7,834 views

Hội Thánh – Phần 03: Các Chức Vụ – Chức Vụ Sứ Đồ

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này: https://www.opendrive.com/folders?MV85MDE2ODY2X1lpSWJi Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống mp3 bài này: https://od.lk/f/MV8zMzE5Mzg4Nl8 Bấm vào nút “play” ► để nghe: Huỳnh Christian Timothy Huỳnh Christian Priscilla Hội … Đọc Tiếp →

2,469 views 3,029 views

Hội Thánh – Phần 02: Nền Tảng và Thiên Chức

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này: https://www.opendrive.com/folders?MV85MDE2ODY2X1lpSWJi Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống mp3 bài này: https://www.opendrive.com/folders?MV85MDcwNjE0X0U1RW5p Bấm vào nút “play” ► để nghe: Bấm vào nút “play” ► để nghe: … Đọc Tiếp →

5,014 views

Hội Thánh – Phần 01: Tên Gọi, Ý Nghĩa, Đặc Tính

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này: https://www.opendrive.com/folders?MV85MDE2ODY2X1lpSWJi Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống mp3 bài này: https://www.opendrive.com/folders?MV85MDcwNjE0X0U1RW5p Bấm vào nút “play” ► để nghe: Bấm vào nút “play” ► để nghe: … Đọc Tiếp →

5,433 views 17,420 views

Ngày Chúa Chết và Ngày Chúa Phục Sinh (Phiên Bản Mới)

Huỳnh Christian Timothy Kính thưa quý bạn đọc: Bài này đã được viết vào ngày 31.7.2010, sau đó, đã được hiệu đính hai lần. Trong khi biên soạn tác phẩm “Kỳ Tận Thế,” chúng tôi thu thập được nhiều dữ … Đọc Tiếp →

3,100 views 7,617 views

Tóm Lược Lịch Sử Loài Người và Những Ứng Nghiệm của Các Lời Tiên Tri Trong Thánh Kinh

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?u9qccb42b2d1fsq

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
Trích từ Tác Phẩm “Kỳ Tận Thế”

Trong chương này, chúng tôi tổng hợp các dữ kiện trong Thánh Kinh, đối chiếu với các chi tiết của thế giới sử để trình bày biên niên sử loài người từ khi sáng thế cho đến khi dân I-sơ-ra-ên được hình thành, và biên niên sử của dân I-sơ-ra-ên từ khi được hình thành cho đến hiện tại. Dân I-sơ-ra-ên đã được Thiên Chúa chọn để hoàn thành chương trình và ý muốn của Ngài dành cho nhân loại. Dân I-sơ-ra-ên, vì thế, đã trở nên “chiếc đồng hồ lịch sử của nhân loại,” nghĩa là, nhìn vào dân I-sơ-ra-ên sẽ biết được khi nào thì kỳ tận thế sẽ đến.

Từ khi dân I-sơ-ra-ên chối bỏ Đức Chúa Jesus Christ là Cứu Chúa của nhân loại, tức là chối bỏ sự cứu rỗi của Thiên Chúa, thì Thiên Chúa tạm ngưng chương trình của Ngài đối với dân I-sơ-ra-ên và tiến hành sự cứu rỗi trong các dân tộc khác. Sứ Đồ Phao-lô đã tiên tri từ hơn 1900 năm trước:“Vả, hỡi anh em, tôi không muốn anh em chẳng biết sự mầu nhiệm nầy, e anh em tự cho mình khôn ngoan chăng: ấy là một phần dân I-sơ-ra-ên đã sa vào sự cứng lòng, cho đến chừng nào số dân ngoại nhập vào được đầy đủ; vậy thì, cả dân I-sơ-ra-ên sẽ được cứu, như có chép rằng: Đấng Giải cứu sẽ đến từ Si-ôn, cất sự vô đạo ra khỏi Gia-cốp; Ấy là sự giao ước mà Ta sẽ lập với họ, khi Ta xóa tội lỗi họ rồi” (Rô-ma 11:24-27).

Khi số người trong các dân tộc khác chịu tin nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa được đủ số thì cả dân I-sơ-ra-ên sẽ tiếp nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa. Chúng ta không biết con số dân ngoại tiếp nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa lên đến bao nhiêu thì gọi là “đủ số,” vì đó là một huyền nhiệm của Thiên Chúa. Nhưng chúng ta biết thời điểm “dân ngoại nhập vào được đầy đủ” con số những người tin nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa đã gần. Bởi vì, ngày 14 tháng 5 năm 1948, Thiên Chúa đã tiếp tục trở lại chương trình của Ngài đối với dân I-sơ-ra-ên. Trong một ngày, Thiên Chúa đã dựng lại Quốc Gia I-sơ-ra-ên trong một bối cảnh lịch sử tưởng chừng như đó là việc không thể xảy ra: “Ai đã hề nghe một sự thể nầy? Ai đã hề thấy sự gì giống như vậy? Nước há dễ sanh ra trong một ngày, dân tộc há dễ sanh ra trong một chặp? Mà Si-ôn mới vừa nằm nơi, đã sanh con cái” (Ê-sai 66:8). (Si-ôn là tên ngọn núi nơi Thủ Đô Giê-ru-sa-lem được xây dựng.) Đó là lời tiên tri về sự tái lập quốc I-sơ-ra-ên được chính Thiên Chúa tiên tri từ hơn 2700 năm trước, (Ê-sai được Thiên Chúa sai làm tiên tri cho dân I-sơ-ra-ên vào khoảng năm 767 TCN). Chiếc đồng hồ báo giờ kết thúc lịch sử tự trị đầy tội lỗi của toàn thể của nhân loại đã bắt đầu chạy lại sau hơn 1900 năm tạm thời đứng yên! Những chi tiết lịch sử trong chương này sẽ giúp quý bạn đọc thấy được sự chính xác tuyệt vời của các lời tiên tri trong Thánh Kinh.

Có ba loại lịch được dùng trong biên niên sử dưới đây. Thứ nhất là Lịch Julian (Julian Calendar). Thứ nhì là Lịch Do-thái (Hebrew Calendar). Thứ ba là Lịch Gregorian.

  • Lịch Julian: Được cải thiện từ một loại lịch của người La-mã và được Hoàng Đế Julius của La-mã đưa vào sử dụng từ năm 46 TCN. Châu Âu thời cổ dùng lịch này cho đến khi Lịch Gregorian được dùng và thông dụng khắp nơi như ngày nay. Trong biên niên sử này, các dữ kiện lịch sử trước năm 1583 được đánh dấu bằng Lịch Julian.
  • Lịch Do-thái: Được thiết lập vào khoảng năm 359 TCN. Lịch Do-thái bắt đầu với ngày 1 tháng Tishri (tháng 7) năm 1, nhằm thứ hai, ngày 7 tháng 10 năm 3761 TCN của Lịch Julian.
  • Lịch Gregorian: Còn được gọi là Tây Lịch, do Giáo Hoàng Gregory XIII của Công Giáo La-mã ra sắc lệnh ngày 24 tháng 2 năm 1582, đưa vào sử dụng. Ngày nay, Lịch Gregorian đã trở thành một thứ lịch quốc tế, được tất cả các quốc gia trên thế giới sử dụng. Trong biên niên sử này, các dữ kiện lịch sử từ năm 1583 được đánh dấu bằng Lịch Gregorian.

Trong sách này, thuật ngữ “Trước Công Nguyên” viết tắt là “TCN” được dùng để chỉ những năm trước năm 1 của Lịch Julian hoặc Lịch Gregorian. Để đơn giản, chúng tôi sẽ không dùng thuật ngữ “Công Nguyên,” viết tắt là “CN” đàng sau những năm từ năm 1 trở đi.

Giáo Hội Công Giáo cho rằng năm 1 Lịch Gregorian (tương đương năm 1 Lịch Julian) là năm sinh của Chúa nên gọi những năm từ năm 1 trở đi là “Trong Năm của Chúa,” trong tiếng La-tin là “Anno Domini,” viết tắt là AD. Những năm trước đó, được giới Cơ-đốc Giáo gọi là “Before Christ” trong tiếng Anh, viết tắt là BC, và khởi đếm từ 1 BC. Giữa năm 1 AD và năm 1 BC không có năm 0. Vì thế, từ năm 2 BC đến năm 2 AD là khoảng thời gian dài 2 năm. Hay nói cách khác, năm 1 AD cũng chính là năm 1 BC. Tuy nhiên, năm 1 không phải là năm Chúa giáng sinh, mà Chúa giáng sinh khoảng sáu năm trước đó, vào năm 7 BC. Vì sự tính sai đó mà cách dùng AD và BC trở thành vô nghĩa. Thay vào đó, cách dùng “Công Nguyên” (“Common Era” viết tắt là CE) và “Trước Công Nguyên” (“Before Common Era” viết tắt là BCE) hợp lý hơn. Công (common) là chung, Nguyên (era) là bắt đầu một thời đại. Công Nguyên là thời đại mà nhân loại bắt đầu dùng chung một thứ lịch.

Chúng tôi sử dụng nhu liệu hoán chuyển lịch từ website: http://www.abdicate.net/cal.aspx

Năm Julian: 4114 TCN

Thiên Chúa sáng tạo các tầng trời và đất cùng muôn vật trong các tầng trời và đất: “Ban đầu, Thiên Chúa sáng tạo các tầng trời và đất.” (Sáng Thế Ký 1:1)

Công trình sáng tạo kéo dài trong sáu ngày, ngày thứ bảy được Thiên Chúa ban phước và làm thành ngày yên nghỉ, tạo thành chu kỳ một tuần lễ bảy ngày: “Thiên Chúa thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ sáu” (Sáng Thế Ký 1:31). “Ngày thứ bảy, Thiên Chúa làm xong các công việc Ngài đã làm, và ngày thứ bảy, Ngài nghỉ các công việc Ngài đã làm. Rồi, Ngài ban phước cho ngày thứ bảy, đặt là ngày thánh; vì trong ngày đó, Ngài nghỉ các công việc đã sáng tạo và đã làm xong rồi.” (Sáng Thế Ký 2:2-3)

Thiên Chúa dựng nên loài người và ban cho loài người một thân thể bằng vật chất: “Giê-hô-va Thiên Chúa bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh.” (Sáng Thế Ký 2:7)

Năm Julian: 3984 TCN

A-đam sinh ra Sết: “Vả, A-đam được một trăm ba mươi tuổi, sanh một con trai giống như hình tượng mình, đặt tên là Sết.” (Sáng Thế Ký 5:3)

Năm Julian: 3879 TCN

Sết sinh ra Ê-nót: “Sết được một trăm năm tuổi, sanh Ê-nót.” (Sáng Thế Ký 5:6)

Năm Julian: 3789 TCN

Ê-nót sinh ra Kê-nan: “Ê-nót được chín mươi tuổi, sanh Kê-nan.” (Sáng Thế Ký 5:9)

Năm Do-thái: 1
Năm Julian: 3761 TCN

Lịch Do-thái bắt đầu với ngày 1 tháng Tishri (tháng 7) năm 1, nhằm thứ hai ngày 7 tháng 10 năm 3761 TCN của Lịch Julian.

Năm Do-thái: 42
Năm Julian: 3719 TCN

Kê-nan sinh ra Ma-ha-la-le: “Kê-nan được bảy mươi tuổi, sanh Ma-ha-la-le.” (Sáng Thế Ký 5:12)

Năm Do-thái: 107
Năm Julian: 3654 TCN

Ma-ha-la-le sinh ra Giê-rệt: “Ma-ha-la-le được sáu mươi lăm tuổi, sanh Giê-rệt.” (Sáng Thế Ký 5:15)

Năm Do-thái: 269
Năm Julian: 3492 TCN

Giê-rệt sinh ra Hê-nóc: “Giê-rệt được một trăm sáu mươi hai tuổi, sanh Hê-nóc.” (Sáng Thế Ký 5:18)

Năm Do-thái: 334
Năm Julian: 3427 TCN

Hê-nóc sinh ra Mê-tu-sê-la: “Hê-nóc được sáu mươi lăm tuổi, sanh Mê-tu-sê-la.” (Sáng Thế Ký 5:21)

Năm Do-thái: 521
Năm Julian: 3240 TCN

Mê-tu-sê-la sinh ra Lê-méc: “Mê-tu-sê-la được một trăm tám mươi bảy tuổi, sanh Lê-méc.” (Sáng Thế Ký 5:25)

Năm Do-thái: 577
Năm Julian: 3184 TCN

A-đam qua đời: “Vậy, A-đam hưởng thọ được chín trăm ba mươi tuổi, rồi qua đời.” (Sáng Thế Ký 5:5)

Năm Do-thái: 634
Năm Julian: 3127 TCN

Hê-nóc được Thiên Chúa cất ra khỏi thế gian:
“Vậy Hê-nóc hưởng thọ được ba trăm sáu mươi lăm tuổi. Hê-nóc đồng đi cùng Thiên Chúa, rồi mất biệt, bởi vì Thiên Chúa tiếp người đi.” (Sáng Thế Ký 5:23-24)

Bởi đức tin, Hê-nóc được cất lên và không hề thấy sự chết; người ta không thấy người nữa, vì Đức Chúa Trời đã tiếp người lên. Bởi chưng trước khi được tiếp lên, người đã được chứng rằng mình ở vừa lòng Đức Chúa Trời rồi.”(Hê-bơ-rơ 11:5)

Hê-nóc tiêu biểu cho sự kiện: Hội Thánh của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jesus Christ , bao gồm những người trung tín đồng đi với Chúa, tức là hết lòng sống theo Lời Chúa, là Thánh Kinh, cũng sẽ được Đức Chúa Trời đem ra khỏi thế gian trước bảy năm đại nạn của kỳ tận thế. Khải Huyền 3:10 khẳng định: “Vì ngươi đã giữ lời của sự nhẫn nại Ta, Ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách là giờ sẽ đến trên mọi người trong thế gian để thử nghiệm những kẻ ở trên đất.”

