xử đối với những người chống đối Đạo Chúa.

Chúa dạy chúng ta rao giảng bất luận gặp thời hay không gặp thời nhưng Chúa không dạy chúng ta nài nỉ, kéo ép hay dùng tâm lý học khiến cho người ta tin Chúa. Làm ơn cho một người vì họ có nhu cầu và chúng ta có lòng thương là việc tốt nhưng làm ơn nhằm mục đích lấy lòng người ta để người ta vị nể mình mà tin Chúa là sai. Khi làm như vậy chúng ta đã vô tình cho rằng Tin Lành không có quyền phép để cứu người (Rô-ma 1:16) mà việc làm lấy lòng của chúng ta mới có quyền phép để cứu người! Và thật ra, sự tin Chúa như vậy không cứu ai hết! Câu Thánh Kinh II Ti-mô-thê 4:2 trong Bản Dịch Truyền Thống dịch là: "Hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi;" Chữ "nài khuyên" khiến cho người đọc hiểu lầm là khi giảng Đạo phải "năn nỉ" người ta tin Chúa. Tuy nhiên, dịch cho sát ý thì sẽ là: "Hãy giảng Đạo, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, sửa trị, kêu gọi, cứ dạy dỗ chẳng thôi." Chúng ta cần kêu gọi người nghe Đạo tin nhận Đạo nhưng chúng ta không cần phải nài nỉ họ!

Tình Yêu nhẫn nại nghĩa là tình yêu có sức kiên trì chịu đựng mọi sự nghịch lại với bản tính của mình, chịu đựng những vô lý, bất công đến từ người khác hoặc hoàn cảnh để đạt được mục đích tốt đẹp đã đặt ra.

2. Tình yêu nhân từ: Từ ngữ "nhân từ" có nghĩa là cư xử tốt với mọi người; không phải là làm ra vẻ cư xử tốt mà là hành động tốt thật sự phát xuất từ đáy lòng. Nhân từ hay cư xử tốt có nghĩa là luôn luôn làm ơn cho người khác, đặt quyền lợi của người khác trước quyền lợi của mình một cách tự nguyện, vô điều kiện. Đức Chúa Trời luôn luôn nhân từ. Các Thi Thiên luôn nhắc đến điệp khúc: "Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời!" Đức Chúa Trời nhân từ vì Ngài: "khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác" (Ma-thi-ơ 5:45); Ngài "lấy nhân từ đối đãi kẻ bạc và kẻ dữ" (Lu-ca 6:35). Kẻ bạc là kẻ vô ơn, kẻ dữ là kẻ làm ra những điều nghịch lại điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời. Trong Ma-thi-ơ 5:45 Chúa cũng dạy chúng ta nhân từ một cách trọn vẹn như Cha của chúng ta ở trên trời. Nhân từ không có nghĩa là không thi hành kỷ luật mà là khi cần thiết thì thi hành kỷ luật với lòng đau thương để bảo vệ sự công chính. Sự Kiện Đức Chúa Trời hy sinh Con Một của Ngài để thế gian được thoát khỏi sức mạnh và hậu quả của tội lỗi là hành động nhân từ vô bờ bến của Ngài đối với thế gian nhưng cùng lúc Ngài thi hành hình phạt tội lỗi cách nặng nề trên Con Một của Ngài. Sự kiện Đức Chúa Jesus Christ từ bỏ địa vị Thiên Chúa của mình để gánh thay hình phạt của tội lỗi và chết thay cho loài người là hành động nhân từ vô bờ bến của Ngài nhưng một ngày kia Ngài sẽ phán xét những ai không tin nhận ơn cứu rỗi của Ngài. Sự kiện Đức Thánh Linh cáo trách thế gian về tội lỗi để đưa mọi người đến sự ăn năn tội là hành động nhân từ vô bờ bến của Ngài nhưng những ai chống nghịch Ngài thì sẽ bị hư mất đời đời.

Tình yêu nhân từ có nghĩa là luôn luôn làm ơn cho người khác, đặt quyền lợi của người khác trước quyền lợi của mình một cách tự nguyện, vô điều kiện. Lòng nhân từ bao gồm sự ân cần quở trách, sửa phạt những kẻ có lỗi để cải hóa họ.

Nhẫn nại và nhân từ có liên quan mật thiết với nhau. Lòng nhẫn nại và nhân từ còn đến mãi mãi nhưng sự thể hiện cho mỗi đối tượng thì có giới hạn, tùy theo thái độ đáp ứng của đối tượng. Khi sự nhẫn nại kết thúc thì sự nhân từ cũng kết thúc. Dù Đức Chúa Trời nhẫn nại và nhân từ nhưng Ngài cũng từng hủy diệt cả thế gian, ngoại trừ gia đình Nô-ê tám người, bằng cơn lụt lớn toàn cầu khi loài người đã phạm tội đến mức không còn có thể ăn năn. Dầu vậy, Ngài cũng đã dành cho họ 120 năm để ăn năn. Một ngày không còn bao lâu nữa, Đức Chúa Jesus Christ sẽ phán xét và tận diệt mọi kẻ ác trong thế gian. Khi đó, Ngài sẽ dành ra bảy năm để ban cơ hội cho những ai có lòng ăn năn được đến với sự cứu rỗi của Ngài. Trong ba năm rưỡi sau cùng của bảy năm đó, Tin Lành sẽ được thiên sứ bay giữa trời rao truyền cho muôn dân, muôn nước trên đất (Khải Huyền 14:6). Thánh Kinh tiên tri trước là sẽ có vô số người ăn năn tội và tin nhận Tin Lành trong giai đoạn đó, dù họ phải trá giá bằng chính mạng sống của họ trước sự bắt bớ của chính quyền toàn cầu do Anti-Christ (kẻ chống nghịch Đức Chúa Jesus Christ) thống lãnh. Nhẫn nại và nhân từ không bao giờ có nghĩa là bao che và bỏ qua tội lỗi mà chỉ có nghĩa là cư xử tốt

Đọc Tiếp →
3,582 views

Sự Cứu Rỗi và Sự Sống Đời Đời

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này

Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài viết này là từ "Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Phan Khôi Hiệu Đính Năm 2011," ngoại trừ những câu trích dẫn từ sách Giăng và sách Khải Huyền là từ "Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời." Quý con dân Chúa có thể tra cứu tại đây:  http://pk2011.thanhkinhvietngu.net/biblehttp://ngoiloi.thanhkinhvietngu.net/.

Dẫn Nhập

Trong lịch sử của Hội Thánh, nhiều giáo lý sai nghịch Thánh Kinh đã được Sa-tan đưa vào Hội Thánh nhằm mục đích phá hoại sự phát triển của Hội Thánh. Một trong những phương cách cổ điển của Sa-tan là sửa đổi hoặc bẻ cong ý nghĩa chân thật của Lời Chúa để khiến người nghe áp dụng những hiểu biết sai lầm vào trong nếp sống đạo. Sa-tan đã từng thêm bớt Lời Chúa để khiến cho Ê-va phạm tội. Sa-tan cũng từng bẻ cong Lời Chúa mong rằng có thể cám dỗ Đức Chúa Jesus Christ phạm tội.

Trong những ngày cuối cùng này, chiến thuật sửa đổi (thêm hoặc bớt) Lời Chúa được Sa-tan ứng dụng trong các bản Thánh Kinh Diễn Ý hoặc các Bản Dịch Mới Thánh Kinh trong mọi ngôn ngữ. Chiến thuật bẻ cong Lời Chúa được Sa-tan ứng dụng trong các phong trào thần học và các tài liệu giải kinh. Từ đó, vô số giáo lý lạ được phát sinh và giảng dạy trong các giáo hội xưng danh là Hội Thánh.

Cảm tạ Chúa! Lời phán của Ngài là chân lý, cho nên, dù Sa-tan có gắng sức đánh phá cũng không thể nào thắng được Hội Thánh (Ma-thi-ơ 16:18). Những sự lường gạt của Sa-tan đầy dẫy trong các giáo hội chỉ có thể gạt được những ai không thuộc về Chúa, là những người vì không có lòng tìm kiếm Chúa và lẽ thật của Ngài nên đã bị Sa-tan làm cho mù thuộc linh (II Cô-rinh-tô 4:3, 4). Những người thật sự thuộc về Chúa sẽ được chính Đức Thánh Linh là Thần Lẽ Thật dẫn họ vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa và dùng chính Lời Chúa để thánh hóa họ (Giăng 16:13; 17:17), chuẩn bị họ cho ngày gặp Chúa giữa chốn không trung. Chúa cũng sẽ dùng những tôi tớ chân thật của Ngài để rao giảng và dạy dỗ các lẽ thật của Lời Ngài trong Hội Thánh.

Hai trong những lẽ đạo căn bản nhất của Thánh Kinh là "Sự Cứu Rỗi" và "Sự Sống Đời Đời" đã bị Sa-tan cố gắng che dấu, bẻ cong với nhiều ý tưởng thần học và giáo lý không có trong Thánh Kinh. Trong bài này, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa chân thật của sự cứu rỗi ở trong Đức Chúa Jesus Christ và sự sống đời đời được ban cho bởi Ngài.

Sự Thực Hữu, Sự Sống và Sự Chết

Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ định nghĩa của Thánh Kinh về sự sống và sự chết. Để có thể kinh nghiệm sự sống và sự chết thì phải có sự thực hữu (có thật). Chúng ta và muôn loài vạn vật, kể cả các thiên sứ, thực hữu là do Thiên Chúa sáng tạo. Thiên Chúa là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, nghĩa là, Thiên Chúa Tự Có và Có Đến Đời Đời; còn muôn loài vạn vật do ý muốn và quyền phép của Thiên Chúa mà có. Sự thực hữu của muôn loài vạn vật bắt đầu với sự sống cho đến khi sự chết xuất hiện. Sự chết làm biến đổi quan hệ của loài thọ tạo với Thiên Chúa và với nhau, chứ không chấm dứt sự thực hữu của chúng. Vì thế, một khi đã thực hữu thì chúng ta sẽ thực hữu trong sự sống hoặc thực hữu trong sự chết.

Chính Thánh Kinh dạy cho chúng ta biết, chết không có nghĩa là không còn thực hữu: "Còn anh em đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình, đều là những sự anh em xưa đã học đòi, theo thói quen đời nầy, vâng phục vua cầm quyền chốn không trung tức là thần hiện đương hành động trong các con bạn nghịch. Chúng ta hết thảy cũng đều ở trong số ấy, trước kia sống theo tư dục xác thịt mình, làm trọn các sự ham mê của xác thịt và ý tưởng chúng ta, tự nhiên làm con của sự thạnh nộ, cũng như mọi người khác. Nhưng Đức Chúa Trời, là Đấng giàu lòng thương xót, vì cớ lòng yêu thương lớn Ngài đem mà yêu chúng ta, nên đang khi chúng ta chết vì tội mình, thì Ngài làm cho chúng ta sống với Đấng Christ, ấy là nhờ ân điển mà anh em được cứu, và Ngài làm cho chúng ta đồng sống lại và đồng ngồi trong các nơi trên trời trong Đức Chúa Jesus Christ, hầu cho về đời sau tỏ ra sự giàu có vô hạn của ân điển Ngài, mà Ngài bởi lòng nhơn từ đã dùng ra cho chúng ta trong Đức Chúa Jesus Christ" (Ê-phê-sô 2:1-7). Các mệnh đề "anh em đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình""đang khi chúng ta chết vì tội mình" cho chúng ta thấy rõ, "đã chết" hoặc "đang chết" không có nghĩa là trở thành hư không, không còn thực hữu.

Trong câu chuyện người ăn mày tên La-xa-rơ và người nhà giàu được ghi chép trong Lu-ca 16:19-31, Đức Chúa Jesus dạy rằng, cả người trong Chúa lẫn người ngoài Chúa, sau khi chết thuộc thể thì vẫn thực hữu với đầy đủ ý thức, tình cảm, lý trí, và ý chí.

Trong sự kiện Chúa hóa hình trên núi được ghi lại trong Ma-thi-ơ 17, Mác 9, và Lu-ca 9, thì Lu-ca 9:30, 31có nói rõ, Môi-se vốn là người đã chết phần thể xác hơn 1400 năm trước đó, (thân thể ông được thiên sứ trưởng Mi-chen chống với ma quỷ để dành lấy, không cho ma quỷ lạm dụng  – Giu-đe 9), đã hiện ra trò chuyện với Chúa về sự Ngài sẽ qua đời. Đối với tên trộm bị đóng đinh bên phải Chúa, Ngài phán: "hôm nay ngươi sẽ được ở với Ta trong nơi Ba-ra-đi" (Lu-ca 23:43). Trong Hê-bơ-rơ 12:23 nói đến sự kiện Hội Thánh của Chúa được ở gần "thần linh của những người nghĩa đã được làm cho vẹn lành," tức là các thánh đồ đã qua đời. Khải Huyền 6:9-11 nói đến linh hồn của những người tử đạo được ở dưới bàn thờ trên thiên đàng, kêu xin Chúa báo thù cho họ, và họ được ban cho những áo trắng. Tất cả các phân đoạn Thánh Kinh trên đây đã dạy rõ: cái chết thể xác không khiến cho sự thực hữu của một người bị chấm dứt và thuyết "linh hồn ngủ" cho rằng một người đã chết thì không còn biết gì nữa, là hoàn toàn sai lầm, nghịch lại lẽ thật của Thánh Kinh.

Vì không hiểu rõ những điều trên đây nên vài giáo phái Cơ-đốc, như Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật (Seventh Day Adventist), Hội Thánh của Đức Chúa Trời (Church of God), và Chứng Nhân của Đức Giê-hô-va (Jehovah's Witnesses) đã tạo ra các giáo lý sai nghịch Thánh Kinh. Họ dạy rằng, sống là thực hữu còn chết là trở về hư không, vì thế, họ bài bác sự kiện ma quỷ và những người hư mất sẽ bị khổ đời đời trong hỏa ngục.

Theo Thánh Kinh, sống là sự kết hợp năng động, đem lại kết quả, còn chết là sự phân rẽ, chấm dứt mọi năng động. Có sự sống thuộc thể và sự sống thuộc linh, sự chết thuộc thể và sự chết thuộc linh. Trong sự sống thuộc thể, linh hồn và tâm thần kết hợp với thể xác, khiến cho thể xác được năng động. Sự chết thuộc thể xảy ra khi linh hồn và tâm thần phân rẽ với thể xác. Trong sự sống thuộc linh, loài người được kết hợp với Thiên Chúa, nghĩa là được tương giao với Ngài, được thực hữu trong sự vinh quang và quyền phép của Ngài. Đó là địa vị ban đầu của loài người khi được Thiên Chúa dựng nên. Trong sự chết thuộc linh loài người bị phân rẽ với Thiên Chúa, bị thực hữu trong sự thịnh nộ của Ngài. Sự chết thuộc linh hay sự phân rẽ với Thiên Chúa xảy ra khi loài người chống nghịch lại luật pháp của Thiên Chúa. Luật pháp của Thiên Chúa  tức là mọi ý muốn của Ngài đối với loài người. Thánh Kinh gọi sự chống nghịch đó là "sự phạm tội" và định nghĩa: "Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp" (I Giăng 3:4); đồng thời giải thích: "Nhưng ấy là sự gian ác các ngươi làm xa cách mình với Thiên Chúa; và tội lỗi các ngươi đã che khuất mặt Ngài khỏi các ngươi, đến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa" (Ê-sai 59:2).

Sự sống còn có nghĩa là nhận thức và sự chết còn có nghĩa là không nhận thức, vì thế, sự sống còn được gọi là sự sáng và sự chết còn bị gọi là sự tối tăm. Trong sự sống thuộc thể, thể xác nhận biết linh hồn và tâm thần; nhưng khi sự chết thuộc thể xảy ra thì thể xác không còn nhận biết linh hồn và tâm thần nữa. Trong sự sống thuộc linh, loài người nhìn biết Thiên Chúa; nhưng khi sự chết thuộc linh xảy ra thì loài người không còn nhìn biết Thiên Chúa nữa.

"Trong Ngài có sự sống; sự sống là sự sáng của loài người. Sự sáng hiện ra trong sự tối tăm; và sự tối tăm chẳng thể kiềm chế sự sáng"(Giăng 1:4, 5). Trong Ngôi Lời, tức là trong Đức Chúa Jesus Christ, có sự sống và sự sống là sự loài người nhận thức Thiên Chúa. Sự sống hiện ra trong sự chết; và sự chết chẳng thể bắt phục sự sống.

"Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Ngài, tức là Chúa Trời có một và thật, cùng Jesus Christ, là Đấng Ngài đã sai đến" (Giăng 17:3). Sự sống đời đời là nhận thức Đức Chúa Cha và Đức Chúa Jesus Christ. Nhận thức Đức Chúa Cha qua sự giải bày của Đức Chúa Jesus Christ và nhận thức Đức Chúa Jesus là Đấng Christ, là Đấng Đức Chúa Cha đã sai đến thế gian để cứu chuộc nhân loại.

"Rồi những kẻ nầy sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự sống đời đời" (Ma-thi-ơ 25:46). Hình phạt đời đời là sự chết thứ hai, tức là đời đời thực hữu trong hỏa ngục: "Còn những kẻ hèn nhát, không tin, đáng gớm ghiếc; những kẻ giết người; những đĩ đực; những kẻ phù phép; những kẻ thờ thần tượng; và tất cả những kẻ nói dối sẽ có phần của chúng trong hồ đốt với lửa và lưu hoàng. Đó là sự chết thứ hai" (Khải Huyền 21:8). Sự sống đời đời là được làm con dân của Đức Chúa Trời và được Ngài ở cùng cho đến đời, không bao giờ bị phân rẽ nữa: "Tôi nghe một tiếng lớn từ trời phán rằng: 'Này, lều của Đức Chúa Trời ở với loài người và Ngài sẽ ở với họ. Họ sẽ làm dân của Ngài và chính mình Đức Chúa Trời sẽ ở với họ, làm Đức Chúa Trời của họ. Đức Chúa Trời sẽ lau hết mọi nước mắt khỏi mắt họ. Sẽ không còn sự chết, không còn buồn khổ, không còn khóc lóc, cũng không còn đau đớn nữa vì những sự cũ đã qua rồi.' Đấng ngự trên ngai phán rằng: 'Này, Ta làm mới mọi sự!' Ngài lại phán với tôi: 'Hãy chép, vì những lời này là chân thật và thành tín.' Ngài phán với tôi: 'Xong rồi! Ta là An-pha và Ô-mê-ga: Đấng Đầu Tiên và Đấng Cuối Cùng. Ta sẽ ban cho kẻ nào khát được tự do uống từ Nguồn Nước Sống. Kẻ nào thắng sẽ được hưởng mọi sự làm cơ nghiệp. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời người và người sẽ làm con trai Ta'" (Khải Huyền 21:3-7). Từ ngữ "con trai" trong nguyên tác Thánh Kinh để chỉ về sự được hưởng quyền thừa kế. "Con trai của Đức Chúa Trời" có nghĩa là kẻ được hưởng cơ nghiệp của Ngài. Trong ý nghĩa đó, khi Thánh Kinh gọi các thiên sứ là "các con trai của Đức Chúa Trời" thì hàm ý các thiên sứ cũng được dự phần trong cơ nghiệp của Đức Chúa Trời. Một trong các cơ nghiệp của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời.

"Nhiều kẻ ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, kẻ thì để được sự sống đời đời, kẻ thì chịu sự xấu hổ nhơ nhuốc đời đời"(Đa-ni-ên 12:2). Trong tương lai, thân thể vật chất của người tin Chúa và người không tin Chúa đều sẽ sống lại, nghĩa là được kết hợp trở lại với linh hồn. Thân thể phục sinh của người tin Chúa sẽ thực hữu trong hạnh phúc với Thiên Chúa cho đến đời đời, vì được đầy dẫy ân điển của Ngài; còn thân thể phục sinh của người không tin Chúa sẽ thực hữu trong đau khổ cho đến đời đời, vì thiếu mất ân điển của Ngài.

"Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của quyền phép Ngài"(II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9). Những kẻ không vâng phục Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ sẽ bị hư mất đời đời, nghĩa là, đời đời xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của quyền phép Ngài, là thực hữu cách đau khổ cả ngày lẫn đêm trong hỏa ngục: "Ma Quỷ là kẻ lừa dối chúng bị ném vào hồ lửa và lưu hoàng, nơi có con thú và tiên tri giả. Chúng sẽ bị đau khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời. Rồi, tôi thấy một ngai trắng, lớn và Đấngngự trên ngai. Đất và trời trốn khỏi mặt Ngài, chẳng còn thấy chỗ của chúng nữa. Tôi thấy những kẻ chết, nhỏ lẫn lớn, đứng trước Đức Chúa Trời. Có những sách mở ra. Lại có một sách khác là Sách Sự Sống được mở ra. Những kẻ chết bị phán xét tùy theo những việc họ đã làm và đã được ghi lại trong những sách ấy. Biển đã giao lại những kẻ chết trong nó. Sự chết và âm phủ cũng đã giao lại những kẻ chết trong chúng. Mỗi người bị phán xét tùy theo những việc họ đã làm. Sự chết và âm phủ bị ném vào hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai. Bất kỳ kẻ nào không tìm thấy được chép trong Sách Sự Sống thì bị ném vào hồ lửa" (Khải Huyền 20:10-15).

Ý Nghĩa của Sự Cứu Rỗi

Sự cứu rỗi và sự sống đời đời là hai điều khác nhau nhưng có liên quan mật thiết với nhau. Một người không thể nào có được sự sống đời đời nếu chưa được cứu rỗi. Được cứu rỗi là được cứu ra khỏi:

•         địa vị làm con cái của ma quỷ, con cái của ma quỷ có nghĩa là giống như ma quỷ và thuộc về ma quỷ (Giăng 8:44);

•         quyền lực của tội lỗi, nghĩa là không còn bị buộc phải làm những điều nghịch lại luật pháp của Đức Chúa Trời (Rô-ma 7:23);

•         hậu quả của tội lỗi là sự chết đời đời, tức là sự bị phân cách đời đời với Đức Chúa Trời (II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9).

Tiến trình của sự cứu rỗi bao gồm các bước sau đây:

•          được xưng nghĩa, tức là tội nhân được Đức Chúa Trời tuyên bố không còn trách nhiệm đối với mọi tội lỗi (Rô-ma 3:23, 24);

•           được tái sinh, tức là được sinh ra mới bởi Đức Chúa Trời (II Cô-rinh-tô 5:17; I Phi-e-rơ 1:3);

•          được thánh hóa, tức là được trở nên giống như Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 4:24; I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23).

Sự xưng nghĩa bao gồm các phương diện sau đây, tội nhân được:

•           tha tội và làm cho sạch tội (I Giăng 1:9);

•           ban cho địa vị con cái của Đức Chúa Trời (Giăng 1:12);

•           ban cho địa vị thánh đồ trong Đức Chúa Jesus Christ (I Cô 1:2).

Sự tái sinh bao gồm các phương diện sau đây, thánh đồ được:

•          trở nên đền thờ của Đức Chúa Trời và được Đức Thánh Linh ngự trong thân thể (I Cô-rinh-tô 3:16; 6:19);

•         Đức Thánh Linh ban cho các ân tứ để hầu việc Đức Chúa Trời (I Cô-rinh-tô 12:1-11);

•         ban cho các chức vụ: tiên tri, thầy tế lễ, nhà vua (Ma-thi-ơ 28:19, 20; I Phi-e-rơ 2:9, 10; Khải Huyền 1:6) để làm những việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho (Ê-phê-sô 2:10).

Sự thánh hóa bao gồm các phương diện sau đây, thánh đồ được:

•         trở nên giống Chúa (Rô-ma 8:29; Ê-phê-sô 4:24);

•         thông công với Chúa và với các chi thể trong Hội Thánh của Chúa (I Cô-rinh-tô 1:9; 12:12-26);

•         đạt đến mức không tì, không vít, không chỗ trách được (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23), nghĩa là trở nên trọn vẹn như Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 5:48).

Điều Kiện để Được Sự Cứu Rỗi

Một người muốn được cứu rỗi phải hội đủ các điều kiện sau đây:

•         nhận mình là người có tội (I Giăng 1:8-10);

•         thật lòng ăn năn tội, tức là chịu từ bỏ tội (Ma-thi-ơ 4:17; Công Vụ Các Sứ Đồ 3:19; Giăng 5:14; 8:11);

•         tin nhận chỉ một mình sự cứu rỗi trong Đức Chúa Jesus Christ, nghĩa là không dựa vào các việc làm công đức hay là ai khác (Giăng 14:6; Công Vụ Các Sứ Đồ 4:12; Ê-phê-sô 2:8, 9).

Sự Cứu Rỗi Dẫn Đến Sự Sống Đời Đời

Người đã được cứu rỗi là người được Đức Chúa Trời dựng nên mới và ban cho năng lực để có thể sống theo luật pháp của Thiên Chúa. Luật pháp của Thiên Chúa tức là mọi ý muốn của Thiên Chúa đối với loài người được ghi chép trong Thánh Kinh.

Chúng ta không làm theo luật pháp để được cứu nhưng chúng ta được cứu để làm theo luật pháp.

Trước khi chúng ta được cứu thì chúng ta đang chết (nghĩa là đang bị phân rẽ với Chúa), bị nô lệ cho tội lỗi (nghĩa là phải làm theo sự sai khiến của tội lỗi), và ở dưới luật pháp (nghĩa là bị phán xét bởi luật pháp). Sau khi chúng ta được cứu thì chúng ta được tái sinh (nghĩa là được dựng nên mới trong Đức Chúa Jesus Christ), thoát khỏi sự cai trị của tội lỗi (nghĩa là có thể vừa muốn vừa làm theo thánh ý của Đức Chúa Trời), và được tự do đối với luật pháp (nghĩa là luật pháp vẫn có đó nhưng không còn phán xét chúng ta về mọi tội lỗi của chúng ta mà sự phán xét đó được thi hành trên Đức Chúa Jesus Christ). Vì thế, nếu chúng ta tiếp tục ở lại trong sự cứu rỗi, nghĩa là không quay về với nếp sống chống nghịch luật pháp của Thiên Chúa, thì chúng ta sẽ nhận được sự sống đời đời.

Hiện nay, chúng ta đang ở trong sự cứu rỗi, đã được tái sinh, đang ở trong địa vị làm con của Đức Chúa Trời, và đang ở trong sự sống, tức là đang được tương giao với Thiên Chúa, nếm biết sự sống đời đời nhưng chưa hoàn toàn sở hữu sự sống đời đời. Nếu chúng ta trung tín làm theo Lời Chúa cho đến chết hoặc cho đến khi Chúa trở lại thì chúng ta sẽ hoàn toàn sở hữu sự sống đời đời trong một thân thể vinh quang. Khi đó, chúng ta trở nên trọn vẹn như Cha của chúng ta ở trên trời và chúng ta không còn thể nào phạm tội.

Ý Nghĩa của Sự Sống Đời Đời

Sự sống đời đời là được thực hữu trong hạnh phúc với Đức Chúa Trời cho đến đời đời, bao gồm sự:

•         nhận biết Đức Chúa Cha và Đức Chúa Jesus Christ (Giăng 17:3);

•         được làm con của Đức Chúa Trời (Giăng 1:12; Khải Huyền 21:7);

•      được hưởng cơ nghiệp của Đức Chúa Trời (Ê-phê 1:18; Cô-lô-se 1:12, 3:24; Hê-bơ-rơ 9:15; I Phi-e-rơ 1:4).

Điều Kiện để Được Sự Sống Đời Đời

Một người muốn được sự sống đời đời phải hội đủ các điều kiện sau đây:

•         được cứu rỗi, tức là: được xưng nghĩa, được tái sinh, và được thánh hóa, xin đọc bài "Ba Phương Diện của Sự Cứu Rỗi" tại đây: http://thanhoc.timhieutinlanh.net/node/264;

•         nên thánh, tức là từ bỏ mọi sự ô uế, tội lỗi (II Cô-rinh-tô 7:1; I Tê-sa-lô-ni-ca 4:3, 7; I Giăng 3:3), là vâng giữ các điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời (I Cô-rinh-tô 7:19; I Ti-mô-thê 6:14; I Giăng 2:3-5; 5:3; II Giăng 4; Khải Huyền 4:12), là sống như Đấng Christ (Ê-phê-sô 5:1; I Tê-sa-lô-ni-ca 1:6; I Giăng 2:6), là bắt chước Phao-lô như Phao-lô đã bắt chước Đấng Christ (I Cô-rinh-tô 1:11);

•         trung tín với Chúa cho đến chết, tức là sẵn sàng chịu khổ, thậm chí chịu chết, để làm theo Lời Chúa (Lu-ca 9:23; Rô-ma 14:7, 8; Phi-líp 1:29; II Ti-mô-thê 3:3; Khải Huyền 2:10).

Người Đã Được Cứu Rỗi Vẫn Có Thể Bị Hư Mất Đời Đời

Trái với thứ giáo lý sai nghịch Thánh Kinh, dạy rằng: "một khi đã được cứu rỗi thì vĩnh viễn không bao giờ bị hư mất" hoặc "được cứu một lần là được cứu vĩnh viễn" hoặc "người đã được cứu rỗi không bao giờ bị mất sự cứu rỗi," Thánh Kinh khẳng định như sau:

"Ta là gốc nho thật; và Cha Ta là người trồng nho. Mỗi nhánh trong Ta mà không kết quả, thì chính Ngài chặt bỏ nó; và Ngài tỉa sửa từng nhánh nào kết quả, để nó được sai trái hơn. Các ngươi đã được tinh sạch, bởi lời Ta đã phán với các ngươi. Hãy cứ ở trong Ta, và Ta ở trong các ngươi. Như nhánh không tự mình kết quả được nếu không cứ ở trong gốc nho, thì các ngươi cũng vậy, nếu các ngươi không cứ ở trong Ta. Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh. Ai cứ ở trong Ta và Ta trong người ấy, thì người ấy kết quả nhiều; vì ngoài Ta, các ngươi chẳng làm chi được. Nếu ai chẳng cứ ở trong Ta, thì bị ném ra ngoài, như một nhánh và bị khô đi; và người ta gom chúng lại, ném vào trong lửa, thì nó cháy" (Giăng 15:1-6). Nhánh bị chặt bỏ là bị phân rẽ với gốc, là chết. Người đã được cứu rỗi mà không tiếp tục ở trong Chúa, tức là không kết quả xứng đáng với sự ăn năn, thì sẽ bị dứt bỏ khỏi Đấng Christ là nguồn của sự sống đời đời và bị ném vào hồ lửa của sự chết đời đời: "Thế thì, hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn…" (Lu-ca 3:8). Kết quả xứng đáng với sự ăn năn là sốt sắng làm theo Lời Chúa như đã được ghi chép trong Thánh Kinh, là vâng giữ các điều răn và luật pháp của Thiên Chúa: "Nhưng bây giờ đã được buông tha khỏi tội lỗi và trở nên tôi mọi của Đức Chúa Trời rồi, thì anh em được lấy sự nên thánh làm kết quả, và sự sống đời đời làm cuối cùng" (Rô-ma 6:22); là không còn phạm tội nữa: "Này, ngươi đã lành rồi, đừng phạm tội nữa, để không có sự xấu gì xảy đến cho ngươi" (Giăng 5:14);"…hãy đi, đừng phạm tội nữa" (Giăng 8:11).

"Vậy hãy xem sự nhơn từ và sự nghiêm nhặt của Thiên Chúa: sự nghiêm nhặt đối với họ là kẻ đã ngã xuống, còn sự nhơn từ đối với ngươi, miễn là ngươi cầm giữ mình trong sự nhơn từ Ngài: bằng chẳng, ngươi cũng sẽ bị chặt"(Rô-ma 11:22). Thiên Chúa là nhân từ nên Ngài ban cho mọi người có cơ hội để được cứu rỗi; nhưng Thiên Chúa cũng rất là nghiêm nhặt nên Ngài sẽ loại bỏ những ai lợi dụng sự nhân từ của Ngài để tiếp tục sống trong tội. Mệnh lệnh của Chúa đối với người tin nhận Chúa rất là rõ ràng: "Đừng phạm tội nữa!"

"Vì chưng những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Thánh Linh, Lời lành của Thiên Chúa, và năng lực của đời sau, nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường. Vả, một đám đất nhờ mưa đượm nhuần mà sanh cây cỏ có ích cho người cày cấy, thì đất đó hưởng phần phước lành của Đức Chúa Trời. Nhưng đất nào chỉ sanh ra những cỏ rạ, gai gốc, thì bị bỏ, và hầu bị rủa, cuối cùng phải bị đốt"(Hê-bơ-rơ 6:4-8). Lời Chúa khẳng định rõ ràng: Một người đã được soi sáng một lần (từng nhận biết Chúa và lẽ thật của Lời Chúa), nếm biết sự ban cho từ trên trời (ơn cứu rỗi), dự phần về Thánh Linh (được tái sinh và nhận lãnh Thánh Linh), Lời Lành của Thiên Chúa (được thánh hóa bởi Lời Chúa), và năng lực của đời sau (vượt khỏi sự chết vào trong sự sống, chiến thắng ma quỷ) mà lại vấp ngã (trở lại sống trong tội) thì không thể khiến cho họ lại ăn năn nữa. Số phận của kẻ không ăn năn sẽ đi về đâu?

"Vả, chúng nó bởi sự nhận biết Chúa và Đấng Giải Cứu chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ, mà đã thoát khỏi sự ô uế của thế gian, rồi lại mắc phải và suy phục những sự đó, thì số phận sau cùng của chúng nó trở xấu hơn lúc đầu. Chúng nó đã biết đường công bình, rồi lại lui đi về lời răn thánh đã truyền cho mình, thế thì thà rằng không biết là hơn. Đã xảy đến cho chúng nó như lời tục ngữ rằng: Chó liếm lại đồ nó đã mửa, heo đã rửa sạch rồi, lại lăn lóc trong vũng bùn"(II Phi-e-rơ 2:20-22). Số phận sau cùng là số phận lúc chung cuộc, lúc bị phán xét trước tòa án của Đấng Christ. Số phận của kẻ nhận biết Chúa rồi mà trở lại sống trong tội thì xấu hơn số phận của chính họ lúc chưa tin nhận Chúa, bởi vì, dù người không tin nhận Chúa cũng sẽ bị hình phạt nhưng sự hình phạt của họ sẽ nhẹ hơn hình phạt của người đã tin nhận Chúa rồi mà quay lại với nếp sống tội lỗi.

"Vì ngươi hâm hẫm, không lạnh cũng không nóng, Ta sẽ mửa ngươi ra khỏi miệng Ta"(Khải Huyền 3:16). Số phận của người không hết lòng theo Chúa, bị Chúa mửa ra sẽ đi về đâu?

Những lời giảng dạy sau đây của Đức Chúa Jesus Christ cho chúng ta thấy rằng, một người đã tin nhận ơn cứu rỗi của Ngài vẫn có thể bị hư mất đời đời trong hỏa ngục, là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng (Ma-thi-ơ 13:42):

►         Ngụ ngôn về đầy tớ không thương xót(Ma-thi-ơ 18:23-35) dạy rằng, người nào không tha thứ cho anh em mình thì sẽ không được Đức Chúa Cha tha thứ: "Nếu mỗi người trong các ngươi không hết lòng tha lỗi cho anh em mình, thì Cha Ta ở trên trời cũng sẽ xử với các ngươi như vậy" (câu 35).

►         Ngụ ngôn về tiệc cưới(Ma-thi-ơ 22:1-14) dạy rằng, người nào tin nhận Chúa mà không chịu thánh hóa thì sẽ bị hư mất: "Vua vào xem khách dự tiệc, chợt thấy một người không mặc áo lễ, thì phán cùng người rằng: Hỡi bạn, sao ngươi vào đây mà không mặc áo lễ? Người đó làm thinh. Vua bèn truyền cho đầy tớ rằng: Hãy trói tay chơn nó lại, và quăng ra ngoài nơi tối tăm, là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng. Bởi vì có nhiều kẻ được gọi, mà ít người được chọn" (câu 11-14).

►         Ngụ ngôn về mười nữ đồng trinh(Ma-thi-ơ 25:1-13) dạy rằng, người nào không khôn ngoan ghi nhớ Lời Chúa để thực hành trong cuộc sống, trở thành muối của đất và ánh sáng của thế gian, khi Chúa đến, sẽ bị bỏ lại, dù đã được chọn để đi với Ngài. Năm người dại tiêu biểu cho những người không biết còn năm người khôn tiêu biểu cho những người biết làm việc cho kết quả xứng đáng với sự ăn năn. Dầu là sự dạy dỗ của Lời Chúa, đèn là nếp sống đạo, chiếu sáng lẽ thật của Chúa. Người bán dầu là Đức Thánh Linh giảng dạy Lời Chúa. Mua dầu là dùng thời gian, công sức, và tiền bạc để đổi lấy cơ hội đọc và suy ngẫm Lời Chúa. Thắp đèn là ứng dụng sự dạy dỗ của Lời Chúa vào trong nếp sống mỗi ngày. Ánh sáng của đèn là lẽ thật của Lời Chúa được chiếu ra qua nếp sống đạo của người tin Chúa: "Chặp lâu, những người nữ đồng trinh khác cũng đến và xin rằng: Hỡi Chúa, hỡi Chúa, xin mở cho chúng tôi! Nhưng người đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta không biết các ngươi đâu" (câu 11-12).

►         Ngụ ngôn về đầy tớ xấu(Ma-thi-ơ 24:43-51) và ngụ ngôn về quản gia bất trung (Lu-ca 12:41-48) dạy rằng, người nào được Chúa ban cho các chức vụ cai trị trong nhà Chúa mà không trung tín làm tròn nhiệm vụ thì sẽ bị hư mất: "Chủ sẽ đánh xé xương và định phần nó đồng với kẻ giả hình. Đó là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng" (câu 51)."Nhưng nếu đầy tớ ấy tự nghĩ rằng: Chủ ta chậm đến; rồi cứ đánh đập đầy tớ trai và gái, ăn uống say sưa, thì chủ nó sẽ đến trong ngày nó không dè, và gi

Đọc Tiếp →
2,841 views

Jesus Christ và Christ Jesus

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy
 
Chúng ta vẫn biết Thánh Kinh là Lời của Thiên Chúa do các tiên tri và các môn đồ của Chúa ghi chép lại. Khi ghi chép, mỗi người dùng văn phong riêng của chính mình. Tuy nhiên, chính Đức Thánh Linh đã thần cảm họ trong khi họ viết, vì thế, từng lời, từng chữ của Thánh Kinh nguyên bản khi được các tiên tri và các môn đồ của Chúa đặt bút chép ra, hoàn toàn có sự soi dẫn của Đức Thánh Linh. II Ti-mô-thê 3:16, 17 khẳng định rằng: "Cả Thánh Kinh đều là bởi Thiên Chúa hà hơi, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành." Có người cho rằng, đây là nói về Cựu Ước, vì khi Phao-lô viết những dòng chữ này cho Ti-mô-thê thì chưa có Thánh Kinh Tân Ước. Thực tế, ngay lúc ấy, chính thư II Ti-mô-thê cũng mới được viết đến chương ba, câu 17! Vậy, họ kết luận, sự thần cảm của Đức Thánh Linh không bao gồm phần Tân Ước. Những người nói như vậy là những người chưa có sự cứu rỗi, nên chưa được tái sinh, chưa có Đức Thánh Linh ngự trong thân thể họ để dạy cho họ biết Thánh Kinh Tân Ước cũng chính là Lời của Đức Chúa Trời. Vì thế, họ mới phủ nhận thần tính và thần quyền của Tân Ước.
 