Năm Do-thái: 703
Năm Julian: 3058 TCN

Lê-méc sinh ra Nô-ê: “Lê-méc được một trăm tám mươi hai tuổi, sanh một trai, đặt tên là Nô-ê, mà nói rằng: Đứa nầy sẽ an ủy lòng ta về công việc và về sự nhọc nhằn mà đất bắt tay ta phải làm, là đất Đức Giê-hô-va đã rủa sả.” (Sáng Thế Ký 5:28-29)

Năm Do-thái: 1205
Năm Julian: 2556 TCN

Nô-ê sinh ra Sem. Sáng Thế Ký 5:32 chép: “Còn Nô-ê, khi đến năm trăm tuổi, sanh Sem, Cham, và Gia-phết;” là nói một cách tổng quát rằng, khi Nô-ê được 500 tuổi thì ông bắt đầu sinh con, rồi liệt kê tên ba người con của ông. Điều đó không có nghĩa là khi Nô-ê được 500 tuổi thì cùng một lúc sinh được ba người con. Sáng Thế Ký 11:10 cho biết, hai năm sau cơn nước lụt, Sem mới được 100 tuổi, trong khi đó, cơn nước lụt xảy ra lúc Nô-ê được 600 tuổi (Sáng Thế Ký 7:6). Vậy, Sem phải được sinh ra khi Nô-ê được 502 tuổi [1].

Năm Do-thái: 1303
Năm Julian: 2458 TCN

Mê-tu-sê-la qua đời: “Vậy, Mê-tu-sê-la hưởng thọ được chín trăm sáu mươi chín tuổi, rồi qua đời.” (Sáng Thế Ký 5:27)

Nô-ê được 600 tuổi. Vào ngày 17 tháng tháng 2, Cơn Lụt Lớn xảy ra hủy diệt mọi sinh vật trên đất, trừ gia đình Nô-ê tám người và các loài sinh vật đã vào trong một chiếc tàu lớn do Thiên Chúa sai ông đóng nên: “Nhằm năm sáu trăm của đời Nô-ê, tháng hai, ngày mười bảy, chánh ngày đó, các nguồn của vực lớn nổ ra, và các đập trên trời mở xuống; mưa sa trên mặt đất trọn bốn mươi ngày và bốn mươi đêm. Lại cũng trong một ngày đó, Nô-ê với vợ, ba con trai: Sem, Cham và Gia-phết, cùng ba dâu mình đồng vào tàu.” (Sáng Thế Ký 7:11-13)

Nô-ê tiêu biểu cho sự kiện: Trong bảy năm đại nạn của kỳ tận thế, là lúc Hội Thánh của Chúa đã được cất ra khỏi thế gian, sẽ có nhiều người tin Chúa được cứu khỏi các tai nạn. Sau cơn đại nạn, họ sẽ trở thành những công dân của vương quốc Ngàn Năm Bình An trên đất, cai trị bởi Đức Chúa Jesus Christ và Hội Thánh của Ngài. Từ nơi họ, loài người sẽ tiếp tục được sinh ra trong suốt một ngàn năm để làm đầy đất.

Năm Do-thái: 1304
Năm Julian: 2457 TCN

Ngày 1 tháng 1 năm thứ 601 của đời Nô-ê, nước lụt lui đi, mặt đất khô lại: “Nhằm năm sáu trăm một của đời Nô-ê, ngày mồng một, tháng Giêng, nước đã giựt bày mặt đất khô; Nô-ê bèn giở mui tàu mà nhìn; nầy, mặt đất đã se.” (Sáng Thế Ký 8:13)

Đến ngày 27 tháng 2 thì mặt đất hoàn toàn khô hẵn. Thiên Chúa phán truyền cho gia đình Nô-ê và các loài sinh vật ra khỏi tàu: “Đến tháng hai, ngày hai mươi bảy, đất đã khô rồi. Thiên Chúa bèn phán cùng Nô-ê rằng: Hãy ra khỏi tàu, ngươi, vợ các con và các dâu ngươi. Hãy thả ra với ngươi mọi vật sống của các xác thịt đã ở cùng ngươi: nào chim, nào thú, nào côn trùng bò trên đất, hầu cho chúng nó sanh sản, và thêm nhiều trên mặt đất” (Sáng Thế Ký 8:14-19).

Năm Do-thái: 1305
Năm Julian: 2456 TCN

Sem sinh ra A-bác-sát: “Đây là dòng dõi của Sem: Cách hai năm, sau cơn nước lụt, Sem được một trăm tuổi, sanh A-bác-sát” (Sáng Thế Ký 11:10).

Năm Do-thái: 1340
Năm Julian: 2421 TCN

A-bác-sát sinh ra Sê-lách: “A-bác-sát được ba mươi lăm tuổi, sanh Sê-lách.” (Sáng Thế Ký 11:12)

Năm Do-thái: 1370
Năm Julian: 2391 TCN

Sê-lách sinh ra Hê-be: “Sê-lách được ba mươi tuổi, sanh Hê-be.” (Sáng Thế Ký 11:14)

Năm Do-thái: 1404
Năm Julian: 2357 TCN

Hê-be sinh ra Bê-léc: “Hê-be được ba mươi bốn tuổi, sanh Bê-léc.” (Sáng Thế Ký 11:16)

Bê-léc có nghĩa là “chia.” Sáng Thế Ký 10:25 cho biết trong đời Bê-léc đất được chia ra. Sự chia đất này có thể là sự đất tách rời thành các đại lục như chúng ta biết ngày hôm nay. Cũng có thể là sự phân tán các dân tộc và định biên giới cho họ:

Sáng Thế Ký 10:32 “Ấy là các họ hàng của ba con trai Nô-ê tùy theo đời và dân tộc của họ; lại cũng do nơi họ mà các dân chia ra trên mặt đất sau cơn nước lụt.”

Sáng Thế Ký 11:8-9 “Rồi, từ đó Đức Giê-hô-va làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ thôi công việc xây cất thành. Bởi cớ đó đặt tên thành là Ba-bên, vì nơi đó Đức Giê-hô-va làm lộn xộn tiếng nói của cả thế gian, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất.”

Phục Truyền Luật Lệ Ký 32:8 “Khi Đấng Chí Cao phân phát sản nghiệp cho muôn dân, phân rẽ những con cái A-đam, thì Ngài định bờ cõi của các dân.”

Công Vụ Các Sứ Đồ 17:26-27 “Ngài đã làm cho muôn dân sanh ra bởi chỉ một người, và khiến ở khắp trên mặt đất, định trước thì giờ đời người ta cùng giới hạn chỗ ở, hầu cho tìm kiếm Chúa, và hết sức rờ tìm cho được, dẫu Ngài chẳng ở xa mỗi một người trong chúng ta.”

Năm Do-thái: 1434
Năm Julian: 2327 TCN

Bê-léc sinh ra Rê-hu: “Bê-léc được ba mươi tuổi, sanh Rê-hu.” (Sáng Thế Ký 11:18)

Năm Do-thái: 1466
Năm Julian: 2295 TCN

Rê-hu sinh ra Sê-rúc: “Rê-hu được ba mươi hai tuổi, sanh Sê-rúc.” (Sáng Thế Ký 11:20)

Năm Do-thái: 1496
Năm Julian: 2265 TCN

Sê-rúc sinh ra Na-cô: “Sê-rúc được ba mươi tuổi, sanh Na-cô.” (Sáng Thế Ký 11:22)

Năm Do-thái: 1525
Năm Julian: 2236 TCN

Na-cô sinh ra Tha-rê: “Na-cô được hai mươi chín tuổi, sanh Tha-rê.” (Sáng Thế Ký 11:24)

Năm Do-thái: 1595
Năm Julian: 2166 TCN

Tha-rê sinh ra Áp-ram: “Còn Tha-rê được bảy mươi tuổi, sanh Áp-ram, Na-cô và Ha-ran.” (Sáng Thế Ký 11:26)

Năm Do-thái: 1605
Năm Julian: 2156 TCN

Sa-rai, vợ của Áp-ram được sinh ra. Chiết tính theo chi tiết trong Sáng Thế Ký 17:17, cho biết, lúc Áp-ram được 100 tuổi thì Sa-ra được 90 tuổi.

Năm Do-thái: 1653
Năm Julian: 2108 TCN

Nô-ê qua đời lúc Áp-ram được 58 tuổi:“Sau khi lụt, Nô-ê còn sống ba trăm năm mươi năm. Vậy, Nô-ê hưởng thọ được chín trăm năm mươi tuổi, rồi qua đời.” (Sáng Thế Ký 9:28-29

Năm Do-thái: 1670
Năm Julian: 2091 TCN

Áp-ram lúc 75 tuổi, cùng với cháu mình là Lót, rời Cha-ran, theo tiếng gọi của Thiên Chúa: “Vả, Đức Giê-hô-va có phán cùng Áp-ram rằng: Ngươi hãy ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho. Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước cho ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước. Rồi Áp-ram đi, theo như lời Đức Giê-hô-va đã phán dạy; Lót đồng đi với người. Khi Áp-ram ra khỏi Cha-ran, tuổi người được bảy mươi lăm. Áp-ram dẫn Sa-rai, vợ mình, Lót, cháu mình, cả gia tài đã thâu góp, và các đầy tớ đã được tại Cha-ran, từ đó ra, để đi đến xứ Ca-na-an; rồi, chúng đều đến xứ Ca-na-an.” (Sáng Thế Ký 12:1-5)

Năm Do-thái: 1680
Năm Julian: 2081 TCN

Áp-ram lấy A-ga, nữ nô lệ người Ai-cập của Sa-rai, làm vợ thứ: “Sau khi Áp-ram đã trú ngụ mười năm tại xứ Ca-na-an, Sa-rai, vợ người, bắt A-ga, là con đòi Ê-díp-tô mình, đưa cho chồng làm hầu. Người lại cùng con đòi, thì nàng thọ thai. Khi con đòi thấy mình thọ thai, thì khinh bỉ bà chủ mình.” (Sáng Thế Ký 16:3-4)

Năm Do-thái: 1681
Năm Julian: 2080 TCN

Ích-ma-ên, con trai của Áp-ram và A-ga được sinh ra “Vả lại, khi A-ga sanh Ích-ma-ên cho Áp-ram, thì Áp-ram đã được tám mươi sáu tuổi.” (Sáng Thế Ký 16:16)

Năm Do-thái: 1694
Năm Julian: 2067 TCN

Áp-ram được Thiên Chúa đổi tên thành Áp-ra-ham, lúc ông được 99 tuổi: “Khi Áp-ram được chín mươi chín tuổi, thì Đức Giê-hô-va hiện đến cùng người và phán rằng: Ta là Thiên Chúa toàn năng; ngươi hãy đi ở trước mặt Ta làm một người trọn vẹn… Thiên hạ chẳng còn gọi ngươi là Áp-ram nữa, nhưng tên ngươi là Áp-ra-ham, vì Ta đặt ngươi làm tổ phụ của nhiều dân tộc” (Sáng Thế Ký 17:1, 5). Áp-ra-ham có nghĩa là “cha của nhiều dân tộc.”

Vợ của Áp-ra-ham được đổi tên từ Sa-rai thành Sa-ra:“Thiên Chúa phán cùng Áp-ra-ham rằng: còn Sa-rai, vợ ngươi, chớ gọi là Sa-rai nữa; nhưng Sa-ra là tên người đó” (Sáng Thế Ký 17:15). Sa-ra có nghĩa là “công chúa.”

Thiên Chúa hứa với Áp-ra-ham, qua năm sau, Sa-ra sẽ sinh một con trai, đặt tên là I-sác mà Ngài sẽ lập giao ước đời đời cùng dòng dõi của I-sác, (sau này là dân I-sơ-ra-ên): “Thiên Chúa bèn phán rằng: Thật vậy, Sa-ra vợ ngươi, sẽ sanh một con trai, rồi ngươi đặt tên là I-sác. Ta sẽ lập giao ước cùng nó, để làm giao ước đời đời cho dòng dõi của nó.” (Sáng Thế Ký 17:19)

Thiên Chúa hứa với Áp-ra-ham, Ích-ma-ên sẽ trở nên tổ phụ của 12 chi tộc, (sau này là dân Ả-rập): “Ta cũng nhậm lời ngươi xin cho Ích-ma-ên. Nầy, ta ban phước cho người, sẽ làm cho người sanh sản và thêm nhiều quá-bội; người sẽ là tổ phụ của mười hai vị công-hầu, và ta làm cho người thành một dân lớn.” (Sáng Thế Ký 17:20)

Thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ bị Thiên Chúa hủy diệt vì tội lỗi của cư dân: “Đoạn, Đức Giê-hô-va giáng mưa diêm sanh và lửa từ nơi Ngài trên trời sa xuống Sô-đôm và Gô-mô-rơ, hủy diệt hai thành nầy, cả đồng bằng, hết thảy dân sự cùng các cây cỏ ở nơi đất đó.” (Sáng Thế Ký 19:24-25)

Năm Do-thái: 1700
Năm Julian: 2061 TCN

I-sác thôi bú, A-ga và Ích-ma-ên bị đuổi ra khỏi gia đình Áp-ra-ham: “Áp-ra-ham dậy sớm, lấy bánh và một bầu nước, đưa cho A-ga; để các món đó trên vai nàng, và giao đứa trai cho nàng, rồi đuổi đi. Nàng ra đi, đi dông dài trong đồng vắng Bê-e-sê-ba.” (Sáng Thế Ký 21:14)

Năm Do-thái: 1732
Năm Julian: 2029 TCN

Sa-ra qua đời: “Sa-ra hưởng thọ được một trăm hai mươi bảy tuổi. Ấy là bao nhiêu năm của đời Sa-ra.” (Sáng Thế Ký 23:1)

Năm Do-thái: 1735
Năm Julian: 2026 TCN

I-sác kết hôn cùng Rê-bê-ca: “Vả, khi I-sác được bốn mươi tuổi, thì cưới Rê-bê-ca, con gái của Bê-tu-ên và em gái của La-ban, đều là dân A-ram, ở tại xứ Pha-đan-a-ram.” (Sáng Thế Ký 25:20)

Năm Do-thái: 1755
Năm Julian: 2006 TCN

I-sác sinh ra Ê-sau và Gia-cốp: “Đứa ra trước đỏ hồng, lông cùng mình như một áo tơi lông; đặt tên là Ê-sau. Kế em nó lại ra sau, tay nắm lấy gót Ê-sau; nên đặt tên là Gia-cốp. Khi sanh hai đứa con nầy thì I-sác đã được sáu mươi tuổi.” (Sáng Thế Ký 25:25-26)

Năm Do-thái: 1795
Năm Julian: 1966 TCN

Ê-sau kết hôn với Giu-đít: “Khi Ê-sau được bốn mươi tuổi, cưới Giu-đít, con gái của Bê -e-ri, người Hê-tít; và Bách-mát, con gái của Ê-lôn, cũng người Hê-tít.” (Sáng Thế Ký 26:34)

Năm Do-thái: 1875
Năm Julian: 1886 TCN

I-sác qua đời: “I-sác hưởng thọ được một trăm tám mươi tuổi.” (Sáng Thế Ký 35:28)

Năm Do-thái: 1885
Năm Julian: 1876 TCN

Gia-cốp di cư đến Ai-cập: “Đoạn, Giô-sép dẫn Gia-cốp, cha mình, đến yết-kiến Pha-ra-ôn. Gia-cốp chúc phước cho Pha-ra-ôn. Pha-ra-ôn hỏi Gia-cốp rằng: Ngươi hưởng thọ được bao nhiêu tuổi? Gia-cốp tâu rằng: Những năm tôi sống ở đời phiêu lưu hết thảy là một trăm ba mươi năm; các năm của đời tôi lấy làm ngắn-ngủi và lại nhọc nhằn, chẳng bằng những năm bình sanh của tổ phụ tôi khi người ở phiêu lưu đó.” (Sáng Thế Ký 47:7-9)

Năm Do-thái: 1902
Năm Julian: 1859 TCN

Gia-cốp qua đời: “Gia-cốp kiều ngụ trong xứ Ê-díp-tô được mười bảy năm, hưởng thọ được một trăm bốn mươi bảy tuổi.” (Sáng Thế Ký 47:28)

Năm Do-thái: 2315
Năm Julian: 1446 TCN

Dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ A-cập: “Vả, thì kiều ngụ của dân I-sơ-ra-ên tại xứ Ê-díp-tô được bốn trăm ba mươi năm. Khi mãn bốn trăm ba mươi năm rồi, thì, cũng trong ngày đó, các quân đội của Đức Giê-hô-va ra khỏi xứ Ê-díp-tô.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:40-41)

Thì kiều ngụ của dân I-sơ-ra-ên bắt đầu vào năm sáng thế 2238, khi Gia-cốp và các con trai mình di cư đến Ai-cập.

Dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai-cập vào thứ năm, ngày 15 tháng Nissan năm 2315 Lịch Do-thái, nhằm thứ năm, ngày 26 tháng 3 năm 1446 TCN Lịch Julian: “Ngày rằm tháng giêng, tức ngày sau lễ Vượt-qua, dân I-sơ-ra-ên ra đi từ Ram-se, cách dạn dĩ, có mắt của hết thảy người Ê-díp-tô thấy.” (Dân Số Ký 33:3).

Dựa vào I Các Vua 6:1 và dữ kiện lịch sử về việc Vua Sa-lô-môn lên ngôi năm 970 TCN mà chúng ta tính ra được năm dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai-cập nhằm năm 1446 TCN: “Xảy ra năm bốn trăm tám mươi, sau khi dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô, là năm thứ tư của Sa-lô-môn trị vì trên I-sơ-ra-ên, nhằm tháng Xíp, nghĩa là tháng thứ hai, thì người cất đền của Đức Giê-hô-va.”

Vua Sa-lô-môn lên ngôi năm 970 TCN tương đương với năm thứ 2791 Lịch Do-thái. Vậy, lấy năm thứ tư của đời vua Sa-lô-môn, tức là năm 2795 Lịch Do-thái trừ đi 480 năm, chúng ta sẽ có năm 2315 Lịch Do-thái, tương đương với năm 1446 Lịch Julian.

Như vậy, theo Thánh Kinh chúng ta có thể thiết lập được: từ khi A-đam được dựng nên cho đến khi Dân I-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập là 2668 năm. Chúng ta đi từ dữ kiện lịch sử năm lên ngôi của Vua Sa-lô-môn là năm 970 TCN Lịch Julian và I Các Vua 6:1 để tính ra năm 1446 Lịch Julian tương đương với năm 2668 Lịch Sáng Thế. Theo lịch sử, năm 1 của Lịch Do-thái tương đương với năm 3761 TCN của Lịch Julian, nên chúng ta biết dân I-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập vào năm 2315 Lịch Do-thái.

Chúng ta thấy: Ngày dân I-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập là đúng 430 năm kể từ khi Gia-cốp, tổ phụ của dân I-sơ-ra-ên di cư đến Ai-cập mà cũng đúng 480 năm nếu tính đến đời thứ tư của Vua Sa-lô-môn. Như vậy, dữ kiện lịch sử đã chứng minh lẽ thật của Thánh Kinh như đã ghi rõ trong Xuất Ê-díp-tô Ký 12:40-41 và I Các Vua 6:1.

Có một điểm trùng hợp quan trọng:Ngày Lễ Vượt Qua đầu tiên do chính Thiên Chúa thiết lập vào thứ tư, ngày 14 tháng Nissan năm 2315 Lịch Do-thái, nhằm thứ tư, ngày 25 tháng 3 năm 1446 TCN Lịch Julian. Đức Chúa Jesus Christ, Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng cất tội lỗi của thế gian, chết trên thập tự giá vào ngày Lễ Vượt Qua, thứ tư, ngày 14 tháng Nissan năm 3787 Lịch Do-thái, nhằm thứ tư, ngày 9 tháng 4 năm 27 Lịch Julian, làm ứng nghiệm ý nghĩa thuộc linh của Lễ Vượt Qua.

Trong vài bài giảng của chúng tôi, khi nói đến ngày Lễ Vượt Qua đầu tiên, chúng tôi đã nghĩ rằng, ngày 14 tháng Nissan là ngày Sa-bát. Sự suy nghĩ đó dựa trên Xuất Ê-díp-tô Ký 12:2: “Tháng nầy định làm tháng đầu cho các ngươi, tức là tháng Giêng trong quanh năm;” cho rằng, ngày mùng một của tháng Giêng phải là ngày thứ nhất (chủ nhật), và như vậy, các ngày 7, 14, 21, và 28 của tháng Giêng sẽ đương nhiên là ngày Sa-bát. Tuy nhiên, có lẽ Thiên Chúa đã phán với Môi-se nhằm ngày thứ năm trong tuần, và như vậy, ngày thứ nhất của tháng Giêng mới mà Thiên Chúa thiết lập cho dân I-sơ-ra-ên chính là ngày thứ năm, để bảo tồn sự chính xác của ngày Sa-bát từ khi sáng thế, dẫn đến ngày 14 tháng Nissan (tháng Giêng) của Lễ Vượt Qua đầu tiên là một ngày thứ tư. Sự kiện trùng lập của ngày Lễ Vượt Qua đầu tiên và ngày chết của Đức Chúa Jesus Christ cùng là thứ tư ngày 14 tháng Nissan là một dấu chứng mạnh mẽ cho giả thuyết lời phán của Thiên Chúa trong Xuất Ê-díp-tô Ký 12 với Môi-se nhằm ngày thứ năm trong tuần lễ.

Năm Do-thái: 2355
Năm Julian: 1406 TCN

Dân I-sơ-ra-ên tiến vào đất hứa Ca-na-an nhằm ngày 10 tháng Nissan năm 2355 Lịch Do-thái, và toàn thể dân sự chịu lễ cắt bì: “Ngày mồng mười tháng giêng, dân sự đi lên khỏi sông Giô-đanh, và đóng trại tại Ghinh-ganh, ở cuối phía đông Giê-ri-cô.” (Giô-suê 4:19)

Sau đó, dân I-sơ-ra-ên giữ Lễ Vượt Qua vào ngày 14 tháng Nissan năm 2355 Lịch Do-thái, kết thúc 40 năm bị Thiên Chúa đoán phạt phải lang thang trong hoang mạc. Qua ngày 15 tháng Nissan thì họ ăn thổ sản của xứ và ma-na không còn ban xuống từ trời cho họ nữa: “Dân I-sơ-ra-ên đóng trại tại Ghinh-ganh trong đồng bằng Giê-ri-cô, và giữ lễ Vượt qua nhằm ngày mười bốn tháng này, vào lối chiều tối. Ngày sau lễ Vượt qua, chánh này đó, dân sự ăn thổ sản của xứ, bánh không men, và hột rang. Ngày mà chúng đã ăn lúa mì của xứ, thì đến sáng mai ma-na hết; vậy, dân I-sơ-ra-ên không có ma-na nữa, nhưng trong năm đó ăn những thổ sản của Ca-na-an.” (Giô-suê 5:10-12)

Năm Do-thái: 2711
Năm Julian: 1050 TCN

Vua Sau-lơ lên ngôi, cai trị 40 năm [2].

Năm Do-thái: 2751
Năm Julian: 1010 TCN

Vua Đa-vít lên ngôi, cai trị 40 năm [2].

Năm Do-thái: 2791
Năm Julian: 970 TCN

Vua Sa-lô-môn lên ngôi, cai trị 40 năm [2].

Năm Do-thái: 2795
Năm Julian: 966 TCN

Đền thờ của Thiên Chúa, còn gọi là Đền Thờ Thứ Nhất, được Vua Sa-lô-môn khởi công xây cất: “Xảy ra năm bốn trăm tám mươi, sau khi dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô, là năm thứ tư của Sa-lô-môn trị vì trên I-sơ-ra-ên, nhằm tháng Xíp, nghĩa là tháng thứ hai, thì người cất đền của Đức Giê-hô-va.” (I Các Vua 6:1)

Năm Do-thái: 3039
Năm Julian: 722 TCN

Vương Quốc Israel bị hủy diệt bởi Đế Quốc A-si-ri (II Các Vua 17).

Năm Do-thái: 3174
Năm Julian: 587 TCN

Vương Quốc Giu-đa bị hủy diệt bởi Đế Quốc Ba-by-lôn (II Các Vua 24 và 25).

Thành Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ Thứ Nhất bị hủy diệt bởi Vua Nê-bu-cát-nết-xa của Đế Quốc Ba-by-lôn vào ngày 29 tháng 7 năm 587 TCN [3].

Năm Do-thái: 3223
Năm Julian: 538 TCN

Vua Si-ru của Vương Quốc Phe-rơ-sơ (I-ran ngày nay) xâm chiếm Ba-by-lôn và ra chiếu chỉ cho phép dân I-sơ-ra-ên được quay về, xây dựng lại tường thành Giê-ru-sa-lem và đền thờ: “Năm thứ nhất đời Si-ru, vua Phe-rơ-sơ trị vì, Đức Giê-hô-a muốn làm cho ứng nghiệm lời Ngài đã cậy miệng Giê-rê-mi mà phán ra, bèn cảm động lòng Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, rao truyền trong khắp nước mình, và cũng ra chiếu chỉ, mà rằng: Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, nói như vầy: Giê-hô-va Thiên Chúa đã ban cho ta các nước thế gian, và biểu ta xây cất cho Ngài một cái đền ở tại Giê-ru-sa-lem trong xứ Giu-đa. Trong các ngươi, phàm ai thuộc về dân sự Ngài, hãy trở lên Giê-ru-sa-lem; nguyện Giê-hô-va Thiên Chúa của người ấy ở cùng người!” (II Sử Ký 36:22-23)

Có 49,897 người I-sơ-ra-ên quay về Giê-ru-sa-lem xây dựng lại đền thờ [4].

Năm Do-thái: 3246
Năm Julian: 515 TCN

Đền thờ Thiên Chúa được hoàn tất, còn gọi là Đền Thờ Thứ Nhì: “Ngày thứ ba tháng A-đa, nhằm năm thứ sáu đời vua Đa-ri-út, cái đền nầy được xây cất xong.” (Ê-xơ-ra 6:15)

Năm Do-thái: 3304
Năm Julian: 457 TCN

Ngày 1 tháng Nissan năm 3304 Lịch Do-thái,nhằm ngày 26 tháng 3 năm 457 TCN Lịch Julian, E-xơ-ra từ Ba-by-lôn khởi hành về lại Giê-ru-sa-lem để thiết lập lại việc thờ phượng Thiên Chúa theo chiếu chỉ của Vua Ạt-ta-xét-xe, Vương Quốc Phe-rơ-sơ (E-xơ-ra 7:9).