Bấm vào đây để download MP3 file
Bấm vào nút "play" ► để nghe
 
 
Chính vì cả Thánh Kinh đều được Thiên Chúa hà hơi mà Thánh Kinh trở thành lời sống và linh nghiệm, như Hê-bơ-rơ 4:12, 13 chép: "Vì Lời Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi phân chia linh hồn, tâm thần, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng. Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng hết thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại." Thế nên, tôi tin rằng từng chữ trong Thánh Kinh và mỗi cách dùng chữ trong Thánh Kinh đều có những ý nghĩa rõ ràng và nhất định, không phải để cho ai có thể tùy ý thêm hay bớt, hoặc tùy ý diễn giải.
 
Bây giờ, chúng ta hãy cùng nhau xét đến một vài cách dùng tên gọi và các danh xưng của Đức Chúa Jesus Christ:
 
·         Jesus: tên gọi của Chúa, có nghĩa là "Đấng Tự Hữu Hằng Hữu Là Đấng Cứu Rỗi" hoặc "Sự Cứu Rỗi Thuộc Về Đấng Tự Hữu Hằng Hữu!" Khi Thánh Kinh chỉ đề cập đến tên gọi Jesus mà không kèm theo các danh xưng "Chúa" và "Christ" thì Thánh Kinh muốn nhấn mạnh về bản thể của Ngài. Ngài là Thiên Chúa Ngôi Con nhập thế làm người để mang sự cứu rỗi của Thiên Chúa đến cho toàn thể nhân loại. Ngài hoàn toàn là Thiên Chúa vì Ngài là con của Thiên Chúa mà Ngài cũng hoàn toàn là Người vì Ngài cũng là con của loài người.
·         Chúa: trong nghĩa đen không có nghĩa "Thiên Chúa" hay "Đức Chúa Trời," mà là "người có toàn quyền trên người khác" như vua trong một vương quốc, chủ nhân của những nô lệ. Trong bốn sách Tin Lành không dùng danh xưng "Chúa" kèm theo tên gọi Jesus hoặc Jesus Christ. (Thánh Kinh Việt ngữ dịch "Jesus" thành "Đức Chúa Jesus" hoặc "Jesus Christ" và "Christ Jesus" thành "Đức Chúa Jesus Christ"). Sau khi Chúa phục sinh, Thánh Kinh dùng danh xưng "Chúa" kèm theo tên gọi Jesus hoặc Jesus Christ với hàm ý, sau khi hoàn thành công cuộc cứu rỗi nhân loại, Ngài cai trị những ai tiếp nhận sự cứu rỗi của Ngài. Ngày nay, nếu chúng ta gọi Ngôi Hai Thiên Chúa là "Đức Chúa Jesus" thì chúng ta cần ghi nhớ, chúng ta phải hoàn toàn vâng phục Ngài, như nô lệ vâng phục chủ, người dân trong một vương quốc vâng phục vua. Ngài chính là chủ của chúng ta vì Ngài đã dùng chính sự vinh quang và máu của Ngài để chuộc chúng ta về. Ngài chính là vua của chúng ta vì Ngài là Đấng Tạo Hóa, và là Vua trên muôn vua, Chúa trên muôn chúa. Nếu chúng ta gọi Ngài là "Chúa" mà chúng ta không vâng phục Ngài, thì chúng ta là những kẻ dối trá, giả hình, và Ngài biết rõ điều đó. Gần hai ngàn năm trước Ngài đã phán: "Sao các ngươi gọi Ta: Chúa, Chúa, mà không làm theo lời Ta phán" (Lu-ca 6:46)?
·         Christ: trong nghĩa đen là "người được xức dầu;" nghĩa bóng là "người được Thiên Chúa giao cho một chức vụ, kèm theo thẩm quyền, năng lực, và ân tứ để thi hành chức vụ ấy." Đức Chúa Jesus được gọi là "Christ" (Mat-thi-ơ 1:16) vì Ngài được Đức Chúa Cha giao cho các chức vụ như sau: (1) Tiên tri: để giải bày về Đức Chúa Cha cùng thánh ý của Cha cho toàn thể nhân loại. (2) Thầy tế lễ: để dâng của lễ chuộc tội cho toàn thể nhân loại và cầu thay cho con dân Thiên Chúa. (3) Vua: để cai trị con dân Thiên Chúa trong mọi thời đại. Hiện nay, Đức Chúa Jesus Christ đang cai trị trong tấm lòng, trong đời sống của con dân Chúa; sắp tới, Ngài sẽ cai trị Vương Quốc Ngàn Năm trên đất; và cuối cùng, Ngài sẽ cai trị Vương Quốc Đời Đời trong trời mới đất mới.
·         Jesus Christ:Khi danh xưng Christ được đặt đàng sau tên gọi Jesus, thì Thánh Kinh muốn nhấn mạnh đến chính mình Ngài trong chức vụ Đức Chúa Cha đã ban cho Ngài.
·         Christ Jesus: Khi danh xưng Christ được đặt đàng trước tên gọi Jesus, thì Thánh Kinh muốn nhấn mạnh đến thành quả trong các chức vụ của Ngài. Những câu Thánh Kinh dùng cách gọi "Christ Jesus" là: Công 18:4; Rô-ma 3:24; 8:1, 2, 39; 15:5; 16:3; I Cô. 1:2, 30; 4:15; 15:31; 16:24; II cô. 4:5; Ga. 2:4; 3:26; 28; 4:14; 6:15; Ê-phê 1:1; 2:6, 13; 3:11, 21; Phi. 1:1; 2:5; 3:3, 8, 12, 14; 4:7, 19, 21; Cô. 1:4, 28; 2:6; I Tê. 2:14; 5:18; I Ti. 1:12, 14, 15; 2:5; 3:13; 6:13; II Ti. 1:1, 2, 9, 13; 2:1, 10; 3:12; 15; Phi-lê-môn 1:23; Hê. 3:1; I Phi 5:10, 14.
Câu Thánh Kinh điển hình cho cách dùng các danh xưng: "Jesus Christ," "Christ Jesus," và "Chúa"  là I Cô-rinh-tô 1:2.
"Gởi cho Hội Thánh Đức Chúa Trời tại thành Cô-rinh-tô, tức là cho những người đã được nên thánh trong Đấng Christ Jesus, được gọi làm thánh đồ, lại cho mọi người bất luận nơi nào, cầu khẩn danh Đức Jesus Christ của chúng ta, là Chúa của những người ấy và của chúng ta."
Trong câu này chúng ta nhận thấy: (1) Hội Thánh của Chúa được nên thánh bởi việc làm của Ngài nên Thánh Kinh chép là: "được nên thánh trong Đấng Christ Jesus." (2) Danh "Jesus Christ" chỉ về Đấng Con Trời nhập thế làm người mang các chức vụ liên quan đến sự cứu rỗi nhân loại, là danh mà mọi người ở bất luận nơi nào cũng nên cầu khẩn. (3) Danh xưng "Chúa" nói đến quyền cai trị của Đức Jesus Christ trên những ai tin nhận Ngài.
 
Trong thời Cựu Ước, những tiên tri, những thầy tế lễ, và những vua của dân I-sơ-ra-ên thường trải qua nghi thức xức dầu trước khi thi hành chức vụ. Dầu tức là dầu được ép từ trái ô-li-ve, đựng trong một cái bình làm bằng sừng. Từ trong sừng đó, dầu được một tiên tri của Chúa đổ ra trên đầu và chảy tràn xuống thân thể của người được xức dầu. Sừng tiêu biểu cho Đức Thánh Linh, là sức mạnh và thẩm quyền của Thiên Chúa. Dầu tiêu biểu cho Thánh Linh của Thiên Chúa, bao gồm mọi năng lực và ân tứ được ban cho bởi Đức Thánh Linh. Sự tuôn tràn tiêu biểu cho sự dư dật.
 
Trong thời Tân Ước, chính Đức Chúa Cha xức dầu cho Đức Chúa Jesus để Ngài trở thành Đấng Christ (Giăng 3:34). Chính Đức Chúa Jesus Christ xức dầu cho chúng ta, còn gọi là báp-tem bằng Thánh Linh để chúng ta trở thành những Cơ-đốc nhân (Christians), tức là những người được chính ngài ban cho các chức vụ: (1) Tiên Tri: để rao giảng Tin lành cho muôn dân (Ma-thi-ơ 28:19, 20).(2) Thầy tế lễ: để dâng của tế lễ thiêng liêng lên Đức Chúa Trời (I Phi 2:5) và cầu thay cho mọi người (I Ti. 2:1-4). (3) Vua: để cùng cai trị với Đức Chúa Jesus Christ (II Ti. 2:12).
 
"Và anh em cũng như đá sống, được xây nên nhà thiêng liêng, làm chức tế lễ thánh, đặng dâng của tế lễ thiêng liêng, nhờ Đức Chúa Jesus Christ mà đẹp ý Đức Chúa Trời." (I Phi-e-rơ 2:5)
"Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em."(Rô-ma 12:1)
"Vậy, hãy cậy Đức Chúa Jesus mà hằng dâng tế lễ bằng lời tôn vinh cho Đức Chúa Trời, nghĩa là bông trái của môi miếng xưng danh Ngài ra. Chớ quên việc lành và lòng bố thí, và sự tế lễ dường ấy đẹp lòng Đức Chúa Trời."(Hê-bơ-rơ 13:15, 16)
"Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhơn đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn. Ấy là một sự lành và đẹp mắt Thiên Chúa là Đấng Giải Cứu chúng ta, Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật."(I Ti-mô-thê 2:1-4)
"Lại nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì sẽ cùng Ngài đồng trị; nếu chúng ta chối Ngài, thì Ngài cũng sẽ chối chúng ta." (II Ti-mô-thê 2:12)
 
Nói tóm lại: Bốn sách Tin Lành giới thiệu và trình bày Con Người Jesus, gọi là Christ, chính là Con Thiên Chúa nhập thế làm người để đem sự cứu rỗi của Thiên Chúa đến cho toàn thể nhân loại. Các thư tín diễn giải ý nghĩa và thành quả các việc làm của Đấng Christ; và mỗi khi muốn nhấn mạnh đến phương diện thành quả hoặc tác động của việc làm của Ngài thì Thánh Kinh đặt chức vụ Christ trước tên gọi Jesus.

Huỳnh Christian Timothy
11.02.2012
Đọc Tiếp →
5,475 views

Hình Tượng và Thần Tượng

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này
Bấm vào đây để download bài viết này dùng cho Kindle
Bấm vào đây để nghe và download audio bài giảng này

Ghi Chú: Bấm vào các từ ngữ Hê-bơ-rơ hoặc Hy-lạp để nghe phát âm. Bấm vào các mã số Strong để xem định nghĩa trong tiếng Anh.

Định Nghĩa Hình Tượng và Thần Tượng

Hình tượng khác với thần tượng, dù chúng có liên quan với nhau.

Hình tượng là hình ảnh của một người, một vật, một thần linh được chạm trổ, điêu khắc hoặc đúc, nắn nên.

Thần tượng bao gồm: (1) những hình tượng được tôn thờ như những đấng thần linh có quyền ban phước, giáng họa; (2) tất cả những gì không phải là Thiên Chúa nhưng được tôn kính như Thiên Chúa, từ thiên sứ, ma quỷ, người, vật, cho đến sự ham muốn, chủ nghĩa, lý tưởng, ý thức hệ…

Thánh Kinh Cấm Loài Người Chạm Tượng Hoặc Đúc Tượng

Thánh Kinh cấm loài người làm tượng để sánh với Thiên Chúa:

"Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Ngươi hãy nói cho dân I-sơ-ra-ên như vầy: Các ngươi đã thấy Ta từ trên trời phán xuống cùng; vậy, chớ đúc tượng thần bằng bạc hay bằng vàng mà sánh với Ta."(Xuất Ê-díp-tô Ký 20:22-23)

Thánh Kinh cũng cấm loài người làm tượng chạm (pesel H6459) và tượng đúc (massêkâh H4541) "những vật ở trên trời cao kia hoặc nơi đất thấp này hoặc trong nước dưới đất," bao gồm các loài sau đây:

  • tà thần (ngoại trừ Thiên Chúa, là tất cả những thần linh có thật hoặc tưởng tượng, các anh hùng dân tộc được phong thần, các tổ phụ lập quốc, tổ tiên trong gia đình hoặc bất cứ người chết nào được tôn thờ để cầu phước)
  • người nam hoặc người nữ
  • thú vật đi trên đất hoặc có cánh bay trên trời
  • côn trùng bò trên đất hoặc cá ở trong nước dưới đất

"Ngươi chớ làm tượng chạmcho mình, cũng chớ làm tượng nào giống những vật trên trời cao kia, hoặc nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất." (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:4; Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:8)

"Vậy, các ngươi hãy cẩn thận giữ lấy linh hồn mình cho lắm, vì các ngươi không có thấy một hình trạng nào trong ngày Giê-hô-va Thiên Chúa các ngươi, từ nơi giữa lửa phán cùng các ngươi, tại Hô-rếp; e các ngươi phải làm hư hoại cho mình chăng, và làm một tượng chạm nào, tạo hình trạng của tà thần nào, hoặc hình của người nam hay người nữ, hoặc hình của con thú nào đi trên đất, hoặc hình của vật nào có cánh bay trên trời, hoặc hình của loài côn trùng nào bò trên đất, hay là hình của con cá nào ở trong nước dưới đất."(Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:15-18)

Thánh Kinh rủa sả những kẻ chạm hoặc đúc tượng:

"Đáng rủa sả thay người nào làm tượng chạm hay là tượng đúc, là vật gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va, công việc bởi tay người thợ, dựng nó lên trong nơi kín nhiệm!…"(Phục Truyền Luật Lệ Ký 27:15)

Từ ngữ "nơi kín nhiệm" trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ có các nghĩa sau đây: (a) nơi kín đáo, (b) nơi được che chở, bảo vệ, (c) nơi riêng tư.

Trong lời Thánh Kinh trên đây, chúng ta nhận thấy Thiên Chúa không nói Ngài cấm chúng ta chạm tượng hay đúc tượng để thờ phượng, mà nói Ngài cấm chúng ta chạm tượng hay đúc tượng vì chúng là vật gớm ghiếc đối với Ngài. Tại sao những tượng chạm và tượng đúc của "tà thần, người nam, người nữ, con thú đi trên đất, con vật có cánh bay trên trời, côn trùng bò trên đất, và con cá ở trong nước dưới đất" là gớm ghiếc cho Thiên Chúa? Có lẽ, vì Ngài biết chắc rằng, một khi những tượng đó được tạo ra thì chúng sẽ trở thành thần tượng, tức là những vật được loài người tôn kính, thờ phượng, và cầu xin.

Thánh Kinh Cấm Loài Người Thờ Phượng Hình Tượng

"Ngươi chớ quỳ lạy trước các hình tượng đó…" (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:5; Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:9)

Trong số những hình tượng do loài người làm ra, có nhiều hình tượng được người ta tôn kính, thờ phượng. Khi một hình tượng được tôn kính, thờ phượng thì chúng biến thành thần tượng, tức là hình tượng được tôn làm thần linh. Ma quỷ có thể lợi dụng sự thờ phượng hình tượng và sự mê tín, dị đoan để làm ra một số dấu kỳ, phép lạ, dẫn dụ loài người càng đi sâu vào trong chỗ tối tăm, hư mất.

Thánh Kinh khẳng định thần tượng và ma quỷ có liên quan đến nhau. Của cúng thần tượng là cúng tế các quỷ:

"Nói vậy có ý chi? Của cúng thần tượng có giá trị gì và thần tượng có ra gì chăng? Chắc là không; nhưng đồ người ngoại đạo cúng tế là cúng tế các quỷ, chớ không phải cúng tế Thiên Chúa. Vậy, tôi không muốn anh em thông đồng với các quỷ."(I Cô-rinh-tô 10:19-20)

Vì thế, thờ phượng hình tượng là biến hình tượng thành thần tượng, và thờ phượng thần tượng tức là thờ phượng ma quỷ, bất kể hình tượng đó được gọi bằng danh hiệu nào. Hành động thờ phượng hình tượng bao gồm việc tôn kính, quỳ lạy, cầu xin, đốt hương, dâng hoa quả và các thứ lễ vật cúng tế khác.

Từ thế kỷ thứ tư cho đến nay, biết bao nhiêu người mang danh là con dân Chúa nhưng sinh hoạt trong các giáo hội: Công Giáo, Chính Thống, Anh Giáo, và một số giáo phái Lutheran, đã thờ phượng những hình tượng mang danh "Đức Mẹ Maria," "Đức Chúa Jesus" hoặc tên của các vì "thánh" khi họ sấp mình cầu nguyện với các hình tượng đó.

Thánh Kinh Cấm Loài Người Hầu Việc Hình Tượng

"…và cũng đừng hầu việc chúng nó…" (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:5; Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:9)

Có những người không làm ra và không thờ phượng hình tượng nhưng dự phần trong sự hầu việc hình tượng. Tất cả những hoạt động nào nhằm chăm sóc, bảo vệ, tu bổ, vận chuyển, an vị (đặt hình tượng vào một chỗ nào đó), trang sức, quảng bá, mua bán hình tượng đều là hầu việc hình tượng.

Ghi Nhớ

Chúng ta cần ghi nhớ:

(1) Lý do duy nhất được Thánh Kinh nêu ra trong lệnh cấm chạm tượng và đúc tượng không phải vì chúng ta dựng tượng để thờ, mà vì chúng là vật gớm ghiếc đối với Thiên Chúa. "Đáng rủa sả thay người nào làm tượng chạm hay là tượng đúc, là vật gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va…" (Phục Truyền Luật Lệ Ký 27:15)

(2) Điều răn thứ hai trong Mười Điều Răn bao gồm:

  • Không được làm hình tượng
  • Không được thờ phượng hình tượng
  • Không được hầu việc hình tượng

Nhiều người cho rằng Thiên Chúa chỉ cấm làm tượng để thờ, chứ Ngài không cấm làm tượng để chơi hoặc để trang trí. Tuy nhiên, Lời Chúa khẳng định Ngài cấm ba điều: cấm làm hình tượng, cấm thờ hình tượng, và cấm hầu việc hình tượng. Nếu như có một đạo luật được ban hành với nội dung như sau: "Mọi công dân chớ trồng thuốc phiện, chớ hút thuốc phiện, và cũng đừng mua bán thuốc phiện, vì thuốc phiện có hại cho sức khỏe;" thì có thể nào các công dân lý luận rằng: "Chính phủ chỉ cấm trồng thuốc phiện để hút hoặc mua bán chứ không cấm trồng thuốc phiện để làm kiểng?

(3) Thiên Chúa cấm loài người làm hình tượng để sánh với Ngài, vì thế chúng ta không được làm bất cứ một hình tượng nào gọi là hình tượng của Chúa. "…chớ đúc tượng thần bằng bạc hay bằng vàng mà sánh với Ta" (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:23).

(4) Thiên Chúa cấm loài người chạm và đúc hình tượng của: "     tà thần, người nam hoặc người nữ, thú vật đi trên đất hoặc có cánh bay trên trời, côn trùng bò trên đất hoặc cá ở trong nước dưới đất" (Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:15-18).

(5) Hầu việc hình tượng dưới bất cứ hình thức nào cũng đều là vi phạm điều răn của Thiên Chúa, là có tội.

(6) Nhiều gia đình tín đồ và trong những nơi gọi là "nhà thờ" treo các loại tranh ảnh gọi là "hình Chúa." Đó cũng là một hình thức thờ hình tượng, vì đã đem những tranh ảnh được tạo ra bởi sự tưởng tượng của người vẽ, sánh với Chúa, gọi nó là "Chúa" và tôn kính nó, đặt nó vào những nơi trang trọng, thậm chí có người còn cầu nguyện với các tranh ảnh đó.