Theo Đa-ni-ên 9:24-26, Đức Chúa Jesus Christ sẽ bị giết vào cuối của tuần thứ 69 trong 70 tuần Thiên Chúa đã định cho dân I-sơ-ra-ên kể từ ngày Vua Ạt-ta-xét-xe ra chiếu chỉ cho E-xơ-ra. Mỗi một tuần tương đương 7 năm: “Có bảy mươi tuần lễ định trên dân ngươi và thành thánh ngươi, đặng ngăn sự phạm phép, trừ tội lỗi, làm sạch sự gian ác, và đem sự công bình đời đời vào, đặng đặt ấn tín nơi sự hiện thấy và lời tiên tri, và xức dầu cho nơi rất thánh. Ngươi khá biết và hiểu rằng từ khi ra lịnh tu bổ và xây lại Giê-ru-sa-lem, cho đến Đấng chịu xức dầu, tức là vua, thì được bảy tuần lễ và sáu mươi hai tuần lễ; thành đó sẽ được xây lại, có đường phố và hào, trong kỳ khó khăn. Sau sáu mươi hai tuần lễ đó, Đấng chịu xức dầu sẽ bị trừ đi, và sẽ không có chi hết. Có dân của vua hầu đến sẽ hủy phá thành và nơi thánh; cuối cùng nó sẽ như bị nước lụt ngập, có sự tranh chiến cho đến cuối cùng; những sự hoang vu đã định.”

Như vậy, từ khi Vua Ạt-ta-xét-xe ra chiếu chỉ cho E-xơ-tê vào ngày 1 tháng Nissan năm 3304 Lịch Do-thái, cho đến khi Đức Chúa Jesus Christ, (Christ có nghĩa là Đấng chịu xức dầu) bị giết vào ngày 14 tháng Nissan năm 3787 Lịch Do-thái, là 69 tuần lễ, tương đương 483 năm. Ứng nghiệm lời tiên tri trong Đa-ni-ên 9:24-26.

Năm Do-thái: 3328
Năm Julian: 433 TCN

Ma-la-chi, tiên tri cuối cùng của Thời Cựu Ước [5].

Năm Do-thái: 3755
Năm Julian: 7 TCN

Đức Chúa Jesus giáng sinh tại Bết-lê-hem, xứ Giu-đa: “Lúc ấy, Sê-sa Au-gút-tơ ra chiếu chỉ phải lập sổ dân trong cả thiên hạ. Việc lập sổ dân nầy là trước hết, và nhằm khi Qui-ri-ni-u làm quan tổng đốc xứ Sy-ri. Ai nấy đều đến thành mình khai tên vào sổ. Vì Giô-sép là dòng dõi nhà Đa-vít, cho nên cũng từ thành Na-xa-rét, xứ Ga-li-lê, lên thành Đa-vít, gọi là Bết-lê-hem, xứ Giu-đê, để khai vào sổ tên mình và tên Ma-ri, là người đã hứa gả cho mình đương có thai. Đang khi hai người ở nơi đó, thì ngày sanh đẻ c

Đọc Tiếp → 2,674 views

Loài Người (03): Tâm Thần

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?cjhk9hc6rrr9krh

Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/1028

Huỳnh Christian Timothy

Dẫn Nhập

Trong bài thứ nhất, nói về nguồn gốc của loài người, chúng ta đã đề cập đến sự kiện Thiên Chúa sáng tạo nên loài người bằng cách:

  • Thiên Chúa dùng bụi của đất nắn nên thân thể vật chất của loài người.
  • Thiên Chúa thổi hơi thở sống của Ngài vào trong lỗ mũi của hình thể bụi đất.
  • Hình thể bụi đất trở nên một thân thể xác thịt, hơi thở sống của Thiên Chúa trở nên một thân thể thiêng liêng, gọi là tâm thần. Linh hồn loài người được sáng tạo trong giây phút tâm thần kết hợp với xác thịt. Linh hồn ở trong tâm thần và tâm thần ở trong xác thịt.

Trong câu chuyện về sự sáng tạo loài người, Thánh Kinh không cho chúng ta nhiều chi tiết. Tuy nhiên, theo thời gian, Thiên Chúa mạc khải cho loài người biết về bản thể, bản chất, và bản tính của loài người qua các phân đoạn khác nhau trong Thánh Kinh. Về bản thể (hình thể), loài người là một linh hồn sống được dựng nên theo hình Thiên Chúa. Về bản chất (chất liệu tạo nên bản thể), loài người ra từ bụi của đất và hơi thở sống của Thiên Chúa. Về bản tính (tính chất của bản thể), loài người được sáng tạo giống như Thiên Chúa, biết nhận thức, biết suy tư, biết cảm xúc, biết lựa chọn, và biết quyết định.

Bản chất xác thịt ra từ bụi đất thì chúng ta dễ dàng nhận thấy qua năm giác quan của xác thịt, còn bản chất thiêng liêng ra từ hơi thở sống của Thiên Chúa, tức là tâm thần ở trong thân thể xác thịt, thì chúng ta không thể nhìn thấy mà chỉ có thể nhận thức một cách siêu nhiên.

Qua thân thể xác thịt chúng ta nhận thức và giao tiếp với thế giới vật chất như thế nào thì qua thân thể thiêng liêng, là tâm thần, chúng ta cũng nhận thức và giao tiếp với thế giới thiêng liêng, thường gọi là thế giới thuộc linh, như thế ấy.

Từ ngữ “tâm thần” được dùng trong Thánh Kinh Việt ngữ, ở trong nguyên ngữ tiếng Hê-bơ-rơ của Thánh Kinh là “רוּח,” (rûach), /ru-ác-kh/, H7307 và ở trong nguyên ngữ tiếng Hy-lạp của Thánh Kinh là “πνεῦμα,” (pneuma), /niu-ma/, G4151. Hai từ ngữ này có nhiều nghĩa khác nhau, tùy theo văn mạch. Trước khi tìm hiểu về tâm thần của loài người, chúng ta cần biết qua các ý nghĩa của hai từ ngữ này khi chúng được dùng trong Thánh Kinh. Nhờ đó, chúng ta sẽ không bị lầm lẫn khi tìm hiểu những câu Thánh Kinh có hai từ ngữ này, và chúng ta sẽ hiểu rõ hơn sự quan hệ giữa tâm thần của loài người với Thiên Chúa Ngôi Thánh Linh và năng lực của Thiên Chúa là Thánh Linh.

Ý Nghĩa của “rûach” và “pneuma

Cả hai từ ngữ “rûach” và “pneuma” cùng được dịch sang tiếng Anh là “spirit,” bao gồm các nghĩa khác nhau, như sau:

1. Đức Thánh Linh: Thiên Chúa Ngôi Ba, còn gọi là “Thần của Thiên Chúa” (Sáng Thế Ký 1:2), “Thần của Đức Chúa Trời” (I Cô-rinh-tô 2:11), “Thần của Đức Chúa Jesus Christ” (Phi-líp 1:19), và “Đấng Thần Linh” (Công Vụ Các Sứ Đồ 16:7). Trong thời Cựu Ước thì Đức Thánh Linh chưa hề ngự trong thân thể của con dân Chúa mà Ngài chỉ tác động vào tâm thần và xác thịt của loài người để hoàn thành mọi ý muốn của Thiên Chúa. Trong thời Tân Ước thì Đức Thánh Linh ngự trong thân thể của con dân Chúa (I Cô-rinh-tô 3:16; 6:19), ban năng lực và ân tứ cho con dân Chúa để họ có thể sống theo điều răn và luật pháp của Thiên Chúa, làm trọn mọi việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho họ làm theo (Ê-phê-sô 2:10).

Khi Thiên Chúa Ngôi Ba hành động ở bên ngoài thân thể của loài người thì Thánh Kinh gọi là Đấng Thần Linh. Khi Thiên Chúa Ngôi Ba hành động bên trong thân thể loài người thì được Thánh Kinh gọi là Đức Thánh Linh để phân biệt với tâm thần của loài người và các tà linh xâm nhập vào thân thể loài người.

Ngày nay, trong các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần chuyên về “nói tiếng lạ” và “đặt tay té ngã” người ta nhân danh Đức Thánh Linh làm ra đủ thứ chuyện nhưng thật ra chỉ là năng lực đến từ tà linh, vì tất cả các hiện tượng “nói tiếng lạ” và “đặt tay té ngã” đó hoàn toàn không có trong Thánh Kinh. Sa-tan đã lợi dụng sự kiện ân tứ nói ngoại ngữ mà Đức Thánh Linh đã ban cho các môn đồ của Chúa, được ghi lại trong Công Vụ Các Sứ Đồ 2, để mạo xưng danh Đức Thánh Linh cho hiện tượng lấp ba lấp bấp một thứ âm thanh không phải là ngôn ngữ.

2. Thánh Linh: Năng lực của Thiên Chúa được thể hiện bởi Đức Thánh Linh, được ban cho loài người bởi Đức Thánh Linh. Chúng ta chớ lẫn lộn giữa Thánh Linh là năng lực của Thiên Chúa với Đức Thánh Linh là Ngôi Ba Thiên Chúa. Trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh, khi đề cập đến Ngôi Ba Thiên Chúa thì có thêm mạo từ xác định đứng trước từ ngữ “pneuma.” Khi không có mạo từ xác định đứng trước thì chỉ về năng lực của Thiên Chúa. Thánh Kinh Việt ngữ Bản Dịch Truyền Thống đã lẫn lộn rất nhiều giữa “Thánh Linh” và “Đức Thánh Linh.” Những lỗi này đã được sửa chữa trong Bản Hiệu Đính 2012.

3. Bản chất vô hình của Thiên Chúa: Trong Thánh Kinh Việt ngữ được dịch là “Thần.” Giăng 4:24 chép về bản chất của Đức Chúa Trời như sau: “Đức Chúa Trời là Thần. Những người thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong tâm thần và lẽ thật.” Chúng ta không thể nào hiểu được bản chất vô hình của Thiên Chúa cho đến khi chúng ta được đối diện với Ngài trong cõi đời đời (I Cô-rinh-tô 13:12). Qua sự mạc khải của Chúa trong Thánh Kinh, chúng ta chỉ biết rằng: Thiên Chúa là ánh sáng, Thiên Chúa là sự sống, và Thiên Chúa là tình yêu.

4. Bản chất vô hình của thiên sứ: Trong Thánh Kinh Việt ngữ được dịch là “thần linh” Hê-bơ-rơ 11:13-14 chép về bản chất của các thiên sứ như sau: “Ngài há có bao giờ phán cùng thiên sứ nào rằng: Hãy ngồi bên hữu Ta, cho đến chừng nào Ta để kẻ thù nghịch làm bệ dưới chân ngươi? Họ há chẳng phải đều là những thần linh hầu việc, đã được sai xuống để giúp việc những người sẽ hưởng cơ nghiệp cứu rỗi hay sao?”

5. Bản chất vô hình của tà linh: Tà linh là những thiên sứ phạm tội, có thể nhập vào thân thể xác thịt của loài người. Trong Thánh Kinh Việt ngữ được dịch là “ác thần,” “quỷ,” “tà ma,” “tà linh” hoặc “thần linh.” Những câu Thánh Kinh sau đây chép về sự kiện các tà linh nhập vào thân thể xác thịt của loài người:

I Sa-mu-ên 18:10 “Ngày mai, ác thần bởi Thiên Chúa khiến nhập vào Sau-lơ…”

Ma-thi-ơ 8:16 “Đến chiều, người ta đem cho Đức Chúa Jesus nhiều kẻ bị quỷ ám, Ngài lấy lời nói mà đuổi quỷ ra; cũng chữa được hết thảy những người bịnh.”

Lu-ca 4:33 “Vả, trong nhà hội có một người bị tà ma ám, cất tiếng kêu lớn lên rằng: Hỡi Jesus Na-xa-rét!”

I Phi-e-rơ 3:19 “Vả, Đấng Christ cũng vì tội lỗi chịu chết một lần, là Đấng công bình thay cho kẻ không công bình, để dẫn chúng ta đến cùng Đức Chúa Trời; về phần xác thịt thì Ngài đã chịu chết, nhưng tâm thần được sống. Bởi (tâm thần) đó, Ngài đã đi giảng cho các thần linh ở trong ngục.”

6. Bản chất vô hình của loài người: Trong Thánh Kinh Việt ngữ được dịch là “tâm thần.”

I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23 “Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Jesus Christ chúng ta đến!”

Hê-bơ-rơ 4:12 “Vì Lời Đức Chúa Trời là Lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi phân chia linh hồn, tâm thần, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng.”

Dù Thánh Kinh dùng cùng một từ ngữ để nói về bản chất vô hình của Thiên Chúa, của các thiên sứ, của các tà linh, và của loài người nhưng có sự khác biệt lớn giữa bản chất của Thiên Chúa và bản chất của các loài thọ tạo; có sự khác biệt lớn giữa bản chất thiêng liêng của các thiên sứ và tâm thần của loài người.

7. Khuynh hướng của loài người: Trong Thánh Kinh Việt ngữ được dịch là “tâm thần.” Các khuynh hướng như “nhút nhát,” “sợ hãi,” “gan dạ,” “dũng mãnh,” vv… đều được gọi là “tâm thần” hoặc “thần trí” hoặc “tinh thần.”

II Ti-mô-thê 1:7 “Vì Đức Chúa Trời chẳng ban cho chúng ta tâm thần nhút nhát, bèn là tâm thần mạnh mẽ, có tình thương yêu và giè giữ.”

I Phi-e-rơ 3:4 “Nhưng hãy tìm kiếm sự trang sức bề trong giấu ở trong lòng, tức là sự tinh sạch chẳng hư nát của tâm thần dịu dàng im lặng, ấy là giá quý trước mặt Đức Chúa Trời.”

8. Gió:

A-mốt 4:13 “Thật, ấy là Ngài đã làm nên các núi và sáng tạo gió. Ấy là Ngài làm cho người ta biết ý tưởng riêng của mình, đổi ban mai ra tối tăm, và bước đi trên những chỗ cao trên đất. Danh Ngài là Giê-hô-va Thiên Chúa vạn quân.”

Giăng 3:8Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng, nhưng chẳng biết nó đến từ đâu và cũng không biết nó đi đâu. Hễ ai sinh bởi Đức Thánh Linh, thì cũng như vậy.”

9. Hơi thở:

Sáng Thế Ký 2:7 Giê-hô-va Thiên Chúa nắn loài người từ bụi của đất, thổi hơi thở sống vào lỗ mũi, thì loài người trở nên một linh hồn sống” (Dịch Sát Nghĩa).

II Tê-sa-lô-ni-ca 2:8 “Bấy giờ kẻ nghịch cùng luật pháp kia sẽ hiện ra, Đức Chúa Jesus sẽ dùng hơi thở của miệng Ngài mà hủy diệt nó, và trừ bỏ nó bởi sự chói sáng của sự Ngài đến.”

Trong bài này, chúng ta chỉ tìm hiểu về “tâm thần” loài người.

Đặc Tính của Tâm Thần

Dựa vào các sinh hoạt và chức năng của thân thể xác thịt trong thế giới vật chất mà chúng ta có thể hiểu được các sinh hoạt và chức năng của thân thể thiêng liêng, là tâm thần, trong thế giới thuộc linh. Chúng ta cần ghi nhớ rằng, thân thể xác thịt của chúng ta sinh hoạt trong và tương tác với thế giới thuộc thể như thế nào thì thân thể thiêng liêng của chúng ta cũng sinh hoạt trong và tương tác với thế giới thuộc linh như thế ấy.

Tâm thần giúp cho chúng ta nhìn thấy, tiếp xúc với, và cảm nhận được thế giới thuộc linh. Qua tâm thần mà chúng ta có thể:

  • Nhận thức có một Thiên Chúa, nhận thức năng lực và bản tính của Ngài (Rô-ma 1:19-20), nghe được tiếng phán của Ngài (Hê-bơ-rơ 3:7-8), biết được ý muốn của Ngài (Phi-líp 2:13). Nhìn thấy được những mạc khải từ Ngài (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:11-16; II Cô-rinh-tô 12:1-4; Khải Huyền 1:10-11).
  • Nhận thức được các tiêu chuẩn yêu thương, thánh khiết, và công bình của Thiên Chúa, đồng thời ghi khắc sự nhận thức đó trong lương tâm:

Giê-rê-mi 31:33-34 “…Ta sẽ đặt luật pháp Ta bên trong chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Thiên Chúa chúng nó, chúng nó sẽ làm dân Ta. Chúng nó ai nấy sẽ chẳng dạy kẻ lân cận mình hay là anh em mình, mà rằng: Hãy nhận biết Đức Giê-hô-va! vì chúng nó thảy đều sẽ biết Ta, kẻ nhỏ cũng như kẻ lớn…”

Hê-bơ-rơ 8:10 “Nầy là lời ước mà Ta sẽ lập với nhà I-sơ-ra-ên. Sau những ngày đó: Ta sẽ để luật pháp Ta trong trí họ và ghi tạc vào lòng; Ta sẽ làm Thiên Chúa của họ, họ sẽ làm dân Ta.”

Hê-bơ-rơ 10:16 “Chúa phán: Nầy là giao ước Ta lập với chúng nó. Sau những ngày đó, Ta sẽ để luật pháp Ta vào lòng chúng nó, và ghi tạc nơi trí khôn.”

  • Từ chỗ nhận thức Thiên Chúa và các tiêu chuẩn của Ngài, đức tin vào trong Thiên Chúa nảy sinh.
  • Đức tin vào Thiên Chúa dẫn đến sự vâng phục và thờ phượng Thiên Chúa.

Lương tâm, đức tin, và thờ phượng là ba chức năng của tâm thần loài người mà các loài thú vật không hề có.

Sự Chết của Tâm Thần

Khi loài người mới được dựng nên thì từ tâm thần, linh hồn, cho đến thể xác đều trọn lành và tốt đẹp như tất cả mọi loài thọ tạo khác. Thiên Chúa kết thúc phần ký thuật về sự sáng tạo của Ngài như sau:

Thiên Chúa thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ sáu” (Sáng Thế Ký 1:31).

Liền sau khi loài người phạm tội thì tội lỗi làm cho loài người bị phân rẽ khỏi Thiên Chúa. Từ đó, tâm thần không còn được tương giao với Thiên Chúa, và ngôn ngữ của thần học gọi đó là sự chết thuộc linh.

Từ ngữ “chết” trong Thánh Kinh luôn luôn có nghĩa là bị phân rẽ và không hề có nghĩa là bị tan biến thành hư không.

  • Sự chết thứ nhất bao gồm sự chết của tâm thần và xác thịt. Sự chết của tâm thần là tâm thần bị phân rẽ khỏi Đức Chúa Trời.Sự chết của thân thể xác thịt là sự phân rẽ của linh hồn và tâm thần khỏi thân thể xác thịt. Thân thể xác thịt trở về với bụi đất và vẫn còn đó trong thế giới vật chất, chờ ngày được sống lại. Tâm thần trở về cùng Đức Chúa Trời (Truyền Đạo 12:7). Linh hồn vào trong âm phủ (Lu-ca 16:19-31), chờ ngày thân thể xác thịt được gọi sống lại và ra trước tòa phán xét của Đức Chúa Jesus Christ (Khải Huyền 20:11-15).

Riêng đối với người ở trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ thì tâm thần và linh hồn sau khi rời khỏi thân thể xác thịt được vào trong thiên đàng, ở với Đấng Christ. Sứ Đồ Phao-lô tâm sự với các thánh đồ tại thành Phi-líp rằng: “Ví thử tôi cứ sống trong xác thịt, là ích lợi cho công khó tôi, thì tôi chẳng biết nên lựa điều chi. Tôi bị ép giữa hai bề muốn đi ở với Đấng Christ, là điều rất tốt hơn; nhưng tôi cứ ở trong xác thịt, ấy là sự cần hơn cho anh em” (Phi-líp 1:22-24). Mệnh đề “muốn đi ở với Đấng Christ” mà Phao-lô dùng trong lời tâm tình trên đây hàm ý: người ở trong Chúa sau khi ra khỏi thân thể xác thịt thì linh hồn và tâm thần được vào trong thiên đàng, ở cùng Đấng Christ; bởi vì, người ở trong Chúa là người mà tâm thần và linh hồn đã được tái sinh, được vào trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời (Giăng 3:5). Trong ngày Đấng Christ trở lại thế gian để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian thì thân thể xác thịt của những người ở trong Chúa được sống lại hoặc được biến hóa (I Cô-rinh-tô 15:51-52; I Tê-sa-lô-ni-ca 4:13-17). Khi đó, mỗi người ở trong Chúa sẽ được phục hồi cách trọn vẹn: tâm thần, linh hồn, và thể xác hiệp một trong vinh quang cho đến đời đời.

  • Sự chết thứ hai hay sự chết đời đời là sự phân rẽ khỏi mặt Chúa và năng lực của Ngài cho đến đời đời đối với những ai không tin nhận Ngài (II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9; Khải Huyền 21:8). Thân thể xác thịt của những người không tin nhận Chúa cũng sẽ được sống lại, kết hợp với linh hồn đang bị giam trong âm phủ, để ra trước tòa phán xét của Đức Chúa Jesus Christ. Sau sự phán xét thì họ bị giam vào hỏa ngục cho đến đời đời (Khải Huyền 20:11-15). Những người này sẽ chỉ là linh hồn ở trong thân thể xác thịt mà không có thân thể thiêng liêng là tâm thần, bởi vì, họ không còn ở trong sự tương giao với Thiên Chúa.

Sau khi loài người bị phân rẽ khỏi Thiên Chúa vì tội lỗi thì loài người thông công với Ma Quỷ. Trong một giới hạn nhất định, Ma Quỷ có thể tạo ra những dấu kỳ phép lạ, thậm chí có thể ban ơn và giáng họa cho những ai thờ phượng nó. Ma Quỷ mạo làm thiên sứ sáng láng (II Cô-rinh-tô 11:14), tạo ra vô số tín ngưỡng và tôn giáo để quyến dụ loài người thờ lạy hình tượng, tà thần, cùng đủ mọi loài thọ tạo, để làm nhục hình ảnh của Thiên Chúa ở trong loài người.

Đối với những người thích sống buông thả theo sự ưa thích của xác thịt thì Ma Quỷ bày ra và xúi giục họ sống cho những thú vui tội lỗi nghịch lại tiêu chuẩn yêu thương, công bình, và thánh khiết của Thiên Chúa. Đối với những người chuộng về thuộc linh thì Ma Quỷ tung ra các triết học, tín ngưỡng và tôn giáo, gọi chung là “con đường” hay là “đạo.” Mỗi người tùy ý chọn cho mình một con đường hay một đạo do Ma Quỷ đưa ra mà không biết rằng: “Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người; Nhưng cuối cùng là những lối của sự chết” (Châm Ngôn 14:12; 16:25). Điều đó được Đức Chúa Jesus Christ nói rõ trong Ma-thi-ơ 7:13-14, “Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều. Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít.”

Con đường rộng và xem dường chánh đáng trong thế gian ngày nay mà hàng triệu người đang hớn hở đi vào, chính là các sản phẩm tôn giáo mang danh Chúa. Những lời sau đây của Đức Chúa Jesus Christ, rõ ràng và sống động, âm vang trong suốt gần hai ngàn năm qua cho đến ngày nay, nhưng ít có ai quan tâm ghi nhận:

Ma-thi-ơ 7:21-23

21 Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào Vương Quốc Trời đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha Ta ở trên trời mà thôi.

22 Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhơn danh Chúa mà trừ quỷ sao? và lại nhơn danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao?

23 Khi ấy, Ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi những kẻ làm gian ác, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi Ta!

Sự Tái Sinh của Tâm Thần

Sự tái sinh của tâm thần, linh hồn, và xác thịt là một huyền nhiệm không ai có thể hiểu được. Qua những sự dạy dỗ của Thánh Kinh chúng ta biết rằng:

  • Tội lỗi dẫn đến sự chết thuộc linh và sự chết thuộc thể.
  • Ân điển cứu rỗi của Đức Chúa Trời ban cho loài người sự tái sinh thuộc linh và sự tái sinh thuộc thể.
  • Những ai tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời thì lập tức được tái sinh tâm thần và linh hồn, còn thể xác sẽ được tái sinh hoặc được biến hóa trong ngày Đức Chúa Jesus Christ trở lại để đem Hội Thánh vào trong thiên đàng.

II Cô-rinh-tô 5:17 dạy rằng: “Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới.” Từ ngữ “người được dựng nên mới” trong nguyên ngữ của Thánh Kinh là “tạo vật mới,” nghĩa là một vật được Thiên Chúa làm cho mới lại. Sự Thiên Chúa làm cho một người ở trong Đấng Christ thành ra mới được Đức Chúa Jesus Christ gọi là “sự sinh ra từ trên cao” (Giăng 3:3) mà các bản dịch Thánh Kinh thường dịch là “sự tái sinh” hoặc “được sinh lại.”

Sự tái sinh là hành động của Thiên Chúa qua thân vị Đức Thánh Linh [1]. Một người thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ, và bằng lòng sống theo Lời Chúa, xưng nhận ra bằng lời nói (Rô-ma 10:10), thì lập tức người ấy được Đức Chúa Jesus Christ dùng máu của Ngài rửa cho sạch tội (Khải Huyền 1:6), được Đức Chúa Trời tha tội, và bản ngã, tức linh hồn, cùng thân thể thiêng liêng của người ấy, tức tâm thần, được Đức Thánh Linh tái sinh.

Nhờ tâm thần được tái sinh mà một người được thông công trở lại với Thiên Chúa, được nhận thức ngày càng sâu nhiệm về Thiên Chúa và mới có thể thờ phượng Thiên Chúa một cách đẹp ý Ngài (Giăng 4:23-24). Nhờ linh hồn được tái sinh mà một người có được năng lực để sống theo Lời Chúa: “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà yêu Chúa là Đức Chúa Trời”“yêu kẻ lân cận như mình” (Mác 12:30-31).

Các Quan Điểm Sai Lầm về Tâm Thần

Có hai quan điểm sai lầm về tâm thần dẫn đến sự hiểu biết không đúng về bản thể, bản chất, và bản tính của loài người như đã được bày tỏ trong Thánh Kinh.