Áp Dụng Lời Chúa Dạy về Hình Tượng và Thần Tượng Trong Nếp Sống Đạo

(1) Nhân danh Đức Chúa Jesus Christ, đem tất cả các tượng chạm và tượng đúc mang hình dáng của "tà thần, người nam hoặc người nữ, thú vật đi trên đất hoặc có cánh bay trên trời, côn trùng bò trên đất hoặc cá ở trong nước dưới đất"kể cả các hình tượng được gọi là "tượng Chúa" ra khỏi nhà cửa, cơ sở làm ăn, và mọi sản nghiệp của chúng ta. Nhân danh Đức Chúa Jesus Christ, đập vỡ chúng nó và ném vào thùng rác.

(2) Nhân danh Đức Chúa Jesus Christ, đem tất cả những tranh ảnh gọi là "hình Chúa" ra khỏi nhà cửa, cơ sở làm ăn, và mọi sản nghiệp của chúng ta. Nhân danh Đức Chúa Jesus Christ, xé, đập vỡ chúng nó, và ném vào thùng rác.

(3) Không mua bán, lưu trử, trao tặng các loại hình tượng và tranh ảnh nói trên.

(4) Không chụp hình, quay phim trước các loại hình tượng và tranh ảnh nói trên dù là nơi công viên, khu giải trí hay đài kỷ niệm.

(5) Không thăm viếng những danh lam thắng cảnh có các đền, đình, chùa, miếu, am, điện… dùng làm nơi thờ phượng các tà thần.

(6) Không tham dự các lễ cúng giổ người chết. Không ăn uống các thức ăn đã dâng cúng cho người chết hoặc tà thần.

(7) Không mua sắm, ăn uống, vui chơi trong những nơi có bàn thờ tà thần, tiêu biểu là các am, bệ, khám hay trang thờ thần tài, ông địa, Phật Di-lạc, Phật Quan Âm, Bà Maria…

Nguyện Đức Thánh Linh là Thần Lẽ Thật dắt chúng ta là con dân Chúa vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa và thánh hóa chúng ta bằng chính Lời Chúa.

Huỳnh Christian Timothy
15.12.2011

Đọc Tiếp →
2,646 views

Các Ngày Lễ của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này
Bấm vào đây để nghe hoặc download audio bài giảng này

 

Sự cứu rỗi và đủ mọi ân điển của Thiên Chúa dành cho nhân loại được trình bày cách ẩn dấu qua những ngày lễ do chính Ngài quy định và được tóm lược trong Lê-vi Ký 23. Mỗi ngày lễ đều mang lấy những ý nghĩa thuộc linh, và nếu chúng ta vâng giữ sẽ đem lại cho chúng ta những phước hạnh của sự tôn kính Lời Chúa, làm theo Lời Chúa, về thuộc thể lẫn thuộc linh. Vì thế, một phần nào đó trong ý nghĩa về một cuộc sống sung mãn trong Chúa, ("Kẻ trộm chỉ đến để đánh cắp, giết và hủy diệt; còn Ta đã đến, hầu cho họ được sự sống và họ được sự sống dư dật" Giăng 10:10), chính là một cuộc sống được hưởng tất cả mọi phước hạnh thuộc thể lẫn thuộc linh do Thiên Chúa ban cho chúng ta qua sự vâng giữ các ngày lễ của Ngài.

Trong bài này, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa thuộc linh của các ngày lễ của Đức Giê-hô-va đã được ghi chép  trong Lê-vi Ký 23.

Thời điểm được chỉ định

1 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:

2 Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Nầy là những ngày lễ của Đức Giê-hô-va, các ngươi hãy rao truyền ra là các hội thánh.

Trước hết, chúng ta cần chú ý đến danh xưng "Đức Giê-hô-va," có nghĩa là "Đấng Tự Hữu Hằng Hữu," tức là: Đấng Tự Có và Còn Đến Mãi Mãi. Trong Lê-vi Ký 23, danh xưng Đức Giê-hô-va được nhấn mạnh trong từng mạng lịnh, nói lên tính cách nghiêm trọng của mỗi mạng lịnh.

Tất cả những ngày lễ được liệt kê trong phân đoạn này đều được xác định là: "những ngày lễ của Đức Giê-hô-va" bao gồm cả ngày Sa-bát, tức là ngày thứ bảy, hàng tuần.

Chữ "ngày lễ" trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là một từ ngữ có ý nghĩa là "thời điểm được chỉ định." Dĩ nhiên, sự chỉ định đến từ Đấng Tự Hữu Hằng Hữu. Một sự chỉ định tuyệt đối của Đấng Toàn năng mà không ai, không giáo hội nào hoặc nhà thần học nào có quyền bác bỏ hoặc thay đổi.

Chữ "hội thánh" trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là một từ ngữ có ý nghĩa là "sự nhóm họp thánh." Tức là (1) sự nhóm họp theo mạnh lịnh của Thiên Chúa; (2) sự nhóm họp để thờ phượng Thiên Chúa; (3) sự nhóm họp để đón nhận ơn phước từ Thiên Chúa.

Ngày Sa-bát

3 Người ta làm việc trong sáu ngày, nhưng qua ngày thứ bảy là ngày sa-bát, một ngày nghỉ, tức một sự nhóm hiệp thánh; đừng làm một công việc gì; ấy là lễ Sa-bát của Đức Giê-hô-va trong những nơi các ngươi ở.

Mục đích của những ngày Sa-bát là Đức Giê-hô-va muốn loài người nghỉ làm việc để nhóm họp thờ phượng Ngài. Trong sự nhóm họp thờ phượng Thiên Chúa, con dân Chúa được tương giao, thông công với Chúa và với nhau. Đó là ngày nghỉ của Đức Giê-hô-va, không phải của loài người, vì thế, loài người không có quyền thay đổi, hoặc bỏ qua. Trong thời Tân Ước, chính Đấng Christ xác nhận Ngài là Chúa, là Chủ của ngày Sa-bát; và trong khi trả lời cho các môn đồ về điềm tận thế thì Ngài khẳng định cách gián tiếp là ngày Sa-bát vẫn còn trong những ngày cuối cùng:

Ma-thi-ơ 12:8"vì Con người là Chúa ngày Sa-bát."

Mác 2:28"Vậy thì Con người cũng làm Chúa ngày Sa-bát." (Bản dịch Phan Khôi dịch là "chủ" dù trong nguyên ngữ là "Chúa.")

Lu-ca 6:5"Ngài lại phán rằng: Con người cũng là Chúa ngày Sa-bát."

Ma-thi-ơ 24:20, 21"Hãy cầu nguyện cho các ngươi khỏi trốn tránh nhằm lúc mùa đông hay là ngày Sa-bát; vì lúc ấy sẽ có hoạn nạn lớn, đến nỗi từ khi mới có trời đất cho đến bây giờ chưa từng có như vậy, mà sau nầy cũng không hề có nữa."

 

Lễ Vượt Qua

4 Nầy là những lễ của Đức Giê-hô-va, tức những sự nhóm hiệp thánh, các ngươi phải rao truyền ra khi đến kỳ nhất định.

5 Đến ngày mười bốn tháng giêng, vào buổi chiều tối, ấy là lễ Vượt-qua của Đức Giê-hô-va;

Lễ Vượt Qua: Sự chết của Đấng Christ để hoàn thành công cuộc cứu rỗi nhân loại.

Giăng 1:29"Qua ngày sau, Giăng thấy Đức Chúa Jesus đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi."

Hê-bơ-rơ 9:27, 28"Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét, cũng vậy, Đấng Christ đã dâng mình chỉ một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người; Ngài lại sẽ hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội lỗi đi nữa, nhưng để ban sự cứu rỗi cho kẻ chờ đợi Ngài."

Lễ Bánh Không Men

6 qua ngày rằm tháng nầy, ấy là lễ bánh không men để kính trọng Đức Giê-hô-va; các ngươi sẽ ăn bánh không pha men trong bảy ngày.

7 Ngày đầu, các ngươi sẽ có một sự nhóm hiệp thánh, chẳng nên làm một công việc xác thịt.

8 Trong bảy ngày các ngươi phải dâng cho Đức Giê-hô-va những của lễ dùng lửa dâng lên; đến ngày thứ bảy, sẽ có một sự nhóm hiệp thánh nữa, các ngươi đừng làm một công việc xác thịt nào hết.

Lễ Bánh Không Men: Sự phục hòa với Thiên Chúa và tiếp nhận tiêu chuẩn thánh khiết của Ngài, tức tiếp nhận các luật pháp và điều răn của Thiên Chúa vào trong lòng của chúng ta là những người tin nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa ở trong Đấng Christ.

Giê-rê-mi 31:33"Đức Giê-hô-va phán: Nầy là giao ước mà ta sẽ lập với nhà I-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật pháp ta trong bụng chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta."

Hê-bơ-rơ 8:10"Nầy là lời ước mà ta sẽ lập với nhà I-sơ-ra-ên. Sau những ngày đó: Ta sẽ để luật pháp ta trong trí họ và ghi tạc vào lòng; Ta sẽ làm Thiên Chúa của họ, họ sẽ làm dân ta."

Ma-thi-ơ 16:6"Đức Chúa Jesus phán cùng môn đồ rằng: Hãy giữ mình cẩn thận về men của người Pha-ri-si và Sa-đu-sê."

Men của người Pha-ri-si là các giáo lý của họ (Ma-thi-ơ 16:12). Điểm nổi bật của người Pha-ri-si là sự giả hình (Lu-ca 12:1); của người Sa-đu-sê là tà giáo dạy rằng không có sự sống lại (Ma-thi-ơ 22:23; Mác 12:18).

I Cô-rinh-tô 5:7,8 "Hãy làm cho mình sạch men cũ đi, hầu cho anh em trở nên bột nhồi mới không men, như anh em là bánh không men vậy. Vì Đấng Christ là con sinh lễ Vượt Qua của chúng ta, đã bị giết rồi. Vậy thì, chúng ta hãy giữ lễ, chớ dùng men cũ, chớ dùng men gian ác, độc dữ, nhưng dùng bánh không men của sự thật thà và của lẽ thật."

Kính trọng Đức Giê-hô-va là sống một đời sống không phạm tội, tức là một đời sống hoàn toàn vâng phục, làm theo Lời Chúa.

Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa

9 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:

10 Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi nào các ngươi đã vào xứ mà ta sẽ ban cho, và đã gặt mùa màng rồi, thì hãy đem đến cho thầy tế lễ một bó lúa đầu mùa của các ngươi.

11 Qua ngày sau lễ sa-bát, thầy tế lễ sẽ dâng bó lúa đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va, hầu cho bó lúa đó được nhậm.

12 Chánh ngày dâng bó lúa đưa qua đưa lại đó, các ngươi cũng phải dâng cho Đức Giê-hô-va một chiên con giáp năm, không tì vít chi, đặng làm của lễ thiêu;

13 và dâng thêm một của lễ chay bằng hai phần mười bột lọc chế dầu, làm của lễ dùng lửa dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va, với một phần tư hin rượu, làm lễ quán.

14 Các ngươi chớ ăn hoặc bánh, hoặc hột lúa rang, hoặc lúa đang ở trong gié cho đến chánh ngày nầy, tức là ngày các ngươi đem dâng của lễ cho Thiên Chúa mình. Mặc dầu ở nơi nào, ấy là một lệ định đời đời cho con cháu các ngươi.

Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa: Sự phục sinh của Đấng Christ, trái đầu mùa của sự sống lại.

I Cô-rinh-tô 15:20"Nhưng bây giờ, Đấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, Ngài là trái đầu mùa của những kẻ ngủ."

I Cô-rinh-tô 15:23"nhưng mỗi người theo thứ tự riêng của mình: Đấng Christ là trái đầu mùa; rồi tới ngày Đấng Christ đến, những kẻ thuộc về Ngài sẽ sống lại."

Lễ Ngũ Tuần

15 Kể từ ngày sau lễ sa-bát, là ngày đem bó lúa dâng đưa qua đưa lại, các ngươi sẽ tính bảy tuần lễ trọn:

16 các ngươi tính năm mươi ngày cho đến ngày sau của lễ sa-bát thứ bảy, thì phải dâng một của lễ chay mới cho Đức Giê-hô-va.

17 Các ngươi hãy từ nhà mình đem đến hai ổ bánh đặng làm của lễ dâng đưa qua đưa lại; bánh đó làm bằng hai phần mười bột lọc hấp có pha men: ấy là của đầu mùa dâng cho Đức Giê-hô-va.

18 Các ngươi cũng phải dâng luôn với bánh, bảy chiên con giáp năm chẳng tì vít chi, một con bò tơ, và hai con chiên đực với của lễ chay và lễ quán cặp theo, đặng làm của lễ thiêu tế Đức Giê-hô-va: ấy là một của lễ dùng lửa xông, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.

19 Các ngươi cũng phải dâng một con dê đực đặng làm của lễ chuộc tội, và hai chiên con giáp năm, đặng làm của lễ thù ân.

20 Thầy tế lễ sẽ lấy các của lễ đó với hai ổ bánh bằng lúa đầu mùa, và hai chiên con, dâng đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va; các vật đó sẽ biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va, và thuộc về thầy tế lễ.

21 Các ngươi hãy rao truyền sự nhóm hiệp trong chánh một ngày đó; phải có một sự nhóm hiệp thánh, chớ nên làm một công việc xác thịt nào. Ấy là một lệ định đời đời cho dòng dõi các ngươi, mặc dầu ở nơi nào.

22 Khi các ngươi gặt lúa trong xứ mình, chớ gặt tận đầu đồng, và chớ mót lúa sót lại; hãy để phần đó cho người nghèo và cho kẻ khách ngoại bang: Ta là Giê-hô-va, Thiên Chúa của các ngươi.

Lễ Mùa Gặt (Lễ Các Tuần Lễ –  Lễ Ngũ Tuần): (1) Sự hình thành và phát triển của Hội Thánh. (2) Sự Tin Lành được rao giảng cho muôn dân.

Ma-thi-ơ 24:14"Tin Lành nầy về vương quốc sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến."

Ma-thi-ơ 28:18-20"Đức Chúa Jesus đến gần, phán cùng môn đồ như vầy: Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta. Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế."

Lễ Thổi Kèn

23 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:

24 Hãy truyền cho dân I-sơ-ra-ên rằng: Ngày mồng một tháng bảy, sẽ có cho các ngươi một ngày nghỉ, một lễ kỷ niệm lấy tiếng kèn thổi mà rao truyền, tức là một sự nhóm hiệp thánh vậy.

25 Chớ làm một công việc xác thịt nào; phải dâng các của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va.

Lễ Thổi Kèn: (1) Sự cất lên của Hội Thánh. (2) Sự nhóm họp muôn dân sau thời đại nạn

(1) I Cô-rinh-tô 15:52"Trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại được không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa."

(1) I Tê-sa-lô-ni-ca 4:16"Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Thiên Chúa, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ, sẽ sống lại trước hết."

(2) Ma-thi-ơ 24:31"Ngài sẽ sai thiên sứ mình dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại những kẻ đã được lựa chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời nầy cho đến tận phương kia."

Hội Thánh giống như Hê-nóc sẽ được cất lên trước kỳ tận thế. Các thánh đồ thời đại nạn giống như gia đình Nô-ê trong cơn nước lụt.

Sáng Thế Ký 5:21-24"Hê-nóc được sáu mươi lăm tuổi, sanh Mê-tu-sê-la. Sau khi Hê-nóc sanh Mê-tu-sê-la rồi, đồng đi cùng Đức Chúa Trời trong ba trăm năm, sanh con trai con gái. Vậy Hê-nóc hưởng thọ được ba trăm sáu mươi lăm tuổi. Hê-nóc đồng đi cùng Đức Chúa Trời, rồi mất biệt, bởi vì Đức Chúa Trời tiếp người đi."

Hê-bơ-rơ 11:5"Bởi đức tin, Hê-nóc được cất lên và không hề thấy sự chết; người ta không thấy người nữa, vì Đức Chúa Trời đã tiếp người lên. Bởi chưng trước khi được tiếp lên, người đã được chứng rằng mình ở vừa lòng Đức Chúa Trời rồi."

Khải Huyền 3:

6 Ai có tai, người ấy hãy nghe điều Đấng Thần Linh phán với các Hội Thánh.

7 "Hãy viết cho thiên sứ của Hội Thánh tại Phi-la-đen-phi: 'Đây là những lời phán của Đấng Thánh; Đấng Chân Thật; Đấng giữ chìa khóa của Đa-vít: Đấng mở thì không ai có thể đóng, Đấng đóng thì không ai có thể mở:

8 Ta biết những việc làm ngươi. Kìa, Ta đã đặt trước ngươi một cửa đã mở mà không ai có thể đóng; vì ngươi có ít sức mà vẫn giữ Lời Ta và không chối Danh Ta.

9 Này, Ta sẽ khiến chúng nó – những kẻ thuộc hội Sa-tan, xưng mình là người Do-thái mà không phải, chúng chỉ là những kẻ nói dối – đến phủ phục trước chân ngươi và biết rằng Ta yêu ngươi!

10 Vì ngươi đã giữ lời của sự nhẫn nại Ta, Ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách là giờ sẽ đến trên mọi người trong thế gian để thử nghiệm những kẻ ở trên đất.

11 Này, Ta đến mau chóng! Hãy giữ vững những điều ngươi có thì không ai có thể lấy mão của ngươi.

12 Kẻ nào thắng, Ta sẽ cho làm trụ trong đền của Đức Chúa Trời Ta và người sẽ không ra khỏi đó nữa. Ta sẽ viết trên người tên của Đức Chúa Trời Ta, tên của thành Đức Chúa Trời Ta là Giê-ru-sa-lem mới từ nơi Đức Chúa Trời Ta ở trên trời giáng xuống và tên mới của Ta.'

Lễ Chuộc Tội

26 Đức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se rằng:

27 Ngày mồng mười tháng bảy nầy là ngày lễ chuộc tội; các ngươi sẽ có sự nhóm hiệp thánh; hãy ép tâm hồn mình và dâng cho Đức Giê-hô-va các của lễ dùng lửa dâng lên.

28 Ngày đó chẳng nên làm công việc nào, vì là ngày chuộc tội, trong ngày đó phải làm lễ chuộc tội cho các ngươi trước mặt Giê-hô-va, Đức Chúa Trời mình.

29 Trong ngày đó, hễ ai không ép tâm hồn mình, sẽ bị truất khỏi dân sự mình.

30 Và hễ ai làm một công việc gì, thì ta sẽ diệt họ khỏi dân sự mình.

31 Các ngươi chẳng nên làm công việc chi hết, ấy là một lệ định đời đời cho dòng dõi các ngươi, mặc dầu ở nơi nào.

32 Ấy sẽ là một lễ Sa-bát, một ngày nghỉ cho các ngươi; các ngươi phải ép tâm hồn mình. Ngày mồng chín tháng đó, các ngươi phải giữ lễ Sa-bát mình, từ chiều nay đến chiều mai.

Lễ Chuộc Tội: (1) Ngày phán xét cuối thời đại nạn (Ma-thi-ơ 25:31-46). (2) Ngày phán xét chung cuộc (Khải Huyền 20:11-15)

31 Khi Con người ngự trong sự vinh quang mình mà đến với các thiên sứ thánh, thì Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh quang của Ngài.

32 Muôn dân nhóm lại trước mặt Ngài, rồi Ngài sẽ chia người nầy với người khác ra, như kẻ chăn chiên chia chiên với dê ra;

33 để chiên ở bên hữu và dê ở bên tả.

34 Bấy giờ, vua sẽ phán cùng những kẻ ở bên hữu rằng: Hỡi các ngươi được Cha ta ban phước, hãy đến mà nhận lấy nước thiên đàng đã sắm sẵn cho các ngươi từ khi dựng nên trời đất.