Quan điểm thứ nhất cho rằng tâm thần với linh hồn là một, nói cách khác, quan điểm này cho rằng linh hồn tức là tâm thần và tâm thần tức là linh hồn, là bản ngã vô hình của một người. Trong bài kế tiếp, trình bày về ý nghĩa của những câu Thánh Kinh liên quan đến tâm thần, chúng ta sẽ thấy rõ quan điểm này không đúng với lẽ thật được bày tỏ trong Thánh Kinh.

Quan điểm thứ hai cho rằng tâm thần tức là sự sống hay sức sống ở trong thân thể xác thịt, người Giê-hô-va Chứng Nhân gọi là “sinh hoạt khí.” Đây là sự áp dụng ý nghĩa của một từ ngữ không đúng theo văn mạch. Như đã nói, cả hai từ ngữ “rûach” và “pneuma” trong Thánh Kinh, cùng được dịch sang tiếng anh là “spirit,” vừa có nghĩa là “hơi thở” để chỉ về sự sống đang vận hành trong một thân thể xác thịt, vừa có nghĩa là “tâm thần” để chỉ về bản thể thiêng liêng của loài người; nếu chỉ dựa vào một ý nghĩa để giải kinh thì sẽ dẫn đến sự sai lầm nghiêm trọng.

Kết Luận

Loài người là một vật sống do Thiên Chúa dựng nên cách lạ lùng theo hình Ngài và giống như Ngài trong thế giới thuộc thể lẫn thế giới thuộc linh. Vì thế, loài người có thân thể vật chất lẫn thân thể thiêng liêng. Thân thể thiêng liêng của loài người được gọi là tâm thần. Thân thể xác thịt nhận thức và sinh hoạt trong thế giới vật chất như thế nào thì tâm thần cũng nhận thức và sinh hoạt trong thế giới thuộc linh như thế ấy. Tội lỗi khiến cho tâm thần bị phân rẽ khỏi Thiên Chúa, bị Ma Quỷ dẫn dụ thông công với thế giới của tà linh và thờ phượng tà linh. Sự phân rẽ của tâm thần ra khỏi Thiên Chúa tức là sự chết thuộc linh.

Khi một người thật lòng ăn năn tội, tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ thì tâm thần được tái sinh, mối tương giao với Thiên Chúa được phục hồi. Nhờ đó, loài người có năng lực sống theo Lời Chúa và hiểu biết Thiên Chúa càng hơn, có thể thờ phượng Thiên Chúa theo như ý muốn của Thiên Chúa.

Mọi lẽ thật cần biết về tâm thần đã được Thiên Chúa giải bày trong Thánh Kinh. Tất cả những quan điểm thần học và giáo lý về tâm thần mà không đúng theo sự dạy dỗ của Thánh Kinh đều là tà giáo, ra từ Sa-tan để dẫn loài người xa rời lẽ thật của Lời Chúa.

Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Jesus Christ chúng ta đến! Đấng đã gọi anh em là Đấng thành tín, chính Ngài sẽ làm việc đó” (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23-24).

Huỳnh Christian Timothy
27.10.2012

Ghi Chú

[1] Xem các bài viết về sự tái sinh tại đây: http://thanhoc.timhieutinlanh.net/node/264

http://thanhoc.timhieutinlanh.net/node/265

[A] Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Quý bạn có thể đọc trên mạng: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

[B] Dùng các nối mạng dưới đây để tra xem ý nghĩa trong Anh ngữ và nghe cách phát âm của một từ ngữ Hê-bơ-rơ trên Internet:

[C] Dùng các nối mạng dưới đây để tra xem ý nghĩa trong Anh ngữ và nghe cách phát âm của một từ ngữ Hy-lạp trên Internet:


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Đọc Tiếp →
3,887 views

Loài Người (02): Linh Hồn

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?3so7k1kv4rok3fx

Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/1017

Dẫn Nhập

Danh từ “linh hồn” trong tiếng Việt chỉ về bản ngã của loài người, được cho là phần thiêng liêng vô hình, vẫn tồn tại sau sự chết của thể xác. Hầu hết các dân tộc khác cũng tin như vậy. Mặc dù quan niệm về linh hồn của mỗi dân tộc hoặc mỗi tín ngưỡng, tôn giáo có những điểm khác nhau; nhưng hầu như có một điểm chung, là tin rằng, sau khi thể xác chết đi, linh hồn sẽ nhận lãnh sự thưởng phạt cho mỗi việc một người đã làm ra, trong lúc linh hồn còn ở trong thân thể xác thịt. Triết lý của Phật Giáo dầu phủ nhận linh hồn nhưng vẫn tin rằng, tùy theo những việc làm thiện hay ác trong khi còn sống, mà một người sau khi chết sẽ tái sinh vào những cảnh đời tốt xấu khác nhau. Sự tái sinh và chuyển kiếp đó, được Phật Giáo gọi là luân hồi trong vòng sinh tử, và cho rằng, có thể kéo dài đến hằng hà sa số kiếp (nhiều như cát trên bờ sông Hằng ở Ấn-độ).

Quan niệm hay tín ngưỡng sai lầm về linh hồn dẫn đến những sự mê tín, dị đoan, cúng thờ người chết hoặc thông linh với người chết (cầu hồn); đồng thời dẫn đến việc xem thường mạng sống của người khác và của chính mình. Thí dụ: Người tin vào thuyết luân hồi sẽ dễ dàng chọn sự tự tử để tránh khỏi những hoàn cảnh quá đau khổ ngay trước mắt, hy vọng có thể làm lại cuộc đời trong một kiếp khác. Người tin vào thuyết luân hồi cũng có thể dững dưng trước sự bất hạnh của những người khác, vì cho rằng những người đó đang chịu khổ để đền bù cho những việc ác mà họ đã làm trong các kiếp trước. Nếu cứu giúp họ, thì sẽ làm cản trở việc đền tội của họ, khiến cho họ chậm tái sinh vào một kiếp sống tốt hơn.

Điều quan trọng, là nếu một người không có sự hiểu biết đúng về linh hồn và ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời, thì người ấy sẽ bị hư mất đời đời trong hỏa ngục. Chắc chắn là Sa-tan dự phần đắc lực trong việc tạo ra các triết lý và tôn giáo giảng dạy sai lầm về linh hồn.

Thánh Kinh gọi mỗi vật sống có hơi thở là một sanh linh, nghĩa là các loài thú và loài người đều là những linh hồn sống. Tuy nhiên, xác thịt của loài thú khác với xác thịt của loài người như thế nào, thì linh hồn loài thú cũng khác với linh hồn loài người như thế ấy. Trước khi đi vào chi tiết những gì Thánh Kinh dạy về linh hồn loài người, chúng ta cần tìm hiểu ý nghĩa của từ ngữ “linh hồn” được dùng trong Thánh Kinh.

Ý Nghĩa của Từ Ngữ Linh Hồn Trong Thánh Kinh

Chúng ta đã biết, ngoại trừ khoảng 250 câu được viết bằng tiếng A-ra-mai [1], phần còn lại củaThánh Kinh được viết bằng hai ngôn ngữ cổ. Cựu Ước được viết bằng tiếng Hê-bơ-rơ và Tân Ước được viết bằng tiếng Hy-lạp. Từ ngữ “linh hồn” trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là “nephesh,” /né-phit-sh/, H5315. Trong nguyên ngữ Hy-lạp là “psuchē,” /xu-khê/, G5590. Cả hai từ ngữ này đều mang nhiều nghĩa khác nhau, tùy theo văn mạch:

1. Khi đi kèm với tính từ “sống” có thể dịch là “sanh linh” hoặc “linh hồn sống để gọi chung linh hồn và thể xác:”

Thiên Chúa lại phán rằng: Nước phải sanh các sanh linh cho nhiều, và các loài chim phải bay trên mặt đất trong khoảng không trên trời” (Sáng Thế Ký 1:20).

Thiên Chúa sáng tạo các loài cá lớn, các sanh linh nhờ nước mà sanh nhiều ra, tùy theo loại, và các loài chim hay bay, tùy theo loại. Thiên Chúa thấy điều đó là tốt lành” (Sáng Thế Ký 1:21).

Thiên Chúa lại phán rằng: Đất phải sanh các sanh linh tùy theo loại, tức súc vật, côn trùng, và thú rừng, đều tùy theo loại; thì có như vậy” (Sáng Thế Ký 1:24).

Giê-hô-va Thiên Chúa bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh(Sáng Thế Ký 2:7).

Xem thêm: Sáng Thế Ký 2:19; 9:10, 12, 15-16 (Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012 [A]).

Qua những câu Thánh Kinh trên đây, chúng ta thấy các loài sinh vật trong nước, các loài súc vật, côn trùng, thú rừng, và loài người đều được gọi là hồn sống hoặc sanh linh. Thánh Kinh Việt ngữ Bản Dịch Truyền Thống dùng danh từ “vật sống” trong các câu Sáng Thế Ký 1:20, 21, 24; 9:10, 12 và dùng nhóm chữ “các loài xác thịt có sự sống” trong các câu Sáng Thế Ký 9:15-16 cho loài vật và chỉ dùng danh từ “sanh linh” cho loài người trong Sáng Thế Ký 2:7. Phân biệt như vậy là không đúng; bởi vì, trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ Thánh Kinh chỉ dùng chung một danh từ ghép “chay,” /khai/, H2416 (sống) “nephesh,” /né-phit-sh/, H5315 (linh hồn) cho cả các loài vật và loài người. Thánh Kinh Việt ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012 đã sửa chữa lỗi này [A].

2. Có thể dịch là “mạng sống,” “sự sống:”

sanh mạng của xác thịt ở trong máu; Ta đã cho các ngươi máu rưới trên bàn thờ đặng làm lễ chuộc tội cho linh hồn của các ngươi; vì nhờ máu mà chuộc tội cho linh hồn” (Lê-vi Ký 17:11).

Giô-na-than kết giao ước cùng Đa-vít, bởi vì yêu mến người như mạng sống mình” (I Sa-mu-ên 18:3).

Đức Chúa Jesus bèn phán cùng môn đồ rằng: Ấy vậy, Ta nói cùng các ngươi, đừng vì sự sống mình mà lo đồ ăn, cũng đừng vì thân thể mình mà lo đồ mặc” (Lu-ca 12:22).

Xem thêm: Lê-vi Ký 17:14; II Sa-mu-ên 14:7; E-xơ-tê 8:11; Công Vụ Các Sứ Đồ 20:10.

3. Có thể dịch là “linh hồn” để chỉ về phần vô hình thuộc linh, tức bản ngã của loài người:

Vì Chúa sẽ chẳng bỏ linh hồn tôi trong âm phủ, Cũng không để người thánh Chúa thấy sự hư nát” (Thi Thiên 16:10).

Đừng sợ kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn; nhưng thà sợ Đấng làm cho mất được linh hồn và thân thể trong địa ngục” (Ma-thi-ơ 10:28).

Khi Ngài tháo dấu ấn thứ năm, tôi thấy dưới bàn thờ có linh hồn những kẻ đã bị giết vì Lời của Đức Chúa Trời và vì chứng cớ mà họ đã giữ lấy” (Khải Huyền 6:9).

Xem thêm: Phục Truyền Luật Lệ Ký 11:13; Thi Thiên 30:3; 84:2; 139:14; Ê-sai 26:9; 53:10; Ma-thi-ơ 11:29; 16:26; 22:37; Lu-ca 1:46; Lu-ca 21:19; Công Vụ Các Sứ Đồ 2:27; 4:32; 14:2, 22; II Cô-rinh-tô 5:3-4; Ê-phê-sô 6:6; Phi-líp 1:27; I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23; Hê-bơ-rơ 4:12; 6:19; 10:39; 12:3; I Phi-e-rơ 2:11; III Giăng 2; Khải Huyền 20:4.

Ngoài nghĩa rộng là “sinh mạng” hay “sự sống,” từ ngữ linh hồn khi được dùng cho loài người có ý nói đến một thực thể gọi là loài người, được Thiên Chúa sáng tạo cách đặc biệt. Linh hồn chính là loài người. Hai câu dưới đây đều có cùng một nghĩa như nhau:

(1) A-đam có một thân thể xác thịt ra từ bụi đất và một thân thể thiêng liêng, gọi là tâm thần, ra từ hơi thở sống của Thiên Chúa.

(2) Linh hồn A-đam có một thân thể xác thịt ra từ bụi đất và một thân thể thiêng liêng, gọi là tâm thần, ra từ hơi thở sống của Thiên Chúa.

Không phải A-đam có linh hồn, có thân thể xác thịt, và có thân thể thiêng liêng, mà là A-đam chính là một linh hồn; linh hồn đó có một thân thể xác thịt và một thân thể thiêng liêng. Trong Thánh Kinh chúng ta vẫn thường gặp cách dùng chữ “linh hồn của tôi.” Tuy nhiên, ý nghĩa của nhóm chữ đó không có nghĩa là “tôi có một linh hồn;” mà có nghĩa là “mạng sống của tôi” hoặc “trong nơi sâu kín của bản ngã tôi.”

Khi Đức Chúa Jesus Christ phán: “Linh hồn Ta buồn bực cho đến chết!” (Ma-thi-ơ 26:38) là Ngài muốn nói rằng, sự buồn bực thấm sâu vào tận nơi sâu kín của bản ngã Ngài, tức là sự buồn bực bao phủ mọi suy tư, tình cảm, và ý chí của Chúa.