35 Vì ta đói, các ngươi đã cho ta ăn; ta khát, các ngươi đã cho ta uống; ta là khách lạ, các ngươi tiếp rước ta;

36 ta trần truồng, các ngươi mặc cho ta; ta đau, các ngươi thăm ta; ta bị tù, các ngươi viếng ta.

37 Lúc ấy, người công bình sẽ thưa rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa đói, mà cho ăn; hoặc khát, mà cho uống?

38 Lại khi nào chúng tôi đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà mặc cho?

39 Hay là khi nào chúng tôi đã thấy Chúa đau, hoặc bị tù, mà đi thăm viếng Chúa?

40 Vua sẽ trả lời rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy.

41 Kế đó, Ngài sẽ phán cùng những người ở bên tả rằng: Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi ta; đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỷ và những quỷ sứ nó.

42 Vì ta đã đói, các ngươi không cho ăn; ta khát, các ngươi không cho uống;

43 ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước; ta trần truồng, các ngươi không mặc cho ta; ta đau và bị tù, các ngươi không thăm viếng.

44 Đến phiên các ngươi nầy bèn thưa lại rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa, hoặc đói, hoặc khát, hoặc làm khách lạ, hoặc trần truồng, hoặc đau ốm, hoặc bị tù mà không hầu việc Ngài ư?

45 Ngài sẽ đáp lại rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy, ấy là các ngươi cũng không làm cho ta nữa.

46 Rồi những kẻ nầy sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự sống đời đời.

Lễ Lều Tạm

33 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:

34 Hãy truyền cho dân I-sơ-ra-ên rằng: Ngày rằm tháng bảy nầy là lễ lều tạm, trải qua bảy ngày đặng tôn kính Đức Giê-hô-va.

35 Ngày thứ nhất sẽ có sự nhóm hiệp thánh, các ngươi chẳng nên làm một công việc xác thịt nào.

36 Trong bảy ngày phải dâng các của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va; qua ngày thứ tám, các ngươi có một sự nhóm hiệp thánh nữa, cũng dâng của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va. Ấy sẽ là một hội trọng thể; chớ nên làm một công việc xác thịt nào hết.

37 Đó là những lễ trọng thể của Đức Giê-hô-va, mà các ngươi phải rao truyền là sự nhóm hiệp thánh, đặng dâng cho Đức Giê-hô-va những của lễ dùng lửa dâng lên, của lễ thiêu, của lễ chay, của lễ thù ân, lễ quán, vật nào đã định theo ngày nấy.

38 Ngoài ra, các ngươi phải cứ giữ lễ Sa-bát của Đức Giê-hô-va, cứ dâng cho Ngài các lễ vật mình, các của lễ khấn nguyện và lạc ý.

39 Nhưng đến ngày rằm tháng bảy, khi các ngươi đã thâu-hoạch thổ sản mình rồi, hãy giữ một lễ cho Đức Giê-hô-va trong bảy ngày. Bữa thứ nhất sẽ là ngày nghỉ, và bữa thứ tám cũng sẽ là ngày nghỉ.

40 Bữa thứ nhất, các ngươi phải lấy trái cây tốt, tàu chà là, nhành cây rậm, và cây dương liễu, rồi vui mừng trong bảy ngày trước mặt Giê-hô-va, Thiên Chúa của các ngươi.

41 Mỗi năm, vào tháng bảy, các ngươi phải giữ lễ nầy cho Đức Giê-hô-va như vậy trong bảy ngày. Ấy là một lệ định đời đời cho dòng dõi các ngươi.

42 Hết thảy ai sanh trong dòng I-sơ-ra-ên sẽ ở nơi trại trong bảy ngày,

43 hầu cho dòng dõi các ngươi biết rằng khi ta đem dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô, ta cho họ ở trong những trại: Ta là Giê-hô-va, Thiên Chúa của các ngươi.

44 Ấy vậy, Môi-se truyền cho dân Y-sơ-ra-ên biết các lễ của Đức Giê-hô-va là lễ nào.

Lễ Lều Tạm: (1) Vương Quốc Ngàn Năm (Khải Huyền 20). (2) Vương quốc đời đời trong trời mới đất mới (Khải Huyền 21, 22).

Thời điểm những ngày lễ của Đức Giê-hô-va được hoàn thành

Như chúng ta đã biết các ngày Lễ Vượt Qua, Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa, và Lễ Ngũ Tuần là hình bóng cho các sự kiện: sự chết, sự phục sinh của Đấng Christ, cùng với sự chọn lựa những kẻ tin nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa. Dù công cuộc cứu rỗi nhân loại đã được hoàn thành nhưng Đấng Christ vẫn tiếp tục ở trong sự thương khó vì loài người vẫn còn phạm tội. Có lẽ vì thế mà dấu vết thương khó vẫn còn trên thân thể phục sinh của Ngài. Đấng Christ là trái đầu mùa của sự sống lại nhưng sự sống lại vẫn chưa xảy ra cho con dân Chúa. Hội Thánh sẽ được cất ra khỏi thế gian nhưng trong thời đại nạn Tin Lành vẫn được rao giảng và vô số người sẽ được cứu. Tuy những sự kiện nói trên đã xảy ra nhưng ý nghĩa được tiên tri trong các ngày lễ ấy vẫn chưa được hoàn thành. Trong khi đó, ý nghĩa được tiên tri trong các ngày Lễ Thổi Kèn, Lễ Chuộc Tội, và Lễ Lều Tạm chưa được ứng nghiệm. Vì thế, cả bảy ngày Lễ của Đức Giê-hô-va đáng cho chúng ta tôn kính và cử hành để: bày tỏ đức tin của chúng ta vào trong chương trình của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu dành cho nhân loại, bày tỏ lòng biết ơn của chúng ta đối với tình yêu và ân điển của Ngài, và bày tỏ mối hy vọng của chúng ta về sự đến của vương quốc Thiên Chúa.

Chúng ta giữ các ngày lễ của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu không phải với thần trí làm theo luật pháp để được cứu vì chúng ta là những người đã được cứu bởi ân điển và đức tin. Nhưng vì chúng ta đã được Chúa ban ơn để hiểu biết ý nghĩa thuộc linh của những ngày Lễ của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu; nên chúng ta vui mừng giữ các ngày lễ ấy với đức tin, lòng trông cậy, và tình yêu thương.

Huỳnh Christian Timothy
30.09.2011
www.timhieutinlanh.net
tim@timhieutinlanh.net

Đọc Tiếp →
4,628 views

Điềm Chúa Đến và Tận Thế

Huỳnh Christian Timothy

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Bấm vào đây để download bài viết này
Xin vào link dưới đây để nghe và download phần âm thanh:
– Điềm Chúa Đến: http://tinlanhvietnam.net/node/826
– Điềm Tận Thế: http://tinlanhvietnam.net/node/827

I. Dẫn Nhập

Vừa qua, thế giới lại một lần nữa xao động về sự kiện Chúa tái lâm vì Harold Camping, một nhà thuyết giảng Tin Lành nổi tiếng tại Hoa Kỳ, tiên đoán sự kiện Chúa tái lâm sẽ xảy ra vào ngày 21.05.2011. Dĩ nhiên, Chúa đã không tái lâm vào ngày 21.05.2011 và Camping đã định lại một ngày mới là ngày 21.10.2011. Trước đó, Camping tiên đoán Chúa sẽ tái lâm, đem Hội Thánh ra khỏi thế gian vào ngày 21.05.2011, và tận thế sẽ xảy ra vào ngày 21.10.2011;  bây giờ thì Camping tuyên bố một sự phán xét thuộc linh đã xảy ra vào ngày 21.05.2011 và đến ngày 21.10.2011 Hội Thánh sẽ được cất ra khỏi thế gian, cùng lúc, thế gian sẽ bị hủy diệt. Tưởng cũng nên nhắc lại, Camping đã từng đưa ra lời tiên đoán Chúa sẽ tái lâm vào ngày 21.05.1988 và ngày 07.09.1994.

Không riêng gì Harold Camping, từ thế kỷ thứ nhì cho đến nay, đã có ít nhất trên 40 người hoặc tổ chức giáo hội tiên đoán về ngày Chúa tái lâm, trong số đó, Giáo Hội Chứng Nhân Giê-hô-va (Jehovah's Witnesses) từng tiên đoán Chúa tái lâm vào các năm: 1914, 1915, 1918, 1920, 1925, 1941, 1975, và 1994 [1]. Tất cả các lời tiên đoán đều dựa vào một số phân đoạn trong Thánh Kinh để đưa ra những tính toán khẳng định ngày Chúa tái lâm. Tuy nhiên, tất cả những người đưa ra lời tiên đoán đều bỏ qua lời phán rất rõ ràng của chính Đức Chúa Jesus Christ, rằng: "Về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết chi cả, thiên sứ trên trời hay là Con cũng vậy, song chỉ một mình Cha biết thôi" (Ma-thi-ơ 24:36).

Một khuyết điểm khác của những người đưa ra lời tiên đoán về ngày Chúa tái lâm là họ không phân biệt hai sự kiện: Chúa đến giữa chốn không trung để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian trước khi Chúa đoán phạt thế gian trong bảy năm; và Chúa tái lâm trên đất vào cuối của bảy năm đoán phạt để kết thúc thế gian tội lỗi.

Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu các phân đoạn Thánh Kinh có liên quan đến hai sự kiện này.

 

II. Câu Hỏi Của Các Môn Đồ

Trước hết, chúng ta cần phải cám ơn các môn đồ của Chúa, vì nhờ câu hỏi của họ mà chúng ta có được những lời tiên tri của chính Đức Chúa Jesus Christ về sự kiện Chúa đến và tận thế. Ma-thi-ơ 24:1-3 ghi lại cuộc đối thoại giữa Chúa và các môn đồ bắt đầu như sau:

1 Khi Đức Chúa Jesus ra khỏi đền thờ, đương đi, thì môn đồ đến gần để chỉ cho Ngài xem các nhà thuộc về đền thờ.
2 Ngài phán rằng: Các ngươi có thấy mọi điều đó chăng? Quả thật, ta nói cùng các ngươi, đây sẽ không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn khác mà không bị đổ xuống.
3 Ngài đương ngồi trên núi ô-li-ve, môn đồ tới riêng cùng Ngài, và nói rằng: Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế.

Sau khi Đức Chúa Jesus vào trong đền thờ để giảng dạy cho dân chúng và quở trách sự giả hình của những người Pha-ri-si (Ma-thi-ơ 21:23-23:39) thì Ngài ra khỏi đền thờ, có lẽ để lên núi Ô-li-ve, chuẩn bị cho buổi cầu nguyện tối, thì các môn đồ đến gần Chúa, chỉ cho Ngài xem các kiến trúc của khu đền thờ và trầm trồ về sự hoành tráng của chúng.

Theo lịch sử và Thánh Kinh thì đền thờ tại Giê-ru-sa-lem đương thời Đức Chúa Jesus được gọi là đền thờ thứ nhì. Đền thờ thứ nhất do Vua Sa-lô-môn xây dựng vào năm 950 TCN và bị tàn phá bởi quân đội của Vua Nê-bu-cát-nết-xa (nước Ba-by-lôn) vào năm 586 TCN. Đền thờ thứ nhì được Vua Si-ru (nước Phe-rơ-sơ) ra chiếu chỉ cho phép E-xơ-ra xây dựng lại, được khởi công vào năm 538 TCN và hoàn thành vào năm thứ sáu triều Vua Đa-ri-út (nước Phe-rơ-sơ), nhằm ngày 12.03.515 TCN. Năm 19 TCN, Vua Hê-rốt bắt đầu công cuộc tu bổ và xây cất thêm nhiều kiến trúc cho đền thờ, biến đền thờ thành một thắng tích thời bấy giờ. Công cuộc tu bổ và xây dựng đền thờ được hoàn tất vào năm 63 và đền thờ bị quân đội La-mã phá hủy hoàn toàn vào năm 70 [2].

Đức Chúa Jesus phán lời tiên tri về sự kiện đền thờ sẽ bị phá hủy đến nổi "không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn khác mà không bị đổ xuống" vào khoảng vài ngày trước Lễ Vượt Qua năm 27 [3]. Chúng ta nhận thấy các môn đồ không hỏi Chúa ngay sau khi Chúa phán lời tiên tri về đền thờ mà họ chờ cho tới khi đã lên đến núi Ô-li-ve và Chúa đã ngồi xuống, nghỉ chân. Có lẽ lời phán của Chúa đã làm cho họ kinh ngạc và bàng hoàng nên họ im lặng suy nghĩ. Cũng có thể, suốt chặng đường từ đền thờ lên trên núi Ô-li-ve, các môn đồ đã thầm thì bàn tán với nhau về ý nghĩa lời phán của Chúa và họ liên kết sự kiện Chúa đến, sự kiện tận thế, với sự kiện đền thờ bị phá hủy. Thế nên, Phi-e-rơ, Gia-cơ, Giăng, và Anh-rê đã đem cả ba sự kiện đó đặt chung vào trong một câu để hỏi Chúa: "Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế?"

Đức Chúa Jesus đã lần lượt trả lời ba điều thắc mắc của các môn đồ:

(1) Lúc nào những sự đó – tức là sự kiện đền thờ bị phá hủy – sẽ xảy ra?

(2) Điềm gì chỉ về sự Chúa đến?

(3) Điềm gì chỉ về sự tận thế?

Những câu trả lời của Đức Chúa Jesus được ghi chép lại trong: Ma-thi-ơ 24-25; Mác 13:1-37; và Lu-ca 21:5-36. Ma-thi-ơ và Mác ghi lại câu trả lời của Chúa về điềm tận thế và điềm Chúa đến. Lu-ca ghi lại câu trả lời của Chúa về sự kiện đền thờ bị phá hủy, điềm tận thế, và điềm Chúa đến. Chúng ta hãy cẩn thận liên kết các câu Thánh Kinh trong cả ba sách để có đầy đủ những câu trả lời của Chúa.

III. Những Điều Sẽ Xảy Ra Trước Khi Sự Cuối Cùng Đến

Trước khi sự cuối cùng xảy ra, bao gồm sự Chúa đến, sự Chúa đoán phạt thế gian, và sự tận thế thì sẽ có:

(1) Christ giả

(2) Giặc và tiếng đồn về giặc

(3) Dân này nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia

(4) Đói kém trong nhiều chỗ

(5) Động đất trong nhiều chỗ

(6) Dịch lệ trong nhiều chỗ

(7) Có những điềm lạ kinh khiếp và dấu lớn ở trên trời

(8) Con dân Chúa bị bắt bớ, bị giết hại, và bị mọi dân ghen ghét

(9) Nhiều kẻ phản nghịch nhau và ghen ghét nhau

(10) Nhiều tiên tri giả nổi lên

(11) Tội ác gia tăng trong khi lòng yêu mến Chúa giảm đi

(12) Tin lành được rao giảng khắp đất

Ma-thi-ơ 24:4-13
4 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hãy giữ, kẻo có kẻ dỗ dành các ngươi.
5 Vì nhiều người sẽ mạo danh Ta đến mà nói rằng: Ta là Đấng Christ; và sẽ dỗ dành nhiều người.
6 Các ngươi sẽ nghe nói về giặc và tiếng đồn về giặc: hãy giữ mình, đừng bối rối, vì những sự ấy phải đến; song chưa là cuối cùng đâu.
7 Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia; nhiều chỗ sẽ có đói kém và động đất.
8 Song mọi điều đó chỉ là đầu sự tai hại.
9 Bấy giờ, người ta sẽ nộp các ngươi trong sự hoạn nạn và giết đi; các ngươi sẽ bị mọi dân ghen ghét vì danh Ta.
10 Khi ấy cũng có nhiều kẻ sẽ sa vào chước cám dỗ, phản nghịch nhau, và ghen ghét nhau.
11 Nhiều tiên tri giả sẽ nổi lên và dỗ dành lắm kẻ.
12 Lại vì cớ tội ác sẽ thêm nhiều thì lòng yêu mến của phần nhiều người sẽ nguội lần.
13 Nhưng kẻ nào bền chí cho đến cuối cùng, thì sẽ được cứu.
14 Tin Lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến.

Mác 13:5-13
5 Đức Chúa Jêsus khởi phán rằng: Hãy giữ mình kẻo có ai lừa dối các ngươi chăng.
6 Có nhiều kẻ sẽ lấy danh Ta mà đến, xưng rằng: Chính Ta là Đấng Christ! Họ sẽ dỗ dành nhiều người.
7 Khi các ngươi nghe nói về giặc và nghe tiếng đồn về giặc, thì đừng bối rối: những sự ấy phải xảy đến; nhưng chưa là cuối cùng.
8 Vì dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia; cũng sẽ có động đất nhiều nơi, và đói kém. Đó chỉ là đầu sự khốn khổ mà thôi.
9 Còn các ngươi, phải giữ mình; họ sẽ nộp các ngươi trước tòa án; các ngươi sẽ bị đánh trong các nhà hội, và vì cớ Ta, sẽ đứng trước mặt các quan tổng đốc và các vua, để làm chứng trước mặt họ.
10 Nhưng trước hết Tin Lành phải được giảng ra cho khắp muôn dân đã.
11 Vả, khi họ điệu các ngươi đi nộp, chớ có ngại trước về điều mình sẽ nói, nhưng đến giờ đó, hãy nói theo lời sẽ ban cho; vì ấy không phải các ngươi nói, bèn là Đức Thánh Linh vậy.
12 Bấy giờ, anh sẽ nộp em cho phải chết, cha sẽ nộp con; con cái sẽ dấy lên nghịch cùng cha mẹ mình mà làm cho phải chết.
13 Các ngươi sẽ bị mọi người ghen ghét vì danh Ta; song ai cứ bền lòng đến cuối cùng, người ấy sẽ được cứu.

Lu-ca 21:8-19
8 Ngài đáp rằng: Các ngươi hãy giữ, kẻo bị cám dỗ; vì có nhiều người sẽ mạo danh Ta mà đến, và nói rằng: Ấy chính ta là Đấng Christ, thì giờ đã đến gần. Các ngươi đừng theo họ.
9 Lại khi các ngươi nghe nói về giặc giã loạn lạc, thì đừng kinh khiếp, vì các điều đó phải đến trước; nhưng chưa phải cuối cùng liền đâu.
10 Ngài cũng phán cùng họ rằng: Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia;
11 sẽ có sự động đất lớn, có đói kém và dịch lệ trong nhiều nơi, có những điềm lạ kinh khiếp và dấu lớn ở trên trời.
12 Song trước những điều đó thiên hạ sẽ vì cớ danh Ta mà tra tay bắt bớ các ngươi, nộp tại các nhà hội, bỏ vào ngục, kéo đến trước mặt các vua và các quan tổng đốc.
13 Điều ấy xảy ra cho các ngươi để làm chứng cớ.
14 Vậy các ngươi hãy nhớ kĩ trong trí, đừng lo trước về sự binh vực mình thể nào.
15 Vì Ta sẽ ban cho các ngươi lời lẽ và sự khôn ngoan, mà kẻ nghịch không chống cự và bẻ bác được.
16 Các ngươi cũng sẽ bị cha, mẹ, anh, em, bà con, bạn hữu mình nộp mình; và họ sẽ làm cho nhiều người trong các ngươi phải chết.
17 Các ngươi sẽ vì cớ danh Ta bị mọi người ghen ghét.
18 Nhưng một sợi tóc trên đầu các ngươi cũng không mất đâu.
19 Nhờ sự nhịn nhục của các ngươi mà giữ được linh hồn mình.