Nguồn Gốc của Linh Hồn

Linh hồn loài người lần đầu tiên xuất hiện chỉ có một, do sự sáng tạo của Thiên Chúa. Thánh Kinh chép rằng:

Sáng Thế Ký 2:7“Giê-hô-va Thiên Chúa nắn loài người từ bụi của đất, thổi hơi thở sống vào lỗ mũi, thì loài người trở nên một linh hồn sống” (Dịch Sát Nghĩa).

Sự so sánh sau đây dù không hoàn hảo, nhưng phần nào giúp cho chúng ta có thể hiểu về sự hình thành của linh hồn:

Điện lực từ máy phát điện, qua dây dẫn điện, vào trong bóng đèn điện, làm cho tim đèn được đốt nóng và phát ra ánh sáng. Nếu vì một lý do gì, dây dẫn điện bị cắt hoặc bóng điện bị vỡ thì ánh sáng không còn phát ra, nhưng ánh sáng đã phát ra trước đó thì vẫn còn lại và đi mãi vào không gian với tốc độ 300,000 km một giây đồng hồ.

Hơi thở sống của Thiên Chúa được thổi vào trong hình thể nắn từ bụi đất, khiến cho hình thể bụi đất biến thành hình thể xác thịt, cùng lúc, hơi sống của Thiên Chúa biến thành hình thể thiêng liêng, tức là tâm thần ở trong xác thịt. Khi thân thể thiêng liêng và thân thể xác thịt hòa nhập thì linh hồn lập tức phát sinh. Một khi đã phát sinh thì linh hồn còn lại cho đến đời đời với một trong hai trạng thái: (1) trạng thái sống là được tương giao đời đời với Thiên Chúa hoặc (2) trạng thái chết là bị tội lỗi phân cách đời đời khỏi Thiên Chúa.

Linh hồn A-đam được sáng tạo trực tiếp bởi Thiên Chúa. Linh hồn Ê-va được Thiên Chúa làm nên từ linh hồn A-đam. Còn lại, linh hồn mỗi người trong thế gian được sinh ra bởi cha mẹ của mình. Sau khi A-đam và Ê-va phạm tội thì mỗi người được sinh ra trong thế gian đều nhận sự di truyền của tội lỗi. Vì thế, mỗi linh hồn sau A-đam và Ê-va, đều mang bản tính tội lỗi và mỗi linh hồn đương nhiên ở trong địa vị hư mất, tức là bị phân rẽ đời đời khỏi Thiên Chúa. Điều này ngoại trừ linh hồn của Đức Chúa Jesus mà chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu trong bài “Thần Tính và Nhân Tính của Đức Chúa Jesus Christ.”

Khi Đức Chúa Jesus Christ hoàn thành công cuộc cứu chuộc nhân loại trên thập tự giá thì mọi tội lỗi của loài người được tha:

  • Tội lỗi và sự chết đời đời truyền từ A-đam đương nhiên được tha thứ, vì thế Đức Chúa Jesus Christ phán: “…Vương Quốc của Đức Chúa Trời thuộc về những kẻ giống như con trẻ” (Ma-thi-ơ 19:14; Mác 10:14; Lu-ca 18:16). Nghĩa là trẻ con, nếu qua đời trước khi tự mình phạm tội, thì đương nhiên được vào Vương Quốc của Đức Chúa Trời.
  • Riêng tội lỗi do mỗi linh hồn tự làm ra thì mỗi linh hồn phải ăn năn, xưng nhận, và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ, mới được Ngài tha tội và làm cho sạch tội.

Có hai lý thuyết thần học sai lầm về nguồn gốc của linh hồn như sau:

1. Thuyết Sáng Tạo: Thuyết này cho rằng, mỗi khi có sự đậu thai thì Thiên Chúa sáng tạo một linh hồn và linh hồn ấy lập tức kết hợp với thân thể xác thịt. Linh hồn mới được sáng tạo thì vô tội nhưng khi kết hợp với thể xác thì lập tức bị nhiễm tội từ thể xác.

Lý thuyết này có những sai lầm nghịch lại với lẽ thật của Thánh Kinh:

a) Thiên Chúa đã ngưng sự sáng tạo vào cuối ngày thứ sáu của công cuộc sáng thế, không thể có chuyện Thiên Chúa sáng tạo thêm một điều gì.

b) Thiên Chúa là công chính, Ngài không thể sáng tạo một linh hồn vô tội, đem kết hợp với một thân thể xác thịt tội lỗi, khiến cho linh hồn đó thành ra có tội.

c) Tội lỗi do linh hồn điều khiển thân thể xác thịt làm ra, không phải do thân thể xác thịt lây nhiễm cho linh hồn.

2. Thuyết Tiền Thực Hữu: Thuyết này cho rằng linh hồn của loài người đã được Thiên Chúa dựng nên từ trước và chứa trong một nơi đặc biệt trên thiên đàng; khi có sự đậu thai thì linh hồn được Thiên Chúa sai nhập vào thân thể xác thịt.

Lý thuyết này không giải thích được, vì sao một linh hồn vô tội lại chịu án phạt chung của A-đam như Rô-ma 5:19 đã chép: “Vì, như bởi sự không vâng phục của một người mà mọi người khác đều thành ra kẻ có tội.”

Mọi người khác thành ra kẻ có tội như A-đam vì được sinh ra từ A-đam và nhận sự di truyền của tội lỗi từ A-đam. Một người tức là một linh hồn ở trong thân thể thiêng liêng là tâm thần và ở trong thân thể vật chất là xác thịt. Một người được sinh ra tức là một linh hồn được sinh ra trong một thân thể thiêng liêng và một thân thể vật chất, nhận lãnh sự di truyền về thuộc thể cũng như thuộc linh từ cha mẹ.

Hê-bơ-rơ 7:10 cho biết, cháu đời thứ tư của Áp-ra-ham, là Lê-vi, đã thực hữu cùng Áp-ra-ham khi Áp-ra-ham giao tiếp với Thầy Tế Lễ Mên-chi-xê-đéc hàng trăm năm trước khi Lê-vi được sinh ra: “vì lúc Mên-chi-xê-đéc đi đón tiên tổ, thì Lê-vi còn ở trong lòng tổ phụ.” Nói cách khác, toàn thể nhân loại đã cùng một lúc được Thiên Chúa sáng tạo trong A-đam.

Đặc Tính của Linh Hồn

Đặc tính của linh hồn chính là các bản tính của loài người, đó là:

  • Loài người biết suy tư
  • Loài người biết cảm xúc
  • Loài người biết quyết định

Linh hồn nhờ thân thể vật chất là xác thịt mà nhận thức được thế giới vật chất, nhờ thân thể thiêng liêng là tâm thần mà nhận thức được thế giới thuộc linh. Sau khi có nhận thức thì linh hồn suy tư để phân tích, đánh giá, và hệ thống các sự nhận thức của mình. Sự suy tư đem đến trí thức và cảm xúc. Rồi, linh hồn dựa trên trí thức và cảm xúc để đưa ra những quyết định, gọi là ý chí.

  • Kết quả thứ nhất của suy tư được gọi là trí hay trí thức, là sự phân biệt đúng hay sai và đánh giá mọi sự.
  • Kết quả thứ nhì của suy tư được gọi là lòng hay tấm lòng, là sự cảm xúc đối với mọi sự.
  • Sự quyết định được gọi là ý hay ý chí, là thái độ đối với mọi sự. Ý chí có thể hoàn toàn dựa trên trí thức hoặc hoàn toàn dựa trên cảm xúc hoặc được quân bình giữa trí thức và cảm xúc.

Thánh Kinh có những lúc dùng các chữ trí, lòng, và ý để nói đến ba phương diện của linh hồn. Khi chúng ta gặp những chữ này đi chung với từ ngữ linh hồn trong một câu Thánh Kinh thì từ ngữ linh hồn chỉ có nghĩa là “mạng sống” hoặc “sự sống.” Chúng ta hãy cùng nhau xem xét những câu Thánh Kinh được liệt kê dưới đây:

Phục Truyền Luật Lệ Ký 11:13 “Vậy, nếu các ngươi chăm chỉ nghe các điều răn ta truyền cho các ngươi ngày nay, hết linh hồn, hết ý kính mến Giê-hô-va Thiên Chúa ngươi, và phục sự Ngài…”

Câu trên do Môi-se nói cùng dân I-sơ-ra-ên, có nghĩa là: Nếu các ngươi cẩn thận lắng nghe các điều răn của Thiên Chúa mà ta đang truyền lại cho các ngươi, rồi sẵn sàng hy sinh mạng sống mình trong sự quyết định yêu kính Giê-hô-va Thiên Chúa của các ngươi và phục sự Ngài…

Mác 12:30 “Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà yêu Chúa là Đức Chúa Trời ngươi.”

Câu trên là lời Đức Chúa Jesus Christ trích dẫn từ Phục Truyền Luật Lệ Ký 11:13, có thêm hai từ ngữ: “hết lòng” và “hết sức.” Câu phán của Chúa có nghĩa là: Ngươi hãy dành hết mọi tình cảm, sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình, trong mọi nhận thức và suy tư của mình, bằng hết cả sức mạnh của thân thể mình mà yêu kính Giê-hô-va là Thiên Chúa của ngươi.

Sự Nhiễm Tội của Linh Hồn

Ngoại trừ linh hồn A-đam và linh hồn Ê-va được sáng tạo và dựng nên hoàn toàn vô tội, cho đến khi họ tự ý phạm tội, mỗi linh hồn đều nhiễm tội từ cha mình.

Khi một thai nhi hình thành trong lòng mẹ, thì tâm thần và linh hồn từ người cha kết hợp với chất liệu xác thịt từ người mẹ, sinh ra một linh hồn và một tâm thần mới trong một thân thể xác thịt mới. Ngay trong khoảnh khắc vừa thực hữu đó, linh hồn đã mang luôn bản chất tội di truyền từ cha. Thánh Kinh chép:

Thi Thiên 51:5 “Kìa, tôi sanh ra trong sự gian ác, mẹ tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi.”

Sanh ra trong sự gian ác là sanh ra trong hậu quả của tội lỗi. Hoài thai trong tội lỗi là thai nhi được tạo thành trong môi trường bị lây nhiễm tội.

Vì được sinh ra trong hậu quả của tội lỗi mà mỗi một người được sinh ra phải chịu đau khổ và chịu chết. Chết thuộc thể lẫn chất thuộc linh. Chết thuộc thể vì thể xác bị hậu quả của tội lỗi làm cho già yếu, phải phân rẽ khỏi linh hồn. Chết thuộc linh vì hậu quả của tội lỗi khiến cho tâm thần và linh hồn bị phân rẽ khỏi Thiên Chúa.

Thánh Kinh cũng dạy rõ:

Rô-ma 5:12 “Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội.”

Vì được hoài thai trong tội lỗi mà mỗi người một người được sinh ra đã mang bản chất tội, khi lớn lên đương nhiên suy nghĩ tội, nói tội, và làm tội. Điều đó tương tự như loài rắn độc khi sinh ra đã mang bản chất có nọc độc, lúc còn bé thì nọc độc chưa phát triển nhưng khi trưởng thành thì nọc độc tự nhiên kết thành.

Bản chất tội luôn luôn đối nghịch với tiêu chuẩn thánh khiết mà Đức Chúa Trời đã đặt để trong lương tâm của một người. Nếu một người không tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời thì bản chất tội sẽ dần dần làm cho lương tâm của người ấy bị chai lỳ, không còn ngay thẳng.

Thuyết Linh Hồn Ngủ

Thuyết linh hồn ngủ cho rằng, sau khi một người chết về phần thể xác thì linh hồn cũng ngưng hoạt động, không còn ý thức. Thuyết này dựa trên các câu Thánh Kinh sau đây để cho rằng khi thể xác chết thì linh hồn ngủ, mà đã ngủ thì không còn ý thức:

I Cô-rinh-tô 15:20 “Nhưng bây giờ, Đấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, Ngài là trái đầu mùa của những kẻ ngủ.”

I Tê-sa-lô-ni-ca 4:14-15 “Hỡi anh em, chúng tôi chẳng muốn anh em không biết về phần người đã ngủ, hầu cho anh em chớ buồn rầu như người khác không có sự trông cậy. Vì nếu chúng ta tin Đức Chúa Jesus đã chết và sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những kẻ ngủ trong Đức Chúa Jesus cùng đến với Ngài.”

Tuy nhiên, chữ “ngủ” trong các câu Thánh Kinh nói trên chỉ về phần thân thể xác thịt, không phải chỉ về linh hồn. Nhiều nơi trong Thánh Kinh cho chúng ta biết, linh hồn có thể tồn tại độc lập với thân thể xác thịt và vẫn có sự nhận thức. Trước hết là câu chuyện về người giàu và người ăn mày do chính Đức Chúa Jesus Christ kể, được ghi lại trong Lu-ca 16:19-31:

19 Có một người giàu mặc áo tía và áo bằng vải gai mịn, hằng ngày ăn ở rất là sung sướng.

20 Lại có một người nghèo, tên là La-xa-rơ, nằm ngoài cửa người giàu đó, mình đầy những ghẻ.

21 Người ước ao được ăn những đồ ở trên bàn người giàu rớt xuống; cũng có chó đến liếm ghẻ người.

22 Vả, người nghèo chết, thiên sứ đem để vào lòng Áp-ra-ham; người giàu cũng chết, người ta đem chôn.

23 Người giàu ở nơi âm phủ đang bị đau đớn, ngước mắt lên, xa thấy Áp-ra-ham, và La-xa-rơ trong lòng người;

24 bèn kêu lên rằng: Hỡi Áp-ra-ham tổ tôi, xin thương lấy tôi, sai La-xa-rơ nhúng đầu ngón tay vào nước đặng làm cho mát lưỡi tôi; vì tôi bị khổ trong lửa nầy quá đỗi.