IV. "Những Sự Đó"

Trong câu hỏi của các môn đồ: "Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế?" thì nhóm chữ "những sự đó" chỉ về sự kiện đền thờ Giê-ru-sa-lem sẽ bị phá hủy đến nổi "không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn khác mà không bị đổ xuống." Đức Chúa Jesus không hề nói cụ thể ngày, tháng, năm nhưng Chúa nói đến "điềm" tức là những sự kiện xảy ra trước làm dấu hiệu cho sự kiện đền thờ sắp bị phá hủy:

Lu-ca 21:20-24
20 Vả, khi các ngươi sẽ thấy quân lính vây thành Giê-ru-sa-lem, hãy biết sự tàn phá thành ấy gần đến.
21 Lúc đó, ai ở trong xứ Giu-đê hãy trốn lên núi; ai ở trong thành phải đi ra ngoài, ai ở ngoài đồng đừng trở vào thành.
22 Vì những ngày đó là ngày báo thù, hầu cho mọi lời đã chép được ứng nghiệm.
23 Trong những ngày ấy, khốn cho đờn bà có thai, và đờn bà cho con bú! Vì sẽ có tai nạn lớn trong xứ, và cơn thạnh nộ nghịch cùng dân nầy.
24 Họ sẽ bị ngã dưới lưỡi gươm, sẽ bị đem đi làm phu tù giữa các dân ngoại, thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị dân ngoại giày đạp, cho đến chừng nào các kỳ dân ngoại được trọn.

Bảy mươi ngàn lính La-mã chia thành bốn quân đoàn, dưới sự thống lãnh của Đại Tướng Titus, (về sau trở thành hoàng đế), đã tiến công bao vây thành Giê-ru-sa-lem vào mùa xuân năm 66. Đến mùa thu năm 70, thành Giê-ru-sa-lem hoàn toàn thất thủ: Đền thờ và thành bị thiêu đốt và triệt hạ. Đền thờ không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn đá nào. Thành chỉ còn lại một bức tường phía tây, ngày nay được gọi là "Bức Tường Than Khóc," vì dân I-sơ ra-ên vẫn thường đứng trước đó để cầu nguyện và than khóc. Theo sử gia Josephus, trên một triệu một trăm ngàn cư dân Giê-ru-sa-lem bị giết và trên 97,000 cư dân khác bị bắt đi làm nô lệ [4].

Từ năm 70 đến  năm 1967, thành Giê-ru-sa-lem hoàn toàn "bị dân ngoại giày đạp." Trong "Cuộc Chiến Sáu Ngày," (5-10.6.1967), dân Israel đã chiếm lại được thành Giê-ru-sa-lem vào ngày 7 tháng 6 năm 1967 và nắm trọn chủ quyền cho đến ngày hôm nay [5]. Sự kiện này được xem là "các kỳ dân ngoại được trọn" và một số nhà giải kinh cho rằng ngụ ngôn về cây vả ra nhành non, lá mới đâm, có ý nói đến sự kiện dân Israel hoàn toàn làm chủ trở lại thành Giê-ru-sa-lem, báo hiệu cho ngày Chúa trở lại đã rất gần.

V. "Điềm Chỉ Về Sự Chúa Đến"

Sự kiện Chúa đến để đem Hội Thánh đi với Chúa theo lời Ngài đã hứa trong Giăng 14:1-3 khác với sự kiện Chúa tái lâm trên đất để kết thúc sự đoán phạt thế gian và thiết lập vương quốc ngàn năm của Ngài. Chúng ta có thể nhận ra những điểm khác biệt giữa hai sự kiện như sau:

Chúa đến với Hội Thánh
Giữa chốn không trung

Chúa đến với thế gian
Giáng lâm trên núi Ô-li-ve

* Hội Thánh gặp Chúa giữa chốn không trung: "Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn" (I Tê-sa-lô-ni-ca 4:17).

* Hội Thánh cùng Chúa giáng xuống trên đất: "Các đạo binh trên trời đều mặc vải gai mịn, trắng và sạch, cỡi ngựa bạch theo Ngài" (Khải Huyền 19:14).

* Xảy ra trước bảy năm đại nạn, khi thế gian mãi lo vui chơi, ăn uống, cưới gã: "Vì Đức Chúa Trời chẳng định sẵn cho chúng ta bị cơn thạnh nộ, nhưng cho được sự giải cứu bởi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta" (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:9). "Vì ngươi đã giữ lời nhịn nhục Ta, Ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách, là giờ sẽ đến trong khắp thế gian, đặng thử những người ở trên đất" (Khải Huyền 3:10). "Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con người đến cũng thể ấy. Vì trong những ngày trước nước lụt, người ta ăn, uống, cưới, gả như thường cho đến ngày Nô-ê vào tàu, và người ta không ngờ chi hết cho đến khi nước lụt tới mà đùa đem đi hết thảy, khi Con người đến cũng như vậy" (Ma-thi-ơ 24:37-39).

* Xảy ra sau bảy năm đại nạn là khi thế gian đang kinh hoàng, khốn khổ vì những cơn đoán phạt của Đức Chúa Trời giáng xuống trong bảy năm đại nạn: Khải Huyền 6-19.

* Xảy ra như chớp nhoáng bất ngờ và thế gian không nhìn thấy: "Nầy là sự mầu nhiệm tôi tỏ cho anh em: Chúng ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ biến hóa, trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại được không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa" (I Cô-rinh-tô 15:51, 52).

* Muôn dân trên đất đều nhìn thấy và than khóc: "Khi ấy, điềm Con người sẽ hiện ra ở trên trời, mọi dân tộc dưới đất sẽ đấm ngực, và thấy Con người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà xuống" (Ma-thi-ơ 24:30). "Kìa, Ngài đến giữa những đám mây, mọi mắt sẽ trông thấy, cả đến những kẻ đã đâm Ngài cũng trông thấy; hết thảy các chi họ trong thế gian sẽ than khóc vì cớ Ngài. Quả thật vậy. A-men" (Khải Huyền 1:7).

 

Điềm chỉ về sự Chúa đến được Đức Chúa Jesus trả lời sau cùng kèm theo ngụ ngôn về cây vả và lời kêu gọi con dân Chúa hãy tỉnh thức, trông chờ ngày Chúa đến. Sau khi Đức Chúa Jesus thăng thiên, trong Hội Thánh Tê-sa-lô-ni-ca có những tin đồn cho rằng Chúa đã trở lại khiến cho Hội Thánh hoang mang. Đức Thánh Linh đã dùng Phao-lô giảng giải cho Hội Thánh như sau:

II Tê-sa-lô-ni-ca 2:1-4
1 Luận về sự đến của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, và về sự chúng ta hội hiệp cùng Ngài,
2 thì, hỡi anh em, xin chớ vội bối rối và kinh hoàng hoặc bởi thần cảm giả mạo, hoặc bởi lời nói hay là bởi bức thơ nào tựa như chúng tôi đã gởi mà nói rằng ngày Chúa gần đến.
3 Mặc ai dùng cách nào, cũng đừng để họ lừa dối mình. Vì phải có sự bỏ đạo đến trước, và có người tội ác, con của sự hư mất hiện ra,
4 tức là kẻ đối địch, tôn mình lên trên mọi sự mà người ta xưng là Đức Chúa Trời hoặc người ta thờ lạy, rất đỗi ngồi trong đền Đức Chúa Trời, chính mình tự xưng là Đức Chúa Trời.

Kết hợp lời của Đức Chúa Jesus và lời của Phao-lô chúng ta nhận thấy: Điềm Chúa đến bao gồm các sự kiện như sau:

(1) Mười hai chi tiết trong lời tiên tri của Chúa như đã trình bày trên đây được ứng nghiệm:

(2) Có sự bỏ đạo trong Hội Thánh: Hiện nay, những hình thức bỏ đạo đang lan rộng khắp Hội Thánh là: Chấp nhận cho người chăn được sống đồng tính luyến ái, xem đồng tính luyến ái là bệnh chứ không phải tội. Chối bỏ thẩm quyền của Thánh Kinh, không tin toàn bộ Thánh Kinh là Lời của Đức Chúa Trời. Chối bỏ thần tính của Đấng Christ.

(3) Người tội ác, con của sự hư mất hiện ra, tức là con thú thứ nhất trong Khải Huyền 13

(4) Về ngày và giờ Chúa đến không ai có thể biết được

Về ý nghĩa của ngụ ngôn cây vả, các nhà giải kinh đưa ra nhiều giả thuyết như sau:

1. Giả thuyết một:"Cây vả" là dân Israel. Cây vả "ra nhành non, lá mới đâm" là sự kiện Israel tái lập quốc vào ngày 14.05.1948. "Mùa hạ" là sự Chúa đến để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian trước khi Đức Chúa Trời giáng cơn đoán phạt xuống thế gian. "Dòng dõi này"  là thế hệ nhìn thấy sự kiện Israel tái lập quốc. Nếu một dòng dõi là 70 năm hay 80 năm như Thi Thiên 90:10 nói đến: "Tuổi tác của chúng tôi đến được bảy mươi, Còn nếu mạnh khỏe thì đến tám mươi; Song sự kiêu căng của nó bất quá là lao khổ và buồn thảm, vì đời sống chóng qua, rồi chúng tôi bay mất đi;" thì sự Chúa đến có thể xảy ra bất kỳ lúc nào trong khoảng thời gian từ hiện tại cho đến 10 năm nữa.

·         Israel tái lập quốc 14.05.1948 70 năm (một dòng dõi) = 2018

·         Vì Chúa đến trước bảy năm đại nạn cho nên: 2018 trừ ra 7 năm đại nạn = 2011 [6]

·         Israel tái lập quốc 14.05.1948 80 năm (một dòng dõi) = 2028

·         Vì Chúa đến trước bảy năm đại nạn cho nên: 2028 trừ ra 7 năm đại nạn = 2021

2. Giả thuyết hai: "Cây vả"là thành Giê-ru-sa-lem. Cây vả "ra nhành non, lá mới đâm" là sự kiện Israel tái chiếm và làm chủ hoàn toàn thành Giê-ru-sa-lem vào ngày 07.06.1967, khiến cho "các kỳ dân ngoại được trọn."  Như vậy, Chúa có thể đến bất kỳ lúc nào trong khoảng thời gian từ hiện tại cho đến 19 hay 29 năm nữa:

·         Israel tái chiếm thành Giê-ru-sa-lem 07.06.1967 70 năm (một dòng dõi) = 2037

·         Vì Chúa đến trước bảy năm đại nạn cho nên: 2037 trừ ra 7 năm đại nạn = 2030

·         Israel tái chiếm thành Giê-ru-sa-lem 07.06.1967 80 năm (một dòng dõi) = 2047

·         Vì Chúa đến trước bảy năm đại nạn cho nên: 2047 trừ ra 7 năm đại nạn = 2040

Dựa vào II Phi-e-rơ 3:9:"Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn;" và I Ti-mô-thê 2:4: "Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật;" mà chúng ta có thể tin rằng Chúa có thể kéo dài dòng dõi được chứng kiến "điềm cây vả" đến 80 năm. Như vậy, nếu cây vả là Israel thì Chúa sẽ đến trong vòng 10 năm, còn nếu cây vả là thành Giê-ru-sa-lem thì Chúa sẽ đến trong vòng 29 năm.

Tuy nhiên, chúng ta không thể biến giả thuyết thành tín lý. Điều quan trọng là tất cả các dấu hiệu về điềm Chúa đến đã xảy ra và không ai có thể biết ngày và giờ Chúa đến. Chúa có thể đến để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian bất kỳ lúc nào. Chính Đức Chúa Jesus đã khẳng định như vậy.

Ma-thi-ơ 24:32-51
"32 Hãy nghe lời ví dụ về cây vả, vừa lúc nhành non, lá mới đâm, thì các ngươi biết mùa hạ gần tới.
33 Cũng vậy, khi các ngươi thấy mọi điều ấy, khá biết rằng Con Người gần đến, Ngài đương ở trước cửa.
34 Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, dòng dõi nầy chẳng qua trước khi mọi điều kia chưa xảy đến.

35 Trời đất sẽ qua, nhưng lời Ta nói chẳng bao giờ qua đi.
36 Về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết chi cả, thiên sứ trên trời hay là Con cũng vậy, song chỉ một mình Cha biết thôi.
37 Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con Người đến cũng thể ấy.
38 Vì trong những ngày trước nước lụt, người ta ăn, uống, cưới, gả như thường cho đến ngày Nô-ê vào tàu,
39 và người ta không ngờ chi hết cho đến khi nước lụt tới mà đùa đem đi hết thảy, khi Con Người đến cũng như vậy.
40 Lúc ấy, sẽ có hai người nam ở trong một đồng ruộng, một người được đem đi, còn một người bị để lại;
41 và có hai người nữ đương xay cối, một người được đem đi, còn một người bị để lại.

42 Vậy hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày nào Chúa mình sẽ đến.
43 Hãy biết rõ, nếu người chủ nhà đã hay canh nào kẻ trộm sẽ đến, thì tỉnh thức, không để cho đào ngạch nhà mình.
44 Vậy thì các ngươi cũng hãy chực cho sẵn, vì Con Người sẽ đến trong giờ các ngươi không ngờ.
45 Ai là đầy tớ trung tín và khôn ngoan, mà người chủ đặt cai trị đầy tớ mình, đặng cho đồ ăn đúng giờ?
46 Phước cho đầy tớ đó, khi chủ đến thấy làm như vậy!
47 Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, chủ sẽ đặt kẻ ấy coi sóc cả gia tài mình.
48 Nếu, trái lại, là một đầy tớ xấu, nó nghĩ thầm rằng: Chủ ta đến chậm,
49 bèn đánh kẻ cùng làm việc với mình, và ăn uống với phường say rượu,
50 thì chủ nó sẽ đến trong ngày nó không ngờ và giờ nó không biết.
51 Chủ sẽ đánh xé xương và định phần nó đồng với kẻ giả hình. Đó là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng.

Mác 13:28-37
28 Hãy nghe lời thí dụ về cây vả. Vừa khi nhánh nó trở nên non và nứt lộc, thì biết mùa hạ gần tới.
29 Cũng một lẽ ấy, khi các ngươi thấy các điều đó xảy đến, hãy biết Con Người đã tới gần, ở nơi cửa.
30 Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, dòng dõi nầy chẳng qua trước khi mọi sự kia xảy tới.

31 Trời đất sẽ qua đi, song lời Ta không bao giờ qua đâu.
32 về ngày và giờ đó, chẳng ai biết chi hết, các thiên sứ trên trời, hay là Con cũng chẳng biết nữa; song chỉ Cha mà thôi.
33 Hãy giữ mình, tỉnh thức; vì các ngươi chẳng biết kỳ đó đến khi nào.
34 Ấy cũng như một người kia đi đường xa, bỏ nhà, giao cho đầy tớ mỗi đứa cai quản một việc, và cũng biểu đứa canh cửa thức canh.
35 Vậy, các ngươi hãy thức canh, vì không biết chủ nhà về lúc nào, hoặc chiều tối, nửa đêm, lúc gà gáy, hay là sớm mai,
36 e cho người về thình lình, gặp các ngươi ngủ chăng.
37 Điều mà Ta nói cùng các ngươi, Ta cũng nói cho mọi người: Hãy tỉnh thức!

Lu-ca 21: 29-36
29 Đoạn, Ngài phán cùng họ một lời ví dụ rằng: Hãy xem cây vả và các cây khác;
30 khi nó mới nứt lộc, các ngươi thấy thì tự biết rằng mùa hạ đã gần đến.
31 Cũng vậy, khi các ngươi thấy những điều ấy xảy ra, hãy biết nước Đức Chúa Trời gần đến.
32 Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, dòng dõi nầy chẳng qua trước khi mọi sự kia chưa xảy đến.

33 Trời đất sẽ qua, song lời Ta nói sẽ không qua đâu.
34 Vậy, hãy tự giữ lấy mình, e rằng vì sự ăn uống quá độ, sự say sưa và sự lo lắng đời nầy làm cho lòng các ngươi mê mẩn chăng, và e ngày ấy đến thình lình trên các ngươi như lưới bủa;
35 vì ngày đó sẽ đến cho mọi người ở khắp trên mặt đất cũng vậy.
36 Vậy, hãy tỉnh thức luôn và cầu nguyện, để các ngươi được tránh khỏi các tai nạn sẽ xảy ra, và đứng trước mặt Con người.

VI. "Điềm Tận Thế"

Ma-thi-ơ 24:15-31
15 Khi các ngươi sẽ thấy sự gớm ghiếc tàn nát lập ra trong nơi thánh, mà đấng tiên tri Đa-ni-ên đã nói (ai đọc phải để ý),
16 thì ai ở trong xứ Giu-đê hãy trốn lên núi;
17 ai ở trên mái nhà, đừng xuống chuyên của cải trong nhà;
18 và ai ở ngoài ruộng, đừng trở về lấy áo mình.
19 Đang lúc đó, khốn khó thay cho đờn bà có mang, và đờn bà cho con bú!
20 Hãy cầu nguyện cho các ngươi khỏi trốn tránh nhằm lúc mùa đông hay là ngày Sa-bát;
21 vì lúc ấy sẽ có hoạn nạn lớn, đến nỗi từ khi mới có trời đất cho đến bây giờ chưa từng có như vậy, mà sau nầy cũng không hề có nữa.
22 Nếu những ngày ấy không giảm bớt, thì chẳng có một người nào được cứu; song vì cớ các người được chọn, thì những ngày ấy sẽ giảm bớt.
23 Khi ấy, nếu có ai nói với các ngươi rằng: Kìa Đấng Christ ở đây hay là: Ở đó, thì đừng tin.
24 Vì nhiều christ giả và tiên tri giả sẽ dấy lên, làm những dấu lớn, phép lạ, nếu có thể được thì họ cũng đến dỗ dành chính những người được chọn.
25 Nầy, Ta đã bảo trước cho các ngươi.
26 Vậy nếu người ta nói với các ngươi rằng: Nầy, Ngài ở trong đồng vắng, thì đừng đi đến; nầy, Ngài ở trong nhà thì đừng tin.
27 Vì như chớp phát ra từ phương đông, nháng đến phương tây, thì sự Con người đến sẽ cũng thể ấy.
28 Nơi nào có xác chết, thì những chim ó sẽ nhóm tại đó.

29 Sự tai nạn của những ngày đó vừa mới qua, thì mặt trời liền tối tăm, mặt trăng không sáng, các ngôi sao từ trên trời sa xuống, và thế lực của các từng trời rúng động.
30 Khi ấy, điềm Con người sẽ hiện ra ở trên trời, mọi dân tộc dưới đất sẽ đấm ngực, và thấy Con người lấy đại quyền đại vinh ngự trên m&acir

Đọc Tiếp →
2,886 views

Giới Thiệu Tác Phẩm: Người Thiên Quốc

"Người Của Thiên Quốc" (Nguyên tác Anh ngữ: "The Heavenly Man") là một chi tiết lịch sử sống động trong vòng ba thập niên qua của Hội Thánh Chúa tại Trung Quốc, qua cuộc đời của một tôi tớ Chúa, anh Yun!

Chúng tôi đọc cuốn sách này qua bản Anh Ngữ và đã không cầm được nước mắt trước những thương khó mà Hội Thánh Chúa nói chung và các tôi tớ Chúa nói riêng, tại Trung Quốc, đã dự phần với Đấng Christ. Cuốn sách này, cùng với cuốn "Hoa Huệ Giữa Chông Gai" là những bài học thuộc linh quý giá, là những bản anh hùng ca đức tin, là chứng tích về tình yêu và quyền năng, phép lạ của Tin Lành cứu rỗi… dành cho con dân Chúa của thời đại hôm nay.

Cảm tạ Chúa đã cho Hội Thánh Việt Nam được hưởng ơn phước nếm trải phước hạnh được học hỏi những bài học thuộc linh quý giá khi Ngài sắm sẵn người dịch thuật hai tác phẩm nói trên. Trong thời gian sắp tới, www.tinlanhvietnam.net sẽ đăng tải tác phẩm "Hoa Huệ Giữa Chông Gai". Riêng về tác phẩm "Người Của Thiên Quốc" xin bạn đọc liên lạc với dịch giả ở cuối bài này để mua sách.

Trong phần giới thiệu này, chúng tôi xin đăng lời giới thiệu của dịch giả và ba chương trong tác phẩm.