25 Nhưng Áp-ra-ham trả lời rằng: Con ơi, hãy nhớ lúc ngươi còn sống đã được hưởng những sự lành của mình rồi, còn La-xa-rơ phải những sự dữ; bây giờ, nó ở đây được yên ủi, còn ngươi phải bị khổ hình.

26 Vả lại, có một vực sâu ở giữa chúng ta với ngươi, đến nỗi ai muốn từ đây qua đó không được, mà muốn từ đó qua đây cũng không được.

27 Người giàu nói rằng: Tổ tôi ơi! vậy thì xin sai La-xa-rơ đến nhà cha tôi,

28 vì tôi có năm anh em, đặng người làm chứng cho họ về những điều nầy, kẻo họ cũng xuống nơi đau đớn nầy chăng.

29 Áp-ra-ham trả lời rằng: Chúng nó đã có Môi-se và các đấng tiên tri; chúng nó phải nghe lời các đấng ấy!

30 Người giàu nói rằng: Thưa Áp-ra-ham tổ tôi, không phải vậy đâu; nhưng nếu có kẻ chết sống lại đến cùng họ, thì họ sẽ ăn năn.

31 Song Áp-ra-ham rằng: Nếu không nghe Môi-se và các đấng tiên tri, thì dầu có ai từ kẻ chết sống lại, chúng nó cũng chẳng tin vậy.

Chúng ta cần chú ý điều này: Câu chuyện kể trên không phải là một ngụ ngôn hay thí dụ, mà là một câu chuyện có thật. Chúa kể cho các môn đồ của Ngài một sự thật về số phận của hai người sau khi chết. Bởi vì, trong tất cả các ngụ ngôn và thí dụ của Chúa, Ngài không hề đặt tên cho các nhân vật. Nếu Chúa đặt tên cho một nhân vật nào đó trong các thí dụ hoặc ngụ ngôn của Ngài, thì Ma Quỷ sẽ có lý do để tuyên bố rằng, Chúa nói dối, bởi vì, không hề có một người tên đó làm ra những việc như vậy. Thánh Kinh cho biết “trong miệng Ngài không thấy có chút chi dối trá” (I Phi-e-rơ 2:22).

Kế tiếp là sự kiện Môi-se và Ê-li cùng hiện ra trên núi hóa hình với Chúa và trò chuyện với Chúa về sự chết của Ngài, được ghi lại trong Ma-thi-ơ 17:1-3; Mác 9:2-4; Lu-ca 9:30-31. Tiên Tri Ê-li đang còn sống được cất lên trời trong một cơn gió lốc (II Các Vua 2:1, 11) nhưng Môi-se là người đã chết và xác của ông đã được thiên sứ trưởng tranh dành với Ma Quỷ để chôn cất (Phục Truyền Luật Lệ Ký 34:6; Giu-đe 9). Trong sự kiện hai người hiện ra trên núi hóa hình và trò chuyện với Đức Chúa Jesus Christ về sự chết của Ngài, chúng ta thấy rõ là Môi-se có ý thức. Có giả thuyết cho rằng lúc bấy giờ thân thể xác thịt của Môi-se đã được phục sinh, tuy nhiên, Thánh Kinh dạy rõ, Đức Chúa Jesus Christ là trái đầu mùa của sự sống lại, cho nên không thể có chuyện Môi-se được sống lại trong một thân thể vinh quang trước Chúa:

I Cô-rinh-tô 15:20 “Nhưng bây giờ, Đấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, Ngài là trái đầu mùa của những kẻ ngủ.”

I Cô-rinh-tô 15:23 “Nhưng mỗi người theo thứ tự riêng của mình: Đấng Christ là trái đầu mùa; rồi tới ngày Đấng Christ đến, những kẻ thuộc về Ngài sẽ sống lại.”

Trước khi thân thể xác thịt của Đức Chúa Jesus Christ sống lại từ trong sự chết một cách vinh quang thì đã có nhiều người đã từ kẻ chết sống lại. Điển hình là vài ngày trước khi Đức Chúa Jesus Christ chịu chết thì Ngài đã khiến cho La-xa-rơ đã chết bốn ngày được sống lại (Giăng 11); và khi Ngài trút hơi thở cuối cùng trên thập tự giá thì có nhiều thánh đồ qua đời trước đó đã được sống lại (Ma-thi-ơ 27:52). Tuy nhiên, những sự sống lại đó không phải là sống lại trong một thân thể vinh quang không còn phải chết nữa, như sự sống lại của Đức Chúa Jesus Christ. Vì thế, Đức Chúa Jesus Christ là trái đầu mùa của sự sống lại cho những ai ở trong Ngài, để họ cũng được sống lại trong một thân thể siêu vật chất và không hề trải qua sự chết nữa, như chính thân thể phục sinh của Ngài. Gọi là thân thể siêu vật chất vì thân thể đó vẫn được hình thành từ vật chất nhưng không còn bị giới hạn bởi những định luật vật lý thông thường.

Cuối cùng, Khải Huyền 6:9-11 cho biết linh hồn của những người tử đạo ở dưới bàn thờ trong thiên đàng và kêu cầu sự báo thù của Đức Chúa Trời về những kẻ bách hại họ. Những linh hồn này có ý thức và còn được ban cho áo dài trắng (có thể hiểu là sự vinh hiển phát ra từ thân thể thiêng liêng của họ):

9 Khi Ngài tháo dấu ấn thứ năm, tôi thấy dưới bàn thờ có hồn những kẻ đã bị giết vì Lời của Đức Chúa Trời và vì chứng cớ mà họ đã giữ lấy.

10 Họ kêu lớn tiếng rằng: "Lạy Chúa, Đấng Thánh và Chân Thật! Ngài không phán xét và báo trả cư dân trên đất về máu của chúng tôi cho đến khi nào?"

11 Mỗi người trong họ được ban cho áo dài trắng và có lời phán với họ rằng, hãy yên nghỉ thêm một thời gian ngắn cho đến khi những tôi tớ đồng công với họ cũng là anh em với họ sẽ bị giết như họ, được đủ số.

Thuyết linh hồn ngủ hoàn toàn không đúng với lẽ thật được trình bày trong Thánh Kinh. Hai giáo phái lớn tin nhận thuyết linh hồn ngủ là Cơ-đốc Phục Lâm và Chứng Nhân Giê-hô-va.

Sự Vĩnh Cửu của Linh Hồn

Cơ-đốc Phục Lâm và Chứng Nhân Giê-hô-va cũng không tin vào sự vĩnh cửu của linh hồn. Họ tin rằng chỉ những ai ở trong sự cứu rỗi, được ban cho sự sống đời đời thì mới còn lại đời đời; những ai không ở trong sự cứu rỗi thì sẽ bị hình phạt trong hỏa ngục về tội lỗi của mỗi người cho đến khi hình phạt được hoàn tất thì những linh hồn bị hư mất đó sẽ tan biến thành hư không, nghĩa là không tồn tại, không ý thức.

Tuy nhiên, Thánh Kinh cho biết Thiên Chúa đã đặt sự đời đời ở trong loài người, nghĩa là, loài người sẽ tồn tại đời đời:

Truyền Đạo 3:11 “…Ngài khiến cho sự đời đời ở nơi lòng loài người.”

Như đã trình bày trên đây, chữ “lòng” được Thánh Kinh dùng để nói về phương diện cảm xúc của linh hồn. Thiên Chúa khiến cho sự đời đời ở nơi lòng loài người có nghĩa là, tất cả mọi cảm xúc của linh hồn loài người sẽ diễn tiến cho đến đời đời. Sự chết của thân thể xác thịt không làm cho linh hồn thôi cảm xúc. Trong câu chuyện người giàu và người ăn mày tên La-xa-rơ chúng ta thấy rõ linh hồn của người giàu vẫn:

  • Có ký ức, ông ta còn nhớ rằng mình có năm anh em đang còn sống trong xác thịt.
  • Có tình cảm, ông ta không muốn cho các anh em của mình phải chịu cùng cảnh ngộ như mình.
  • Có nhận thức và cảm giác, ông ta biết nóng và biết khổ, cũng biết suy luận rằng, nếu La-xa-rơ sống lại và đến nhà cha của ông để làm chứng cho năm anh em của ông thì có thể họ sẽ không bị vào nơi khổ hình sau khi chết.
  • Có ý chí, ông ta biết nài nỉ, van xin Áp-ra-ham.

Khải Huyền 20:10 nói rõ, Ma Quỷ, tức là Sa-tan (một thiên sứ trưởng phản nghịch Thiên Chúa), Anti-Christ và tiên tri giả của Anti-Christ (loài người), sẽ chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời:

Ma Quỷ là kẻ lừa dối chúng bị ném vào hồ lửa và lưu hoàng, nơi có con thú và tiên tri giả. Chúng sẽ bị đau khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời.”

Nếu linh hồn loài người không tồn tại cho đến đời đời thì làm sao Anti-Christ và tiên tri giả của hắn có thể ”sẽ bị đau khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời?”

Sự chết thứ hai hay sự chết đời đời chỉ có nghĩa là sự bị phân rẽ đời đời khỏi Đức Chúa Trời, chứ không có nghĩa là thôi thực hữu, ngưng tồn tại. Mọi sự do Thiên Chúa dựng nên đều sẽ tồn tại đời đời trong các trạng thái khác nhau ở mỗi thời kỳ khác nhau, không một sự gì có thể tan biến trở thành hư không; vì Thiên Chúa là Đấng đời đời, mọi sự ra từ Ngài hoặc được sáng tạo bởi Ngài phải còn lại đời đời. Trong mọi sự do Thiên Chúa sáng tạo, linh hồn và thân thể loài người là cao quý hơn hết, cao quý hơn cả các thiên sứ, vì được sáng tạo như hình Thiên Chúa, giống như Thiên Chúa, để làm con Thiên Chúa và cùng đồng trị với Thiên Chúa cho đến đời đời.

Kết Luận

Qua Thánh Kinh chúng ta học biết được những lẽ thật về linh hồn, bao gồm: nguồn gốc và mục đích của linh hồn, địa vị của linh hồn trước mặt Thiên Chúa, nhu cầu và trách nhiệm của linh hồn.

Linh hồn chính là bản ngã của mỗi người, là một thực thể do Thiên Chúa dựng nên để làm con của Thiên Chúa và vui sống đời đời trong vương quốc của Ngài. Linh hồn loài người đầu tiên, là A-đam, do Thiên Chúa sáng tạo trực tiếp. Linh hồn thứ nhì, là Ê-va, do Thiên Chúa làm ra từ linh hồn A-đam. Từ đó trở đi, mỗi linh hồn được sinh ra bởi cha và mẹ của mình.

Từ sau khi A-đam và Ê-va phạm tội, thì mỗi linh hồn được sinh ra đều nhiễm tội từ cha khiến cho mỗi người được sinh ra đều mang bản chất tội và chỉ có thể làm ra tội.

Đức Chúa Trời đã ban cho loài người sự cứu rỗi ra khỏi tội lỗi và hậu quả của tội lỗi, qua sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ. Linh hồn nào ăn năn tội, tin nhận sự sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ thì sẽ được tái sinh thành một linh hồn mới, và được Đức Chúa Trời ban cho cơ hội cùng năng lực sống theo ý muốn của Thiên Chúa. Linh hồn nào không ăn năn tội và không tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ thì sẽ ở lại trong địa vị bị hư mất đời đời.

II Cô-rinh-tô 5:17 “Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới.”

Bị hư mất có nghĩa là bị “xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của quyền phép Ngài” (II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9). Trong khi còn sống trong thân thể xác thịt, ngay trong đời sống hiện tại này, một linh hồn bị hư mất vẫn được Đức Chúa Trời ban cho cơ hội được cứu rỗi ra khỏi địa vị hư mất.

Bị hư mất đời đời có nghĩa là đời đời bị “xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của quyền phép Ngài,” nghĩa là không còn cơ hội được cứu rỗi, chứ không có nghĩa là bị tan biến thành hư không, không còn thực hữu, không còn nhận thức và cảm xúc.

Sự chết của thân thể xác thịt không làm cho linh hồn thôi nhận thức và cảm xúc, vì thế thuyết linh hồn ngủ hoàn toàn sai nghịch với lẽ thật của Thánh Kinh.

Nguyện Đức Thánh Linh luôn giúp mỗi chúng ta nhận thức cách rõ ràng, bổn phận và trách nhiệm của từng linh hồn trước Đấng Tạo Hóa. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
20.10.2012

Ghi Chú

[1] Biblical Aramaic, một thứ tiếng gần giống như tiếng Hê-bơ-rơ cổ, được thông dụng tại xứ Ca-na-an trong thời Tân Ước. Những phân đoạn sau đây trong Thánh Kinh được viết bằng tiếng A-ra-mai:

  • E-xơ-ra 4:8–6:18 and 7:12–26
  • Đa-ni-ên 2:4b–7:28
  • Giê-rê-mi 10:11

[A] Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Quý bạn có thể đọc trên mạng: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

[B] Dùng các nối mạng dưới đây để tra xem ý nghĩa trong Anh ngữ và nghe cách phát âm của một từ ngữ Hê-bơ-rơ trên Internet:

© 2017 - thanhoc.timhieutinlanh.net

Hit Counter provided by Business Card Holders