Đôi lời của dịch giả Hoàng-Đức-Thành
về cuốn sách "Người Của Thiên Quốc"

Được dịch từ sách "The Heavenly Man" của tác giả Paul Hattaway
(Có giấy phép của Tác giả)

Sau khi đọc vài trang đầu của cuốn sách The Heavenly Man ‘Người của Thiên quốc’ tôi cảm thấy rất xúc động khi thấy một cậu bé người Trung Hoa tên Yun mong ước chỉ được nhìn thấy cuốn Kinh Thánh thôi, em nài nỉ mẹ đến mức độ mẹ em phải dẫn em đến một Mục sư đã ở tù ra vì phong trào Cách mạng văn hóa bên Trung quốc bắt bớ tất cả những nguời theo Chúa. Bà hy vọng là ông hãy còn cuốn Kinh thánh để em được nhìn thấy. Nhưng em không được toại nguyện, lần thứ hai em lần mò đến một minh mà còn được vị Muc sư căn dặn phải nhịn ăn cầu nguyện và khóc với Chúa ngày đêm mới được. Em kiêng ăn, em cầu nguyện, em khóc và em nằm mơ, em kể cho cha mẹ em nghe, cha mẹ tưởng em nhịn đói hóa điên. Nhưng em vẫn kiên trì kiêng ăn cầu nguyện. Cuối cùng em đã được Chúa sai người mang đến ban cho em cuốn Kinh Thánh như trong giấc mơ của em.

Nguyên mấy trang đầu đã khiến tôi muốn dịch cuốn sách này để chia xẻ với các anh chị em trong Chúa. Khi dịch, càng đi sâu vào cuốn sách nước mắt tôi không sao ngưng chẩy vì có nhiều đoạn lúc Yun lớn lên, em đã chịu nhiều cay đắng khổ cực khi em trở thành một nhà truyền giáo rất đắc lực cho Chúa.

Yun đã bị tù ba lần hầu hết là thời gian anh hầu việc Chúa. Anh bị hành hạ đau đớn khổ sở, anh nhịn ăn, nhịn uống 74 ngày trong tù, anh lại càng bị đánh đập nhiều hơn. Anh chịu đựng được là nhờ những Lời Chúa anh thuc lòng trong Kinh thánh. Họ đánh anh thậm chí què luôn cả hai chân không đi được. Nhưng Chúa vẫn yêu thương anh và dùng anh, Chúa đã cứu anh trốn tù bằng những phép lạ. Chúa cũng cho anh xuất khỏi Trung quốc cũng qua phép lạ để anh tiếp tục sứ mạng rao truyền Danh Chúa, cứu vớt linh hồn lạc lõng trở về. Ra khỏi Trung quốc mà anh vẫn phải vô tù, theo anh đó là ý Chúa muốn vì anh chưa làm xong nhiệm vụ. Không những vậy anh còn gánh nặng gia đình gồm vợ và hai con sống trốn tránh rất cực khổ khi vắng anh và sau này tìm cách vượt biên để xum họp gia đình với anh tại Đức quốc.

Theo tác giả Paul Hattaway, đây là một câu chuyện có thật, càng đọc tôi càng thấy Lời Chúa do tác giả dẫn chứng thật là sâu-sắc và là ngọn đèn soi sáng cho những con cái Chúa hầu việc Ngài trong lúc gặp hoạn nạn khổ đau. Chúa luôn luôn lúc nào cũng ở cùng chúng ta.

Xin kính mời quí vị hãy đọc cuốn sách này để biết thêm về vị trí của mình trong bước đường theo Chúa.

Chương Một

Những Buổi Ban Đầu Khiêm Tốn

Tên tôi là Liu Zhenying, những bạn Cơ đốc của tôi thường gọi tôi là anh Yun.

Vào một buổi sáng mùa thu năm 1999, tôi thức dậy trong thành phố Bergen thuộc miền tây nước Thụy điển. Lòng tôi thấy rộn ràng và hồi hộp sôi sục trong tôi. Tôi đã nói chuyện tại những Hội Thánh suốt xứ Scandinavia, làm chứng về những Hội Thánh Tư gia bên Trung quốc và mời những Cơ đốc nhân đến với chúng tôi vì chúng tôi truyền rao Phúc âm cho khắp nước Trung Hoa và cả những quốc gia ngoài nữa. Những người tôi mời, họ hỏi tôi là nếu tôi muốn đến thăm mộ cô Marie Monsen, mt nữ Giáo sĩ Lutheran nổi tiếng tại Trung quốc, cô là người đã được Chúa sử dụng một cách mãnh liệt để phấn hưng các Hội Thánh ở nhiều nơi trong xứ sở tôi từ năm 1901 đến 1932. Mục vụ truyền giáo của cô đặc biệt nhằm vào phía nam tỉnh Henan, nơi mà tôi từ đó đến.

Cô Monsen là một mẫu người nhỏ nhắn, nhưng là rất to lớn, một vĩ nhân trong vương quốc của Chúa. Hi Thánh Trung quốc chẳng những đã bị chấn động bởi lời giảng của cô mà lại còn bị thách thức mãnh liệt bởi nếp sống của cô. Cô hoàn toàn dâng hiến đời mình và đầu phục Chúa Jê-sus mt cách cương quyết. Cô để lại cho chúng tôi một tấm gương sáng về sự chịu đựng và thương khó khi hầu việc Chúa.

Chúa sử dụng Marie Monsen bằng một cách đầy quyền năng, do đó nhiều phép lạ, dấu kỳ và những việc lạ lùng đã xẩy đến trong mục vụ của cô. Cô trở về Thụy điển năm 1932 để phụng dưỡng cha mẹ già và kể từ đó công việc hầu việc Chúa của cô tại Trung quốc coi như hoàn tất. Cô không bao giờ còn trở lại Trung Hoa nữa, nhưng để lại một đức tin bất khuất, lòng sốt sắng không thể dập tắt được và sự cần thiết trong việc thay đổi lòng người để được hoàn toàn giao phó những gì Đấng Christ mong muốn vẫn còn sống mãi trong các Hi Thánh Trung Hoa cho tới ngày nay.

Bây giờ thì tôi có một đặc quyền lớn là viếng thăm mộ của cô ngay tại xứ sở của cô. Tôi tự hỏi không biết có người Cơ đốc Trung Hoa nào đã bao giờ được hưởng thụ đặc quyền mà tôi sắp thụ hưởng không? Khi cô đến phần đất Trung Hoa của chúng tôi, lúc đó chỉ có vài người tin Chúa và Hi Thánh rất yếu ớt. Ngày nay có hàng triệu tín đồ. Thay mặt cho họ tôi tỏ lời cảm tạ Chúa cho cuc đời của cô.

Xe của chúng tôi leo lên nghĩa địa, bên cạnh ngọn đồi trong thung lũng chật hẹp với con sông chảy qua. Chúng tôi đi b xung quanh vài phút hy vọng thấy tên của cô trên một trong hàng trăm tấm mộ bia. Không tài nào kiếm thấy mộ cô Monsen, chúng tôi bèn đến văn phòng để hỏi. Người quản nhiệm tại đó cũng không quen với tên của cô nên phải lật sách coi trong danh sách những người chết đã chôn ở đây. Sau khi lật những trang giấy ông ta nói với chúng tôi rằng thật là khó khăn mới kiếm thấy rằng ‘Marie Monsen thực sự đã chôn cất tại đây vào năm 1962. Nhưng mộ của cô không được ai chăm sóc nhiều năm qua, do đó ngày nay chỉ là mt khu đất trống mà không có mộ bia.

Theo phong tục người Trung Hoa việc tưởng nhớ những người quá cố rất được thịnh hành trong nhiều thế hệ nay, do đó tôi không bao giờ ngờ được rằng sự việc đó lại xẩy ra. Những tín hữu địa phương cắt nghĩa rằng họ đã tưởng nhớ tới cô bằng nhiều cách, tỉ như in sách nói về tiểu sử của cô sau khi cô chết. Nhưng đối với tôi việc không làm dấu tích gì mộ của cô là một sỉ nhục mà cần phải sửa đổi lại cho đúng.

Tôi thật đau lòng. Với tấm lòng nặng trĩu tôi nghiêm nghị nói với những Cơ đốc nhân Thụy điển đi cùng với tôi: ‘Các anh chị phải vinh danh người phụ nữ trong Chúa này! Tôi để cho qúy vị hai năm nữa để xây cất một ngôi m và mộ bia tưởng nhớ đến Marie Monsen, nếu qúy vị không làm, tôi sẽ dàn xếp với những anh chị em Cơ đốc khác đi bộ suốt từ bên Trung Hoa đến Thụy điển để xây! Có rất nhiều anh em tại Trung Hoa rất khéo léo về việc đẽo đá vì họ ở trong tù nhiều năm, lao động trong tù vì Tin Lành của Chúa. Nếu qúy vị hờ hững họ sẽ rất sẵn lòng để làm việc đó.’

* * *

Tôi sanh năm 1958, trong năm nhuận của Trung quốc – là ngưòi con thứ tư trong số năm người con trong gia đình. Tôi ra đời trong một làng cổ xưa sống theo cổ truyền chuyên về nghề nông có tên là Liu LaoZhuang trong Phường Nanyang, ở về phía nam tỉnh Henan Trung quốc.

Henan gồm có khoảng 100 triệu linh hồn – là một tỉnh Trung quốc rất đông dân cư. Mặc dù vậy dường như cũng có nhiều nơi bỏ hoang nơi tôi lớn lên – có nhiều đồi để trèo, nhiều cây để leo. Mặc dù đời sống khó khăn, nhưng tôi cũng vẫn còn nhớ thời gian vui đùa khi tôi còn là đứa trẻ.

Tất cả 600 người trong làng tôi đều là tá điền, và họ còn làm cho tới ngày giờ này. Không thay đổi gì nhiều lắm. Chúng tôi phần lớn trồng khoai, bắp và lúa mạch. Chúng tôi cũng trồng bắp cải và nhiều loại củ.

Nhà của chúng tôi theo kiến trúc rất đơn giản gồm đất sét khô. Mái thì lợp bằng rơm dạ. Nước mưa thường chảy qua những lỗ hổng trên mái, về mùa đông thì gió lạnh không bao giờ quên thổi qua những kẽ hở của tường. Khi nhiệt độ hạ xuống dưới độ đông lạnh thì chúng tôi đốt những vỏ khô của bắp còn lại để cho ấm. Chúng tôi không thể cung cấp than được.

Thường thì vào mùa hè, trời nóng và ẩm thấp chúng tôi không thể nào chịu nổi khi ngủ bên trong nhà với lối thoáng khí nghèo nàn. Chúng tôi kéo giường ra ngoài và cả gia đình chúng tôi cùng với một số gia đình trong làng ngủ với gió mát ngoài trời.

‘Henan’ có nghĩa là ‘phía Nam con sông’ Con sông tên Mầu vàng đã phân xé phần đất phía Bắc của tỉnh. Nó thường lụt ti và đã mang bệnh hoạn đến từ nhiều thế kỷ nay cho những người sống dọc theo bờ sông. Chúng tôi biết như vậy vì chúng tôi lớn lên tại đó, nhưng đối với chúng tôi miền Bắc Henan rng có cả triệu dặm xa.

Làng của chúng tôi được qui tụ trong những trái đồi ở phần phía Nam của tỉnh, an toàn khi bị ngập lụt và ngoài vòng ảnh hưởng. Chúng tôi chỉ quan tâm đến mùa gặt tới. Đời sống của chúng tôi hoàn toàn xoay quanh chu kỳ của việc cầy sới, trồng trọt, tưới nước và gặt hái. Cha tôi thường nói chịu khổ để có đủ thực phẩm mà ăn. Cho nên các bàn tay đều phải sử dụng ngoài đồng, dù tôi còn nhỏ tôi cũng bị gọi ra ngoài đó để giúp anh và chị tôi. Bởi vậy cho nên, tôi không có cơ hi đến trường học nhiều.

So với vùng khác của Trung Hoa ai sanh tại Henan thì có tiếng là bướng bỉnh như lừa. Có lẽ vậy mà tính bướng bỉnh này đã ngăn cản những người tại Henan tin nhận Chúa khi những Giáo sĩ Tin lành đến tỉnh này lần đầu tiên vào năm 1884. Có nhiều nhà Truyền giáo hầu việc tại Henan mà không thấy kết quả gì. Vào năm 1922 sau gần bốn mươi năm cố gắng truyền giảng mà chỉ có 12,400 tín hữu Tin lành cho toàn tỉnh bộ. Những kẻ chấp nhận tin vào tôn giáo ‘con quỉ ngoại bang’ thì trông rất nực cười và bị dân chúng tẩy chay. Thường thường sự chống đối tràn ra đến độ họ dùng cả đến những từ ngữ hung bạo. Những Cơ đốc nhân bị đánh đập. Có cả vài người bị giết vì đức tin. Ngay cả những Giáo sĩ cũng vậy, phải đối diện với hình phạt đó. Nhiều người gán cho những Giáo sĩ là công cụ của đế quốc thực dân, được gởi từ những nước của họ đến để thu hút lòng dân chúng Trung Hoa ngõ hầu chính quyền họ sẽ xâm chiếm đất đai, cướp nguyên liệu thiên nhiên. Sự lăng nhục những người ngoại quốc đã lên đến cực điểm vào năm 1990 khi có một hi bí mật được gọi là ‘Những người đô vật’ xúi dục toàn dân tẩy chay những người ngoại quốc.

Đa số trốn thoát khỏi ngoại trừ có nhiều Giáo sĩ sống ở những nơi xa xôi hẻo lánh tại ni địa Trung quốc, xa hẳn với nơi an toàn như những thành phố lớn ven biển. Những tên đô vật tàn nhẫn tàn sát hơn 150 Giáo sĩ và cả ngàn người Trung Hoa mới tin nhận Chúa.
Những linh hồn can đảm này đã đến để cứu vớt quốc gia chúng tôi, mang tình yêu của Chúa Jê-sus Christ đến cho chúng tôi họ đã hy sinh và bị thảm sát. Họ đã đến để đồng công với Đấng Christ nâng cao mức sống của chúng tôi bằng việc xây cất nhà thương, viện mồ côi và trường học. Vậy mà chúng tôi đã trả ơn họ bằng sự tàn sát.

Hậu qủa có người tưởng là với biến cố năm 1900 đủ để làm cho những nhà Truyền giáo sợ hãi mà sẽ chẳng bao giờ đến nữa.

Nhưng họ đã lầm.

Vào ngày 1 tháng chín năm 1901, mt chiếc tầu lớn đậu ở bến cảng Shanghai. Một người đàn bà trẻ độc thân từ Thụy điển đã đặt chân lên đất Trung Hoa lần đầu tiên tên là Marie Monsen cô là một trong những làn sóng mới các Giáo sĩ đã thông biết sự tàn sát năm trước đây đã hiến dâng mình hầu việc Chúa truyền giáo toàn thời gian cho nước Trung Hoa.

Monsen ở tại Trung quốc hơn ba chục năm. Thời gian mà cô sống ở khu vực chúng tôi, Nanyang, cô đã khuyến khích và huấn luyện cho mt nhóm tín hữu Trung Hoa bừng dậy lên.
Marie Monsen khác với những Giáo sĩ khác. Cô dường như không quan tâm đến việc đề cao những người lãnh đạo các Hi Thánh. Cô thường nói với họ rằng ‘Quí vị là những người ích kỷ! quí vị chỉ nhận ti với Chúa Jê-sus Christ bằng đầu môi chót lưỡi trong khi đó lòng quí vị chưa thực sự hứa hẹn với Ngài! Hối cải việc đó thì quá mun để thoát khỏi sự phán xét của Chúa!’ Cô đã mang lửa từ bàn thờ Chúa đến.

Cô Monsen nói với những Cơ đốc nhân là học biết về sự tái sanh như vậy chưa đủ, họ phải tái sanh tận gốc rễ để được vào vương quốc của Chúa. Với lời dạy dỗ như vậy cô đã nhấn mạnh gt bỏ sự hiểu biết qua lý trí đối với Chúa mà họ phải có trong ni tâm mt cuc sống đầy dãy Thánh linh. Những tấm lòng đã hối cải vì ti lỗi và lửa phục hưng đã thổi qua các làng trung tâm Trung quốc bất cứ nơi nào cô đặt chân tới.

Vào năm 1940 một Giáo sĩ phương Tây khác đến giảng về Lời Chúa cho mẹ tôi, lúc đó bà mới hai mươi tuổi. Mặc dù bà không hoàn toàn hiểu nhưng bà rất có thiện cảm với những gì bà nghe. Đặc biệt là bà thích hát thánh ca và nghe những chuyện trong Kinh thánh mà những nhà truyền giáo chia xẻ trong nhóm nhỏ khi họ đi thăm viếng miền quê. Chẳng bao lâu mẹ tôi đến nhóm với Hội Thánh và trao trọn cuc đời cho Chúa Jê-sus Christ.

Trung quốc trở thành mt nước Cng sản vào năm 1949, trong vòng vài năm sau tất cả các Giáo sĩ đều bị trục xuất, các nhà thờ đóng cửa, và hàng ngàn vị Mục sư Trung Hoa bị nhốt tù. Nhiều người mất mạng. Mẹ tôi trông thấy những Giáo sĩ rời khỏi Nanyang trước năm 1950. Bà không bao giờ quên những giọt nước mắt trên má họ khi họ phải ra bến cảng dưới sự dẫn độ của những người lính có võ trang. Mục vụ của họ đã chấm dứt một cách tức tưởi.

Chỉ có một thành phố tại Trung quốc là Wenzhou ở tỉnh Zheuiang có 49 Mục sư bị nhốt tù khổ sai gần biên giới Liên sô vào năm 1950. Nhiều người bị kết án trên mười hai năm về ti đã rao giảng Tin Lành. Trong số 49 Mục sư chỉ có mt người sống sót và trở về nhà còn 48 người kia đều chết trong tù.

Khu vực nhà tôi ở Nanyang, những tín đồ bị đóng đinh lên tường của nhà thờ vì đã không từ chối Đấng Christ. Những người khác thì bị xích vào xe và ngựa kéo lết đi cho tới chết.
Có mt vị Mục sư bị trói và ct vào một sợi dây thừng dài. Chức quyền giận điên lên vì người của Chúa này không chịu từ chối đức tin nên họ đã dùng chiếc cần của xe cần trục kéo ông lên cao. Trước hàng trăm nhân chứng đến buộc tội gian là ‘chống đối cách mạng’, vị Mục sư được hỏi lần cuối cùng rằng ông có chịu từ chối không. Ông la lớn lên trả lời: ‘Không! tôi sẽ không bao giờ từ chối Chúa của tôi là Đấng đã cứu tôi!’ Chiếc dây thừng được thả xuống và vị Mục sư bị dập nát dưới mặt đất.

Sau khi khám xét, những tên hành hạ đó đã khám phá thấy vị Mục sư chưa chết hẳn nên chúng dựng ông dậy kéo ông lên cao lần thứ hai thả dây xuống để kết liễu đời ông. Trong cuộc đời này vị Mục sư đã chết nhưng ông sống trên Thiên đàng với phần thưởng của một người đã trung kiên cho tới chết.

Cuộc đời không có gì là khó khăn đối với những Cơ đốc nhân. Chủ tịch Mao đã đề xướng ra một kinh nghiệm mà ông ta gọi là ‘Một bước nhẩy vọt’ cái đó đã kéo theo một đống người chết đói tại Trung Hoa. Thực sự bước nhảy vọt đó đã kéo tổ quốc họ thụt lùi. Ở trong tỉnh tôi tại Henan có vào khoảng tám triệu người chết đói.

Trong thời kỳ khó khăn đó có Hội Thánh bé nhỏ còn non nớt được mọc rải rác ở phố tôi ở là Nanyang. Họ như những con chiên không có người chăn. Mẹ tôi cũng phải rời khỏi Hội Thánh. Qua những thế hệ sau, vì hoàn toàn đói khát về sự thông công với các tín hữu và không có Lời Chúa. Mẹ tôi quên hầu hết những gì bà đã học khi bà còn trẻ. Sự tương giao với Chúa đã trở nên ngụi lạnh.

* * *

Vào ngày 1 tháng Chín năm 2001 – đúng một trăm năm kể từ ngày mà cô Marie Monsen lần đầu tiên đến Trung quốc để truyền giáo – có trên ba trăm Cơ đốc nhân người Thụy điển đến tụ tập tại nghĩa địa Bergen để cầu nguyện và làm mt buổi lễ hiến dâng. Một mộ bia mới được đặt lên để tưởng nhớ cô Monsen đã trả giá cho việc đóng góp của bà vào các Hi Thánh và những cá nhân người Cơ đốc.

Hình cô Monsen và tên cô bằng tiếng Trung Hoa được xuất hiện trên mộ bia như sau:

Marie Monsen 1878 -1962
Giáo sĩ tại Trung Quốc 1901-1932

Chương Hai

Người Đói Khát Được No Bụng

‘Hỡi các cù lao, hãy nghe ta! Hỡi các dân xa lạ hãy ghé tai! Đức Giê-hô-va đã gọi ta từ trong bụng mẹ đã nói đến danh ta từ lòng dạ mẹ ta.’ (Ê-sai 49:1)

Chúa đã gọi tôi theo Ngài lúc tôi mới 16 tuổi. Năm đó là năm 1974, và cuộc Cách mạng văn hóa vẫn còn dữ di khắp Trung Hoa.

Lúc đó cha tôi bị đau. Ông bị xuyễn rất nặng, nó làm cho ông bị ung thư phổi. Ung thư đó đã lây ra bao tử của ông. Bác sĩ cho hay ông không thể cứu được nữa và sẽ chết, và nói với mẹ tôi: ‘Không còn hy vọng gì cho chồng bà nữa, hãy về lo sửa soạn chôn cất.’

Mỗi đêm cha tôi nằm trên giường rất khó thở. Vì là người mê tín dị đoan nên cha tôi đã nhờ những người hàng xóm kiếm cho mt thầy phù thủy đến để tống khứ ma quỉ khỏi ông, vì ông tin rằng bệnh hoạn của ông là do kết quả của sự tức giận của ma quỉ.

Bệnh hoạn của cha tôi đã làm cho chúng tôi hết cả tiền của và sức lực. Bởi vì sự nghèo đói của chúng tôi mà tôi không được đến trường học cho tới khi tôi lên chín, rồi thì tôi phải nghỉ học lúc mười sáu tuổi vì bệnh ung thư của cha tôi. Anh chị tôi và tôi buc phải đi xin thức ăn tại hàng xóm và bạn bè để sống.

Cha tôi trước kia là Đại úy trong Quân đi Quốc gia, ông đã chiến đấu chống Cộng sản, những người ở làng khác và những ngươi bị hành hạ rât ghét ông trong cuc cách mạng văn hóa. Cha tôi đã giết rất nhiều người trong chiến trận và chính ông cũng súyt chết. Ông bị tất cả mười hai vết sẹo đạn bắn vào chân ông.

Khi tôi mới sanh, cha tôi đặt tên tôi là ‘Zhenying’ tên này có nghĩa là ‘Anh hùng của đơn vị đồn trú’
Cha tôi có tiếng là hay sợ sệt. Hàng xóm tránh né ông vì tính nết hung dữ của ông. Khi Đi Phòng vệ Đỏ đến để buc ti ông trong thời cách mạng văn hóa, ông phải chịu đựng nhiều cuc tra tấn đánh đập. Ông đã can đảm từ chối nhận ti và không trả lời khi hỏi đến việc ông đã giết bao nhiêu người. Ông cứng đầu thà là bị đánh hay là bị giết chứ không muốn nói cho chúng biết những gì chúng muốn nghe.

Có hai phương diện của cha tôi. Hầu hết mọi người đều biết cha tôi cực kỳ cứng rắn và nóng tính. Điều đó là đúng. Ông đã răn dạy các con hai điều chính yếu: thứ nhất là phải tàn bạo và cứng rắn với kẻ khác, thứ hai là luôn luôn phải làm việc tích cực.

Nhưng tôi cũng còn nhớ về mặt hòa nhã của ông. Ông luôn luôn che chở vợ con từ những hãm hại bên ngoài. Nói chung là tôi rất gần với cha tôi. Tôi hy vọng cha tôi sức khỏe khá hơn, nhưng trường hợp còn tồi tệ hơn. Mẹ tôi ở trong thế nặng nề, đối diện với những viễn tượng nản chí phải mt mình nuôi nấng năm đứa con. Bà không biết những gì sẽ xảy đến cho chúng tôi nếu cha tôi chết. Mọi sự đều vô vọng đến nỗi bà dự định tự vận.

Có một đêm khi mẹ tôi nằm trên giường, hoàn toàn thức giấc. Bất chợt bà nghe thấy rõ ràng tiếng nói dịu dàng đầy thương xót nói rằng: ‘Chúa Jê-sus yêu con.’ Bà quì gối xuống sàn và nước mắt trào ra hối lỗi và trao trọn vẹn cuc đời bà cho Chúa Jê-sus Christ. Giống như người con hoang đàng, mẹ tôi đã trở về nhà với Chúa. Ngay lập tức bà gọi hết mọi người trong gia đình đến và cầu nguyện với Chúa Jê-sus. Bà nói với chúng tôi ‘Chúa Jê-sus là nguồn hy vọng duy nhất của cha con.’ Tất cả mọi chúng tôi dâng cả đời sống cho Chúa khi chúng tôi biết sự việc đó xảy ra. Chúng tôi, mọi người đặt tay lên cha tôi trong đêm và lớn tiếng cầu nguyện: ‘Lạy Chúa Jê-sus, xin Ngài chữa lành cho cha con! Chúa Jê-sus ơi xin Ngài chữa cho cha con!’

Ngay sáng sớm hôm sau cha tôi thấy khỏe hẳn lại! Đây là lần đầu tiên trong những tháng dài ông ăn đã thấy ngon miệng. Trong vòng một tuần lễ cha tôi bình phục hoàn toàn và không còn dấu vết gì là bị ung thư! Thật là một phép lạ vĩ đại từ nơi Chúa.

Chúng tôi đã kinh nghiệm được sự phấn hưng từ nơi Chúa trong gia đình và đời sống của chúng tôi đã thay đổi mt cách mạnh mẽ. Thật đó là mt thời gian tác đng mạnh trong ngày hôm đó vì gần 30 năm sau khi Chúa Jê-sus chữa lành bệnh cho cha tôi, tất cả năm người con của ông vẫn còn theo Chúa.

Cha mẹ tôi rất đi ơn Chúa về những điều Ngài đã làm và cha mẹ tôi đã tức thì làm chứng tin vui này cho mọi người trong làng. Vào những ngày đó tụ họp là bất hợp pháp, nhưng cha mẹ tôi nghĩ ra mt chương trình là sai chúng tôi đi mời họ hàng bè bạn đến nhà chúng tôi.

Mọi người đến nhà chúng tôi cũng không biết lý do gì được mời đến. Nhiều người đoán chắc là cha tôi chết, do đó họ đã mặc quần áo chỉnh tề để dự đám tang! Họ rất ngạc nhiên là thấy cha tôi ra chào đón họ ở ngoài cửa, trông b thật khỏe mạnh! Khi tất cả họ hàng và bạn bè đã đến đông đủ, cha mẹ tôi mới mời họ vô trong nhà. Khóa cửa và che cửa sổ lại rồi cha mẹ tôi mới giải thích rằng cha tôi hoàn toàn được chữa lành bởi sự cầu nguyện với Chúa Jê-sus. Tất cả họ hàng bạn bè đều quì gối xuống sàn nhà và vui mừng tiếp nhận Chúa Jê-sus là Chúa là Chủ của họ.

Những giây phút đó thật là lý thú. Không những tôi tiếp nhận Chúa Jê-sus là Cứu Chúa của đời sống tôi nhưng tôi cũng còn trở nên một người thực sự muốn hầu việc Ngài với tất cả tấm lòng.

Mẹ tôi chưa bao giờ học đọc và viết chữ, nhưng bà đã trở nên mt người giảng lời Chúa trong làng. Bà đã hướng dẫn một Hi Thánh nhỏ trong nhà chúng tôi. Mặc dù còn nhỏ tôi không thể nhớ nhiều lời Chúa nhưng mẹ tôi luôn luôn cổ vũ chúng tôi hướng về Chúa Jê-sus. Khi mà chúng tôi lớn tiếng kêu cầu Chúa thì Chúa Jê-sus giúp đỡ chúng tôi với lòng thương xót của Ngài. Nhìn trở lại những ngày đó mới đây, tôi rất đỗi ngạc nhiên sao Chúa đã sử dụng mẹ tôi mặc dù bà vô học và chẳng biết gì cả. Chí hướng trong lòng bà hoàn toàn trao cho Chúa Jê-sus. Có mt vài giới lãnh đạo các Hội Thánh Tư gia tại Trung quốc gặp Chúa lần đầu tiên cũng do lời giảng của mẹ tôi.

Lúc đầu tôi thực sự không biết Chúa Jê-sus là ai, nhưng khi nhìn thấy Chúa chữa lành bệnh cho cha tôi và giải phóng gia đình tôi. Tôi hiến dâng cuc đời tôi một cách tin tưởng cho Chúa, Đấng đã chũa lành cho cha tôi và cứu tôi. Trong thời gian ấy, tôi thường hỏi mẹ tôi Chúa Jê-sus thực sự là ai. Bà trả lời :’Chúa Jê-sus là Con của Đức Chúa Trời, Ngài đã chết trên thập tự giá vì chúng ta, gánh lấy hết ti-lỗi và bệnh tật của chúng ta. Ngài đã ghi tất cả những điều dạy dỗ của Ngài trong Kinh thánh.’

Tôi hỏi rằng có những lời nào của Chúa Jê-sus còn lại để tôi có thể đọc được không. Bà trả lời: ‘Không, tất cả những lời ấy đã bị mất rồi. Không có gì còn lại qua lời của Ngài. Đó là vì trong thời kỳ cách mạng văn hóa Kinh thánh không còn thấy nữa.’

Kể từ ngày đó tôi thiết tha mong muốn có mt cuốn Kinh thánh của riêng tôi. Tôi hỏi mẹ tôi và các bạn Cơ đốc rằng cuốn Kinh thánh hình thù nó giống ra sao, nhưng chẳng ai biết cả. Có một người đã trông thấy một khúc Thánh kinh viết tay và các tờ bài hát nhưng chưa bao giờ được thấy nguyên cuốn Kinh thánh. Chỉ có một vài Cơ đốc nhân già cả có thể nhớ lại đã nhìn thấy Kinh thánh nhiều năm trước đây. Lời của Chúa thật là hiếm hoi trong ni địa.Tôi thật thèm khát có được một cuốn Kinh thánh. Nhìn thấy sự thất vọng của tôi, mẹ tôi nhớ lại có mt ông cụ già sống ở làng bên.

Ông đã là một Mục sư trước ngày cách mạng văn hóa.
Hai mẹ con tôi bắt đầu đi b thật xa đến được nhà ông. Khi thấy ông, mẹ tôi nói với ông lòng khao khát của chúng tôi:

‘Chúng tôi mong chờ hoài để được nhìn thấy cuốn Kinh thánh, cụ có cuốn nào không?’

Tức thì ông nhìn chúng tôi một cách sợ hãi. Ông già này đã bị gần 20 năm trong tù vì đức tin của ông. Ông nhìn tôi và nhìn thấy tôi còn trẻ và nghèo nàn, với b quần áo rách tả tơi đi chân không. Ông già cảm thấy thương hại nhưng cũng vẫn không muốn cho tôi thấy cuốn Kinh thánh của ông.

Tôi không trách cứ gì ông bởi vì trong những ngày ấy tại Trung quốc Kinh thánh rất hiếm. Không ai được phép đọc bất cứ sách nào ngoại trừ cuốn sách nhỏ màu đỏ của Mao. Nếu thấy ai đọc Kinh thánh thì Kinh thánh sẽ bị đốt và người có cuốn Kinh thánh với cả gia đình sẽ bị đánh đập tàn nhẫn ngay trước mặt làng xóm.

Vị Mục sư cao niên chỉ vẻn vẹn nói với tôi: ‘Cuốn Kinh thánh là mt cuốn sách Thánh, nếu cháu muốn có một cuốn thì cháu cần phải cầu nguyện với Chúa ở trên Thiên đàng. Thì Ngài sẽ cung cấp cho cháu cuốn sách Thánh ấy. Chúa là thành tín. Ngài luôn luôn nhậm lời khi ai tìm kiếm Ngài với tất cả tấm lòng.

Tôi hoàn toàn tin tưởng ở lời của vị Mục sư này.

Khi tôi trở về nhà, tôi vác một hòn đá vào trong phòng tôi và quì lên đó cầu nguyện vào mỗi chiều tối. Tôi chỉ cầu nguyện có mt điều đơn giản: ‘Chúa ơi, Chúa làm ơn cho con cuốn Kinh thánh, A-men.’ Lúc đó tôi không biết cách cầu nguyện ra làm sao, nhưng tôi cứ tiếp tục hơn một tháng.

Không có gì xảy ra cả. Kinh thánh cũng không thấy xuất hiện.

Tôi trở lại nhà của vị Mục sư đó nữa. Lần này tôi đi một mình. Tôi nói với cụ: ‘Cháu đã cầu nguyện Chúa theo như lời cụ dạy, nhưng cháu vẫn chưa nhận được cuốn Kinh thánh mà cháu rất cần. Cụ ơi, cụ làm ơn cho cháu thấy cuốn Kinh thánh ra sao đi, chỉ liếc mắt nhìn thôi cháu cũng mãn nguyện rồi! Cháu cũng không cần sờ vào cuốn đó nữa. Cụ cứ giữ lấy nó. Cháu cũng hả lòng khi được nhìn thấy cuốn sách đó. Nếu cháu có thể chép được một vài câu thì cháu sẽ sung sướng khi về nhà.’

Vị Mục sư này nhìn thấy lòng áy náy của tôi. Cụ lại nói với tôi thêm nữa: ‘Nếu cháu thực lòng, thì từ nay cháu khỏi cần quì gối cầu nguyện với Chúa nữa, nhưng cháu phải kiêng ăn và khóc với Chúa. Cháu càng khóc nhiều chừng nào thì cháu sẽ có cuốn Kinh thánh sớm chừng đó.’

Tôi trở về nhà, mổi sáng và mỗi chiều tôi chẳng ăn uống gì. Mỗi buổi chiều tôi chỉ húp có chút ít cháo hoặc ăn chút cơm. Tôi kêu gào khóc lóc như đứa trẻ đối với Cha nó trên Thiên đàng là muốn được đầy lời dạy dỗ của Cha. Một trăm ngày sau, tôi cầu nguyện xin mt cuốn Kinh thánh cho tới chừng tôi không thể chịu đựng nổi được nữa. Cha mẹ tôi tin chắc là tôi đã mất trí.

Nhìn lại những năm trước gần đây, tôi có thể nói rằng đây là những kinh nghiệm khó khăn nhất mà tôi đã từng chịu đựng.

Rồi thì bỗng nhiên mt buổi sáng lúc 4 giờ, sau nhiều tháng xin Chúa trả lời những lời cầu nguyện của tôi, tôi đã được nhìn thấy một khải tượng từ nơi Chúa trong lúc tôi quì gối bên cạnh giường. Trong khải tượng ấy tôi thấy tôi đang leo lên mt ngọn đồi, cố đẩy mt chiếc xe phía trước tôi. Tôi hướng về một làng nơi này tôi dự định xin thức ăn cho gia đình tôi. Tôi cố sức vật ln vì đói và yếu và đã chịu đựng khi kiêng ăn. Chiếc xe gần như tụt xuống đè lên tôi.

Lúc đó tôi thấy có ba người đang đi tới xuống đồi hướng nghịch về phía tôi. Có một người lớn tuổi thật tốt, ông để b râu quai nón dài đang đẩy mt xe đầy bánh bao nóng hổi. Hai người kia đi cặp hai bên xe. Khi ông già đó nhìn thấy tôi, ông rất thương hại tôi và để tỏ lòng thương xót, ông hỏi tôi: ‘Cháu có đói không?’ Tôi trả lời: ‘Thưa có, cháu chẳng có gì để ăn cả. Cháu đang đi xin thức ăn cho gia đình cháu.’Tôi khóc vì gia đình quá nghèo. Vì cha tôi bị bệnh, chúng tôi đã bán hết mọi thứ đáng giá để mua thuốc cho cha tôi. Chúng tôi còn chút ít tiền để sống, và cũng đã nhiều năm nay chúng tôi đã buc phải đi xin thức ăn từ các bạn bè và hàng xóm. Khi mà ông già đó hỏi tôi, tôi có đói không, tôi không thể đừng được mà bật lên tiếng khóc. Tôi chưa bao giờ thấy mt tình yêu chân thật và lòng trắc ẩn của bất kỳ người nào trước đây như vậy.

Trong khải thị đó, ông già cầm một bao đỏ có bánh từ trong chiếc xe ra và bảo hai người hầu cận trao cho tôi. Ông nói: ‘Cháu phải ăn ngay đi.’

Tôi liền mở bao ra và nhìn thấy một chiếc bánh bao còn nóng hổi bên trong. Khi tôi bỏ chiếc bánh vô miệng, bất chợt nó trở thành cuốn Kinh thánh! tôi thấy tôi bất thình lình qùy xuống với cuốn Kinh thánh và lớn tiếng cảm tạ ơn Chúa. ‘Chúa ơi, Danh Chúa đáng tôn thờ! Chúa không coi thường lời cầu nguyện của con. Chúa đã cho phép con có được cuốn Kinh thánh này. Con muốn hầu việc Chúa suốt cuc đời còn lại của con.’

Tôi thức dậy bắt đầu đi kiếm cuốn Kinh thánh trong nhà. Mọi người trong nhà đều ngủ cả. Khải thị tôi thấy thật là rõ rệt khi tôi thể hiện thì nó chỉ là mt giấc mộng, tôi thật là đau khổ, tôi khóc thật là lớn. Cha mẹ tôi vi chạy ùa vô phòng tôi để xem việc gì đã xẩy ra. Cha mẹ tôi cho rằng tôi phát khùng vì tôi đã nhịn ăn để cầu nguyện . Tôi kể lại cho cha mẹ tôi về khải thị đó của tôi, nhưng khi tôi càng chia xẻ thì cha mẹ tôi lại càng cho tôi là điên khùng! Mẹ tôi nói: ‘Trời chưa sáng, chưa có ai đến nhà mình. Cửa còn khóa kỹ.’

Cha tôi ôm chặt lấy tôi. Với nước mắt trào ra, ông khóc với Chúa. ‘Chúa kính yêu ơi, xin Chúa thương xót con của con. Xin Chúa đừng để cho con của con mất trí. Con sẵn lòng bị bệnh trở lại nếu việc đó làm cho con của con khỏi mất trí. Xin Chúa háy cho con của con mt cuốn Kinh thánh!’

Cha tôi, mẹ tôi và tôi quì xuống tay trong tay và cùng khóc.

Bất thình lình tôi nghe thấy tiếng gõ cửa yếu ớt. Một tiếng nói êm dịu gọi tên tôi. Tôi vi chạy đến và hỏi qua cửa khóa: ‘Ông mang bánh đến cho tôi hả?’ Tiếng nói êm dịu trả lời: ‘Vâng, tôi mang đến mt bữa tiệc bánh cho cậu.’ Tức thì tôi nhận ra ngay tiếng nói đó y như tiếng nói tôi đã nghe trong khải tượng.

Tôi vi mở cửa ra thì đứng xững trư

Đọc Tiếp →